Mục tiêu nghiên cứu.Mục đích và nhiệm vụ chính của đề tài là trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn của các quy định pháp luật hiện hành làm rõ nhận thức về trách nhiệm p
Trang 2VIỆN NGHIÊN CỨU TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI VẬN CHUYẾN ■ ■
ĐỐI VỚI KHÁCH BỊ LỠ CHUYẾN TRONG HỢP ĐỐNG■ ■
VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH BẰNG ĐƯỜNG
HÀNG KHÔNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC • • • ■
Chuyên ngành: Luật kinh tẽ - Dân sự
Trang 3CÁC TỪ VIẾT TẮT
IATA: The International Air Transport Association
(một đơn vị tính toán của IMF khi chuyển đổi tiền tệ)
Công ước Vacsava: Công ước nhằm thống nhất những quy tắc
nhất định liên quan đến vận chuyển quốc tế bằng tầu bay được ký kết tại Warsaw ngày ] 2 tháng 10 năm 1929
Nghị định thư Lahay: Nghị định thư sửa đổi Công ước nhằm
thống nhất những quy tắc nhất định liên quan đến vận chuyển quốc tế bằng tầu bay được ký kết tại Warsaw ngày 12/10/1929, được ký tại Hague ngày 28/9/1955
T rá c h n h iệm p h á p lý củ a n g ư ờ ivậ n ch u yển h à n g không
2
Trang 4MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
Chương I: NHỮNG VẤN ĐỂ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA
NGƯỜI VẬN CHUYỂN ĐỐI VỚI KHÁCH BỊ LỠ CHUYẾN TRONG
HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH BẰNG ĐƯỜNG HÀNG
KHÔNG
1.1 Khái niệm hợp đồng vận chuyển hành khách và trách nhiệm
pháp lý của người vận chuyển
1.1.1 Hợp đồng vận chuyển hành khách
1.1.2 Khái niệm, bản chất pháp lý về trách nhiệm của người
vận chuyển
1.2 Đặc điểm pháp l \ của hợp đồng vận chuyển hàng không và
trách nhiệm pháp lý của người vận chuy n
1.2.1 Đặc điểm pháp lý của hợp đồng vận chuyển hàng không
1.2.2 Đặc điểm trách nhiệm pháp lý của người vận chuyển
hàng không
1.2.3 Đặc điểm và bản chất pháp lý trách nhiệm của người
vận chuyển hàng không đối với khách bị lỡ chuycn
Chương II: NỘI DUNG VÀ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ
CỦA NGƯỜI VẬN CHUYỂN HÀNG KHÔNG Đốl VỚI KHÁCH BỊ LỠ
CHUYẾN THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
2.1 Các quy định về TNPL của người vận chuyển hàng không
đối với khách bị lỡ chuyên
2.1.1 Các quy định của pháp luật hiện hành
2.1.2 Quy định của nhà chuyên chở
2.1.3 Những vấn đề phát sinh của VN khi áp dụng trách
nhiệm đối với khách bị lỡ chuyến
Trang
6 10
10
1013
19
1923
26
31
31
313657
T rá c h n h iệm p h á p /i c ủ a n g ư ờ ivậ n ch u yển h à n g kh ôn g
3
Trang 52.2 Thực trạng áp dụng pháp luật đ ể xử lý các chuyên bay bất
thường dẫn đến khiếu nại của khách đối với VN và những
vấn đề phát sinh
2.2.1 Một số trường hợp xử lý các chuyên bay bất thường dẫn
đến khiếu nại của hành khách
2.2.2 Các vấn đề phát sinh trong việc xử lý chuyến bay bất
thường dẫn đến khiếu nại của hành khách
2.3 Phản tích việc xử lý hậu quả do bị lỡ chuyến bay và xử lý
khiếu nại đền bù cho hành khách theo hợp đồng vận
chuyên hiện nay
2.3.1 Lỡ chuyến do nguyên nhân khách quan
2.3.2 Khách bị lỡ chuyến do các lỗi chủ quan
2.3.3 Do lỗi của người thứ ba
VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA
NGƯỜI VẬN CHUYỂN HÀNG KHÔNG Đốl VỚI HANH KHÁCH BỊ
Lờ CHUYẾ.rt THEO HỢP ĐỒNG
3.1 Phương hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật đù hi
chỉnh TNPL của người vận chuyển hàng không đôi vó
khách bị lỡ chuyên
3.1.1 Nhu cầu khách quan của việc hoàn thiện các quy định
của pháp luật
3.1.2 Một số định hướng có tính nguyên tắc trong việc hoàn
thiện các quy định của pháp luật và nâng cao TNPL của
người vận chuyển đối với khách bị lỡ chuyến
3.2 M ột sô giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật và
nâng cao TNPL của người vận chuyển đôi với hành khách
Trang 63.2.1 Về trách nhiệm phải thực hiện nghiã vụ
3.2.2 Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại
3.2.3 Loại trừ khả năng gây lỡ chuyến bay đối với khách
hàng
KẾT LUẬN
PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
T rá ch n liiẽm p h á p lý c u a n g ư ờ ivậ n ch u yên h à n g kh ô n g
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Ngày nay, phương thức vận chuyển người và các vật phẩm của con người bằng máy bay- vận tải hàng không đang ngày càng trở nên quan trọng đối với mỗi quốc gia, dân tộc Vận tải hàng không là chất xúc tác cho sự giao lưu
vể kinh tế, văn hoá, xã hội giữa các quốc gia, dân tộc và đang phát triển theo
xu hướng chung của nền kinh tế thế giới là quốc tế hoá, tự do hoá, xoá đi sự chật hẹp, giới hạn của thị trường Mỗi quốc gia trên thế giới đều không thể đứng ngoài xu thế này, không tự cô lập mình với thế giới mà phải tìm cách phát triển, hoàn thiện vận tải hàng không của mình để hoà nhập và đứng vững trong môi trường cạnh tranh mới
Vận tải hàng không của Việt Nam nếu so vói nhiều quốc gia khác còn rất non trẻ, dù đã có một quá trình phát triển gần 45 năm Bắt đầu gần như u con số không, đến nay đã có vị trí quan trọng trong ngành kinh tế quốc dân,
là công cụ quan trọng trong việc thiíc hiôn chính sách ruở cửa, góp phần quan trọng vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam; tăng cường giao lưu, hợp tác quốc tế về mọi mặt giữa Việt Nam và các dân tộc trên thế giới
Sau một thời gian chuyển sang nền kinh tế thị trường với chính sách mở cưả, nền kinh tế nước ta đã có những tiến bộ vượt bậc, giao lưu quốc tế phát triển nhanh chóng, thị trường du lịch phát triển với tốc độ rất cao Việt Nam đang trở thành điểm đến quan trọng trong khu vực cũng như trên thế giới Tương ứng với tốc độ phát triển của nền kinh tế, ngành vận tải nói chung và vận tải hàng không nói riêng cũng được phát triển nhanh chóng Nhu cầu vận tải trong xã hội ngày càng gia tàng cả về số lượng và chất lượng Sản lượng vận chuyến của các hãng hàng không đều tăng mạnh: so với năm
T rá c h n h iệm p h á p lỷ cù a n g ư ờ ivậ n ch u yển h a n g kh ôn g
6
Trang 82001, năm 2002 sản lượng vận chuyển của Vietnam airlines tăng 18%, của Paciíic airlines tăng 8,24%.
Việc gia tăng ngày càng nhanh tốc độ phát triển vận chuyển hàng không quốc tế và nội địa đã tạo điều kiện lưu thông thuận lợi cho công chúng, đáp ứng nhu cầu của hành khách đồng thời cũng nảy sinh nhiều vấn đề cần giải quyết giữa nhà chuyên chở với hành khách Một trong các vấn đề quan trọng cần phải giải quyết liên tục đó là việc giải quyết các hậu quả phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng vận chuyển khi khách hàng bị lỡ chuyến bay Vấn đề này càng trở nên cấp thiết khi năng lực vận tải hàng không chưa tương ứng với tốc độ phát triển của nhu cầu vận chuyển hàng không Trên thực tế, việc chậm, huỷ chuyến bay vì các lý do khác nhau là điẻu không thể tránh, việc khách bị lỡ chuyến bay vì nhiều nguyên nhân là điều vẫn thường xuyên xảy ra mà theo đó là việc giải quyết các hậu quả của hợp đổng vận chuyển giữa nhà chuyên chở với hành khách Để giải quyết các vấn đề phát sinh khi khách bị lỡ chuyến bay phải dựa trên một cơ sở pháp lý rõ ràng của người vận chuyển cũng như của hành khách - các chủ thể c a hợp đồng vận chuyển hành khách bằng đường hàng không
Thực hiện tốt và đảm bảo trách nhiệm pháp lý của người vận chuvển hàng không đối với khách hàng, đặc biệt là đối với khách bị lỡ chuyến là một trong những biên pháp nâng cao năng lưc cạnh tranh của lực lượng vận tải hàng không Việt Nam trong bối cảnh khu vực hoá, toàn cầu hoá nền kinh
tế thế giới; khi hội nhập kinh tế quốc tế, mà bản chất của nó là năng lực cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế, trở thành một xu thế tất yếu khách quan đặt tất cả các lĩnh vực của nén kinh tế trước những cơ hội và thách thức
T r á c h n h iệm p h á p lý củ a n g ư ờ iv ậ n ch u yển h à n g không
1
Trang 92 Mục tiêu nghiên cứu.
Mục đích và nhiệm vụ chính của đề tài là trên cơ sở phân tích những vấn
đề lý luận và thực tiễn của các quy định pháp luật hiện hành làm rõ nhận thức về trách nhiệm pháp lv của người vận chuyển hàng không đối với khách hàng, đặc biệt là trong quá trình cạnh tranh và hội Iih ip quốc tế; kiến nghị các biện pháp nhằm giảm tối đa các khiếu nại của khách hàng, làm cơ sở lý luận cho việc hoạch định những biện pháp ơụ thể trong chính sách quan hệ khách hàng nâng cao năng lực cạnh tranh của lực lượng vận tải hàng không Việt Nam
Kết quả nghiên cứu có thể phục vụ cho công tác sản xuất kinh doanh của các hãng vận chuyển hành khách bằng đường hàng không, đặc biệt là đối với Hãng Hàng không quốc gia Việt Nam
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài và những đóng góp mới.
Đề tài tập trung nghiên cứu trong giới hạn những nội dung về trách nhiệm pháp lý của người vận chuyển hàng không đối với hành khách bị lỡ chuyến, không đề cập tới trách nhiệm của ngưò vận chuyển đối với hành lý mà hành khách mang theo hoặc ký gửi trong thực hiện hợp đồng vận chuyển hành khách bằng đường hàng không Đây là một trong những vấn đề mà các nhà vận chuyển hàng không, đặc biệt là Tổng công ty hàng không Việt Nam thường xuyên phải giải quyết nhưng chưa có đề tài nghiên cứu Các kiến nghị để hoàn thiện chế độ trách nhiệm pháp lý của nhà vận chuyển đối với hoạt động vận tải hàng không phù hợp với năng lực và trình độ phát triển của lực lượng vận tải hàng không Việt Nam nhằm thực hiện thành công chiến lược phát triển của vận tải hàng không Việt Nam trong bối cảnh tính cạnh tranh trong vận chuyển hành khách ngày càng lớn
T rá c h n h iệ m p h á p lý c ủ a n g ư ờ iv ậ n c h u y ể n h à n g k h ô n g
8
Trang 104 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh để phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê, tham khảo các quy đinh về trách nhiệm pháp lý của người vận chuyển hàng không đối với hành khách, kết quả nghiên cứu đã được công bố trong và ngoài nước của các hãng hàng không
5 Nội dung cơ bản:
Trên cơ sở phạm vi, mục đích nghiên cứu, luận văn được kết cấu gồm : Lời nói đầu, 3 chương nội dung, phần kết luận và một số ý kiến rút ra từ quá trình nghiên cứu
Chương 1: Lý luận chung về trách nhiệm pháp lý của nhà vận chuyển đối với khách bị lỡ chuyến trong hợp đồng vận chuyển hành khách bằng hàng không
Khái quát về hợp đồng vận chuyển hành khách, hup đổng vận chuyển hàng không và trách nhiệm pháp lý cứa người vận chuyổn trong thực hiện hợp đồng vận chuyển hành khách bằng đường hàng không
Chương 11: Nội dung và thực trạng áp dụng trách nhiệm pháp lý của người vận chuyển hàng không đối với khách bị lỡ chuyến theo pháp luật hiện hành.Phân tích các quy định của pháp luật hiện hành và tình hình thực tế thực hiện trách nhiệm của người vận chuyển đối với khách bị lỡ chuyến của Vietnam airlines hiện nay
Chương III: Phương hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật và một số giải pháp nâng cao trách nhiệm pháp lý của người vận chuyển hàng không đối với hành khách bị lỡ chuyên theo hợp đồng vận chuyển
T rá i h n h iệ m p h á p lý c ủ a n g ư ờ iv ậ n c h u y ể n h à n g k h ô n g
9
Trang 11Căn cứ vào kết quả nghiên cứu ở chương I và chương II, căn cứ vào nhu cầu khách quan của của tình hình vận chuyển để đưa ra một số định hướng
có tính nguyên tắc hoàn thiện các quy định của pháp luật và một số giải pháp mang tính định hướng trong việc xác định và đảm bảo thực hiện trách nhiệm pháp lý của người vận chuyển đối với khách bị lữ chuyến cho các hãng vận chuyển bằng đường hàng không ở Việt Nam mà cụ thể là Vietnam airlines - người vận chuyển hàng không chủ chốt của Việt Nam hiện nay
T rá ch n h iệm p h á p lị củ a n g ư ờ ivậ n ch u yển h à n g không
10
Trang 12CHƯƠNG I
NHŨNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI VẬN
CHUYỂN ĐỐI VÓI KHÁCH BỊ LỠ CHUYẼN TRONG HỢP Đ ồN G VẬN
CHUYỂN HÀNH KHÁCH BẰNG ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG
1.1 Khái niệm hợp đồng vận chuyển hành khách và trách nhiệm pháp lý
của người vận chuyển:
1.1.1 Hợp đồng vận chuyển hành khách
Hợp đồng vận chuyển hành khách là loại hợp đồng dân sự mang tính chất cung ứng dịch vụ mà theo đó bên vận chuyển nhận chuyên chở hành khách, hành lý đến địa điểm đã định theo thoả thuận còn hành khách phải thanh tơán cước phí vận chuyển
Theo điều 530 Bộ luật dân sự Việt Nam, hợp đồng vận chuyển hành
khách là sự thoả thuận giữa các bên, theo đố bên vận chuyển chuyên chở
hành khách, hành lý đến địa điểm đã định theo thoả thuận, còn hành khách phải thanh toán cước p h í vận chuyển.
Hình thức của hợp đồng vận chuyển hành khách theo điều 531 Bộ luật
dân sự có thể được lập thành văn bản hoạc bằng lời nói Trên thực tế, Vé là
hình thức phổ biến nhất và là bằng chứng của việc giao kết hợp đồng giữa các bên
Trong hợp đồng vận chuyển hành khách, chủ thể của hợp đồng là bên vận chuyển và hành khách Người vận chuyển và hành khách phải đáp ứng các điều kiện của chủ thể hợp đồng dân sự được quy định trong Bộ luật dân sự, đảm bảo năng lực hành vi dân sự của chủ thể hợp đồng
T rá c h n h iè m p h á p lỷ củ a n g ư ờ i vậ n c h u y ể n h ả n g k h ô n g
11
Trang 13Bên vận chuyên (sau đây được gọi là Người vận chuyển) là người có
trách nhiệm vận chuyển hành khách và hành lý từ điểm đi đến điểm đến theo hợp đồng vận chuyển Người vận chuyển là bên xuất vé vận chuyển hành khách và được nhận cước phí vận chuyển từ phía hành khách
H ành khách là người có vé hợp lệ Theo đó, hành khách là người được
bên vận chuyển vận chuyển cùng với hành lý kèm theo từ điểm đi tới điểm đến của hành trình đã được ghi nhận trong hợp đồng vận chuyển
Việc ký kết hợp đồng vận chuyển phải đảm bảo nguyên tắc tự nguyên, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng Hợp đồng vận chuyển hành khách là một loại đặc thù, nếu được thực hiện dưới hình thức văn bản thì đó là loại hợp đồng theo mẫu Theo quy định tại điều 406 Bộ luật dân sự, hợp đồng theo mẫu là hợp đồng gồm những điều khoản do một bên đưa ra theo mẫu để bên kia trả lời trong một thời gian hợp lý; nếu bên được
đề nghị trả lời chấp nhận, thì coi như chấp nhận toàn bộ nội dung hợp đồng theo mẫu mà bên đề nghị đã đưa ra Ngoài ra, khoan 2 điều 406 còn quy định: Trong trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản khỏng rõ ràng thì bên đưa ra hợp đồng theo mẫu phải chịu bất lợi khi giải thích điều đó Đày là điều khoản bảo vệ cho chủ thể chấp nhận hợp đồng và tránh việc lạm dụng hợp đồng mẫu để gây bất lợi cho đối tác của chủ thể đưa ra hợp đồng mẫu Quan điổm này của Bộ luật dân sự Việt Nam khác với quy định của Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái lan năm 1925: Trong trường hợp có nghi ngờ, thì việc giải thích phải có lợi cho bên phải thi hành nghĩa vụ (điều 11) Thông thường trong hợp đồng mẫu, bên đưa ra hợp đồng mẫu là bên chủ động, nếu không bảo vệ quyền của bên chấp nhận hợp đồng mẫu thì dễ dẫn đến tình trạng lạm dụng diều khoản không rõ ràng của bên đưa ra hợp đồng
T rá c h n h iệm p h á p lý củ a n g ư ờ ivậ n ch u yển h à n g không
12
Trang 141.1.2 Khái niệm, bản chất pháp lý về trách nhiệm của người vận chuyển
Trách nhiệm pháp lý nói chung là hậu quả bất lợi mà một bên phải chịu khi không thực hiện hoặc thực hiẹn không đúng những thoả thuận trong hợp đồng hoặc những quy định của pháp luật Trách nhiệm pháp lý có thể là trách nhiệm hình sự, dân sự, hành chính
Trách nhiệm pháp lý của người vận chuyển là hậu quả bất lợi mà người vận chuyển phải chịu khi họ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng những thoả thuận trong hợp đồng hoặc những quy định của pháp luật
Trách nhiệm pháp lý của người vận chuyển nếu được hiểu theo nghĩa là một chế định pháp luật thì nó là những quy định về hành vi của người vận chuyển được thể hiện bằng những điều khoan nghĩa vụ của người vận chuyển được ghi nhận trong hợp đồng vận chuyển (vé hành khách) Đó chính là sự ràng buộc của người vận chuyển đối với việc cam kết sẽ thực hiện đúng nội dung đã được ký kêt trong hợp đồng theo quy định của pháp luật và chịu sự điều chỉnh của pháp luật Nếu sự cam kết không được thực hiện thì người vận chuyển phải chịu hậu quả pháp lý
Trách nhiệm pháp lý của người vận chuyển phát sinh từ nghĩa vụ pháp lý của người vận chuyển đã được quy định trong hợp đồng vận chuyển Khi hợp đồng được ký kết, quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên trong hợp đồng được xác lập Như vậy, các bên có nghĩa vụ đối với nhau kể từ khi quan hệ nghĩa vụ được xác lập nhưng trách nhiệm chỉ xuất hiện khi một bên không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ của mình Như vậy, trách nhiệm được hình thành, chấm dứt cùng VỚI sự hình thành, chấm dứt của nghĩa vụ Hợp đồng vận chuyển hành khách là hợp đồng dân sự Do vậy,
trách nhiệm pháp lý của người \ ,in chuyển trong hợp đồng được thể hiện là
trách nhiệm pháp lý dân sự theo hợp đổng
T rá c h n h iệm p h ú p lý củ a n g ư ờ ivậ n ch u yển h à n g kh ôn g
13
Trang 15Trách nhiệm pháp lý trong hợp đông dân sụ là một loại trách nhiệm pháp
lý do Luật dân sự điều chỉnh, Bộ luật dân sự quy định về trách nhiệm pháp lý
từ điều 308 đến điều 314 Đó là hình thức cưỡng chế của Nhà nưóc để thực hiện các quy phạm của pháp luật, áp dụng chỉ với những người có hành vi vi phạm hợp đồng, vi phạm các quy định của pháp luật, gây nên hậu quả pháp
lý không có lợi cho người đó
Theo nghĩa rộng, trách nhiệm dân sự là các biện pháp có tính cưỡng chê' được áp dụng nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu của một quyền dân sự bị
vi phạm Theo nghĩa hẹp, trách nhiệm dân sự là các biện pháp có tính cưững chế áp dụng đối với người có hành vi V phạm pháp luật gây ra thiệt hại cho người khác, người gây ra thiệt hại phải chịu trách nhiệm khắc phục những hậu quả xấu xảy ra bằng tài sản của mình (bôi thường thiệt hại)
Như vậy, nếu một bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ những điều quy định trong nội dung của nghĩa vụ thì sẽ chịu những biện pháp cưỡng chế cí a trách nhiệm dân sự: Phải thực hiện nghiã vụ theo hợp đồng, bồi thường thiệt hại nếu có
Bồi thường thiệt hại là chế tài đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự chỉ được đặt ra trong trường hợp có thiệt hại xảy ra và thiệt hại là CƯ sở thực tế cho việc bồi thường thiệt hại
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại được đặt ra khi hành vi vi phạm nghĩa
vụ đã gây ra một thiệt hại Một người chỉ phải chịu trách nhiệm dân sự khi
họ có lỗi Do vậy, việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghiã vụ phải căn cứ vào các điều kiện:
Trang 16nghĩa vụ Tuy nhiên, người có nghiã vụ không phải thực hiện bồi thường thiệt hại khi:
+ Nghiã vụ dân sự không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của người
có quyền
+ Nghĩa vụ dân sự không thể thực hiện được do sự kiện bất khả kháng
Có thiệt hại xảy ra trong thực tế:
Nội dung của trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quy định tại điều 310
Bộ Luật dân sự Theo đó, là việc người có nghĩa vụ phải bù đắp cho người có quyền những tổn thất vật chất mà mình đã gây ra do việc vi phạm nghiã vụ dân sự Việc xác định thiệt hại có hay không, mức độ thế nào là sự cần thiết khi áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Theo giáo trình của Trường Đại học Luật Hà nội năm 2002, thiệt hại là sự biến đổi theo chiều hướng xấu đi trong tài sản của một người thể hiện ở những tổn thất thực tế tính được thành tiền mà người đó phải gánh chịu [11;
tr 290]
Về lý luàn, thiệt hai có thể đưưc chia thành 2 loai:" • • • • •
+ Thiệt hại trực tiếp: Là những thiệt h Ả đã X y ra một cách khách quan trong thực tế mà mức thiệi hại dễ dàng được xác định, bao gồm:
Chi phí thực tế và hựp lý: là những khoản tiền hoặc nhũng lợi ích vật chất khác mà người bị thiệt hại phải bỏ ra ngoài dự định của mình để khắc phục những tình trạng xấu do hành vi vi phạm nghiã vụ của bên kia gây ra
Tài Síin bị hư hỏng, mất mát, huỷ hoại: là sự giảm sút giá trị của một tài sản hoặc sự thiếu hụt về tài sản do người có nghĩa vụ gây ra
+ Thiệt hại gián tiếp: Là những thiệt hại mà phải dựa trên sự suy
đoán khoa học mới xác định được mức độ thiệt hại Đó là thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút
T rá ch n h iệm p h á p lý củ a n g ư ờ ivậ n ch u yển h à n g không
15
Trang 17- Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm pháp luật và thiệt hại
xảy ra.
Chỉ khi nào thiệt hại xảy ra là hậu quả tất yếu của hành vi vi phạm pháp luật thì người vi phạm mới phải bồi thường thiệt hại
- Có Lỗi của người vi phạm nẹhĩa vụ dân sự
Lỗi là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ dân sự Theo khoản 1 điều 309 Bộ luật dân sự, chỉ khi nào người vi phạm nghĩa vụ có lỗi mới phải bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác Việc chứng minh không có lỗi
là trách nhiệm của người vi phạm nghĩa vụ (khoản 3, điều 309 Bộ luật dân sự)
Thiệt hại, theo quy định tại khoản 1, điều 19 của Điều lệ vận chuyển hành khách và hành lý (gọi tắt là Điều lệ vận chuyển) của VN bao gồm: chết, bị thương hoặc tổn thương thân thể, chậm trễ, mất một phần hay toàn bộ hoặc bất kỳ những thiệt hại khác phát sinh hay liên quan đến quá trình vận chuyển hoặc các dịch vụ do người vận chuyển thực hiện Ngoài ra, Điều lệ vận
chuyển còn giới hạn trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại: Người vận chuyển
không chịu trách nhiệm về những thiệt hại gián tiếp hay hậu quả đ ể lại (Mục
a, khoản 1, điều 19)
Trong mọi trường hợp, người vận chuyển chỉ chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại phát sinh trên chuyên bay của mình Nếu người vận chuyển xuất vé hay làm thủ tục hành lý cho hành khách trên những chuyến bay của những ngưòi vận chuyển khác thì người vận chuyển chịu trách nhiệm đối với thiệt hại như là một đại lý của những người vận chuyển đó (Mục a, khoản 5, điều 19 Điều lệ vận chuyển)
Đối với vận chuyển phi quốc tế theo Công ước Vacsava, mục c , khoản 2,
điều 19, Điều lệ vận chuyển quy định: Người vận chuyển không chịu trách
T r á c h n h iệm p h á p lý c ù a n g ư ờ ivậ n ch u vển h à n g k h ô n g
16
Trang 18nhiệm đối với các thiệt hại do bị chậm chuyến trừ những trường hợp được
quy định trong Điều lệ vận chuyển
Quan hệ dân sự được đặc trưng bởi một bên có quyền và một bên có nghĩa vụ Theo điều 285 Bộ luật dân sự, nghĩa vụ dân sự là việc mà theo quy định của pháp luật, thì một hoặc nhiều chủ thể (gọi là người có nghĩa vụ) phải làm một công việc hoặc không được làm một công việc vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (gọi là người có quyền)
Các quan hệ nghĩa vụ không thể tồn tại mãi mãi mà nó sẽ được chấm dứt khi có một sự kiện pháp lý nhất định xảy ra Như vậy, khi có sự kiện pháp lý theo luật định xuất hiện thì quan hệ nghĩa vụ phát sinh hoặc chấm dứt Trong thực hiện vận chuyển hành khách, sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ nghĩa vụ là khi hợp đồng vận chuyển được ký kết giữa hành khách và người vận chuyển, tức là khi người vận chuyển xuất vé Việc làm chấm dứt quan hệ nghĩa vụ, hay nói cách khác là giữa các bên chủ thể của quan hệ dân sự không còn tồn tại một quyền hay một nghĩa vụ pháp lý nào cũng phải căn cứ vào sự kiện pháp lý Bộ luật dân sự Việt Nam quy định một số căn cứ nhất định làm chấm dứt nghĩa vụ:
- Khi nghĩa vụ được hoàn thành
- Khi có sự thoả thuận của các bên
- Bên có quyền miễn việc thực hiện nghĩa vụ
- Nghĩa vụ được bù trừ
- Bên có quyền và bên có nghĩa vụ hoà nhập làm một
- Thời hiệu khởi kiện đã hết
- Bên có nghĩa vụ là cá nhân chết hoặc pháp nhân chấm dứt mà nghiã vụphải do chính cá nhân, pháp nhân đó thực hiện
T r á c h n h iệ m p h á p lỷ cù a n g ư ờ ivậ n ch u yền h à n g không
17
Ti?ƯONG ĐAi H O r 'MứTị-ii lỵQ ií
m
Trang 19- Bên có quyền là cá nhân đã chết mà quyền yêu cầu không thuộc di sản thừa kế hoặc là pháp nhân châm dứt mà quyền yêu cầu không được chuyển giao cho pháp nhân khác.
- Vật đặc định là đối tượng của nghĩa vụ không còn và được thay thế bằng nghĩa vụ dân sự khác
Đó là các trường hợp chủ yếu là chấm dứt nghĩa vụ, ngoài ra nghĩa vụ cũng sẽ chấm dứt trong các trường hợp khác nếu pháp luật quy định
Trách nhiệm pháp lý cúa người vận chuyển được quy định tại các văn bản luật quốc tế, luật quốc gia và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác Trách nhiệm pháp lý trong quan hệ dân sự đã được quy định trong các văn bản luật
cổ của Việt Nam Trong cổ luật của Việt Nam cũng có quy định khá cụ thể
về trách nhiệm dân sự, dù còn lệ thuộc vào quan niệm hình sự và chưa nêu được nguyên tắc tổng quát về trách nhiệm thuần tuý dân sự, chỉ bắt buộc người gây ra thiệt hại phải bồi thường Ví dụ: Điều 581 Luật Hồng
Đúc:" người thả trâu, ngựa cho dày xéo, ăn lúa hay dâu của người khác thì
phải phạt 80 trượng và đền sự thiệt hại Nếu vì ngựa tự chạy lồn% lên, không kìm lại được, thì được miễn tội trượng” Như vậy, dù còn chưa được hoàn
thiện như dân luật hiộn đại, còn mang dấu ấn của hình phạt nhưng trách nhiộm dân sự trong cổ luật Việt Nam cũng nêu được hai vấn đề chính là các yếu tố trách nhiệm dân sự và bồi thucmg thiệt Hại Trong các bộ dân luật cận đại, Bộ dân luật giản yếu năm 1884, những vấn đề về nghĩa vụ, khế ước đều không được quy định, thường ph: i áp dụng Bộ dân luật Pháp kh giải quyết tại toà án Bộ dân luật Bắc kỳ 1931 và Bộ dân luật Trung kỳ 1936 các vấn đề
về nghĩa vụ, khế ước đã được phản ánh với sự ảnh hưởng của dân luật Pháp
Về trách nhiệm dân sự, Bộ dân luật Bắc nêu rõ nhữiig sự kiện pháp lý làm phát sinh trách nhiệm dân sự là dân sự phạm (lỗi cố ý) và bán dân sự phạm (lỗi vô ý) tương tư như điều 1382 Bộ dân luật Pháp Nguyên tắc của trách
T rá c h n h iệ m p h á p lý củ a n g ư ờ ivậ n ch u yên h à n g kh ôn g
18
Trang 20nhiệm dđn sự đê được níu trong Bộ dđn luật Bắc vă Trung kỳ: ai gđy thiệt hại cho người khâc vì lỗi của mình phải có trâch nhiệm bồi thường vă việc bồi thường tuỳ thuộc sự minh chứng lỗi câ nhđn của người có trâch nhiệm (tương
tự điều 1382 Bộ dđn luật Phâp) Trong Bộ dđn luật Bắc, khế ước chuyín chở hănh khâch bằng đường hăng không hay đường thuỷ với nghĩa vụ của công
ty chuyín chở phải đi đến nơi về đến chốn, không bị thương tích hay thiệt mạng giữa đường đê được quy định [13; trl67] Khâi niệm bồi thường cũng
đê được đề cập trong Bộ dđn luật Bắc, hình thức bồi thường lă một số bạc Đến Phâp lệnh hợp đồng dđn sự năm 1991 thì trâch nhiệm phâp lý của chủ thể hợp đồng dđn sự theo đó trâch nhiệm phâp lý của người vận chuyển hănh khâch được ghi nhận vă điều chỉnh chung với trâch nhiệm phâp lý của câc chủ thể trong họp đồng dđn sự Còn trâch nhiệm phâp lý của nhă vận chuyển chỉ được quy định chính thức trong Bộ luật dđn sự Việt Nam năm 1995 vă trong câc Thể lệ vận chuyển hănh khâch bằng đường sắt, đưòng thuỷ vă ô tô của Bộ Giao thông vận tải năm 1990, Luật Hăng không dđn dụng Việt Nam năm 1991, Luật sửa đổi vă bổ sung một số điều của Luật Hăng không dđn dụng Việt Nam năm 1995, Điều lệ vận chuyển hăng không dđn dung vă câc văn bản phâp quy khâc mang tính chất điều chỉnh trâch nhiệm của người vận chuyển xuất phât từ quan hộ hợp đồng vận chuyển với hănh khâch
1.2 Đặc ễ-m phâp lý của hợp đồng vận chuyển hăng không vă trâch
nhiệm phâp lý của người vận chuyển.
1.2.1 Đ ạc điểm phâp lý của hợp đồng vận chuyển hăng không
a Hợp đồng vận chuyển hănh khâch hăng không
Hợp đồng vận chuyển hănh khâch bằng đường hăng không lă một loại hợp đổng vận chuyển hănh khâch; lă sự tlioả thuận giữa người vận chuyển hăng không vă hănh khâch, theo đó bín vận chuyển chuyín chở hănh khâch,
T râc h n h iệm p h â p lý cu a n g ư ờ ìvậ n ch u yển h ả n g kh ôn g
19
Trang 21hành lý đến địa điểm đã định theo thoả thuận, còn hành khách phải thanh toán cước phí vận chuyển.
Mặc dù không nêu cụ thể khái niệm về hợp dồng vận chuyển hành khách nhưng Luật Hàng không dân dụng Việt Nam đã quy định tại điều 65: Theo hợp đồng vận chuyển hành khách, hành lý bâng đường hàng không, người vận chuyển có nghĩa vụ vận chuyển hành khách và hành lý tới địa điểm đến theo chuyến bay đã ghi trong vé, giữ chỗ cho hành khách trong tầu bay và giao hành lý ký gửi cho người có quyền nhận; hành khách có nghĩa vụ thanh toán tiền cước và phụ phí vận chuyển, kể cả tiền cước vận chuyển hành lý quá mức đưoc miễn cước
Trong hợp đồng vận chuyển hàng không, "Vé" là hình thức thể hiện cụ
thể của hợp đồng vận chuyển hành khách giữa người vận chuyển với cá nhân hành khách, là vé máy bay, thường được gọi là vé hành khách (passenger
ticket and baggage check) Vé hành khách, hành lý và phiếu nhận hành lý là
chung từ vận chuyển hành khách, hành lý bàng tầu bay, là bằnq chứng về
việc kỷ kết hợp đồng, điều kiện của hợp đồng và việc đã tiếp nhận hành lý để
vận chuyển (Điều 66, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam) Việc mất hoặc
ghi không đầy đủ chi tiết hoặc sai quy cách trong vé, phiếu nhận hành lý không ảnh hưởng đến sự tồn tại và giá trị của hợp đồng
“Người vận chuyển1’ theo quy định tại Điều lệ vận chuyển của VN, là
người vận chuyển hàng không xuất vé và tất cả các người vận chuyển hàng không vận chuyển hoặc cam kết vận chuyển hành khách và hành lý của hành khách hoặc thực hiện các dịch vụ khác liên quan tới việc vận chuyển bằng đường không đó Người vạn chuyển có thể là pháp nhãn hoặc cá nhân được phép kinh doanh vận chuyển hành khách, ở Việt Nam, đối vưi loại phương tiện giao thông đặc biệt như máy bay, bên vận chuyển phải là doanh nghiệp
có tư cách pháp nhân
T rá i h n h iệm p h á p lý cù a n ỹ ư ờ iv ậ n ch u yển h à n g không
20
Trang 22Trong vận chuyển bằng đường hàng không, “hành khách” phải là người
được ghi tên trong vé máy bay, là chủ thể của hợp đồng vận chuyển hành khách Hành khách là một cá nhân Đó là người được nhà vận chuyển đưa từ điểm đi tới điểm đến theo hành trình được ghi trên vé Vì nhiều lý do an ninh, bảo hiểm nên vé máy bay là chứng từ không thể chuyển nhượng, chỉ người có tên ghi trên vé mới được sử dụng vé, người năo có vé đế tên người khác sẽ bị coi là hành khách đi lậu và do vậy ngưòi chuyên chở không chịu trách nhiệm gì về họ Khoản d điều 3 Điều lệ vận chuyển hàng không dân
dụng Việt Nam quy định: Vé không thể chuyển nhượng Trường hợp người
xuất trình vé không phải là người được hưởng quyền vận chuyển theo vé hoặc
quyền hoàn trả thì Người vận chuyển không có trách nhiệm với người được
hưởng những quyền đó nếu Người vận chuyển đúng là đã vận chuyển hoặc hoàn trả lữi tiền cho người xuất trình vé đố.
Luật Hàng không dân dung Việt Nam và Công ước Vacsava không có điều khoản nào quy định về việc thành lập hợp đồng vận chuyển hành khách bằng đường hàng không Điều 66 Luật Hàng không dân dụng Việt Nam và điều 3 Công ước Vacsava coi hợp đồng vận chuyển hành khách, hành lý là loại hợp đồng hiệp ý (consensus), nghĩa là đồng thoả thuận lúc hành khách
nhận vé máy bay Vé hành khách là bằng chứng hiển nhiên của việc kỷ kết và
điều kiện của hợp đồng vận chuyển (mục b điều 23 nghị định thư Lahay
1955) Chỉ có hành khách được ghi tên trên vé mới được coi là chủ thể của
hợp đồng: Vé được coi là bằng chứng của hợp đồng vận chuyển giữa Người
vận chuyển và hành khách được gh, tên trên vé Các điều kiện của hợp đồng
được ghi trên vé là bản tóm tắt một s ố điều khoản của Đ ều lệ vận chuyển
(mục a khoản 1 điều 3 Điều lệ vận chuyển hành khách)
T rá c h n h iệm p h á p lý củ a ngưònvận ch u yển h à n g kh ôn g 21
Trang 23b Các loại hợp đồng vận chuyển hành khách bằng hàng không
Để đáp ứng nhu cầu vận chuyển hành khách, có thể thiết lập nhiều loại hợp đồng giữa các chủ thể: Hợp đồng thuê chuyến, vé máy bay Trong hợp đồng thuê chuyến, chủ thể ký kết có thể là nhà vận chuyển (pháp nhân) với
cá nhân hoặc với một pháp nhân khác Tuỳ theo từng loại chủ thể mà hợp đồng đó được xác định là hợp đồng dân sự hay hợp đồng kinh tế theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam Họp đồng dưới hình thức vé máy bay (vé hành khách) chủ thể bao giờ cũng được thực hiện giữa một bên là người vận chuyển (pháp nhân) với một bên là cá nhân (hành khách), là hợp đồng dân sự Vé hành khách (passenger tiket and baggage check) không chỉ
là sự thể hiện hình thức ký kết hợp đồng giữa các chủ thể mà còn được coi là một loại chứng từ vận chuyển
c Các điều khoản chủ yếu của hợp đồng vận chuyển hàng không
Luật Hàng không dân dụng Việt Nam không quy định rõ các điều khoản chủ yếu được ghi trong hợp đồng vận chuyển giữa người vận chuyển và hành khách (vé hành khách) nhưng các điều khoản này đã được quy định cụ thể, thống nhất giữa các hãng hàng không trên thế giới thông qua Công ước Vacsava năm 1929, là công ưóc để thống nhất một số quy tắc về vận tải hàng
không quốc tế Điều 3, khoản 1 công ước Vacsava quy định: Đ ể vận chuyển
hành khách, người chuyên chở phải giao cho hành khách vé gồm các chi tiết sau:
al Ngày và nơi phát hành;
b! Nơi khởi hành và nơi đến;
d Các điểm dừng thoả thuận, với điều kiện là người vận chuyển có thể
lưu quyền thay đổi các điểm dừng trong trường hợp cần thiết và nếu người
vận chuyển thực hiện quyền đó, thì việc thay đổi đố s ẽ phải không ảnh hưởng
đến tính chất quốc tế của việc vận chuyển;
T rá c h n h iệm p h á p lý c ủ a n g ư ờ ivậ n ch u yên h à n g kh ô n g 22
Trang 24d/T ền và địa chỉ của nạười chuyên chở hoặc những người chuyên chở;
eí Một lời tuyên bồ' rằng việc vận chuyển lệ thuộc vào những quy tắc
liền quan đến trách nhiệm do Công ước này lập nên
Từ năm 1955, các điều khoản chủ yếu bắt buộc phải ghi trên vé được thay đổi theo mục a điều 3 Nghị định thư Lahay: Đối với việc vận chuyển hành khách, vé được giao ghi:
a/ Chỉ rõ nơi đi và nơi đến;
b/ Nếu những nơi đi và nơi đến nằm trên lãnh thổ của một nước thành viên, một hoặc hơii một nơi dừng thoản thuận ở trong lãnh thổ của một nước khác, thì ít nhất cũng chỉ rõ một nơi dừng đã thoả thuận như vậy;
c/ Thông báo rõ là, nếu hành trình của hành khách có liến quan tới một nơi đến cuối cùng hoặc một nơi dừng ở một nước khác, không phải nước
đi thì áp dụng Công ước Vacsava để điều chỉnh và trong mụi trường h<fp sẽ giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở đối với chết chóc, thương tật cá nhân và về mất mát hay hư hỏng của hành lý
Điều lệ của IATA và Công ước Vacsava cũng cho phép các hãng hàng không có thể đặt ra trong họp đồng (vé máy bav) một số quy tắc, thể lệ miễn
là không trái với Công ước Vacsava (Điều 33 Cóng ước Vacsava) [14; tr 77]
Vé hợp lệ được Người vận chuyển chấp nhận vận chuyển phải là vé được hành khách xuất trình khi còn giá tĩị và được xuất theo đúng quy định của Người vận chuyển và còn đủ tờ vận chuyển của chuyẽn bay đó và tất cả các
tờ vận chuyển chưa sử dụng khác cùng với tờ hành khách Hành khách cũng không được vận chuyển nếu vé xuất trình bị rách nát hoặc bị sưả đổi bởi người khác không phải Người vận chuyển hoặc đại lý được uỷ quyền sửa đổi
1.2.2 Trách nhiệm pháp lý của người vận chuyển hàng không
Pháp luật Việt Nam điều chỉnh trách nh êm pháp lý của người vận chuyển hành khách trong Bộ Luật dân sự, điều chỉnh trách nhiệm pháp lý
T rá c h n h iệm p h á p ly cù a n g ư ờ ivậ n ch u yển h à n g k h ôn g
23
Trang 25của người vận chuyển hàng không trong Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 1991, Luật sửa đỏi và bổ sung một số điều của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 1995, Điều lệ vận chuyển hành khách và hành lý của Hãng hàng không quốc gia Việt Nam năm 1996 và các văn bản pháp quy khác mang tính chất điều chỉnh trách nhiệm của người vận chuyển xuất phát
từ quan hệ hợp đồng vận chuyển với hành khách Luật Hàng không dân dụng Việt Nam quy định về vấn đề này từ điều 72 đến điều 81 và các điều khoản khác có liên quan chặt chẽ đến hợp đồng vận chuyển hàng không Căn cứ vào các quy phạm pháp luật về trách nhiệm pháp lý đối với nhà vận chuyển
và điều kiện cụ thể mà mỗi hãng tự quy định trách nhiệm pháp lý riêng cho mình: Quy định của người vận chuyển Quy định phục vụ hành khách của người vận chuyển là các quy tắc áp dụng trong việc vận chuyển hành khách
và hành lý Các quy tắc này do người vận chuyển ban hành và có hiệu lực từ ngày xuất vé, là các quy định riêng của Hãng Đó chính là sự cụ thể hoá, quy trình hoá việc thực hiện các quy định trong Điều lệ vận chuyển để vừa đảm bảo thực hiện đúng Điều lệ vận chuyển, vừa đáp ứng được ycu cầu cạnh tranh với các Hãng vận chuyển khác trong điều kiện, khả năng của Hãng vận chuyển
Là một loại vận chuyển đạc biệt với kỹ thuật cao và mang tính quốc tế, hợp đổng vận chuyển hành khách và theo đó là nghĩa vụ pháp lý và trách nhiệm pháp lý chịu ảnh hưởng nhiều của Luật quốc tế Những quy định của pháp luật Việt Nam điều chỉnh lĩnh vực này thường tương tự như pháp luật quốc tế, là sự nội địa hoá pháp luật quốc tế Trong các quan hệ pháp luật hàng không, nguyên tắc Pacta Sunt Sevanda luôn được tôn trọng Khoản 1
điều 4 Luật Hàng không dân dụng Việt Nam quy định: Nếu điều ước quốc tế
mà Việt Nam kỷ kết hoặc tham gia có quy định khác với Luật này, thì áp dụng điều ước quốc tế Việt Nam đã chính thức tham gia nhiều công ước
T r á c h n h iệm p h á p lý củ a n g ư ờ ivậ n ch u y ể n h à n g k h ô n g
24
Trang 26quốc tế về Hàng không dân dụng Những quy phạm của Luật Hàng không quốc tê ảnh hưởng và chi phối về hợp đồng vận chuyển hàng không mà theo
đó là trách nhiệm pháp lý của người vận chuyển hành khách được ghi nhận trong "Công ước nhằm thống nhất những quy tắc nhất định liên quan đến vận chuyển quốc tế bằng tầu bay được ký kết tại Vacsava ngày 12 tháng 10 năm 1929" Công ước Vacsava là một văn bản pháp luật quốc tế nhằm thống nhất những quy phạm thực chct và xung đột điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong việc vận chuyển hàng không quốc tế Công ước chiếm một vị trí rất quan trọng trong việc phát triển ngành hàng không dân sự quốc tế Để phù hợp với sự phát triển của hàng không dân sự, công ước đã được sửa đổi nhiều lần bởi các Nghị định thư, tạo thành Hệ thống Công ước Vacsava Trong đó, Nghị định thư Lahay năm 1955 là văn bản sửa đổi và bổ sung một số điều về vận chuyển hàng không Việt Nam đã chính thức gia nhập công ước Vacsava
vào ngày 11/10/1982 và ngày 01/01/1983 Công ước đã có hiệu lực ở Việt
Trong quan hệ hợp đồng vận chuyển, Luật Hàng không cho phép các bên chủ thể hợp đồng có thể thoả thuận việc áp dụng luật nưóc ngoài với điều kiện không vi phạm điều cấm của pháp luật và phong tục tập quán Việt Nam (điều 4 khoản 2 Luật Hàng không) Ngoài ra, pháp luật nước ngoài có thể được áp dụng tại Việt Nam để giải quyết tranh chấp phát sinh nếu được pháp luật Việt Nam quy định hoặc có thoả thuận trong hợp đồng với điều kiện
T r a c h n h iệ m p h á p /ý c u a n g ư ờ iv ậ n ch u yển h à n g k h ô n g
25
Trang 27không trái với trật tự và lợi ích công cộng của Việt Nam (điều 4 khoản 3 Luật Hàng không).
Điều 3 khoản 1 mục b Luật Hàng không quy định: Luật này được áp
dụng đối với hoạt động hàng không dân dụng Việt Nam ngoài lãnh thổ Việt
Nam, nếu pháp luật của nước sở tại không quy định khác.
Nếu xuất hiện những quan hệ pháp lý khác mà Luật Hàng không không
dự liệu trước thì áp dụng các quy định tương ứng khác của Việt Nam
1.2.3 Đặc điểm và bản chất pháp lý trách nhiệm của người vận chuyển
hàng không đôi với khách bị lỡ chuyên
Hàng không là một loại hình vận chuyển mang tính đặc thù cao Với tốc
độ vận chuyển nhanh chóng, thuận tiện, dịch vụ hoàn hảo, nó được hành khách quyết định lựa chọn vì có đặc điểm vận chuyển ưu việt hơn các loại hình vận chuyển khác nhằm thực hiện đúng kế hoạch của mỗi hành khách Việc hành khách không được vận chuyển đúng thòi gian, hành trình đã được ghi nhận trong hợp đồng vận chuyển là ngoài sợ mong muốn của các chủ thể hợp đồng
Hành khách bị lỡ chuyến: Là hành khách không thực hiện được chuyẽn
bay theo đúng giờ tại điểm xuất phát hoặc điểm đến theo giờ đã được xác định trong hợp đồng A in chuyển giữa hành khách và nhà vận chuyển
'ITieo đó, khách bị lỡ chuyến là khách có chuyến bay bị chậm, huỷ, bị nhỡ, thay đổi hành trình bắt buộc vì nhiều lý do khác nhau và chuyến bay của khách có thể bị thay đổi hoặc không thay đổi số hiệu chuyến bay Vận chuyển hàng không là một loại vận chuyển phức tạp, do vậy người vận chuyến phải tiên lượng trước những khả năng có thể xảy ra làm cho hành khách không thể xuất phát hoặc đến điểm cuối cùng của hành trình theo
T rá c h n h iệm p h á p lý c ủ a n g ư ờ iv ậ n ch u yển h à n g kh ôn g
26
Trang 28đúng thời gian đã cam kết trong hợp đồng vận chuyển Việc quy định trách nhiệm pháp lý của người vận chuyển trong những trường hợp đó là cần thiết
để đảm bảo quyền lợi của khách hàng Trách nhiệm pháp lý của người vận chuyển được quy định càng chặt chẽ, thống nhất với các quy định của pháp luật càng tạo ưu thế cạnh tranh của người vận chuyển
Trách nhiệm pháp lý của người vận chuyển hàng không xuất phát nghĩa
vụ của người vận chuyển đối với hành khách Để vận chuyển hành khách đúng theo thời gian, lịch trình đã được ghi nhận trong hợp đồng vận chuyển, người vận chuyển phải thực hiện đúng các nghĩa vụ của mình Các nghĩa vụ
cơ bản được quy định tại điều 532 Bộ luật dân sự yêu cầu người vận chuyển phải:
- Chuyên chở hành khách từ địa điểm xuất phát đến đúng địa điểm đến đúng giờ, văn minh, lịch sự và bằng phương tiện đã thoả thuận một cách
an toàn, theo lộ trình và với cước phí hợp lý theo loại phương tiện của lộ trình đó;
- Bảo đảm thời gian xuất phát đã được quy định hoặc theo thoả thuận;
- hoàn trả lại cho hành khách cước phí vận chuyển, nếu hành khách đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng và trả lại vé đúng thời hạn theo điều
lệ vận chuyển do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành;
Đồng thòi với nghĩa vụ phải thực hiện nhằm đảm bảo vận chuyển hành khách đúng cam kết trong hợp đồng, người vận chuyển cũng có các quyền cơ bản nhất định đối với hành khách Các quyền cơ bản đó được Bộ luật dân sự quy định tại điều 533:
- Yêu cầu hành khách trả đủ cước phí vận chuyển;
- Từ chối chuyên chở hành khách đã có vé hoặc đang trong hành trình nhưng xảy ra các trường hợp:
T rá c h n h iệm p h á p lý củ a n g ư ờ ivậ n ch u yển h à n g kh ôn g
27
Trang 29+ Hành khách không chấp hành những quy định của bên vận chuyển hoặc
có hành vi làm mất trật tự công cộng, cản trở công việc của bên vận chuyển,
đe doạ đến tính mạng, gây ảnh hưởng đến sức khoẻ, tài sản của người khác hoặc có những hành vi khác không bảo đảm an toàn trong hành trình, trong trường hợp này, người vận chuyển không phải trả lại tiền vé cho hành khách
và được phạt vi phạm đối với hành khách nếu điều lệ vận chuyển có quy định
+ Do tình trạng sức khoẻ của hành khách mà bên vận chuyển thấy rõ rằng việc vận chuyển sẽ gây nguy hiểm cho chính hành khách đó hoặc những người khác trong hành trình; hoặc để ngăn ngừa dịch bệnh lây lan Trong những trường hợp này, người vận chuyển sẽ trả lại hành khách tiền vé hoặc
số tiền tương ứng của phần vé chưa sử dụng, sau khi đã trừ lệ phí
Hợp đồng vận chuyển hành khách bằng đường hàng không là loại họp đồng dân sự mang tính chất song vụ, quyền và nghĩa vụ của các bên luôn tương ứng với nhau và không thể tách rời Quyền của bên này luôn tương ứng với nghĩa vụ của bên kia và ngược lại Các quyền và nghĩa vụ của người vận chuyển luôn tương ứng với các quyền và nghĩa vụ của khách hàng Các quyền và nghĩa vụ cơ bản của hành khách để được đảm bảo chuyên chở đúng theo hợp đồng được ghi nhận tai điều 534 và 535 Bộ Luật dân sự
Theo điều 534, hành khách có quyền:
- Yêu cầu được chuyên chở đúng bằng phương tiện vận chuyển và giá trị loại vé với lộ trình đã thoả thuận;
- Yêu cầu thanh toán chi phí phát sinh hoặc bồi thường thiệt hại, nếu bên vận chuyển có lỗi trong việc không chuyên chở đúng thời hạn, địa điểm
Trang 30ngừa c ch bệnh lây lan và những trường hợp khác do pháp luật quy định hoặc theo thoả thuận;
- Nhận hành lý tại địa điểm đã thoả thuận theo đúng thời gian, lộ trình;
- Tạm dừng hành trình trong thời hạn và theo thủ tục do điều lệ vận chuyển quy định
Mặt khác, để người vận chuyển đảm bảo thực hiện được trách nhiệm của mình đối với hành khách, hành khách cũng cần phải thực hiện đúng các nghĩa vụ của người được vận chuyển Theo điều 534, để được van chuyển đúng hợp đồng, hành khách phải thực hiện đúng nghiã vụ của mình, baogồm:
- Trả đủ cước phí vận chuyển;
- Có mặt tại điểm xuất phát đúng thời gian đã thoả thuận;
- Tôn trọng, chấp hành đúng các quy định của bên vận chuyển và các quy định khác đổ dam bảo an toàn giao thỏng;
Do vậy, có thể được coi là bên vận chuyển vi phạm hợp đồng làm căn cứ phát sinh trách nhiệm pháp lý của người vận chuyển khi họ vi phạm nghĩa vụ của bên vận chuyển đã được quy định tại Điều 532 Bộ luạt dân sự hoặc vi phạm nghĩa vụ được ghi nhận tại hợp đổng vận chuyển, dẫn đến hậu quả là hành khách bị lỡ chuyến bay, không được thực hiện vận chuyển theo đúng cam kết đã đươc ghi nhận trong hợp đồng
Đồng thời, người vận chuyổn cũng sẽ được miễn trách trong trường hành khách vi phạm nghĩa vụ của họ được quy định tại điều 534 Bộ luật dân
sự hoặc vi phạm nghĩa vụ được ghi nhận trong hợp đồng vận chuyển, dẫn đến hậu quả người vận chuyển dù rất cố gang cũng không thể thục hiện vận chuyển hành khách đúng cam kết đã được ghi nhận trong hợp đồng
T r á c h n h iệm p h á p lý củ a n g ư ờ ivậ n ch u yển h à n g k h ô n g 29
Trang 31Trong trường hợp hành khách không xuất phát, không đến được điểm cuối của hành trình mà không phải do lỗi của hành khách thì người vận chuyển phải chịu trách nhiệm pháp lý do chậm thực hiện nghĩa vụ theo quy
định tại điều 313 Bộ luật dân sự: Khi nghĩa vụ dân sự chậm được thực hiện,
thì người có quyền cố th ể gia hạn đ ể người cố nghiã vụ hoàn thành nghĩa vụ; nếu quá thời hạn này mà nghĩa vụ vẫn chưa được hoàn thành, thì theo yêu
cẩu của người có quyền, người có nghĩa vụ vẫn phải thực hiện nghĩa vụ và bồi thường thiệt hại; nếu việc thực hiện nghĩa vụ không còn cần thiết đối với
người có quyền, thì người này có quyền từ chối tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ và yêu cầu bồi thường thiệt hại (khoản 1)
T rá c h n h iêm p h á p lý củ a n g ư ờ iv ậ n ch u y ể n h à n g không
30
Trang 32CHƯƠNG II
CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VÀ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG Đ ối
VỚI KHÁCH BỊ LỠ CHUYẾN
2.1 Các quy định vê trách nhiệm pháp lý của người vận chuyên hàng
không đôi với khách bị lỡ chuyên
2.1.1 Các quy định của pháp luật hiện hành
Trách nhiệm pháp lý của người vận chuyển hàng không ở Việt Nam có sự phân biệt giữa hai đối tượng: vận chuyển quốc tế và vận chuyển nội địa, căn
cứ vào các quy phạm pháp luật điều chỉnh
a Trách nhiệm pháp lý
Đối với vận chuyển nội địa, trách nhiệm pháp lý người vận chuyển phải căn cứ vào các quy phạm pháp luật của Việt Nam: Bộ luật dân sự, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam, Điều lệ vận chuyển hành khách và hành lý của Hãng hàng không quốc gia Việt Nam
Theo Bộ luật dân sự Việt Nam, trách nhiệm dân sự của người có nghĩa vụ
khi không thực hiện đúng nghĩa vụ được thực hiện theo nguyên tắc Người có
nọhĩa vụ mà khônẹ, thực hiện hoặc thực hiện khônq đúng nghĩa vụ, thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối VỚI nqười có quyền ( Khoản 1, điều 308 Bộ Luật
dân sự)
Người có nghĩa vụ chỉ được miễn trừ trách nhi‘-m khi nghĩa vụ không thực hiện được hoàn toàn do lỗi của người có quyền và khi nghĩa vụ không thể thực hiện được trong điều kiện bất khả kháng, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác
Theo khoản 3 điều 532 Bộ luật dân sự, bên vận chuyển có nghĩa vụ "Bảo
đảm thời gian xuất phát đã được quy định hoặc theo thoả thuận".
T rá c h n h iệm p h á p lý c ù a n g ư ờ ivậ n ch u yển h ả n g k h ôn g
31
Trang 33Tương ứng với nghĩa vụ của bên vận chuyển, Bộ luật dân sự quy định về quyền của hành khách được:
+ Yêu cầu được chuyên chở đúng bằng phương tiện vận chuyển và giá trị loại vé với lộ trình đã thoả thuận
+ Yêu cầu thanh toán chi phí phát sinh hoặc bồi thường thiệt hại, nếu bên vận chuyển có lỗi trong việc không chuyên chở đúng thời hạn, địa điểm đã thoả thuận
+ Tạm dừng hành trình trong thời hạn và theo thủ tục do điều lệ vận chuyển quy định
+ Hoàn trả cước phí vận chuyển, nếu hành khách đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng và trả lại vé đúng thời hạn theo điều lệ vận chuyển do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành
Ngoài ra, luật Hàng không Việt Nam còn quy định tại điều 67:
Người vận chuyển phải quan tâm, chăm sóc hành khách và phải thông báo
kịp thời cho hành khách về chuyển bay Trong trường hợp vận chuyển h gián đoạn hoặc bị chậm lại trong hành trình, người vận chuyển có trách
nhiệm chăm lo ăến điều kiện sinh hoạt của hành khách và phải chịu chi phí cần thiết.
Về thời gian thực hiện giờ xuất phát và giờ đến điểm cuối được ghi nhận trong hợp đồng vận chuyển, điều 11 Điều lệ vận chuyển hàng không quy định:
1 Người vận chuyển c ố gắng hết sức đ ể vận chuyển hành khách và hành lý
của hành khách đúng theo lịch Thời gian ghi trên vé, trong lịch bay hoặc
ở những chỗ khác không phải là sự đảm bảo và không phải là một phần của hợp đồng vận chuyển và Người vận chuyển không chịu trách nhiệm
về việc thu xếp nối chuyến.
T r á c h n h iệm p h á p lỷ cù a n g ư ờ iv ậ n c h u y ể n h à n g không 32
Trang 342 Lịch bay có th ể thay đổi mà không cố thông báo Khi hoàn cảnh đòi hỏi,
Nẹười vận chuyển cố thể thay đổi hoặc bỏ các điểm dừng ghi trên vé hoặc trong lịch bay và có thể thay đổi người vận chuyển hoặc tàu bay mà
không cần thông báo.
3 Người vận chuyển không chịu trách nhiệm về những sai sót trong lịch
bay
4 Khi hoàn cảnh yêu cầu, Người vận chuyển cố thểhuỷ, chấm dứt, thay đổi,
hoãn hoặc làm chậm bất kỳ một chuyến bay nào mà không cần được báo
trước, và trong những trường hợp như vậy, Người vận chuyển sẽ chú ỷ thích đán ạ đến lợi ích của hành khách, s ẽ vận chuyển, thay đổi đường bay
hoặc hoàn trả tiền cho hành khách như quy định trong điều 6 khoản 2
nhưng không chịu các trách nhiệm hơn nữa đối với hành khách.
Đối vói vận chuyển quốc tế, trách nhiộin pháp lý của Người vận chuyển được điều chỉnh bởi các quy định của còng ước quốc tế về vận chuyển hàng không mà Việt Nam tham gia - Công ước Vacsava nam 1929
Theo Công ước Vacsava, người vận chuyển chịu trách nhiệm về thiệt hại
do sự chậm trễ xảy ra trong quá trình vận chuyển hành khách, hành lý và hàng hoá (điều 19)
Tương ứng với quv định này, khoản 1, Điều 77 Luật Hàngkhông dân dụng
Việt Nam quy định rõ: Người vận chuyển có trách nhiệm bồi thường thiệt
hại xảy ra do vận chuyển chậm trễ, nếu không chứng minh được rằng mình, nhân viên hoặc đại lý của mình đã áp dụng mọi biện pháp đ ể tránh thiệt hại
hoặc không th ể áp dụng các biện pháp như vậy
Như vậy, theo luật pháp quốc tế và pháp luật quốc gia, người vận chuyển phải có trách nhiệm đối với hành khách khi thực hiện vận chuyển chậm trễ
T rá c h n h iệ m p h á p lý c ủ a n g ư ờ ivậ n ch u yển h à n g không
33
Trang 35b Giới hạn trách nhiệm
Người vận chuyển phải có trách nhiệm bồi thường đối với hành khách khi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đủ nghĩa vụ của mình, để cho khách bị lỡ chuyến bay đã được giao kết trong hợp đồng vận chuyển Trách nhiệm bồi thường cũng như các chế độ phục vụ khác của người vận chuyển đối với khách nhằm đảm bảo quyền lợi cho hành khách - chủ thể của hợp đồng vận chuyển là một trong những hình thức bù đắp của người vận chuyển đối với thiệt hại mà hành khách phải gánh chịu do việc vi phạm hợp đồng vận chuyển của người vận chuyển Việc bồi thường thiệt hại hoặc áp dụng các chế độ phục vụ khác đối với hành khách bị lỡ chuyến của người vận chuyển hàng không cần phải tuân thủ theo quy định của pháp luật, một mặt phải đảm bảo quyền lợi của khách, bù đắp những thiệt hại mà khách phải gánh chịu, mặt khác cũng cần có giới hạn trách nhiệm để đảm bảo sự phát triển của doanh nghiệp hàng không
Một trong những điều khoản được ghi rõ trong Điểu kiện hợp đồng của vé máy bay Luật áp dụng là Công ước Vacsava, vì công ước này giới hạn trách nhiệm cua người vận chuyển đối với hành khách Điều 3 khoản 2 Nghị định thư Lahay coi vé máy bay là bằng chứng cúa hợp đồng vận chuyển Nếu người vận chuyển nhận chở một hànli khách không có vé thì họ phải chịu trách nhiệm vô hạn (trường hợp cấp vé tập thể, dù hành khách không được cấp vé trực tiếp thì họ cũng được coi như dã được cấp vé và người vận chuyển cũng chỉ phải chịu trách nhiệm hữu hạn)
Khoản 1 điều 20 Công ước giối hạn trách nhiệm: Người vận chuyển
không chịu trách nhiệm, nếu phía vận chuyển chứng minh được rằng mình và
đại lý của mình đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết đ ể tránh thiệt hại hoặc
đã không th ể áp dụng các biện pháp như vậy.
T r á c h n h iêm p h á p lý cu a n g ư ở ivậ n ch u yển h à n g k h ôn g
34
Trang 36Khoản 2 điều 77 Luật Hàng không dân dụng Việt Nam: Việc bồi thường
thiệt hại do vận chuyển chậm trễ không vượt quá mức giới hạn trách nhiệm dân sự của người vận chuyển.
Khoản 1 điều 78 Luật HKDD Việt Nam chỉ ghi nhận mức giới hạn trách
nhiệm đối với vận chuyển quốc tế bằng hàng không: Người vận chuyển chỉ
được hưởng mức giới hạn trách nhiệm dân sự trong việc vận chuyển quốc tế
bằng tầu bay theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam kỷ kết hoặc tham gia.
Đối với vận chuyển quốc tế theo công ước Vacsava, giới hạn trách nhiệm đối với hành khách bị lỡ chuyến không được ấn định cụ thể Trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ được giởi hạn chung ở mức tối đa 125000Franc (đổng Franc Pháp chứa 62,5 miligram vàng 900/1000) phù hợp với luật toà án mà
vụ kiện được thụ lý Trong những hợp đổng đặc biệt, nếu các bến có thoả thuận thì mức bồi thường có thể cao hơn Bất kỳ quy định nào nhằm giảm bớt trách nhiệm hoặc ấn định thấp hơn mức đã quy định trong công ước đều không có giá trị và bị coi là quy định vô hiệu
Đối với vận chuyển nội địa, giới hạn trách nhiệm căn cứ vào các quy phạm pháp luật Việt Nam Tuy nhiên, giói hạn trách nhiệm của người vận chuyển trong việc vận chuyển chậm trễ không được quy định cụ thể trong các vãn bản quy phạm pháp luật Việt Nam Việc ấn định mức giói hạn trách nhiệm của người vận chuyển chỉ được ghi nhận trong Điều lệ vận chuyển hành khách bằng đường hàng không đối với trường hợp hành khách bị chết hoặc bị thương thân thể với mức tối đa tổng số tiền trị giá tương đương 100.000SDR kể cả các chi phí Đối với trường hợp bị chậm chuyến, theo điều lệ vận chuyển người vận chuyển không phải chịu trách nhiệm, do vậy không quy định trách nhiệm và mức giói hạn trách nhiệm
T rá c h n h iệm p h á p l ý c ủ a ngư ctivận ch u y ể n h à n g không
35
Trang 372.1.2 Quy định của nhà chuyên chở:
Hành khách là đối tượng vận chuyển thường xuyẽn và chủ yếu của hầu hết các hãng hàng không Để phục vụ hành khách theo một quy trình chuẩn mực và thống nhất, thông thường các hãng vận chuyển hàng không đều có
"Quy định phục vụ hành khách" trên cơ sở phù hợp với pháp luật quốc tế và quốc gia về vận chuyển hành khách, phù hợp với năng lực cụ thể trong từng thời kỳ phát triển của từng hãng vận chuyển Quy định phục vụ hành khách của hãng Hàng không quốc gia Việt Nam (VN) hiện nay mang tính tương đồng đối với các hãng hàng không khác trong khu vực
Vietnam airlines đã quy định về phục vụ hành khách có liên quan đến việc xử lý các tình huống khách lỡ chuyến:
a Phục vụ hành khách chuyến bay thông thường:
a l Ngay từ khi phục vụ khách đi:
Theo quy định phục vụ hành khách ( mục 2.16), ngay khi khách cuối cùng
đã làm xong thủ tục check-in, đại diện VN tại sân bay có trách nhiệm gửi các loại điện văn liên quan đến việc phục vụ khách ở sân bay đến, ở các sân bay kế tiếp nơi mà khách nối chuyến:
- Điện SOM ( Seats Occupied Message): Thông báo cho những sân bay
kế tiếp trong hành trình về những ghế đã được giữ chỗ trên máy bay
- Điện PSM (Passenger Service Message): Thông báo cho sân bay hạ cánh tiếp theo các thông tin liên quan đến hành khách trên máy bay cần
sự trợ giúp đặc biệt
- Điện PTM (Passenger Transíer Message):được sử dụng để thông báo cho các sân bay kế tiếp trên hành trình những thông tin vể khách nối chuyến và hành lý của họ (Một điện PTM có thể gửi riêng đến bất kỳ một sân bay kế tiếp nào trên hành trình mà tại sân bay đó, hành khách
T rá c h n h iệm p h á p lý củ a n g ư ò iv ậ n ch u yển h à n g kh ô n g
36
Trang 38thực hiện việc nối chuyến sang một chuyến bay khác có thời gian nối chuyến trong vòng 6 giờ).
Theo quy định hoặc thoả thuận tại từng khu vực, bất kỳ một sân bay nào trên hành trình nhận được PTM về hành khách nối sang chuyến bay của hãng khác sẽ được thông báo ngay cho hãng đó những thông tin về khách nối chuyến
- Điện SAL (Seat Available List Message): dùng để thông báo cho các sân bay kế tiếp trên hành trình có thể chấp nhận khách đặt chỗ muộn hoặc khách check-in có vé open-date vào những ghế còn trống trên máy bay vào thời điểm nhận điện, khi mà không có sự cho phép trước từ Trung tâm đặt giữ chỗ
- Ngoài ra, đại diện VN tại sân bay còn sử dụng điện PIL (Passenger Iníormation List) cho tổ bay những thông tin cần thiết liên quan đến hành khách trên chuyến bay
a.2 Đối với khách tại sân bay đến:
Về nguyên tắc, khi khách đã đến và rừi khỏi sân bay nơi đến, hợp đồng vận chuyển coi như đã hoàn tất Do vậy, người vận chuyển không phải cung cấp thêm bất kỳ dịch vụ nào khác, kể cả khách nối chuyến sang các chuyến bay khác của VN Tuy nhiên khách sẽ được người vận chuyển (VN) cung cấp các dịch vụ ăn uống, khách sạn tại sân bay khi khách đến trên chuyên bay của VN và thực hiện nối chuyến sang các chuyến bay khác của VN trong các trường hợp:
- Hành khách phải dừng tại sân bay ngoài ý muốn của họ (stopover)
- Hành khách đã có sự thu xếp trước với hãng vận chuyển và các các dịch
vụ nêu trên đã được ghi trong vé
- Khách nối chuyến thương quyền 6 tại các sân bay quốc tế của Việt Nam
có thời gian nối chuyến lớn hơn 4 giờ
T rá c h n h iệm p h á p lý củ a n g ư ờ ivậ n ch u yển h à n g k h ôn g 37
Trang 39- Hành khách bị nhỡ việc nối chuyến vì lý do máy bay chở khách đến bị chậm và không có chuyến bay thay thế nào khác trong ngày.
- Khi xử lý chuyến bay bất thường mà việc giải toả khách phải thực hiện theo phương án chuyển đổi hành trình có thời gian dừng nối chuyến tại sân bay trung chuyển lớn hơn 04 giờ thì khách sẽ được phục vụ tại sân bay, kể cả đối với khách đến điểm trung chuyển hoặc xuất phát từ điểm trung chuyển là trên chuyến bay của hãng khác Ví du: Lịch bay ban đầu của khách là HAN-CDG, vì lý do chuyên bay HAN-CDG không thực hiện đưực phải chuyển khách sang HAN-HKG-CDG Nếu tại HKG, khách phải chờ nối chuyến trên 04 giờ thì sẽ được cung ứng dịch vụ tại sân bay HKG, kể cả khi chặng HKG-CDG không phải VN mà do AF thực hiện Đại diện của VN tại sân bay trung chuyển chịu trách nhiệm thực hiện việc này
a.3 Đôi vói khách tạm dừng, khách nối chuyên:
Là những điểm được ghi trên vé hoặc lịch bay của người vận chuyển trừ điểm đi và điểm đến
Trong những hoàn cảnh nhất định, người vận chuyển có thể thay đổi hoặc huỷ bỏ điểm tạm dừng mà không cần thông báo (Khoản 3, điều 4; khoản 2, điều 11 Điều lệ vận chuyển)
Nếu do việc huỷ bỏ điểm tạm dừng mà đó là nơi đến, nơi đi hay nơi tạm dừng của khách hoặc làm cho khách lỡ việc nối chuyến trong thời hạn hiệu lực của vé thì hiệu lực vé của hành khách đó được gia hạn cho đến chuyến bay tiếp theo gần nhất của người vận chuyển (Mục a, khoản 3, điều 3 Điều lệ vận chuyển)
T rá c h n h iệm p h á p lý c ủ a n g ư ờ i vậ n ch u yển h ùng k h ôn g
38
Trang 40■ Khách tạm dừng- Khách tạm dừng tại sân bay là khách tiếp tục hành
trình bay của mình trên cùng một chuyến bay Một chuyến bay được xác định bằng số hiệu chuyên bay, hành trình và thời gian bay theo lịch bay Khách tạm dừng được phân thành hai loại: Khách tạm dừng đồng nhất vàkhách tạm dừng kết hợp
■ Khách nối chuyên:hầ khách thực hiện việc nối chặng từ một chuyến bay
này sang một chuyến bay khác trong cùng một ngày hoặc trong khoảng thời gian không quá 24 giờ nếu như trong ngày đó không có chuyên bay theo hành trình nối chặng của hành khách
Khách nối chuyến được phân thành hai loại: Khách nối chuyến Online (bao gồm cả Online đồng nhất và Online kết hợp), là những hành khách nối chuyến có sự chuyển đổi từ chuyến bay này sang chuyến bay khác của cùng hãng chuyên chở tại sân bay trung chuyổn Khách nối chuyến Interline (bao gồm Interline đồng nhất và Interline kết hợp), là hành khách nối chuyến có
sự chuyển đổi chuyên bay của một hãng hàng không này sang chuyến bay của một hãng hàng không khác tại điểm trung chuyển
Đối với khách nối chuyên, VN giới hạn trách nhiệm đối với trường hợp khách nối chuyến sử dụng hai vé rời cho hành trình liên chặng:
- Trường hợp vé thứ nhất của khách cho chặng bay trên Vietnam airlines,
vé thứ hai cho chặng bay Irên một hãng khác: Vietnam airlines chỉ chịu trách nhiệm đối với vé có chặng bay trên VN và hợp đồng này sẽ chấm dứt ngay sau khi VN đã thực hiện xong chặng bay trên hoặc đã thực hiện việc hoàn vé cho khách Vì chặng bay sau không phải là hợp đồng của
VN, do vậy VN không chịu trách nhiệm đối với tất cả các yêu cầu về việc chuyển đổi hành trình, chuyển nhượng, hoàn vé., đối với vé rời của chặng bay sau cho dù các yêu cầu này có thể xuất phát từ nguyên nhân của việc
T rá c h n h iệm p h á p lý củ a n g ư ờ ivậ n ch u yển h à n g k h ôn g
39