Khoa học công nghệ phát triển đã cho phép chúng ta có cách tiếp cận khác hơn về rừng, có kế thừa và phát triển những kinh nghiệm quý báu của đồng bào các dân tộc sống ở miền rừng núi, đồ[r]
Trang 1LÂM SẢN NGOÀI GỖ TRONG SỰ NGHIỆP BẢO VỆ,
PHÁT TRIỂN RỪNG VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN MIỀN NÚI
ThS HUỲNH NGỌC ĐIỀN
Vài chục năm gần đây, khi khai thác lợi
dụng rừng người ta chỉ mới chú ý và sử
dụng được giá trị thu được từ các sản
phẩm là gỗ, củi, và một số loài cây rừng
thông dụng ngoài gỗ khác Cách suy
nghĩ và khai thác rừng như vậy đã tồn
tại trong nhiều năm qua, không chỉ riêng
Việt Nam mà còn ở nhiều nước khác,
với các phương tiện, máy móc ngày
càng “hiện đại”, hậu quả như chúng ta
đang thấy là sự suy thoái rừng cả về số
lượng và chất lượng, kéo theo đó là đời
sống người dân trong các vùng rừng núi
ngày càng khó khăn; môi trường đất đai,
nguồn nước, khí hậu ngày càng suy
thoái
Cách thức khai thác và sử dụng
rừng như trên có lẽ bắt nguồn từ nhu
cầu ngày càng tăng về gỗ, củi, than cho
các vùng đô thị, thị tứ mới, do dân số
gia tăng,… Ngay từ thuở sơ khai, con
người đã có những hiểu biết cơ bản về
giá trị của rừng đối với cuộc sống của
họ Rừng là nơi cung cấp lương thực,
thực phẩm, dược liệu phục vụ cuộc sống
của họ Đồng bào các dân tộc ít người
lâu nay sống ở rừng, nhưng chỉ lấy từ
rừng những gì cần với số lượng vừa đủ
cho nhu cầu của họ, mà những nhu cầu
ấy cũng không cao lắm Tập quán du canh du cư cũng có ảnh hưởng nhất định đến số lượng và chất lượng rừng, tuy nhiên không gây đảo lộn lớn về môi trường như cách khai thác rừng theo kiểu “công nghiệp” như chúng ta đã làm trong nhiều năm qua
Khoa học công nghệ phát triển đã cho phép chúng ta có cách tiếp cận khác hơn về rừng, có kế thừa và phát triển những kinh nghiệm quý báu của đồng bào các dân tộc sống ở miền rừng núi, đồng thời áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ mới để phát triển và sử dụng các loại lâm - sản – ngoài - gỗ (Non-timber-forest-products) với quy
mô công nghiệp và thương mại để vừa
có nguồn thu nhập đáng kể từ tài nguyên rừng, vừa có thể bảo vệ và phát triển rừng một cách bền vững
Ngày nay, con người ngày càng hiểu sâu hơn về hệ sinh thái rừng (Forest ecosystem) là một hệ sinh thái
mà thành phần chủ yếu là sinh vật rừng (các loài cây gỗ, cây bụi, thảm tươi, dây leo, hệ động vật và vi sinh vật rừng) và môi trường vật lý của chúng (đất đai,
Trang 2nguồn nước, khí hậu,…) Hệ sinh thái
rừng như vậy có tính đa dạng sinh học
rất cao Từ hệ sinh thái này, nếu giữ
nguyên các loại cây gỗ đứng, người ta
vẫn có thể thu hoạch các loại lâm sản
khác có thể khái quát vào các nhóm sản
phẩm như: Nấm ăn, dược liệu, cây cho
hạt, cây có dầu, cây cho sợi, phấn và
mật hoa, cây có thể làm thức ăn gia súc,
rau rừng, trái cây rừng ăn được, song,
mây, tre, cây cho nhựa, hoá chất, động
vật rừng (côn trùng và động vật khác),
nguồn gen cho các sản phẩm trên, sinh
thái rừng và môi trường du lịch, thủy
điện, …
Trên thực tế, các loại cây trồng,
vật nuôi nông nghiệp ngày nay đều có
nguồn gốc xa xưa từ rừng, hoặc là các
loài bản địa, hoặc được du nhập từ rừng
ở những nước khác Sau đây chúng tôi
liệt kê tổng quát một số loại
lâm-sản-ngoài-gỗ có thể tổ chức khai thác và
nuôi trồng, tạo công ăn việc làm và tăng
thu thập cho cộng đồng dân cư sống
trong rừng và gần rừng, phát huy giá trị
nhiều mặt của rừng
1 Nấm ăn: như các loại nấm
mối, nấm mèo,… ngày nay với công
nghệ sinh học phát triển, chúng ta còn
nhiều loại nấm ăn khác như nấm kim
châm, bào ngư, đông cô, đùi gà,…
2 Dược liệu: Hải Thượng Lãn
Ông, Tuệ Tĩnh đã tổng kết các loại cây
thuốc Việt Nam rất phong phú Gần đây
đã có nhiều tác giả tổng kết như Đỗ Tất
Lợi, Phạm Hoàng Hộ đã mô tả 3063 loại
cây có vị thuốc thuộc trên 2000 loài trong tổng số trên 11000 loài thực vật ở Việt Nam (Cây có vị thuốc ở Việt Nam),…như rừng ò Lò Gò -Xa Mát (Tây Ninh) có kim tiền thảo, nhàu; rừng
ở vườn quốc gia Côn Đảo có ngũ gia bì, thiên niên kiện Ngoài các loài cây dược liệu, còn có các loài nấm dược liệu đã rất nổi tiếng như linh chi
3 Cây cho hạt: chúng ta đã có
loài cây nhập nội như điều (đào lộn hột), Các loài dẻ (Quercus sp.)
4 Cây có dầu: trên thế giới đã có
nhiều loại cây cho trái hoặc hạt có nhiều dầu dùng để ăn hoặc chế biến công nghiệp như ô-liu (Olea europaea), Torreya Trung quốc (Torreya grandis), cây trà dầu - camellis (Camaellia oleifera) Gần đây nước ta du nhập cây neem (xoan Ấn Độ); hạt xoan có nhiều dầu có thể ép để dùng trong công nghiệp
5 Cây cho sợi: đồng bào các dân
tộc miền núi thường dùng một số loại cây cho sợi có trong rừng để dệt vải hoặc bện dây thừng
6 Phấn và mật hoa: Rừng Việt
Nam rất phong phú các loài cây có hoa cho phấn và mật, là nguồn nguyên liệu cho các loài ong mật làm ra sản phẩm của chúng
7 Cây thức ăn gia súc: lá cây,
cỏ ở các trảng là nguồn thức ăn cho các loài thú ăn cỏ, lá cây cũng có thể được dùng để làm thức ăn cho các loài gia súc
Trang 38 Rau rừng: như rau tàu bay, rau
tiêu (càng cua), lá bép, đọt lộc vừng, …
9 Trái cây rừng ăn được hoặc
dùng chế biến nước giải khát: trái
trường, xoài, trái ươi, …
10 Song, mây, tre: có thể dùng
làm nguyên liệu cho tiểu, thủ công
nghiệp, công nghiệp sản xuất hàng nội
thất Đặc biệt cây tre có thể được chế
biến công nghiệp để sản xuất ván sàn,
gỗ rất có giá trị
11 Cây cho nhựa, hoá chất:
nhựa cây trôm, sơn, dầu chai dùng trong
nghề đóng tàu, thuyền bằng gỗ, và loại
cây du nhập đã phát triển khá rộng ở
Việt Nam là cao su
12 Động vật rừng (côn trùng và
động vật khác): ong mật, cánh kiến đỏ,
hươu, nai, heo, nhím, và các loại thú
rừng khác Các loại động vật rừng giữ
vai trò cân bằng sinh thái nhiều hơn;
ngắm các loài động vật hoang dã từ xa
là một trong những nội dung của du lịch
cảnh quan sinh thái trong rừng
13 Nguồn gen cho các sản
phẩm trên: các loại lâm sản ngoài gỗ
nêu trên có thể thu hái trực tiếp từ rừng,
nhưng quan trọng hơn là chúng ta có thể
áp dụng các công nghệ truyền thống
hoặc sinh học hiện đại để nhân giống từ
nguồn sinh vật ở rừng để nuôi trồng
trong các trang trại Ngày nay đã có
nhiều trang trại nuôi heo rừng, nai,
nhím, ong,… các trang trại trồng cây
trôm lấy nhựa (gôm), tre, trúc, song,
mây,…
14 Sinh thái rừng và môi trường du lịch: một cách sử dụng rừng
rất hiệu quả trong điều kiện xã hội đã công nghiệp hóa và đô thị hóa cao, nhu cầu du lịch, thư giãn phát triển là tổ chức dịch vụ du lịch sinh thái trong rừng Chung quanh thành phố Hồ Chí Minh đã có các khu du lịch sinh thái gắn với rừng như địa đạo Củ Chi, Rừng Sác Cần Giờ (Thành phố Hồ Chí Minh), Thác Mai (Định Quán), Nam Cát Tiên (Tân Phú, Đồng Nai), Tràm chim (Đồng Tháp), Rừng Chàng Riệc (Tây Ninh) kết hợp du lịch sinh thái với các di tích văn hóa, lịch sử; rừng thông Đà Lạt là nơi
du lịch cảnh quan sinh thái từ lâu đã rất nổi tiếng
15 Thủy điện: do rừng được bảo
vệ và phát triển tốt, nguồn nước mưa được giữ ngày càng dồi dào, tạo điều kiện xây dựng các nhà máy thủy điện có
đủ nước hoạt động quanh năm
Để tổ chức khai thác hoặc nuôi trồng lâm-sản-ngoài-gỗ ở từng vùng cụ thể, cần điều tra khảo sát nhu cầu thị trường, kinh nghiệm dân gian, tiến bộ khoa học công nghệ liên quan trên thế giới và năng lực tài chính, quản lý của mình trước khi ra quyết định đầu tư
Chúng tôi đã có dịp tham quan, nghiên cứu công nghiệp
lâm-sản-ngoài-gỗ ở tỉnh Triết Giang, Trung Quốc và ghi nhận nơi đây đã rất thành công: Nông dân giàu lên, rừng được bảo vệ
và phát triển tốt, bộ mặt nông thôn khá khang trang, tiến bộ Mỗi vùng ở đây
Trang 4tùy theo thị trường và tùy điều kiện đặc
thù của mình mà chọn lựa sản xuất 1 –
2 mặt hàng với quy mô công nghiệp và
thương mại hóa như ở hạt Tong Lu chú
trọng về ong mật và các sản phẩm từ
ong mật; hạt Pan’An chú trọng dược
liệu và nấm ăn, nấm dược liệu; hạt
Lin’An phát triển cây hồ đào (hickory)
ở phía tây, công nghiệp tre lấy măng và
cây (tre) ở phía đông; hạt Anji chuyên
về trồng tre moso làm nguyên liệu cho
công nghiệp chế biến ván sàn, mỗi
vùng đều có những nhà máy chế biến
và trung tâm giao dịch
lâm-sản-ngoài-gỗ khá quy mô Trung tâm giao dịch về
tre ở Anji đã bày bán trên 5.000 loại
sản phẩm từ tre… Từ các loại công
nghiệp lâm-sản-ngoài-gỗ phát triển mà
các ngành công nghiệp liên quan khác
cũng phát triển như vận tải, cơ khí, hóa
chất, xây dựng, tín dụng ngân hàng,
bưu chính viễn thông, du lịch, thương
mại,… Giáo dục, y tế, văn hóa xã hội
cũng ngày càng phát triển Nông thôn ở
đó thực sự đã được công nghiệp hóa,
hiện đại hóa Du lịch nông thôn với loại
hình nhà nghỉ tại nông trại (farm - stay)
đang phát triển đã góp phần rất quan
trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu
kinh tế và cơ cấu lao động ở nông thôn
Triết Giang từ lao động sản xuất nông
nghiệp sang hoạt động dịch vụ với thu
nhập cao hơn nhiều Bộ mặt nông thôn
đang thay đổi lớn, chúng tôi thật sự ấn
tượng khi vượt qua những con đường
đèo dài hàng chục km từ đồng bằng lên
miền núi, giữa thảm rừng dày xanh tốt, thấy kết cấu hạ tầng khá phát triển: những con đường trải nhựa uốn lượn, vắt vẻo trên các sườn núi cheo leo, lẫn khuất trong rừng tre, hệ thống truyền tải điện đến tận chốn “thâm sơn cùng cốc”, các đập thủy điện, những hồ nước phẳng lặng giữa chốn núi rừng u tịch, những ngôi nhà của nông dân được xây cất khá khang trang với nhiều phòng nghỉ lịch sự cho cả khách và chủ trong vườn cây, bên những dòng suối róc rách hòa cùng tiếng chim hót, với môi trường không gian trong lành, tĩnh mịch; những xóm nhà thỉnh thoảng ẩn hiện trong màn sương hay làn mây mỏng thật là một nơi khá lý tưởng để sinh sống và nghỉ dưỡng mà không thành phố nào hiện nay có được Những nông dân làm dịch vụ du lịch nông thôn này cũng đang thay đổi nếp sinh hoạt, ứng xử của mình do hoạt động giao tiếp với khách du lịch đến từ các thành phố
Phát triển lâm sản ngoài gỗ và du lịch đang góp phần văn minh hóa vùng nông thôn miền núi tỉnh Triết Giang
Công nghiệp Lâm-sản-ngoài-gỗ (Non-timber-forest-products) nên được nghiên cứu đưa vào giảng dạy trong các khóa đào tạo, bồi dưỡng kiểm lâm viên
và cán bộ lâm nghiệp nói chung, cán bộ phát triển nông thôn vùng có rừng và núi của Trường Cán bộ Quản lý Nông nghiệp và PTNT II trong những năm tới