Trong những năm qua, đã có m ột số công trình nghiên cứu về tội trộm cắp tài sản đã được công bố: Tác giả Vũ Thiện Kim có ,-:ông trình: “T rách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm tài
Trang 2HOÀNG VĂN HÙNG
TỘI TRỘM CẮP T À I SẢN
VÀ ĐẤU TRA N H PHÒNG C H ốN G TỘI
PHẠM NÀY Ở V IỆT NAM
Chuyên ngành : Luật Hình sự, Luật Tô tụng Hình
và Tội phạm học
Người hướng d ẫ n khoa học: P G S.T SK H LÊ VÃN CẨM
T H Ư V I Ẻ N
I PHONG ĐO
H À N Ồ I - 2007
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa được ai công
bô trong bất kỳ công trình nào khác, những nội dung trong luận án có
sử dụng tài liệu tham khảo đều trích nguồn đầy đủ.
Nghiên cứu sinh
Trang 4Chương 1: Tội trộm cắp tài sản trong luật hình sự Việt Nam 8
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của luật hình sự Việt Nam về tội trộm
cắp tài sản 8
1.2 Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản 20
_ _ t
1.3 Trách nhiệnxhình sự của người phạm tội trộm cắp tài s ả n 53
Chương 2: Tình hình tội trộm cắp tài sản, nguyên nhân và điều kiện
của tội phạm này .68
2.1 Tinh hình tội trộm cắp tài sản 68
2.2 Nguyên nhân và điều kiện của tội trộm cắp tài s ả n 115
Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng 136
chông tội trộm cắp tài s ả n
3.1 Dự báo tình hình tội trộm cắp tài sản từ nay đến năm 2 0 1 5 136
3.2 Quan điếm của Đảng và Nhà nước cần quán triệt trong đấu tranh
phòng chống tội trộm cắp tài s ả n 139
3.3 Những giải pháp đấu tranh phòng chống tội trộm cắp tài s ả n 142
KẾT LUẬN ỉ 76
Công trình liên quan đến luận án đã công bô
Tài liêu tham khảo
Trang 51 Bảng 2.1: Sô' vụ án và số bị cáo bị xét xử sơ thẩm về các tội xâm
phạm sở hữu từ năm 1997 đến năm 2006 69
2 Bảng 2.2: Số vụ án và số bị cáo bị xét xử sơ thẩm về tội trộm cắp tài
sản từ năm 1997 đến năm 2006 71
3 Bảng 2.3: Tỷ lệ số vụ án XXST về tội trộm cắp tài sản trong các tội
xâm phạm sở hữu từ năm 1997 đến năm 2006 73
4 Bảng 2.4: Tỷ lệ số vụ án XXST về tội trộm cắp tài sản trong tổng số
tội phạm từ năm 1997 đến năm 2006 74
5 Bảng 2.5: Tỷ lệ số vụ án XXST từ năm 1997 đến năm 2006 của tội
trộm cắp tài sản, tội giết người và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong
tổng số tội phạm 76
6 Bảng 2.6: Tỷ lệ của số bị cáo dưới 18 tuổi, từ 18 đến 30 tuổi và trên
30 tuổi trong số bị cáo XXST về tội trộm cắp tài sản từ năm 1997 đến
năm 2006 78
7 Bảng 2.7: Tỷ lệ về số người phạm tội trộm cắp tài sản là phụ nữ trong
tổng số bị cáo từ năm 1997 đến năm 2006 85
Trang 61 Biêu đồ 2.1: Xu hướng diễn biến của số vụ án và số bị cáo xét xử sơ thẩm
về các tội xâm phạm sở hữu từ năm 1997 đến năm 2006 70
2 Biểu đồ 2.2: Xu hướng diễn biến của số vụ án và sô bị cáo bị xét xử sơ
thẩm về tội trộm cắp tài sản từ năm 1997 đến năm 2006 72
3 Biểu đồ 2.3: Tỷ lệ số vụ án XXST về tội trộm cắp tài sản trong các tội
xâm phạm sớ hữu từ năm 1997 đến năm 2006 74
4 Biểu đồ 2.4: Tỷ lệ số vụ án XXST về tội trộm cắp tài sản trong tổng số tội
phạm từ năm 1997 đến năm 2 0 0 6 75
5 Biểu đổ 2.5: Tỷ lệ số vụ án XXST từ năm 1997 đến năm 2006 của tội
trộm cắp tài sản, tội giết người và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong
tổng số tội phạm 77
6 Biểu đồ 2.6: Tỷ lệ của số bị cáo dưới 18 tuổi, từ 18 đến 30 tuổi và trên 30 tuổi
trong số bị cáo XXST về tội trộm cắp tài sản từ năm 1997 đến năm 2006 79
7 Biểu đồ 2.7: Tỷ lệ về giá trị tài sản bị chiếm đoạt trong tội trộm cắp tài
sản theo độ tuổi của bị cáo (đơn vị tính: triệu đồng) 82
8 Biểu đổ 2.8: Tỷ lệ về số người phạm tội trộm cắp tài sản có tiền án, tiền
sự (phân theo độ tuổi) 83
9 Biểu đồ 2.9: Tỷ lệ về số người phạm tội trộm cắp tài sản bằng hình thức
đồng phạm (phân theo độ t u ổ i ) 84
10 Biểu đồ 2.10: Tỷ lệ về số người phạm tội trộm cắp tài sản là phụ nữ trong
tổng số bị cáo từ năm 1997 đến năm 2006 86
11 Biểu đồ 2.11: Tỷ lệ về trình độ học váh của người phạm tội trộm cắp tài sản 90
12 Biểu đồ 2.12: Tỷ lệ về sô vụ án trộm cắp tài sản được thực hiện bằng các
thủ đoạn khác nhau 98
13 Biểu đồ 2.13: Tỷ lệ về số vụ án trộm cắp tài sản có dùng công cụ, phương
tiện để phạm tội 99
14 Biểu đồ 2.14: Tỷ lệ về số vụ phạm tội trộm cắp tài sản theo thời gian 10:
15 Biểu đồ 2.15: Tỷ lệ về số vụ phạm tội trộm cắp tài sản trong nhà và ngoài nhà 10:
16 Biểu đồ 2.16: Tỷ lệ về loại tài sản bị chiếm đoạt trong tội trộm cắp tài s ả n 10-/
Trang 7BLHS Bộ luật hình sự
BLDS Bộ luật dân sự
BLHĐ Bộ luật Hồng Đức
BLGL Bộ luật Gia Long
BHLCC Bộ Hình luật Canh Cải
BTTH Bồi thường thiệt hại
CHLB Cộng hoà liên bang
CHND Cộng hoà nhân dân
CHDCND Cộng hoà dân chủ nhân dânCHXHCN Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
NCTN Người chưa thành niên
NCTNPT Người chưa thành niên phạm tộiNxb Nhà xuất bản
PGS Phó giáo sư
TNHS Trách nhiệm hình sự
TAND Toà án nhàn dân
TANDTC Toà án nhân dân tối cao
VKSND Viện kiểm s á t nhân dân
VKSNDTC Viên kiểm sát nhân dân tối cao
Trang 81 T ín h c ấ p ih iế ỉ của đề tà i
Sự nghiệp đổi mới do Đ ảng ta khởi xướng và lãnh đạo íừ năm 1936 đã thay đổi m ọi m ặt của đời sống xã hội V iệt N am trong những năm qua, kinh tế tăng trưởng liên tục, đời sống nhân dân nâng cao, an ninh chính trị được giữ vững, trậĩ tự,
an toàn xã hội có tiến bộ đáng khích lệ, vị th ế của Nhà nước Việt Nam trên thế giới tăng lên Tuy nhiên, b ên cạnh những thành tựu đã đạt được, vẫn còn không ít tồn tại, tiêu cực, trong đó tình hình tội phạm nói chung, tội trộm cắp tài sản nói riêng, diễn biến phức tạp và gây bức xúc cho xã hội
Tội trộm cắp tài sản là m ột loại tội phạm có tính phổ biến cao, theo số liệu thống kê những năm g ần đây tội trộm cắp tài sản luôn chiếm m ột tỷ lệ lớn trong các tội phạm nói chung và các tội xâm phạm sở hữu nói riêng Tinh trạng tái phạm và tái phạm nguy hiểm của người phạm tội trộm cắp tài sản chiếm số lượng lớn trong các
vụ án được xét xử tại T oà án các cấp H iện tượng trên đặt ra trước các nhà hình sự họa, tội phạm học m ột vấri để cấp bách là cần nghiên cứu, làm sáng tỏ khái niệm, các dấu hiệu pháp lý đặc trưng, nguyên nhân và điều kiện của tội trộm cắp tài sản, từ
đó định hướng và đề x u ất biộn pháp k h ả thi đấu tranh phòng chống tội phạm
Bộ luật hình sự năm 1999 đã k ế thừa những nội dung hợp lý trong các đạo luật hình Sự trước đây củ a N h à nước C H X H C N Việt Nam Tuy nhiên trong Bô luật, quy định về tội trộm cắp tài sản còn hạn ch ế nhất định, đòi hỏi phải được bổ sung, giải thích, tạo cơ sở pháp lý cho đấu tranh phòng chống ĩội trộm cắp tài sản Trong nhóm tội xâm phạm sở hữu, giữa tội trộm cắp tài sản và tội phạm khác có sự khác biệt cơ bản vẽ các dấu hiệu p h áp ỉỹ, nhưng trong thực tíẽĩi xết xử tại Toa án -vẫn còn hiện tượng định ĩội dan h sai v ề phương diện ỉý luận, xung quanh khái niệm, dấu hiệu pháp lý, giải pháp đấu tranh phòng chống tội trộm cắp tài sản, còn nhiểu V kiến khác nhau, thârci chí trái pgươc nhau Vấp đề trên đòi hòi ohải có sư tìrp hi^u nghiên cứu có hệ thống, sâu sác những vấn đề lv luận về tội trộm cắp lài sản, làm sáng tỏ dấu hiệu pháp K của tói trộm cár; \t\ sản và các tội xâm phạm sở hữu kr.íc
urn ra những đặc trưng cơ ban tránh biẹn tượng định ỉội danh sa:, đùn.s thơ: xủv
Trang 9VI vậy, nghiên cứu đề tài: “Tội trộm cắp tài sán và đấu tranh phồng, chống
tội p h ạ m này ở Việt N um ", maiig tính cấp thiết, khôns những về ỉý luận, mà cèố là
đòi hỏi của thực tiễn hiện nay —
2 T ìn h h ìn h n ghiên cứu
Tội trộm cấp tài sản là tội phạm có tính phổ biến cao trong xã hội, thường chiếm m ột phần lớn trong tổng số tội phạm xẩy ra hàng năm nên đã được cẩc nhà luật học quan tâm nghiên cứu Trong những năm qua, đã có m ột số công trình nghiên cứu về tội trộm cắp tài sản đã được công bố: Tác giả Vũ Thiện Kim có ,-:ông
trình: “T rách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm tài sản XH CN, tài sản riêng
của công dâ n ” (Phòng xuất bản, Tòa án nhân dân tối cao xuất bản nãm 1980), đã
làm rõ m ột số vấn đề lý luận và thực tiễn đối với các tội xâm phạm sở hữu được quy định ở hai Pháp lệnh: Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân được ủ y ban Thường vụ Quốc hội ban hành vào ngày 21 tháng 10 năm 1970 Công trình đề cập tội trộm cắp tài sản X H C N và tội trộm cắp tài sản riêng của cồng dân, song nó chủ yếu mang tính chất bình luận về hai tội này trong hai Pháp lệnh trên
L uận án Tiến sĩ luật học của tác giả Trịnh H ồng Dương công bố đầu năm
1980 đẫ đề s ậ p đến m ột số vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụrre luật hình sự về các tội xâm phạm sở hữu, trong đó có tội trộm cắp tài sản
L uận văn thạc sỹ luật học của tác giả Nguyễn Gia Hoàn: “Đữỉ/ tranh phồng
ngừa và chống tội trộm cắp tài sản trong Cịiiản đội” (Trường Đại học Luật Hà Nội,
2000), đã đề cập hoạt động đấu tranh phòns, chốn? tội trộm cắp tài sản trong phạm
vi quân đội đã giải quyết được một số vấn đề lv luận, thực tiễn về tội trộm cắp tài
Ọ r r » 1 1 A -*-> / 4 A '
4 Ì u i / l
Luận văn mạc sỹ ỉuậí học của tác giả N guyễn Còfig, Thập: ‘ Đấu m in h
phòng chống tội trộm cấp trên địa bàn tỉnh H ài D ư ơng' (Trường Đại học Luật Hà
Nội 200 i) đã giải quyết được một số vấn đề lý luận và thực tiễn đấu tranh phòng, chỏng tội trộm cấp íài sảíì ticu đia bàn tỉnh Hải Dương
Trang 10nước và Pháp luật, 2001), đã nghiên cứu về các tội xâm phạm sở hữu một cách toàn diện, có hệ thống, trên hai bình diện: ĩội phạm học và iuậì hình sự, đã nhận xét, đánh ơiá về đặc điểm tình hình các tội xâm phạm sở hữu, phân tích có m ột cách có hệ thống chính sách hình sự, nguyên tắc xử lý và các hình thức trách nhiệm hình sự, trong đó có đề cập đến tội trộm cắp tài sản.
Liên, quan đến tội trộm cắp tài sản có một số tác giả công bố quan điểm của
m ình về việc định tội danh cho hành vi lắp đặt thiết bị viễn thông thu cước phí trái
phép trên tạp ch í chuyên ngành như: Đức Dũng “V ề định tội danh đối với hành vi
ỉắp đặt, sử dụng thiết bị viễn thông trái phép đ ể thu tiền cước điện thoại” (Tạp chí
TAND số 15 năm 2004), Lê Đ ăng Doanh “Chưa có căn cứ đ ể truy cứii T N H S đối
với hành vi lắp đặt, sử dụng thiết bị viễn thông trái phép” (Tạp chí TA N D số 17 năm
2004), Trần V ũ Hải “Lắp đặt, sử dụng thiết bị bưu chính viễn thông đ ể thu lợi cước
điện thoại trái phép có th ể truy cứu vê tội kinh doanh trái phép” (Tạp chí TAND số
22 năm 2004), Lê Văn Luật “Lắp đặt, sử dụng thiết bị viển thông trái phép đ ể tlui
tiền cước điện thoại đ ã có dấu hiệu của tội trộm cắp tài sản” (Tạp chí TAND số 11
năm 2004), Dương Tuyết M iên “ Lắp đặt trái phép thiết bị p h á t sóng vô tuyến điện,
sử dụng trái phép tẩn s ố vô tuyến điện đ ể thu cước điện thoại, phạm tội trộm cắp tài sản” (Tạp chí TAND số 17 năm 2004) Các tác giả trên chủ yếu thể hiộn quan điểm
của mình về định tội danh cho hành vi lắp đặt thiết bị viễn thông thu cưóc phí trái phép, không đi sâu phản tích dấu hiệu pháp lý và các khía cạnh khác của tội trộm cắp tài sản
Ngoài ra, m ột số tác giả đề cập đến những nội đung vổ lý luận và ĩhực tiễn
liên quan đến tội trộm cắp tài sản như: Đặng Anh “Bàn về định lượng tủi sản trong
BLHS ỉ 999” (Tạp chí TAND số 7 nãm 21)02) Lê Thị Sơn "'Về dấu hiệu định ỉượìĩg trong BLHS" (Tạp chí Luật học số 1 năm 2005), Nguyễn Sơn "Hình phat tiền điều kiện và thực tiễn áp dụng, thi hành hình p h ạ t tiền ỉà hình ph ụ t chính trong luật hình
sự Việt N am ” (Tạp chí TAND số ỉ ì năm 1998) Dương Tuyết Miên “Triỉx cứu
TN H S đối với Lê Tuấn theo khoản ỉ Điều 138 BLHS" (Tạp chí TAN D sô 2 năm
Trang 11kết quả nghiên cứu trên là cc sở khoa học để đi sâu tìm hiếu toàn diện về tội ỉrộiĩì
cắp tài sản
Về luật hình sự phong kiến Việt Nam có công trình của tác giả Trần Quang
Tiệp “Lịcli sử luật hình sự V iệt N am ” (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 2003)
và Lê Thị Sơn “Quốc triều hình luật, lịch sử hình thành, nội clung và giá trị” (Nxb
K hoa học xã hội, Hà Nội năm 2004) Các công trình này đề cập đến lịch luật hình sự
phong kiến V iệt Nam, xác định hoàn cảnh ra đời, phân tích và khẳng định các nội
dung, giá trị pháp lý của các bộ luật phong kiến Các tác giả chỉ đi sâu phân tích về
tư tưởng phong kiến trong các quy định về tội phạm và hình phạt, chưa có điều kiện
tập trung tìm hiểu về quy định của m ột loại tội phạm cụ thể Kết quả các công trình
đã công bố là cơ sở khoa học để đi sâu nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển
của các quy định về tội phạm cụ thể trong các bộ luật phong kiến V iệt Nam, trong
đó có tội trộm cắp tài sản
Như vậy, cho đến nay ở cấp độ luận án tiến sỹ luật học vẫn chưa có công
trình nào nghiên cứu có hệ thống và toàn diện cả về mặt lý luận và thực tiễn đấu
tranh phòng chống tội trộm cắp tài sản, đ ế từ đó xác định phương hướng cho việc
hoàn thiện, giải thích và áp dụng pháp luật đấu tranh phòng chống có hiệu quả đối
với loại tội phạm này ở V iệt Nam
3 M ục đ ích , n h iệ m vụ, p h ạ m vi, đối tượng nghiên cứu
Mục đích của luận Ún
Muc đích của luận án Ị à trên cơ sở Ịv luân và thirc ĩiẻn đấv Ĩĩ3*ìh rỵhòpơ
chống tội trộm cốp tài sản, nêu ra những giải pháp mang tính hệ thống để nâng cao
hiệu quá cuộc đấu tranh phòna chống tội phạm này •
N hiệm vụ của luận án
Để đạt được những mục đích trên, tác giả luận án đặt ra cho mình phải aiải
quyêl các nhiệm v ụ cụ thể sau đây: 1) Khái quái lịch sừ hình ĩhành và phát triển
nbirn-2 n ,.i * a: rsệ n +Ạ’ ■ ^ /- > r'% - "\ĩr \ í-v A'
Trang 12pháp lv hình sự cùa tội ỉrộm cấp tài sản, phân biệt tội trộm cấp tài sản với một số tội xâm phạm sở hữu khác: 4) Xác định trách nhiệm hình sự người phạm tội trộm cắp tài sản theo Điều 138 BLHS Việt Nam năm 1999; 5) Làm rõ thực trạng tình hình, nguyên nhân, điều kiện của tội trộm cắp tài sản ở Việt Nam trong những năm qua; 6) Dự báo tình hình tội trộm cắp tài sản từ nay cho đến năm 2015 và để xuất hệ thống các giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội trộm cắp tài sản ở V iệt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứii của luận án
Đối tượng nghiên cứu của luận án là tội trộm cắp tài sản
Luận án nghiên cứu tội trộm cắp tài sản dưới hai góc độ: pháp lý hình sự và tội phạm học trong thời gian 10 năm từ năm 1997 đến nãm 2006 Luận án tập trung nghiên cứu các quy định của luật hình sự Việt Nam và một số nước trên thế giới về tội trộm cắp tài sản để từ đó đưa ra khái niệm , xác định các dấu hiệu pháp lý của tội phạm và phân biệt được tội phạm này với các tội xâm phạm sở hữu khác
Trong phạm vi tội phạm học, tác giả không có điều kiện đi sâu tất cả các vấn đề, chỉ tập trung nghiên cứu tình hình, nguyên nhân, điều kiện và các biện pháp đấu tranh phòng chống tội trộm cắp tài sản Những số liệu nghiên cứu về tình hình tội trộm cắp tài sản trong thời gian 10 năm sẽ là căn cứ thực tiễn đề có thể xác định
xu hướng chung của tình hình tội phạm, nguyên nhân và điều kiện của tội trộm cắp tài sản, đề xuất các giải pháp đấu tranh phòng chống tội phạm này
4 C ơ sở !ý lu ậ n và phươ ng p h á p n g h iên cúm
Cơ sớ lý luận của luận án là hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí M inh về xây dựng N hà nước và pháp luât đấu tranh phòng chống tội phạm
Phương pháp luận của luận án ỉà chủ nghĩa duy vệt biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Cơ sở thực tiễn của luận văn là những bản án quyết định cua Tòa án về tội trộm cấp tài sản, các số liệu thống kê trong những văn bản của Nhà nước, báo cáo tồn Ổ kết của T A N D T ^ ỊỊận -Ị V ‘àTì ợ rn ức do k.há° nh#r' A&ĩ) tỏ; nhí\rr? n.íV/
Trang 13Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp: hệ thống, lịch sử lôgíc, thống kê, phân tích, tổng hợp, kết hợp với các phương pháp khác như
so sánh pháp luật, điều tra xã hội
5 Những đóng góp mới về khoa học của luận án
Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên trong khoa học pháp lý Việt Nam ở cấp độ luận văn Tiến sĩ luật học, nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về tội trộm cắp tài sản cùng một lúc dưới hai góc độ: pháp lý hình sự và tội phạm học
Có thể xem những nội dung sau đây là những đóng góp mới về khoa học của luận
án :l) Phân tích, làm rõ quá trình lịch sử hình thành và phát triển những quy định về tội trộm cắp tài sản trong luật hình sự Việt Nam từ thời kỳ phong kiến đến nay; 2) Phân tích, xác định bản chất, đưa ra khái niệm mới về tội trộm cắp tài sản, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung khác về tội trộm cắp tài sản; xác định dấu hiệu pháp lý của tội phạm này trong pháp luật hình sự hiện hành và phân biệt tội phạm này với các tội xâm phạm sở hữu khác; 3) Phân tích, đánh giá đúng thực trạng tình hình tội trộm cắp tài sản ở Việt Nam, phân tích, làm rõ nguyên nhân, điều kiện của thực trạng đó; 4) Đề xuất hệ thống các giải pháp có tính khả thi nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội trộm cắp tài sản
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu và những kiến nghị của luận án có ý nghĩa quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội trộm cắp tài sản ở nước ta Thóng qua kết quả nghiên cứu và các đề xuất trong luận án, tác giả mong muốn đóng góp phần nhỏ bé của mình vào việc phát triển lý luận về tội phạm học, luật hình sự, cũng như công cuộc đấu tranh phòng chống tội trộm cấp tài sản có tính phổ biến cao và phức tạp này
Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ làm công tác nghiên cứu giảng dạy về khoa học pháp lý nói chung, khoa học luật hình sự, tội phạm học nói riêng và cho các cán bộ thực tiễn đang công tác tạr cơ quan bảo vệ pháp luật như Cóng an Viện kiểm sát, Tòa án, Thanh tra, Hải quan, Kiểm lâm, Cánh sát biên Bộ đội Biên phòng
Trang 147 Kết cấu của luận án
Luận án gồm 179 trang, ngoài mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận án
có 3 chương, 8 mục
Trang 15C hương l
TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH s ự VÍỆT NAM
TRONCỈ LUẬT HÌNH s ự VIỆT NAM VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
Nghiên cứu quy định trong luật hình sự nói chung và quy định pháp luật
hình sự về tội trộm cắp tài sản trong lịch sử cho ta cái nhìn khái quát và toàn diện về
quan niệm của nhà lập pháp trong chế độ xã hội khác nhau về tội phạm, hình phạt,
từ đó nhận thức sâu sắc và đầy đủ hơn về bản chất, dấu hiệu pháp lý đặc thù của tội
phạm và chính sách hình sự của Nhà nước đối với người phạm tội trộm cắp tài sản
Đây là bài học rất có ích cho cuộc đấu tranh phòng chống tội trộm cắp tài sản trong
xã hội của chúng ta ngày nay
1.1.1 Các quy định của luật hình sự Việt Nam về tội trộm cắp tài sản trong thời kỳ phong kiên
Trước khi Bộ luật Hồng Đức (BLHĐ) được ban hành, trong xã hội phong
kiến Việt Nam đã có văn bản pháp luật hình sự nhất định, tư liệu lịch sử còn lại ngày
nay ghi nhận bộ luật thành văn đầu tiên của nước ta có từ đời nhà Lý (thế kỷ thứ
XI) Đó là bộ Hình thư ra đời vào khoảng tháng 10 năm 1042 đời Lý Thái Tông
Tiếc rằng văn bản pháp luật phong kiến trước BLHĐ đều thất truyền do những
nguyên nhân khác nhau, ngày nay ta hầu như không có khả năng tìm hiểu về nội
dung của chúng [75, tr.20]
BLHĐ (còn gọi là Quốc triều Hình luật) là một bộ luật chính thống và quan
trọng nhất của triều đại nhà Lê [70, tr.9], [98, tr.241-246] Tội trộm cắp tài sản được
quy định tại chương “Đạo tặc” thuộc quyển 4, gồm 54 Điều từ Điều 411 đến Điều
464 trong đó có 29 Điều quv định về tội trộm cắp tài sản [47, tr.9] Nghiên cứu các
quy định về tội trộm cắp tài sản trong BLHĐ cho thấy:
Trang 16Thứ nhất, BLHĐ có một quy định khái quát về tội trộm cắp tài sản tại Điều
429: “Kẻ ủn trộm núri phạm lần dầu thì phải lưu châu xa Kẻ trộm díĩ có tiếng và kể
trộm tái phạm, thì phái tội chém Giữa ban ngày ủn cắp vặt cũng xử tội dó" Như
vậy, Bộ luật đã có sự phân biệt giữa hành vi “J/7 trộm" và hành vi “ân cấp": “ăn
trộm” là hành vi lấy tài sản của người khác vào ban đêm, “ă» cáp” là lấy tài sản ban
ngày, hình phạt cho hai trường hợp trộm cắp tài sản này hoàn toàn khác nhau
Thứ hai, ngoài quy định khái quát về tội trộm cắp tài sản, BLHĐ còn quy
định các tội trộm cắp tài sản cụ thê theo đối tượng tác động của tội phạm, chủ thể
của tội phạm, nhân thân người phạm tội và hoàn cảnh phạm tội như: tội “lấy trộm ấn
của vua và những đồ ngự dụng, xe kiệu của vua" (Điều 430); tội “ăn trộm những đổ thờ trong lăng miếu " (Điều 431); tội ‘7âV trộm những đồ cúng thần, phật trong các đền, chùa” (Điều 432); tội “ăn trộm những đồ trong cung" (Điều 434); tội ‘7(5/ lấy những quần áo và đồ vật của trẻ con, ngiừri điên, người sav" (Điều 435); tội “/ấv trộm trâu, ngựa, thuyền bè” (Điều 444); tội “bắt trộm cá ở đầm, ao” (Điều 445); tội
“bắt trộm gà, lợn, trộm lúa má” (Điều 446); tội “đáy tớ ăn trộm của chủ” (Điều
441); tội “những quân túc vệ và người hầu hạ mà ăn trộm của nhau trong cung
điện” (Điều 434); tội “quan giám lâm, người coi kho mà tự lấy tài sản trong kho”
(Điều 437); tội “những người thân thuộc cùng ở chung với nhau mà lấy trộm của
nhau” (Điều 439) và tội “con cháu còn ít tuổi cùng ở V('n bậc tôn trưởng mà đưa người vê ân trộm của nhà” (Điều 440); “Nếu ban đêm đục tường khoét vách đ ể lấv trộm, thì xử như tội ủn trộm thường” (Điều 439); “Những kẻ thừa cơ lúc có trộm, cướp, cháy lụt mà lấy trộm của cải của người ta, ì ấy của đánh rơi mà lợi đánh lại người mất của, thì cũng đều phải tội như tội ân trộm thường” (Điều 435).
Trong các quy định về tội trộm cấp kể trên, tội “đầv tớ ăn trộm của chủ” hoặc tội “những quân túc vệ và người hầu hạ mà ủn trộm của nhau trong cung điện”
được xử nặng hơn tội trộm cắp thông thường Những trường hợp trộm cắp giữa những người thân thuộc, con cháu lấy tài sản của bậc trưởng tộc thì được xử nhẹ Trường hợp đầy tớ trộin cắp tài sản của chủ, nếu là đầy tớ gái thì được giảm tội
Trang 17Thứ ba, các nhà lập pháp phong kiến quan niệm tội trộm cắp tài sán là hành
vi lấy tài sản của người khác Do có quan niệm như vậy nên trong BLHĐ không có
sự phân biệt rõ rệt tội trộm cáp tài sản với tội tham ô tài sản, tội cướp tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Hành vi tham
ô cướp, cưỡng đoạt, cướp giật, hoặc lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong một số trường
hợp nhất định được coi là trộm cắp tài sản “Đạo sĩ, nữ quan (đàn ông hay đàn bà
chuyên theo đạo), sư ni (sư tăng, ni cô)” lấy tượng thần, tượng Phật trong đền chùa
nơi họ cúng lễ thì xử về tội trộm cắp tài sản (Điều 433) hoặc "quan giám lùm (người
trông coi việc xét án, khám nghiệm), người coi kho” lấy tài sản trong kho cũng được
coi là trộm cắp tài sản
Thứ tư, hình phạt không chỉ được áp dụng đối với cá nhân người phạm tội
trộm cắp tài sản, mà còn có thể được áp dụng đối với những người thân thích trong
gia đình như quy định tại Điều 457: “Các con cỏn ở nhà với cha mẹ, mà đi ăn trộm,
thì cha bị xử tội biếm; ăn cướp thì cha bị xử tội đồ; nặng thì xử tăng thêm tội; và đều phải bồi thường thay con những tang vật ăn trộm, ăn cướp Nếu con dã ra ở riêng, thì cha bị xử tội phạt hay biếm; cha dà háo quan thì không phái tội; nhưng đ ã báo quan rồi mà còn đ ể con ở nhà thì cũng xử như chưa báo'".
Trong thời kỳ phong kiến ngoài BLHĐ, Bộ luật Gia Long (BLGL) cũng quy định về tội trộm cắp tài sản BLGL được ban hành năm 1885, với 398 Điều [46, tr 110- 118], [78, tr 174], nghiên cứu quy định của BLGL về tội trộm cắp tài sản cho thấy:
Thứ nhất, quy định về tội trộm cắp tài sản trong BLGL đã kế thừa quy định
của BLHĐ
Giống như trong BLHĐ, quy định về tội trộm cắp tài sản trong BLGL được
quy định tập trung tại chương “Đựơ tặc" với 28 Điều Trong BLGL cũng có một quy
định chung về tội trộm cắp tài sản tại Điều 238 Ngoài quy định trên còn quy định các tội trộm cắp tài sản cụ thể theo đối tượng tác động, chủ thể của tội phạm, nhân
thân người phạm tội và hoàn cảnh phạm tội như: tội “đ/ỉ trộm những dồ vật thờ
thun " (Điều 226): tội “ủn trộm c h ế th ứ ' (Điều 227); tội “ãn trộm ấn tín các nha”
Trang 18(Điều 228); tội “ủn trộm của, vật nội phú (tài sản trong kho của vua)” (Điều 229); tội “ứ/7 trộm đố quân k h í’ (Điều 231); tội “J/? trộm cây cối các viên lăng" (Điều
232); tội “ă/2 trộm tiền lương của kho tùng” (Điều 233 và Điều 234); tội “ãn trộm
trâu, ngựa, súc sản” (Điều 239); tội “ăn trộm thóc, lúa ngoài đồng ’ (Điều 240); tội
“người giám thủ ăn trộm tiền lương của kho tàng'" (Điều 233); tội “người ngoài ăn trộm tiền lương của kho tàng” (Điều 234); tội của “bà con thân thích trong gia đình,
họ hàng ăn trộm tài sản của nhau” (Điều 241); tội “ăn trộm cày cối các viên lăng”
(Điều 232); tội trộm thóc lúa ngoài đồng" (Điều 240); tội “tự tiện ăn dưa quà ở ruộng, vườn của người ta" (Điều 92)
Thứ hai, về kỹ thuật lập pháp hình sự, BLGL có những phát triển đáng kể
trong quy định về tội trộm cắp tài sản
Điều 238 quy định chung về tội trộm cắp tài sản Các điều luật khác quy định về các tội trộm cắp cụ thể đều quy chiếu về hình phạt của Điều luật này, như
Điều 239 quy định: “Phàm kẻ ăn trộm trâu, ngựa, súc sản, đều tính tang của, lấy
luật xử tội thiết đạo (Điều 238) mà x ử '\ Điều 240 quy định: “Phàm ăn trộm thóc lúa, hoa quả ngoài đồng, hay là những đồ vật không có người coi giữ, đều tính tang (vật) chuẩn vào tội thiết đạo (Điều 238) mà xử'
BLGL đã có những quy định về đồng phạm, các giai đoạn thực hiện tội phạm trộm cắp tài sản Trong trường hợp đồng phạm trộm cắp tài sản, giá trị tài sản
bị chiếm đoạt được tính gộp lại và những người đồng phạm đều phải chịu trách
nhiệm chung về tội phạm Điều 238 quy định: “Là như 10 người củng ăn trộm của
cải một nhà, tính tang của (giá trị tang vật) đến 40 lụng bạc dẫu chia nhau, mỗi người được 4 lạng, nhưng mà tính gồm một chỗ, thì 10 người đều phải tội tang ăn trộm 40 lạng” Ngoài quy định liên quan đến đồng phạm, BLGL có quy định sơ bộ
về giai đoạn thực hiện tội trộm cắp tài sản Điều 234 quy định: “Phàm người thường
(người ngoài, không phải là người coi kho) ăn trộm tiền lương, các vật của kho tàng không lấy được của thì phải 60 trượng” hoặc quy định tại Điều 238: “Phàm kẻ dã đi
ăn trộm mà không lấy được của, thì phải 50 roi”
Trang 191.1.2 Các quy định của luật hình sự Việt nam về tội trộm cắp tài sản trong thòi Pháp thuộc
Dưới thời Pháp thuộc, thực dân Pháp thực hiện chính sách “chia đ ể trị", chia
đất nước Việt Nam làm ba xứ với ba chế độ chính trị khác nhau, tương ứng với hoàn
cảnh xã hội đặc biệt này có những vãn bản pháp luật hình sự khác nhau được áp
dụng tại các địa phận Nam kỳ, Bắc kỳ và Trung kỳ Ở Nam kỳ, sắc luật ngày 31
tháng 12 năm 1912 của toàn quyền Đông Dương sửa đổi 56 Điều của Bộ luật hình
sự Pháp thành Hình luật canh cải (Code pénal modifié) và áp dụng tại Nam kỳ; ở
Bắc kỳ, Nghị định ngày 2 tháng 12 năm 1921 của toàn quyền Đông Dương cho áp
dụng Luật hình An Nam Ở Trung kỳ, bằng Dụ số 43 ngày 31 tháng 7 năm 1933 của
Bảo Đại, Hoàng Việt hình luật được ban hành [98, tr.33]
Nghiên cứu Hình luật canh cải (HLCC) cho thấy:
Thứ nhất, HLCC tuy được biên soạn theo Bộ luật hình Pháp nhưng đã kế
thừa một số nội dung hợp lý của các Bộ luật hình phong kiến trước đây khi quy định
về tội trộm cắp tài sản Các tội trộm cắp tài sản cụ thể được quy định căn cứ vào đối
tượng tài sản bị chiếm đoạt và hoàn cảnh phạm tội bao gồm: tội trộm cắp đồ thờ
cúng (Điều 386); tội trộm cắp trâu, bò, (hoặc) gia súc khác (Điều 388); tội trộm cắp
cá ở ao, hồ (Điều 388); tội trộm cắp lúa má ngoài đồng (Điều 388); tội của chủ quán
cơm, chủ khách sạn, người đưa xe, người chở ghe trộm cắp tài sản của khách (Điều
386); tội đầy tớ trộm cắp tài sản của khách (đến) nhà chủ (Điều 386); tội ông, bà, cha,
mẹ, vợ, chồng, con, cháu trộm cắp tài sản của nhau (Điều 380) và tội đàn ông goá vợ
hoặc đàn bà goá chồng trộm cắp tài sản của vợ hoặc chồng đã chết (Điều 380)
Thứ hai, về kỹ thuật lập pháp hình sự, HLCC có bước phát triển đáng kể so
với các Bộ luật hình sự phong kiến trước đây, bởi lẽ có quy phạm định nghĩa về khái
niệm tội trộm cắp tài sản tại Điều 379: “Người nào dùng sự gian mà lấy đồ gì của
người ta, thì phạm tội trộm cắp'' Ngoài ra, Bộ luật còn quy định các tình tiết tăng
nặng trách nhiệm hình sự của tội trộm cắp tài sản tại các Điều 381, 384, 385 Đó là
các tình tiết: a Trộm cắp tài sản ban đêm; b Trộm cắp tài sản có từ hai người trở lên
Trang 20tham gia; c Trộm căp tài sản có cầm khí giới hay giấu khí giới trong người; d Trộr
cắp tài sản có phá cửa, trèo tường hoặc dùng chìa khoá giả, vào trong nhà, tron
phòng có người ở hoặc là dùng để ở hoặc mạo xưng chức vụ hoặc giả mạo quầ
áo hoặc giả mạo giấy tờ của quan văn, quan võ; đ Trộm cắp tài sản có hành A
cưỡng hiếp hoặc hăm doạ với khí giới đang cầm
Hình luật An Nam và Hoàng Việt luật lệ hầu như sao chép những quy địn
về tội trộm cắp tài sản trong HLCC Ví dụ: Điều 344 Hoàng Việt luật lệ cũng có qu
phạm định nghĩa về khái niệm tội trộm cắp tài sản: “Ngiríri nào có lồng xấu, lấy mộ
vật gì không phái của mình tức là phạm tội án trộm ” hoặc các tình tiết tăng nặn;
trách nhiệm hình sự: “a Vào ban đêm; b Đồng phạm ; c Có mang theo khí giới; ũ
Cổ hành hung người khác nhưng không làm người ta có dấu bị thương hay sưng bầri
gì; e Dùng chìa khoá giả; f Có hành vi phá hoại bề ngoài hay b ề trong các nhi
cửa, phòng ở, chỗ thờ tự, sân h a \ vườn có phên dậu và giả mạo danh hiệu quan viêi
văn, võ”
1.1.3 Các quy định của luật hình sự Việt nam về tội trộm cắp tài sải trong thòi kỳ từ sau Cách mạng Tháng Tám đến trước khi ban hành BLHS 1985
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, mặc dù phải đối phó với thì
trong, giặc ngoài, Nhà nước công nông non trẻ đã lần lượt ban hành các văn bải
pháp luật sau đây về tội trộm cắp tài sản: sắc lệnh số 26-SL ngày 25 tháng 2 năn
1946 trừng trị tội phá hoại công sản; sắc lệnh số 73-SL ngày 17 tháng 8 năm 194'
về các tội vi cảnh; sắc lệnh số 12-SL ngày 12 tháng 3 năm 1949 về tội trộm cắp (tà
sản) của nhà binh; Thông tư số 26-B K ngày 9 tháng 5 năm 1949 của Bộ tư pháj
hướng dẫn đường lối xử lý hành vi bắt được của rơi mà giữ lấy không trả hoặc khôn£
nộp cho nhà chức trách: Thông tư số 11-BK ngày 14 tháng 12 nãm 1949 của liên Bệ
nội vụ, Quốc phòng, Tư pháp ấn định phương pháp đối phó với các vụ trộm cắp tại
nơi có chiến sự; Nghị định số 32-NĐ ngày 6 tháng 4 năm 1952 của Bộ tư pháp qu>
định đường lối xét xử các tội trộm cắp, lừa đảo, biển thủ tài sản [2, tr 115, 135-
137] Nghiên cứu các văn bản này cho thấy:
Trang 21Tliứ nhất, quy định về tội trộm cắp tài sản trong giai đoạn này đã tạo cơ sở
pháp lý kịp thời cho cuộc đấu tranh phòng, chống tội trộm cắp tài sản, góp phần vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Đặc biệt, quy định về tội trộm cắp tài sản trong giai đoạn này đã kế thừa, phát triển những quy định trước đây, chẳng hạn, tình tiết lợi dụng hoàn cảnh khó khăn nhất định của xã hội như hoàn cảnh chiến tranh hoặc phạm tội tại vùng có chiến sự thì bị xử nghiêm khắc Thông tư số 11-BK quy
định: “à những vùng gần mặt trận nên chú V đến bọn thành tích bất hảo đ ể đưa đi
an trí khi mặt trận lan tới các Toà án phải p h ổ biến trong dán chứng sự trừng phụt nghiêm ngặt của luật pháp đối với tội ân cắp, ăn trộm khi cỏ chiến s i / \
Thứ hai, nhược điểm của các văn bản quy phạm pháp luật hình sự thời kỳ
này là chưa có sự phân biệt tội trộm cắp tài sản với tội chiếm giữ trái phép tài sản
Thông tư số 26-BK quy định: “Bắt được của cải gì của người ta, mà giữ làm của mình
bị coi là ăn cấp có thể bị phạt tù từ I tháng đến 5 năm, lại côn bị phạt tiền nữa".
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ngày 30 tháng 6 năm 1955, Bộ Tư Pháp ban hành Thông tư số 19-VHH chấm dứt áp dụng văn bản pháp luật phong kiến, thực dân Để đấu tranh phòng chống tội phạm có hiệu quả và bảo vệ trật tự xã hội, Nhà nước trong thời kỳ này ban hành nhiều văn bản về tội trộm cắp tài sản như Thông tư
số 442-TTg ngày 19 tháng 1 năm 1955 của Phủ thủ tướng tổng kết án lệ và hướng dẫn công tác xét xử các tội phạm thông thường; sắc lệnh số 267-SL ngày 15 tháng 6 năm 1956 trừng trị những âm mưu và hành động phá hoại tài sản của Nhà nước; Báo cáo tổng kết công tác 4 năm (1965-1968) của TANDTC; Chỉ thị số 693-HS 2 ngày 1 tháng 6 năm 1964 của TANDTC hướng dẫn đường lối xét xử; Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản công dân ngày 21 tháng 10 năm 1970 [86, tr.204, 455]
Nghiên cứu những vãn bản pháp luật hình sự này cho thấy:
Thứ nhất tội trộm cắp tài sản được thể hiện như một quy định đơn giản với
chế tài cụ thể Chẳng hạn, Thông tư số 442-TTg quy định: “trộm cắp: phạt tít từ 3
Trang 22tháng đến 3 năm; cướp đường hay trộm có tô chức, có bạo lực, có dùng vũ klií dê doạ nạt thì phạt tù từ 3 đến 10 năm".
Thứ lìũi, quy định một số tình tiết tăng nặng mới của tội trộm cắp tài sản
như: lưu manh chuyên nghiệp, phạm tội có tổ chức, có dùng bạo lực và có dùng vũ
khí Thông tư số 442-TTg hướng dẫn: “Cũng nhằm tăng cường bảo vệ trật tự an
ninh trong giai đoạn hiện tại, Chính phủ lại ra quyết nghị trừng trị nặng bọn lưu manh chuyên sống vê nghê trộm cắp" Thông tư này còn bổ sung: “Cướp đường hay trộm cỏ tổ chức, cỏ bạo lực, có dùng vũ khí d ể d o ạ nạt thì bị phạt tù từ 3 đến 10 năm" Để xác định tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm chính xác hơn và
phân hoá TNHS người phạm tội, hai Pháp lệnh ngày 21 tháng 10 năm 1970 đã quy
định các tình tiết tăng nặng: “tài sản có sô'lượng lớn” và “/07 sản có sô'hạmR rất lớn” ,
“tài sản có giá trị đặc biệt" Hai Pháp lệnh ngày 21 tháng 10 năm 1970 còn quy định
tình tiết tăng nặng: “lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, nơi có chiến sự, có thiên tai
hoặc có khỏ khăn khác đ ể phạm tội".
Thứ ba, về kỹ thuật lập pháp hình sự, hai Pháp lệnh ngày 21 tháng 10 năm
1970 đã xây dựng hoàn chỉnh cấu thành tội phạm về tội trộm cắp tài sản Tội trộm cắp tài sản XHCN được quy định tại Điều 7 và tội trộm cắp tài sản công dân được quy định tại Điều 6 Các điều luật này đều bao gồm một cấu thành tội phạm cơ bản
và hai cấu thành tội phạm tăng nặng với các tình tiết tăng nặng định khung cụ thể
Ngoài ra, hai Pháp lệnh còn quy định nhiều tội xâm phạm sở hữu khác, thông qua các quy định cụ thể ta thấy các nhà lập pháp thời kỳ này đã có sự phân biệt tội trộm cắp tài sản với các tội xâm phạm sở hữu khác như tội cướp, tội cưỡng đoạt, tội tham ô, tội lừa đảo hoặc tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Thứ tư, xác định cụ thể độ tuổi phải chịu TNHS và đường lối xử lý người
chưa thành niên phạm tội trộm cắp tài sản Báo cáo tổng kết công tác 4 năm (1965-
1968) của TANDTC hướng dẫn: “Đô/ với các em diári 14 tuổi phạm tội nghiêm
trọng (thì) đưa vào trường trẻ em h ứ \ Đối với người chưa thành niên phạm tội,
đường lối xử lý là: “C hỉ nên xét xử hình sự và phạt tù giam một vị thành niên phạm
tội trộm cắp nêu hành vi phạm tội có nhiều tình tiết nghiêm trọng”.
Trang 23Thử năm, có sự thay đổi lớn trong chính sách hình sự đối với người phạm tội
thông qua quy định và áp dụng án treo Báo cáo tống kết trên đây hướng dẫn: “Đố/
với các em từ 14 đến 16 tuổi phạm tội trộm cắp nhiều lần chỉ nên áp dụng biện
pháp án treo" Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điểu kiện, có
tính giáo dục sâu sắc khi không bắt buộc người phạm tội phải chịu sự cải tạo trong
các trại giam
Thứ sáu quy định tình tiết giảm nhẹ TNHS mới.
Sắc lệnh số 267-SL ngày 15 tháng 6 năm 1956 quy định các tình tiết giảm nhẹ
sau đây: phạm tội tuy “chưa bị phát giác mà tự mình thành thật tự thú"; phạm tội “trước
khi bị đưa ra xét xử, thành thật hối cải, lập công chuộc tội”.
So với văn bản pháp luật hình sự trước đây trong thời kỳ phong kiến và
Pháp thuộc, các văn bản pháp luật hình sự thời kỳ này đã có bước tiến bộ rõ nét và
cơ bản khi đã xây dựng được cấu thành tội trộm cắp tài sản hoàn chỉnh Bên cạnh
cấu thành cơ bản của tội trộm cắp tài sản, các cấu thành tội phạm tăng nặng cũng
được xác định với các tình tiết tăng nặng cụ thể và tương ứng với nó là những khung
hình phạt phù hợp với những mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau của tội phạm
Từ chỗ có 29 Điều luật trong BLHĐ đến khi chỉ còn 2 Điều luật quy định về tội
trộm cắp tài sản trong hai Pháp lệnh ngày 21 tháng 10 năm 1970 là cả một quá trình
láu dài, thể hiện sự tiến bộ trong xây dựng pháp luật hình sự về tội trộm cắp tài sản
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau văn bản pháp luật hình sự thời kỳ này
không thể tránh được một số hạn chế nhất định Tuy nhiên, chúng đã tạo khả năng
pháp lý không nhỏ trong đấu tranh phòng chống tội trộm cắp tài sản Trên cơ sở văn
bản pháp luật hình sự thời kỳ này, cán bộ tư pháp đã có thể phân biệt tội trộm cắp tài
sản với các tội xâm phạm sở hữu khác và phân hoá được trách nhiệm hình sự của
người phạm tội trộm cắp tài sản
1.1.4 Các quy định của luật hình sự Việt Nam về tội trộm cắp tài sản trong BLHS 1985 và BLHS 1999
Trong quá trình thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV,
V của Đảng, nhân dàn ta đã giành được thành tim quan trọng trên một số lĩnh vực
kinh tế - xã hội, tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật bước đầu cho công cuộc xây dựng chủ
Trang 24nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đã đạt được, chúng ta gập phải không ít khó khăn và khuyết điểm, không thực hiện được mục tiêu
đề ra là ổn định một cách cơ bản tình hình kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân Mặt khác, văn bản quy phạm pháp luật hình sự đơn hành không thể hiện được toàn diện, đầy đủ chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước Vì vậy, việc ban hành Bộ luật hình sự là vấn đề có tính tất yếu khách quan và cấp thiết Ngày 27 tháng 6 năm
1985, Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa VII, tại kỳ họp thứ 9, đã thông qua Bộ luật hình sự, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 1986 (sau đây gọi tắt
là BLHS năm 1985) [48, tr 69,78] Nghiên cứu những quy định về tội trộm cắp tài sản trong BLHS năm 1985, có thê’ rút ra một số nhận xét sau:
Thứ nhất, BLHS năm 1985 đã kế thừa hai Pháp lệnh trừng trị các tội xâm
phạm tài sản XHCN và công dân và quy định tội trộm cắp tài sản XHCN, tội trộm cắp tài sản công dân tại Điều 132 và Điều 155 Điều 132 quy định tội trộm cắp tài
sản XHCN: “Người nào trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa thì bị ”; Điều 155 quy định tội trộm cắp tài sản của công dân quy định: “Người nào trộm cắp tài sản của
người khác thì b ị ”
Tại các Điều luật này, tội trộm cắp tài sản được cấu tạo bởi một cấu thành tội phạm cơ bản và hai cấu thành tội phạm tăng nặng Các tình tiết tãng nặng định khung được kế thừa là: phạm tội có tổ chức; phạm tội có tính chất chuyên nghiệp; chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn; tái phạm nguy hiểm và gây hậu quả nghiêm trọng khác Tội trộm cắp tài sản XHCN được quy định như là tội có tính chất nguy hiểm cho xã hội cao hơn tội trộm cắp tài sản của công dân Trong BLHS năm 1985, mức hình phạt cao nhất đối với tội trộm cắp tài sản XHCN là tử hình và đối với tội trộm cắp tài sản công dân là 20 năm
Thứ hai, BLHS năm 1985 bó một sô tình tiết tãng nặng trong văn bản pháp
luật hình sự trước đây như “cớ mốc ngoặc", “tài sản có giá trị đặc biệt”; “dùng tài
sân trộm cắp vào việc kinh cỉoanli, bóc lột đầu cơ hoặc vào những việc phạm tội khúc” và “gây liậu quá nghiêm tronỉỉ đến đời sổììịi ( lia người bị thiệt hại hoặc gây
THƯ VIỆN
TRƯỜNG ĐẠI H O C lŨ Ầ T HA NỘI
Trang 25hậu quà nghiêm trọng khác" Đây là những tình tiết tăng nặng được áp dụng trong
cuộc đấu tranh phòng chống tội trộm cắp tài sản, nhưng bộc lộ những hạn chế và không còn phù hợp với thực tiễn Bên cạnh đó, BLHS năm 1985 quy định tình tiết
tăng nặng mới: ‘7ỉà»/? hung đê tẩu thoát” Hành hung để tẩu thoát là trường hợp
người phạm tội trộm cắp tài sản đã dùng vũ lực để trốn tránh sự bắt giữ khi tội phạm
bị người khác phát hiện trong hoặc sau khi thực hiện tội phạm Đối tượng tác động của hành vi dùng vũ lực có thể là người chủ sở hữu, người quản lý hoặc bất kỳ người nào khác tham gia vào việc bắt giữ người phạm tội Đây là tình tiết làm cho tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm tăng lên đáng kể và xẩy ra tương đối phổ biến
Thứ ba, BLHS 1985 có những phát triển đáng kể so với các quy định trước
đây, đã góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và tội trộm cắp tài sản nói riêng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Tuy nhiên, quy định của BLHS năm 1985 về tội trộm cắp tài sản còn một số hạn chế sau: 1) BLHS năm 1985 còn phân biệt tội trộm cắp tài sản XHCN với tội trộm cắp tài sản của công dân; 2) Khoảng cách giữa mức tối đa và tối thiểu của khung hình phạt còn rộng; 3) Chưa phân biệt được những trường hợp trộm cắp tài sản là hành vi vi phạm pháp luật hành chính với trường hợp trộm cắp tài sản là tội phạm
BLHS năm 1985 được ban hành trong thời kỳ tập trung, quan liêu, bao cấp,
có sự phân biệt rõ ràng trong việc bảo vệ tài sản XHCN và tài sản của công dân Tuy được sửa đổi, bổ sung bốn lần vào các năm 1989, 1991, 1992, 1997, nhưng những lần sửa đổi, bổ sung này chủ yếu nhằm phục vụ cho cuộc đấu tranh đối với một số loại tội phạm nhất định Sau khi Nhà nước ta ban hành Hiến pháp năm 1992 tại Điều
22 quy định: “Các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành pliần kinh t ế phải
thực hiện dầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước, đều bình đẳng trước pháp luật, vốn vã tài sàn iựrp pháp được Nhà nước bảo h ộ '\ thì có thể khẳng định việc quy định các
tội xâm phạm sở hữu trong hai chương là không phù hợp với tình hình mới
Về kỹ thuật lập pháp, BLHS năm 1985 có những hạn chế khác như bô' cục một số chương, điều chưa hợp lý, nhiều tội danh được quy định quá chung; một số
Trang 26hành vi phạm tội với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau nhưng lại được quy định trong một điều luật với cùng một chế tài; khung hình phạt trong nhiều điều luật quá rộng, dễ dẫn đến tiêu cực Hạn chế lớn nhất của BLHS nãm 1985
là qua bốn lần sửa đổi, bổ sung, Bộ luật đã không còn là một chỉnh thể thống nhất
Trong đường lối chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, việc sửa đổi toàn diện BLHS năm 1985 là một đòi hỏi khách quan của hoạt động lập pháp hình sự Đáp ứng yêu cầu đó, ngày
21 tháng 12 nãm 1999, Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa X tại kỳ họp thứ 6, đã thông qua Bộ luật hình sự (sau đây gọi tắt là BLHS năm 1999), thay thế cho BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2000
Trong BLHS năm 1999, hai chương xâm phạm sở hữu trong BLHS năm
1985 đã được gộp thành một chương và tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều
138 Nghiên cứu Điều 138 so với quy định tương ứng về tội trộm cắp tài sản trong BLHS năm 1985, có một số điểm mới sau:
Thứ nhất, BLHS 1999 đã hợp nhất hai Điều luật về tội trộm cắp tài sản
XHCN (Điều 132) và tội trộm cắp tài sản của công dân (Điều 155) của BLHS 1985 thành một Điều luật duy nhất quy định về tội trộm cắp tài sản (Điều 138) Như vậy
sẽ không còn hai cấu thành tội phạm về tội trộm cắp tài sản phân theo loại tài sản nữa Để đáp ứng đường lối xử lý người phạm tội xâm phạm quyền sở hữu tài sản,
Điều 48 quy định tình tiết tăng nặng mới “Xàm phạm tài sản của Nhà nước".
Thứ hai, khi quy định về tội trộm cắp tài sản, BLHS 1999 đã định lượng giá trị
tài sản bị chiếm đoạt, theo quy định mới căn cứ vào giá trị tài sản bị chiếm đoạt, người phạm tội có thể bị truy cứu TNHS theo các khoản khác nhau của Điều 138 BLHS
Thứ ba, Điều 138 BLHS 1999 quy định 4 khung hình phạt nên đã có thể thu
hẹp khoảng cách giữa mức tối đa và tối thiếu của một khung hình phạt và tạo cơ sở pháp lý cho việc truy cứu TNHS chuẩn xác hơn (Trước đây Điều 132 và Điều 155 BLHS 1985 đều chỉ có 3 khung hình phạt)
Trang 27Tliứ tư Điểu 138 BLHS 1999 đã xác định ranh giới giữa trường hợp trộm
cắp tài sản là hành vi vi phạm pháp luật hành chính với trường hợp phạm tội Người
lấy tài sản của người khác có giá trị dưới 500.000 đồng và hành vi này không gày
hậu quả nghiêm trọng hoặc người đó chưa bị xử lý hành chính về hành vi chiếm đoạt
hoặc chưa bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản thì chỉ bị xử phạt hành chính
Thứ năm, Điều 138 BLHS 1999 quy định tình tiết mới: gây hậu quà nghiêm
trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng Để đánh giá hậu quả do tội phạm
gây ra nghiêm trọng hay không, cần phải đánh giá một cách toàn diện, đầy đủ thiệt
hại của tội phạm, không chỉ chú ý đến tài sản bị trộm cắp mà còn phải xem xét đến
các khía cạnh khác của hậu quả như thiệt hại đến an ninh, chính trị, trật tự, an toàn
xã hội, yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm ở địa phương Hậu quả có thể là
thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản hoặc hậu quả phi vật chất khác
Cùng với những kinh nghiệm được đúc rút từ thực tiễn đấu tranh phòng
chống tội trộm cắp tài sản, các quy định pháp luật hình sự trước đây và hiện hành là
cơ sở khoa học quan trọng cho việc nghiên cứu và xác định bản chất và dấu hiệu
pháp lý của tội trộm cắp tài sản
TÀI SẢN
1.2.1 Khái niệm tội trộm cắp tài sản
Tội trộm cắp tài sản là một loại tội xâm phạm quyền sở hữu có tính chất phổ
biến trong xã hội Để nhận thức chính xác bản chất của tội trộm cắp tài sản và đấu
tranh phòng chống tội phạm này có hiệu quả cần làm sáng tỏ khái niệm, dấu hiệu
pháp lý hình sự đặc trưng của tội phạm Trong lịch sử lập pháp Việt Nam và các
nước trên thế giới tồn tại hai khuynh hướng khác nhau khi quy định về tội trộm cắp
tài sản trong vãn bản pháp luật hình sự Khuynh hướng thứ nhất không đưa ra định
nghĩa pháp lý của khái niệm tội trộm cắp tài sản, mặc nhicn thừa nhận nó Khuynh
hướng thứ hai có quy phạm định nghĩa về khái niệm tội trộm cắp tài sản Trong các
bộ luật phong kiến Việt Nam trước đây, hai khuynh hướng trên được thể hiện ra rất
rõ rệt tại quy phạm pháp luật hình sự về tội trộm cáp tài sản BLHĐ, BLGL tuv quy
Trang 28định nhiều tội trộm cắp cụ thể nhưng không có quy phạm định nghĩa về khái niệm của tội nàv, ngược lại, HLCC và Hoàng Việt luật lệ lại có quy định về khái niệm tội
trộm cắp tài sản ví dụ Điều 381 HLCC quy định: “Nị>ư(ri nào dùng sự ỊỊÌan mà lảy
đồ (vật) của người ta, thì phạm tội ủn trộm” [27, tr 141-149] Khái niệm về tội trộm
cắp trên đây đã xác định được ba đặc điểm của loại tội phạm: hành vi phạm tội là hành vi lấy tài sản, việc lấy tài sán là trái pháp luật, đối tượng của hành vi là tài sản của người khác Tuy nhiên, đây là khái niệm không đầy đủ, chưa thể hiện lỗi của người phạm tội, tính chất của hành vi lấy tài sản và đặc biệt là không thế hiện rõ ràng sự phân biệt giữa tội trộm cắp tài sản và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Thuật
ngữ “dùng sự gian” dễ làm người đọc hiểu lầm về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài
sản Các văn bản pháp luật hình sự của Nhà nước ta sau Cách mạng tháng Tám lại thể hiện khuynh hướng thứ nhất, không có quy phạm định nghĩa của khái niệm tội trộm cắp tài sản, chỉ quy định tội danh một cách đơn giản Cách quy định này thể hiện rõ trong Điều 132, 155 BLHS năm 1985 và Điều 138, BLHS năm 1999
Nghiên cứu pháp luật hình sự một số nước trên thế giới cho thấy, quy định
về tội trộm cắp tài sản cũng có hai khuynh hướng trên Các nước như Liên bang Nga, CHLB Đức, Nhật Bản, Malaixia, CHDCND Lào thuộc khuynh hướng đưa ra định nghĩa pháp lý của khái niệm tội trộm cắp tài sản Rất ít nước như CHND Trung Hoa theo khuynh hướng không có quy định về khái niệm tội trộm cắp tài sản Điều 158 BLHS Liên bang Nga năm 1996 (có hiệu lực từ 1 tháng 7 năm 1997) đưa
ra định nghĩa pháp lý của khái niệm trộm cắp: “Trộm cắp là (hành vi) bí mật chiếm
đoạt tủi sán của người khúc” [3, tr.32] Trên cơ sở khái niệm này, có thể xác định
được dấu hiệu cơ bản về tội phạm này: hành vi phạm tội trộm cắp là hành vi chiếm đoạt tài sản; sự chiếm đoạt tài sản được thực hiện một cách bí mật; tài sản bị chiếm đoạt phải là tài sản người khác
Điều 242 BLHS của CHLB Đức được ban hành năm 1871 và được sửa đổi,
bổ sung nhiều lần phù hợp với sự thay đổi của hoàn cảnh xã hội, hiện đang có hiệu
lực cũng đưa ra khái niệm tội trộm cắp tài sản: “Người nào lấy đi vật gì là động sản
của ngưìri khúc, với mục đích chiếm đoạt vật này, tliì bi phụt tù đến nam năm hoặc
Trang 29phạt tiền" 1104, tr 114] Từ khái niệm này cho thấy, đối tượng tác động của tội trộm
cắp tài sán theo BLHS của CHLB Đức phải là động sản đó là những tài sản có thể di dời từ nơi này đến nơi khác Theo khái niệm trên đây thì bất động sản không thể là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản Tương tự như BLHS CHLB Đức, BLHS
của Malaixia đưa ra khái niệm tội trộm cắp tài sản tại Điều 378 như sau: “Người nào
nhàm mục đích chiếm đoạt động sản của người khác mà lấv đi tài sản dó thì bị xử là phạm tội trộm cắp” [3, tr.9 1 ] Điều 253 Bộ luật hình sự Nhật Bán ban hành năm
1907 và được sửa đổi, bổ sung nhiều lần trong những năm 1921, 1941, 1947, 1953,
1954, 1958, 1960, 1964, 1968, 1980, 1987, 1991, cũng quy định: “Người nào lấy
cắp tài sân của người khác thì s ẽ bị phạt tù đến 10 nám" Như vậy, Bộ luật chỉ xác
định đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản là tài sản của người khác, không mô
tả thêm bất kỳ một dấu hiệu pháp lý nào khác của tội phạm BLHS CHND Trung Hoa không có quy phạm định nghĩa về khái niệm tội trộm cắp tài sản, chỉ nêu tên
tội danh, Điều 264 BLHS CHND Trung Hoa quy định: “Người nào trộm cắp tài sản,
tiền bạc công hoặc tư, thì bị phạt đến 3 năm tù”.
Từ kết quả phân tích các quy định về tội trộm cắp tài sản trong pháp luật hình sự của các nước Liên bang Nga, CHLB Đức, Nhật Bản, Malaixia, CHDCND Lào ta thấy có một số nét tương đồng cơ bản Sự khác biệt xuất phát từ điều kiện kinh tế - xã hội, truyền thống lập pháp hình sự và kinh nghiệm đấu tranh phòng chống tội phạm của từng nước
Ở Việt Nam, về mặt lý luận, trong sách báo pháp lý, cũng đã đưa ra định nghĩa khoa học của khái niệm tội trộm cắp tài sản Giáo trình trường đại học Luật
Hà Nội đưa ra định nghĩa của khái niệm tội trộm cắp tài sản: ‘T ộ / trộm cắp tài sản
là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang có chủ” [52, tr.383] Khái niệm đã miêu tả
dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm, hành vi phạm tội là hành vi chiếm đoạt, việc chiếm đoạt được thực hiện lén lút, tài sản bị chiếm đọat là tài sản đang thuộc sở hữu của chủ sở hữu Tuy nhiên, khái niệm không thể hiện rõ rệt một số dấu hiệu pháp lý khác của tội trộm cắp tài sản như dấu hiệu về lỗi của người phạm tội dấu hiệu về độ tuổi và năng lực trách nhiệm hình sự ciịa chủ thể cúa lội phạm
Ạ c/~
Trang 30Để đưa ra được khái niệm tội trộm cắp tài sản trước hết cần khẳng định, tội trộm cắp tài sản phải thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm, mà theo TSKH PGS Lê Cảm, phải thê hiện ba bình diện với năm đặc điểm (dấu hiệu) của nó là: a) bình diện khách quan - tội phạm là hành vi nguv hiểm cho xã hội; b) bình diện pháp
lý - tội phạm là hành vi trái pháp luật hình sự; c) bình diện chú quan - tội phạm là hành vi do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đu tuổi chịu trách nhiệm hình
sự thực hiện một cách có lỗi [14, tr 105]
Dựa vào cơ sở phân tích các quan điểm ở trên, chúng tôi đưa ra khái niệm
tội trộm cắp tài sản như sau: Tội trộm cắp tải sản là hành vi lén lút lâv tài sán của
người khác với mục đích chiếm đoạt, do người có nũng lực trách nhiệm hình sự và ^
đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện dưới hình thức lỗi cô' ý, xám phạm các quyền sở hữu được Nhà nước bảo vệ bằng pháp luật.
Khái niệm về tội trộm cắp tài sản trên đã xác định hành vi phạm tội của tội trộm cắp tài sản là hành vi lấy tài sản của người khác [100, tr 150,1511, người phạm tội thực hiện tội phạm với ý định lấy tài sản người khác làm tài sản của mình, hình thức chiếm đoạt của người phạm tội là lén lút (đây là dấu hiệu để phân biệt tội trộm Cấp tài sản với các tội phạm có tính chất chiếm đoạt khác), xâm phạm quyển sở hữu
về tài sản của con người trong xã hội Các tội xâm phạm sở hữu khác có thể có hành
vi chiếm đoạt, nhưng sự chiếm đoạt xẩy ra công khai như tội cướp tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản hoặc chiếm đoạt bằng thủ đoạn gian dối như tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Khái niệm còn thể hiện: người phạm tội phải đủ tuổi chịu TNHS và có năng lực TNHS, những hành vi lấy tài sản của người khác khi chưa đủ tuổi chịu TNHS hoặc ở trong tình trạng không có năng lực TNHS thì không phải là tội phạm; khác với các tội xâm phạm quyền sở hữu với lỗi vô ý, người phạm tội trộm cắp tài sản có lỗi cố ý khi thực hiện tội phạm, họ mong muốn chiếm lấy tài sản của người khác để thoả mãn các nhu cầu của bản thân hoặc gia đình
1.2.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản
1 Khách thể của tội trộm cắp tài sản
Điều 15 của Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam năm 1992 quy
định: "Nhù nước phát triển nền kình tê'hàng hoá nhiều thành phán Cơ cấu kinh t ế
Trang 31nhiều tliành phàn V('ri cúc tổ chức sán xuất, kinh doanh du dạng dựa trên c h ế độ sớ lĩữii toàn dân, sà hữu tập thể, sở hữu tư nhăn, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thế là nền táng" [49, tr 145] Cùng với việc quy định về chê độ sở hữu, Hiến
pháp 1992 xác định sự bảo hộ của Nhà nước đối với các hình thức sở hữu trong xã
hội, Điều 28 quy định: “Mọi hoạt động xuất, kinh doanh bất hợp pháp, mọi hành vi
phá hoại nền kinh tế quốc dân làm thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập th ể và của công dân đều bị xử lý nghiêm minh theo pháp luật”
Quy định của Hiến pháp là nền tảng pháp lý cơ bản xác định chế độ sở hữu và sự bảo hộ chế độ sở hữu thông qua các hoạt động của Nhà nước
Trong hệ thống pháp luật của Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, luật hình sự có nhiệm vụ bảo vệ chế độ sở hữu, quyền và các lợi ích hợp pháp của các tổ chức và công dân trong xã hội, chông lại mọi hành vi phạm tội [82, tr.10] Tội trộm cắp tài sản xâm phạm đến các quyền sở hữu của tổ chức và công dân trong xã hội, các quyền được bảo hộ bằng những quy định của Hiến pháp Bên cạnh sự xâm phạm các quyền sở hữu, tội phạm còn gây thiệt hại đến trật tự công cộng Khi tội trộm cắp tài sản xẩy ra thì không chỉ người chủ sở hữu bị mất tài sản mà các hoạt động khác như sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt bình thường của chủ sở hữu cũng có thể
bị ảnh hưởng, trật tự, an toàn xã hội nơi xẩy ra tội phạm trỏ nên xấu đi [62, tr.63], [64, tr.20], [71, tr.47]
Theo luật dân sự Việt Nam, quyền sở hữu về tài sản bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản Khi xâm phạm đến sơ hữu của người chủ tài sản, tội trộm cắp tài sản đồng thời xâm phạm cả ba quyền chiếm hữu,
sử dụng và định đoạt tài sản Các quyền sở hữu về tài sản được Nhà nước bảo hộ trên cơ sở quy định của Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam và văn bản pháp luật khác
Đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản
Theo lý luận về luật hình sự, để gây thiệt hại cho khách thê’ của tội phạm, người phạm tội phải tác động đến một hoặc nhiều bộ phận cấu thành nên khách thể của tội phạm Để gây thiệt hại đến các quyền sở hữu về tài sản, người phạm tội trộm cắp tài sản phải tác động đến tài sản của người chủ sở hữu
Trang 32Theo luật dân sự Việt Nam tài sản có nhiều hình thức khác nhau Điều 163
BLDS Việt Nam 2005 quy định: ‘T à / sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và cúc
quyền tài sán” [58, tr.l 19] Vật là một bộ phận của thế giới vật chất có thê đáp ứng
một nhu cầu nhất định của con người, tồn tại dưới một dạng nhất định, nằm trong sự chiếm hữu của con người, có đặc trưng giá trị và trỏ thành đối tượng của giao lưu dân sự Vật là một hình thức tài sản và có thể trở thành đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản Khi là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản, vật phải nằm trong sự chiếm hữu của con người Đối với trường hợp người chủ sơ hữu chủ động từ
bỏ quyền sở hữu của mình và dịch chuyển tài sản ra khỏi phạm vi quản lý, thì tài sản này được coi là tài sản vô chủ, hành vi lấy đi loại tài sản này không bị coi là phạm tội trộm cáp tài sản
Tài sản là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản còn có thể là tiền, các loại giấy tờ trị giá được bằng tiền Tiền bao gồm tiền Việt Nam và tiền nước ngoài Những loại tiền cũ có giá trị văn hoá, lịch sử khi bị trộm cắp, không được coi là tiền theo nghĩa này, mà phải coi là vật như đã phân tích ở trên [37, tr.37]
Những giấy tờ có giá trong hoạt động kinh tế hoặc giao dịch dân sự rất đa dạng Điều 4 Quy chê phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định số 02/2005/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày
04 tháng 1 năm 2005 quy tfịnh: “Giấy tờ có giá là chứng nhận của tổ chức tín dụng
phát hành đ ể huy động vốn trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khúc giữa tổ chức tín dụng và người mua”.
Giấy tờ có giá có nhiều hình thức khác nhau, tên gọi của giấy tờ có giá có thể là: kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, chứng chỉ tiền gửi dài hạn Những loại giấy tờ này có tính chất là có thể định giá được bàng tiền và khi đưa vào lưu thông dân sự chúng có thê thay thế tiền Với tính chất là một hình thức tài sản đặc thù chúng có thể trớ thành đối tượng của tội trộm cắp tài sản Tuy nhiên, giấy tờ có giá lại được chia làm hai loại: giấy tờ có giá hữu danh và giấy tờ có
giá vô danh Theo Điều 4 của Quy chế trên đây thì: “G/ứV tờ cỏ giá vô danh lủ ý ấy
Trang 33tờ có giá phút hành theo hình thức chứng chi không ghi tên ngiríri sở hữu Giày tờ có giá vỏ danh thuộc quyền sà hữu của người nám giữ giấy tờ có giá".
Như vậy, chỉ có giấy tờ có giá vô danh mới trở thành đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản Khi lấy đi loại giấy tờ này, người phạm tội có thể thực hiện các quyền sở hữu đối với tài sản được giấy tờ đó xác nhận Họ có thể đem giấy tờ này đi chuyển nhượng như: mua, bán, tặng, cho, trao đổi mà không phải thoả mãn thêm bất
kỳ điều kiện nào liên quan đến giấy tờ này Giấy tờ có giá hữu danh tuy có thể đem chuyển nhượng trong giao dịch dân sự nhưng chỉ chủ sở hữu đứng tên trong giấy tờ
đó mới có khả năng thực hiện được sự chuyển nhượng đó Vì vậy, giấy tờ có giá hữu danh không thể trở thành đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản
Tương tự giấy tờ có giá hữu danh, những loại giấy tờ khác tuy có xác nhận quyền tài sản nhất định, nhưng chỉ bản thân người chủ sở hữu mới có khả năng sử dụng chúng trong giao dịch dân sự, do đó không thể là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản Ví dụ: sổ tiết kiệm, giấy biên nhận n ợ Khi các loại giấy tờ chứng thực quyền tài sản của người chủ sở hữu bị người khác lấy đi, thì họ vẫn có thể khôi phục lại Quyền sở hữu như quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt không bị xâm phạm
Như vậy, xét về hình thức tài sản thì đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản là tiền, vật và giấy tờ có giá vô danh, v ề tích chất pháp lý, tài sản là đối tượng của tội trộm cắp tài sản phải là tài sản của người khác Hành vi lén lút lấy tài sản của mình đem đi tiêu thụ không cấu thành tội trộm cắp tài sản Ví dụ: Trường hợp người chồng lén lút lấy tiền trong tủ gia đình đem đi đánh bạc hoặc uống rượu khi người
vợ đang ngủ hay vắng nhà không cấu thành tội trộm cắp tài sản
Tuy nhiên, trong trường hợp người chủ tài sản đã giao tài sản cho người khác quản lý như cho mượn, giữ hộ nhưng sau đó lại có hành vi chiếm đoạt tài sản cua mình thì vẫn cấu thành tội trộm cắp tài sản Ví dụ: A có chiếc xe máy cho B mượn Khi thấy B để chiếc xe máv đó dưới sân khu tập thể tuy được khoá lại nhưng không có người trông coi, A đã lén đến dùng chìa khoá mang theo mở khoá, nổ máy
và phóng xe đi A đem xe đi bán lấy tiền ăn tiêu hết nhưng vẫn bắt B phải bồi thường tiền chiếc xe bị mất
Trang 34Ị Như vậy, tài sản bị chiếm đoạt trong tội trộm cắp tài sản thông thường là tài sản của người khác Trong trường hợp đặc biệt tài sản bị chiếm đoạt có thể là tài sản của người đi chiếm đoạt nhưng đã được giao cho người khác quản lý hoặc sử dụng.
Ngoài tính chất là tài sản của người khác, tài sản bị chiếm đoạt trong tội trộm cắp tài sản phải là tài sản còn nằm trong sự chiếm hữu của người chủ Nằm trong sự chiếm hữu của người chủ có nghĩa là tài sản này đang chịu sự chi phối về mặt thực tế của người chủ tài sản hoặc người quản lý tài sản Người chủ tài sản eó thể thực hiện các quyền sở hữu về tài sản như sử dụng, định đoạt tài sản hoặc tài sản đang được cất giữ, bảo quản tại địa điểm nhất định
Trường hợp người thợ đặt đường ống nước cho một cơ quan, phát hiện dưới chân tường rào bảo vệ có một số tài sản đã bị kẻ gian lấy trong kho ra giấu ớ đó (chưa đưa ra ngoài được) đã lén lút đưa số tài sản này đi tiêu thụ cũng phạm tội trộm cắp tài sản
Trong thực tiễn áp dụng các quy định của BLHS để đấu tranh phòng chống tội trộm cắp tài sản, đã có một số vấn đề liên quan đến việc xác định đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản Đó là hành vi câu, móc trộm điện trái phép để sử dụng trong hoạt động kinh doanh hoặc phục vụ sinh hoạt trong gia đình
Về vấn đề trên có nhiều quan điểm khác nhau: quan điểm thứ nhất cho rằng, hành vi câu, móc trộm điện trái phép không phạm tội trộm cắp tài sản vì đối tượng tác động trong trường hợp này là điện, một dạng năng lượng lưu thông trong các dây dẫn và không thể coi điện là tài sán Vì lý do trên, người có quan điểm này cho rằng hành vi câu, móc trộm điện cấu thành tội sử dụng, phân phối điện trái phép (Điều 182 BLHS 1985) hoặc tội vi phạm vi phạm quy định về an toàn công trình điện (Điều 241 BLHS 1999) Quan điểm thứ hai cho rằng, hành vi câu móc trộm điện cấu thành tội trộm cấp tài sản vì điện có thể trớ thành đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản
Chúng tòi đồng tình với quan điếm thứ hai, vì theo Điều 163 BLDS Việt Nam năm 2005, thì tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản Điện phải được coi là một dạng đặc thù của vật theo quv định trên Hành vi câu móc trộm điện trên các dây dẫn để sử dụng trái phép làm tổn hao nàne lượne điện cua chả sỏ
Trang 35hữu Người câu móc trộm điện để sử dụng đã lén lút lấy đi một sô nãng lượng điện nhất định và sử dụng sô năng lượng điện này cho mục đích cá nhàn Năng lượng điện lại là một dạng tài sán đang có chủ, đang trong sự chiếm hữu của chủ sở hữu
Vì thế hành vi lén lút câu móc điện trái phép là một dạng đặc thù của tội trộm cắp tài sản
BLHS Đức có nhiều Điều luật quy định về tội trộm cắp tài sản, trong đó
Điều 248c quy định về tội trộm cắp điện như sau: “Người nào dùng d ả \ dẫn lấy
năng lượng điện trái phép từ hệ thống dẫn điện với V định chiếm đoạt thì bị phạt tù đến 5 năm hoặc phạt tiền” [101, tr 115], [102, tr 1289] Như vậy các nhà hình sự
Đức cũng cho rằng dùng dây dẫn các loại câu, móc điện là hành vi của tội trộm cắp tài sản vì hành vi trên làm mất số năng lượng điện của chủ sở hữu và người câu móc điện chiếm đoạt số năng lượng điện khi sử dụng chúng vào mục đích cá nhân
Theo luật dân sự Việt Nam, tài sản còn được phân loại thành bất động sản
và động sản Điều 174 BLDS Việt Nam năm 2005 quy định: “Bất động sản là các
tài sản bao gồm: đất đai; nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, k ể cả các tài sàn gắn liền với nhà, công trình x â \ dựng đó; các tài sản khác gắn liền với đất dai; các tài sán khác do pháp luật quy định Động sản là những tài sản không phải
là bất động sả n ”.
Do tính chất của hành vi phạm tội trộm cắp là lấy đi tài sản của người khác, cho nên bất động sản không thể là đối tượng của tội trộm cắp tài sản Trường hợp người phạm tội tháo dỡ những phần tài sản nhất định thuộc về một bất động sản để chiếm đoạt, thì tính chất của phần tài sản này đã thay đổi Trước khi tháo dỡ phần tài sản này được coi là bất động sản, nhưng sau khí tháo dỡ, nó lại được coi là động sản
vì chúng có thể di, dời được, lúc này chúng có thể trở thành đối tượng của tội trộm cắp tài sản Hành vi tháo dỡ những phần tài sản nhất định thuộc về một bất động sản
để chiếm đoạt vẫn bị coi là phạm tội trộm cắp tài sản Ví dụ: Hành vi lợi dụng khi chủ tài sản đi vắng đến các hộ gia đình hoặc cơ quan, tổ chức, tháo và lấy đi cánh cổng hoặc cửa nhà, cửa sổ bán lấy tiền phải được coi là hành vi trộm cắp tài sản
Như vậy, đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản là những tài sản cụ thể sau đây: vật, tiền, giấy tờ có giá Trong trường hợp tài sản đưực phân loại thành
Trang 36động sán và bất động sản thì chỉ động sản mới có thê trở thành đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản Đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản thông thường là những tài sản hợp pháp Đây là những loại tài sản người chủ sở hữu có được hoàn toàn phù hợp với các quy định của pháp luật như do lao động, thừa kế, tặng cho hoặc được thưởng Tuy nhiên trong trường hợp đặc biệt, đối tượng tác động của tội trộm cắp có thể là tài sản bất hợp pháp Đây là những loại tài sản có được thông qua các hành vi không phù hợp pháp luật như: đánh bạc, mãi dâm, buôn bán ma tuý hoặc một hành vi vi phạm pháp luật khác Tính chất bất hợp pháp của tài sản không ảnh hưởng đến việc định tội, người lấy đi tài sản bất hợp pháp này vẫn bị coi là phạm tội trộm cắp tài sản và bị truy cứu TNHS Tội trộm cắp tài sản được quy định trong BLHS không chỉ có mục đích duy nhất là bảo vệ quyền sở hữu về tài sản của cơ quan, tổ chức và công dân trong xã hội, nó còn có tác dụng rộng lớn hơn là bảo vệ trật tự, an toàn xã hội Do đó hành vi lén lút lấy đi tài sản của người khác với mục đích chiếm đoạt và tài sản này là bất hợp pháp thì về tính chất pháp lý hành vi trên vẫn cấu thành tội trộm cắp tài sản và người phạm tội vẫn bị truy cứu TNHS.
Xuất phát từ tính chất đặc biệt của tài sản, một số loại tài sản nhất định không được coi là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản Trong trường hợp các loại tài sản này bị chiếm đoạt thì người phạm tội sẽ bị truy cứu TNHS về các tội phạm khác Đó là các loại tài sản sau đây: ma tuý, tiền chất ma tuý, vũ khí quân dụng, chất phóng xạ người nào chiếm đoạt các loại tài sản đặc biệt này sẽ bị truy cứu TNHS về các tội phạm tương ứng được quy định tại các Điều 194, 195, 221,
230, 232, 233, 236 BLHS 1999
Trong thời gian chiến đấu hoặc khi thu dọn chiến trường, hành vi lấy đi các tài sản trên chiến trường cũng không cấu thành tội trộm cắp tài sản Hành vi trên cấu
thành một tội phạm cụ thê được quy định tại chương “Các tội xâm phạm nghĩa vụ,
trách nhiệm quân nhân”, tội chiếm đoạt hoặc huỷ hoại chiến lợi phẩm (Điều 337
BLHS) Người phạm tội trong trường hợp này lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh và địa bàn đang có chiến sự để chiếm đoạt chiến lợi phẩm, hành vi chiếm đoạt chiến lợi phẩm là loại hành vi đặc thù nên được quy định thành tội danh riêng Người phạm tội tuy lén lút chiếm đoạt tài sản nhưng hành vi đó không cấu thành tội trộm cắp tài sản
Trang 37Như vậv để xác định đôi tượng tác động của tội trộm cắp tài sán cần thiết phải chú ý đến hình thức và tính chất của tài sản bị chiếm đoạt Liên quan đến tội trộm cắp tài sản và đôi tượng tác động của nó còn có nhiều ý kiến khác nhau trong thời gian qua về định tội danh cho hành vi lắp đặt thiết bị viễn thông trái phép, thu cước điện thoại với số lượng rất lớn.
Trong những năm gần đây một số tổ chức, cá nhân người nước ngoài có phương tiện và kỹ thuật về thu phát sóng vô tuyến điện đã cấu kết với một số người trong nước, lén lút lắp đặt thiết bị thu phát sóng vô tuyến điện, khai thác, sử dụng trái phép tần số vô tuyến điện hoặc lợi dụng kênh thuê riêng để chuyển một lượng lớn các cuộc đàm thoại từ nước ngoài vào Việt Nam hoặc ngược lại, thu cước điện thoại với số lượng rất lớn Loại hành vi vi phạm pháp luật mới này thường được thực hiện với thủ đoạn tinh vi, lợi dụng kỹ thuật viễn thông mới phát triển tại Việt Nam
và sự quản lý còn nhiều hạn chế để trốn tránh sự kiểm soát của ngành Bưu điện viễn thông Việt Nam, làm thất thu tiền cước điện thoại của Nhà nước Tuy là loại hành vi
vi phạm pháp luật mới nhưng đã xẩy ra ở nhiều địa phương: thành phố Hồ Chí Minh
20 vụ, Hà Nội 6 vụ, Quảng Ninh 2 vụ, Lạng Sơn 2 vụ, Bình Dương 2 vụ, Hải Phòng
1 vu và Hà Giang 1 vu [6, tr.2 1 ]
Hành vi lắp đặt, sử dụng thiết bị viễn thông, thu cước trái phép được thực hiện bằng các thủ đoạn sau đây:
Thủ đoạn thứ nhất: người phạm tội thuê k£nh riêng
Người thuê kênh riêng có hợp đồng thuê kênh để sử dụng và có nghĩa vụ trả tiền cước phí sử dụng kênh này Người thuê kênh riêng chí được kết nối, liên lạc
từ mạng nội bộ thuê kênh riêng tại Việt Nam đến mạng nội bộ thuê kênh riêng ở nước ngoài
Sau khi thuê kênh riêng, chủ thuê bao đăng ký sử dụng một số máy điện thoại nội hạt tại Việt Nam và tự ý kết nối với kênh riêng để chuyển các cuộc gọi từ trong nước ra nước ngoài và ngược lại, người thuê bao chỉ trả cước phí điện thoại trong nước nhưng thu được một sô' lượng lớn cước phí điện thoại quốc tế từ những người khác
Trang 38Thủ đoạn thứ hai: người phạm tội tự ý lắp đặt trái phép trạm mặt đất thông
tin vệ tinh
Do không có hợp đồng thuê bao kênh riêng, những người nước ngoài được một số người Việt Nam giúp đỡ đã lắp đặt trạm thu phát mật đất, sau đó kết nối vói các máy điện thoại thuê bao cô' định để chuyển các cuộc gọi từ trong nước ra nước ngoài và ngược lại Trong trường hợp này số tiền thu được từ những người đến gọi điện thoại quốc tế là rất lớn, vì người tự ý lắp đặt trái phép trạm mặt đất thông tin vệ tinh chỉ phải trả duy nhất cước điện thoại trong nước và tiền thuê bao một số máy điện thoại cố định, để che đậy việc làm phi pháp của mình, người phạm tội thường xuyên đảo các máy thuê bao cố định tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng hoặc người dân
Thủ đoạn thứ ba: sử dụng điện thoại kéo dài (bao gồm máy mẹ và máy con).
Trong trường hợp này, người thu cước điện thoại quốc tế trái phép có đăng
ký thuê bao điện thoại của Việt Nam (máy mẹ), sau đó đưa các máy con sang Trung Quốc, kết nối vào mạng của Trung Quốc, chuyển các cuộc gọi từ Liên bang Nga về Việt Nam Chúng lợi dụng sự chồng lấn sóng viễn thông tại khu vực biên giới Việt Nam - Trung Quốc và Trung Quốc - Liên bang Nga để thu cước điện thoại quốc tế, người phạm tội trong trường hợp này chỉ trả cước điện thoại trong nước nhưng lại thu được tiền cước điện thoại quốc tế
Về hành vi vi phạm pháp luật trên đây, căn cứ vào các dấu hiệu pháp lý hình sự của tội trộm cắp tài sản, tội sử dụng trái phép tài sản, tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên và tội kinh doanh trái phép có quan điểm khác nhau trong giới luật gia:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, hành vi láp đặt thiết bị thu phát sóng vô tuyến
điện, sử dụng trái phép tần số vô tuyến điện để thu cước điện thoại tuy ià hành vi vi phạm pháp luật, nhưng không cấu thành bất kỳ tội phạm nào và căn cứ vào Điều 2 BLHS 1999, không thể truy cứu TNHS, người vi phạm chỉ bị xử lý hành chính [19
Trang 39tr.4], [20, tr.37] Quan điểm này tuy xác định được hành vi kể trên là hành vi vi phạm pháp luật nhưng đánh giá sai khi cho rằng chúng không cấu thành một tội danh cụ thể nào trong các tội phạm được quy định tại BLHS 1999.
Quan điểm thứ hai cho rằng hành vi trên không cấu thành tội phạm nào
trong BLHS năm 1999 và do sự cần thiết của yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm cần quy định một tội phạm mới: tội vi phạm các quy định về bưu chính, viễn thông [8, tr.45], [21, tr.12] Cũng giống như quan điểm thứ nhất, những người có quan điểm này đã sai khi cho rằng hành vi kể trên không cấu thành một tội phạm cụ thê nào trong BLHS hiện hành
Quan điểm thứ ba cho rằng hành vi trên cấu thành tội trộm cắp tài sản, đây
là quan điểm được nhiều luật gia ủng hộ và thực tiễn xét xử thừa nhận [17, tr.45], [38 tr.22], [44, tr.43]
Quan điểm thứ tư cho rằng, hành vi trên không cấu thành tội trộm cắp tài
sản nhưng cấu thành tội kinh doanh trái phép, bởi luận cứ sau đây: hiện nay kinh doanh điện thoại là hoạt động của nhiều công ty điện thoại, nên ý kiến cho rằng hằnh vi lấp đặt, sử dụng thiết bị viễn thông, thu cước trái phép gây hại cho Tổng công ty Bưu chính viễn thông là sai Khi thực hiện các hành vi trên, người vi phạm không nhằm chiếm đoạt tài sản của bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào, người vi phạm chỉ có mong muốn thu lợi nhuận bất chính Do không xác định được người bị hại, hành vi này không cấu thành tội trộm cắp tài sản Vì những lẽ trên, hành vi lắp đặt,
sử dụng thiết bị viễn thông, thu cước trái phép là hành vi bỏ vốn ra kinh doanh, thu lợi nhuận nhưng chưa xin phép các cơ quan chức năng, nên cấu thành tội kinh doanh trái phép theo Điều 159 BLHS năm 1999 [28, tr.31]
Chúng tôi cho rằng hành vi lắp đặt, sử dụng thiết bị viễn thông, thu cước trái phép cũng không phạm tội kinh doanh trái phép theo Điều 159 BLHS vì đối tượng của tội phạm này là những hàng hoá được phép kinh doanh nhưng người phạm tội đã không đăng ký kinh doanh, kinh doanh không đúng nội dung đã đăng ký hoặc không có giấy phép riêng trong trường hợp phải có giấy phép
Trang 40Quan điểm thứ năm cho rằng, hành vi trên cấu thành tội vi phạm quy định
về thăm dò khai thác tài nguyên theo điều 172 BLHS năm 1999 [43, tr.43]
Chúng tôi cho rằng hành vi khai thác trái phép mạng điện thoại trong nước hoặc vệ tinh của Việt Nam thuê của nước ngoài không cấu thành tội vi phạm quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên theo Điều 172 BLHS vì đối tượng tác động của tội phạm này là những tài nguyên như các loại khoáng sản đã hoặc chưa được phát hiện trong lòng đất hoặc trong thềm lục địa
Căn cứ vào các dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản chúng tôi cho rằng hành vi lắp đặt, sử dụng thiết bị viễn thông, thư cước trái phép phạm tội trộm cắp tài sản vì những luận cứ sau đây:
Thứ nhất, hành vi lắp đặt, sử dụng thiết bị viễn thông, thu cước của người sử
dụng điện thoại là trái pháp luật căn cứ vào các quy định hiện hành của ngành Bưu chính viễn thông Pháp lệnh Bưu chính, Viễn thông ngày 20 tháng 5 năm 2002 quy
định tại Điều 40, khoản 2, mục d: chủ mạng viễn thông “không được kinh doanh
dịch vụ viễn thông dưới bất kỳ hình thức nào”; Hoặc tại Điều 42, khoản 2, mục d
quy định: người thuê bao điện thoại "không được sử dụng thiết bi đầu, cuối thuê bao
của mình đ ể kinh doanh dịch vụ viễn thông dưới bất kỳ hình thức nào” Những người
lắp đặt, sử dụng thiết bị viễn thông thu cước điện thoại của người sử dụng đã thực hiện một điều pháp luật của Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam cấm làm
Thứ hai, hành vi lắp đặt, sử dụng thiết bị viễn thông, thu cước trái phép mang
tính chất lén lút như: lắp đặt máy móc trong các phòng kín, có mái che bằng nhựa, tránh sự theo dõi, quan sát của người khác, thường xuyên đảo các máy điện thoại thuê bao cố định tránh sự kiểm tra, giám sát của cơ quan chức nâng Mục đích của người phạm tội là nhằm chiếm đoạt cước phí điện thoại mà lẽ ra Tổng công ty Bưu chính viễn thông được hưởng
Thứ ba, những người lắp đặt, sử dụng thiết bị viễn thông trái phép đã thu
được một số tiền lớn từ cước điện thoại của người sử dụng và qua đó gây thiệt hại trực tiếp cho Tổng công ty Bưu chính viễn thông của Nhà nước Cộng hoà XHCN