1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tính công bằng trong phán quyết của toà án nhân dân ở việt nam hiện nay

78 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 8,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghĩa là sau khi đã làm rõ nội dung, thực chất của những hành vi, con người, sự kiện qua hoạt động phán đoán, suy luận, đánh giá các chứng cứ và khẳng định tính hợp pháp, hợp lí của hành

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO B ộ Tư PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

TRẴN TRÍ DŨNG

TINH CONG BĂNG TRONG PHÁN QUYẾT

HIÊN NAY

LUẶN VÃN THẠC sĩ LUẬT HỌC

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ T ư PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

TRẦN TRÍ DŨNG

TÍNH CÔNG BẰNG TRONG PHÁN QUYẾT

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Xin chân thành cảm ơn Thầy PGS.TS Nguyễn Văn Động cùng các thầy cô giáo trong Trường Đại học luật Hà Nội, lãnh đạo, đồng nghiệp cơ quan và gia đình đã giúp em hoàn thành luận văn này.

Tác giả

Trang 4

'Không được lệch lạc công lí hay thiên vị Không được ăn hôi lộ vì của hối lộ làm mù mắt người khôn và xuyên tạc lời của người ngay Phải tôn trọng công lí, ch ỉ công lí mà thôi"

Kinh Cựu ước của người Do Thái

Trang 5

M Ụ C L Ụ C

Chương 1

c ơ s ỏ L í LUẬN VỂ TÍNH CÔNG BẰNG TRONG PHÁN Q U YẾT CỦA TÒA ÁiN NHÂN DÂN

ý nghĩa của nó

Chương 2

TÍNH CÔNG BÀNG TRONG PHÁN Q U YÊT CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN HIỆN NAY, NHŨNG GIẢI PHÁP PHÁP LÍ CHỦ YẾU NHẰM BẢO ĐẢM TÍNH CÔNG BẰNG TRONG CÁC PHÁN

Q U YẾT CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TRONG THỜI GIAN TỚI

hiện nay

được xem xét dưới góc độ pháp lí

được xem xét dưới góc độ thực tế

công bằng trong các phán quyết cưa tòa án nhân dân

trong thời gian tới

1

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẨU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong điều kiện xã hội đầy những biến động hiện nay, cùng với các giá trị dân chủ, nhân đạo, văn minh , công bằng có một ý nghĩa, giá trị cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển của xã hội Tồn tại với tư cách là một trong những giá trị điều chỉnh quan trọng, công bằng cần được khẳng định và xác lập trong quan

hệ giữa nhà nước và công dân, giữa tổ chức xã hội và thành viên của chúng, giữa mọi người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

Qua các văn kiện Đại hội Đảng, Cương lĩnh và chính sách xây dựng đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định rõ sự cần thiết phải thiết lập và thực hiện công bằng phù hợp với điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội và coi đó là một trong những nguyên tắc rường cột của các chính sách cũng như trong công cuộc đổi mới đất nước Thực tiễn của công cuộc đổi mới ở nước ta trong giai đoạn hiện nay đang đặt ra nhu cầu bức thiết của việc thực hiện nguyên tắc công bằng trong mọi mặt của đời sống xã hội

Với mục tiêu “xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lí, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự T ổ

lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã chỉ rõ quan điểm: “cải cách tư pháp phải xuất phát từ yêu cầu phát triển kinh t ế - xã hội, xây dựng x ã hội công bằng, dân chủ, văn minh"[ỉ2].

Với chức năng xét xử của mình, tòa án là cơ quan có quyền nhân danh nhà nước, nhân danh pháp luât phán quyết về các vụ án hình sự, dân sự, hành chính

để bảo vệ pháp luật, duy trì công lí và công bằng Chính vì lẽ đó, phán quyết của tòa án có ý nghĩa chính trị - pháp lí vô cùng sâu sắc, tác động đến nhiều mặt của đời sống xã hội và việc đảm bảo “phán quyết của tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng

Trang 7

cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp đ ể ra những bản Ún, quyết định đúng pháp luật, cố sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy

gian tới mà Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị đã đặt ra

Vì vậy, đứng trước yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay, việc nghiên cứu làm sáng tỏ giá trị công bằng trong hoạt động tư pháp, những biện pháp nhằm bảo đảm tính công bằng trong phán quyết của tòa án đang là nhu cầu bức thiết được các nhà nghiên cứu quan tâm Do đó, chúng tôi chọn vấn đề “tính công

luận văn Thạc sĩ với mong muốn đóng góp công sức nghiên cứu nhỏ nhoi của mình vào công cuộc cải cách tư pháp mà Đảng và Nhà nước ta đã đặt ra hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Công bằng là một vấn đề mang tính thời sự được nhiều nhà nghiên cứu khoa học xã hội quan tâm Có nhiều công trình nghiên cứu vấn đề này từ nhiều góc độ: triết học, kinh tế học, xã hội học, chính trị học, luật học với những phạm vi và cấp độ khác nhau, trong đó, hướng tiếp cận từ góc độ kinh tế học và

xã hội học chiếm tỉ lệ khá lớn, chủ yếu là vấn đề tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội, công bằng xã hội với chính sách xã hội Có thể kể một số công trình như: Báo cáo phát triển th ế giới 2006 - Công bằng và phát triển của Ngân hàng thế giới (Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, năm 2005), Quản lí sự phát triển

Chính trị quốc gia - sự thật, Hà Nội, năm 2001), Công bằng và bình đẳng x ã hội

Phẩm (Nxb Lí luận chính trị, Hà Nội, năm 2 006)

Bên cạnh đó, những nhà nghiên cứu luật học ở Việt Nam cũng đã có những đóng góp quan trọng trong việc nhận thức và kiến giải một số vấn đề liên quan tới công bằng trong lĩnh vực pháp luật Có thể kể các công trình nghiên cứu như: Nguyên tắc cồng bằng trong luật hình sự Việt Nam - Luận án phó tiến sĩ

3

Trang 8

luật học của Võ Khánh Vinh (năm 1993), Vai trồ của pháp luật trong việc bảo

Anh Tuấn (năm 2 0 0 1 ) Ngoài ra còn một khối lượng lớn các bài viết, các phần, các mục có liên quan đến đề tài nói trên trong các tác phẩm, luận án, luận văn, báo cáo khoa học, tạp chí chuyên ngành khoa học pháp lí

Nhìn chung, các công trình và các bài viết đó đã làm sáng tỏ những vấn đề

cơ bản về khái niệm, đặc điểm của công bằng, vai trò của công bằng đối với nhà nước, pháp luật và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội Tuy nhiên, việc nghiên cứu vấn đề công bằng trong hoạt động xét xử, cụ thể là tính công bằng trong phán quyết của tòa án nhân dân vẫn còn tản mạn ở những khía cạnh, những nội dung nhất định mà chưa có công trình, bài viết nào nghiên cứu nó một cách trực diện, hệ thống Vì vậy, vẫn còn nhiều vấn đề lí luận và thực tiễn cần được quan tâm giải quyết

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lí luận và thực trạng tính công bằng trong phán quyết của tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay, từ đó đề xuất những giải pháp pháp lí nhằm bảo đảm tính công bằng trong phán quyết của tòa án nhân dân ở Việt Nam trong thời gian tới

Luận văn có nhiệm vụ: phân tích làm rõ khái niệm phán quyết của tòa án nhân dân, công bằng, tính công bằng trong phán quyết của tòa án nhân dân; luận giải các yêu cầu về nội dung, hình thức và các điều kiện đảm bảo đối với phán quyết của tòa án nhân dân nhìn từ góc độ bảo đảm tính công bằng; đánh giá về tính công bằng trong các phán quyết của tòa án nhân dân hiện nay; đề xuất các giải pháp pháp lí nhằm bảo đảm tính công bằng trong phán quyết của tòa án nhân dân trong thời gian tới

Đây là một đề tài khó và rộng, cho nên luận văn chỉ đề cập đến tính công bằng trong phán quyết của tòa án nhân dân nói chung chứ không đi sâu vào tính công bằng trong phán quyết đối với các loại vụ việc, yêu cầu cụ thể cũng như trong lĩnh vực hoạt động của tòa án quân sự Mặt khác, đề tài chỉ nghiên cứu tính công hằng theo nghĩa là một phẩm chất của bản án, quyết định (hình thức thể

Trang 9

hiện của phán quyết) chứ không nghiên cứu tính công bằng theo nghĩa là một nguyên tắc trong hoạt động phán quyết.

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

Để giải quyết nhiệm vụ của đề tài, luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận là chủ nghĩa Mác - Lênin, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam về nhà nước và pháp luật Ngoài ra luận văn còn sử dụng các phương pháp cụ thể như: phân tích, tổng hợp, hệ thống để nghiên cứu đề tài

5 Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn

Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu về tính công bằng trong phán quyết của tòa án nhân dân ở Việt Nam Luận văn đưa ra khái niệm mới về công bằng, phán quyết và tính công bằng trong phán quyết của tòa án nhân dân; xác định các yêu cầu, các điều kiện bảo đảm tính công bằng trong phán quyết của tòa án nhân dân; xây dựng các dạng tính công bằng trong phán quyết của tòa án nhân dân và đề xuất một số giải pháp pháp lí chủ yếu nhằm bảo đảm tính công bằng trong phán quyết của tòa án nhân dân ở Việt Nam trong thời gian tới

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn để tài

Kết quả nghiên cứu của luận văn đóng góp bổ sung vào lí luận về lĩnh vực công bằng trong hoạt động tư pháp, tạo cơ sở khoa học thống nhất để nghiên cứu tính công bằng trong những lĩnh vực cụ thể Luận văn còn là tài liệu tham khảo cho những nhà nghiên cứu cũng như những nhà hoạt động thực tiễn pháp luật

7 Kết cấu của luận văn

Phần mở đầu

Chương 1 Cơ sở lí luận về tính công bằng trong phán quyết của tòa án

nhân dân

Chương 2 Tính công bằng trong phán quyết của tòa án nhân dân hiện

nay Những giải pháp pháp lí chủ yếu nhằm bảo đảm tính công bằng trong phán quyết của tòa án nhân dân

Kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo.

5

Trang 10

Chương 1

C ơ Sơ LÍ.LUẬN VỂ TÍNH CÔNG BẰNG TRONG PHÁN QUYÊT

CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN

1.1.1 Khái niệm phán quyết của tòa án nhân dân

Theo Từ điển tiếng Việt, phán quyết có nghĩa là “quỹết định đ ể mọi người

phán đoán, phán xét, phán xử, nghĩa chung là nhận xét, đánh giá, kết luận về một vấn đề nào đó; “quyết” có nghĩa là định dứt khoát một việc gì sau khi đã cân nhắc để thực hiện [17,tr.740,787] thì phán quyết còn được hiểu sâu sắc hơn là một quyết định dựa trên sự cân nhắc, đánh giá, kết luận được ban ra để mọi người tuân theo, thực hiện

Với cả hai nghĩa này, áp dụng trực tiếp vào hoạt động của tòa án (tòa án

nhân dân viết tắt là tòa án) thì sẽ dẫn đến cách hiểu: mọi quyết định được thể hiện dưới dạng các văn bản tố tụng là bản án và quyết định do tòa án ban hành sẽ đều được coi là phán quyết của tòa án Hiểu như vậy là theo nghĩa rộng Tuy nhiên, nếu xem xét phán quyết gắn với chức năng đặc thù của tòa án thì phán quyết của tòa án sẽ được hiểu theo nghĩa hẹp hơn ở những dạng nhất định (trong luận văn này chỉ đề cập đến phán quyết gắn với chức năng của tòa án)

Như chúng ta đã biết, để quản lí xã hội, bên cạnh việc nhà nước phải làm ra pháp luật và quản lí các mặt của đời sống xã hội theo pháp luật, nhà nước còn phải giữ gìn pháp luật khỏi sự xâm hại, phục hồi và duy trì trật tự pháp luật để bảo vệ lợi ích của nhà nước, của xã hội Đó là hoạt động tất yếu của quyền lực nhà nước - quyền tư pháp với chức năng bảo vệ pháp luật, bảo vệ, duy trì công lí, công bằng Phương thức đặc thù thực hiện quyền tư pháp là hoạt động tài phán, nghĩa là đưa các hành vi, tranh chấp pháp lí liên quan đến những con người, tổ chức nhất định áp vào các qui định của pháp luật, đối chiếu, làm sáng tỏ mối tương quan giữa cái cá biệt là hành vi, tranh chấp với cái khuôn chung là qui phạm luật pháp để đánh giá, phán xét bản chất pháp lí, tính hợp pháp, tính đúng đắn của hành vi, tranh chấp, để từ đó đi đến mội quyết định có tính bắt buộc thi hành đối với mọi người mà trước hết là những người, tổ chức có lợi ích liên quan

Trang 11

Bằng việc các quyết định, bản án nhân danh nhà nước được tuyên bố và thi hành, các giá trị pháp luât bị vi phạm sẽ được khẳng định lại, công lí được duy trì, sự công bằng, lẽ phải của pháp luật được bảo vệ (xem sơ đồ 1).

Qua đó, phán quyết được thể hiện là một giai đoạn tiếp theo, kết quả của quá trình phán đoán, phán xét và là cơ sở của thi hành án trong hoạt động tài phán Nghĩa là sau khi đã làm rõ nội dung, thực chất của những hành vi, con người, sự kiện qua hoạt động phán đoán, suy luận, đánh giá các chứng cứ và khẳng định tính hợp pháp, hợp lí của hành vi, tranh chấp qua hoạt động phán xét; chủ thể tiến hành cân nhắc để quyết định về trách nhiệm pháp lý đối với hành vi

vi phạm, quyết định cách thức giải quyết tranh chấp; qua đó làm cơ sở cho việc khôi phục các quyền, lợi ích bị xâm phạm, bảo vệ và duy trì pháp luật, công lí và công bằng Phán quyết là một hoạt động cân nhắc để ra quyết định (hoặc nói gọn

là quyết định) về trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm hoặc về giải quyết tranh chấp để đem ra thi hành

Ở nước ta, quyền tư pháp được thực hiện bởi nhiều cơ quan khác nhau, nhưng chủ yếu vẫn do các cơ quan tư pháp thực hiện với những đặc trưng nhất định Theo kết quả nghiên cứu, đa số các nhà luật học hiện nay đều thống nhất thực hiện quyền tư pháp là hoạt động có những đặc trưng sau đây:

- Quyền tư pháp được thực hiện khi- có hành vi bị cho là vi phạm pháp luật nghiêm trọng (tội phạm) hoặc có tranh chấp pháp lí mà các bên không tự thương lượng, hòa giải được cần đến phán quyết của nhà nước;

- Thực hiện quyền tư pháp là hoạt động áp dụng pháp luật do các cơ quan chuyên trách thực hiện chức năng bảo vệ pháp luật thực hiện (gọi chung là các

cơ quan tư pháp - cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án, thi hành án) nhằm ra các phán quyết đối với các hành vi bị cho là vi phạm pháp luật hoặc phán quyết

về cách giải quyết tranh chấp đối với các cá nhân, tổ chức;

- Quyền tư pháp được thực hiện bởi các cơ quan và chức danh tư pháp và bổ trợ tư pháp, bằng nhiều hoạt động độc lập với các chức năng riêng, diễn ra liên tục theo một qui trình chặt chẽ, tuân thủ các nguyên tắc, thủ tục nghiêm ngặt dựa trên phương thức đặc thù là tài phán, phục vụ hoạt động trọng tâm là xét xử của tòa án.[3,tr.23-28]

7

Trang 12

Qua những đặc trưng trên cho thấy, hoạt động tài phán là hoạt động phức hựp được thực hiện bởi nhiều cơ quan và các chức danh khác nhau, trong đó, các hoạt động phán đoán, phán xét, thi hành án do các cơ quan và chức danh tư pháp

và bổ trợ tư pháp thực hiện, còn phán quyết là hoạt động chỉ do tòa án thực hiện với chức năng đặc trưng là xét xử (xem sơ đồ 2, 3)

Xét xử là một dạng hoạt động tài phán do tòa án thực hiện (nghĩa là tòa án chỉ thực hiện hoạt động phán đoán, phán xét và phán quyết) mà theo PGS.TS Nguyễn Đăng Dung đã định nghĩa: “xét xử là phương thức, là hình thức thực hiện quyền lực nhà nước Đó là hoạt động của c ơ quan tòa án được nhân danh quyền lực nhà nước, th ể hiện ỷ chí của nhà nước đưa ra một phán quyết cuối củng có hiệu lực bắt buộc đối với một tranh chấp cụ th ể (hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính ) Đó là sự biểu thị thái độ trực tiếp của nhà nước về các

vụ việc cụ th ể trong lĩnh vực hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính.

Từ những cơ sở trên cho chúng ta cách hiểu về phán quyết của tòa án, đó là một hoạt động cân nhắc để ra quyết định (hoặc quyết định) về trách nhiệm pháp

lí đối với tội phạm, quyết định bị cáo không phạm tội hoặc quyết định về giải quyết tranh chấp đối với vụ án cụ thể, được hình thành chủ yếu thông qua con đường xét xử, làm cơ sở cho việc thi hành án: Tùy từng trường hợp mà có cách hiểu cho phù hợp, nếu quyết định vấn để phức tạp như hình phạt, cách thực hiện quyền và nghĩa vụ thì chủ thể phải cân nhắc nhiều mặt trước khi ra quyết định; nếu vấn đề đã rõ ràng sau khi đã được làm rõ bởi hoạt động phán đoán, phán xét thì chủ thể có thể quyết định ngay ví dụ: bị cáo vô tội thì chủ th ể quyết định bị cáo không phạm tội hoặc đ ã khẳng định quyết định hành chính là đúng pháp luật thì quyết định bác đơn khiếu kiện của người khiếu kiện

Phán quyết của tòa án được thực hiện chủ yếu thông qua con đường xét xử chứ không phải duy nhất qua con đường xét xử bởi lẽ trong quá trình giải quyết các vụ án, các đương sự trong vụ án phi hình sự có thể thỏa thuận được với nhau

về cách giải quyết tranh chấp mà thông qua hoạt động phán đoán, phán xét là phù nựp với pháp luật và đạo đức xã hội, tòa án có quyển ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự mà không cần phải đưa ra xét xử Ngoài ra,

Trang 13

trong vụ án hình sự, ở cấp giám đốc thẩm, tái thẩm, là cấp xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, mặc dù không phải là cấp xét xử nhưng một trong

số quyết định của nó lại chứa đựng quyết định về trách nhiệm pháp lí đối với người bị coi là tội phạm, đó ià quyết định hủy bản án có hiệu lực pháp luật tuyên

bố bị cáo không phạm tội và đình chỉ vụ án

Nếu thông qua con đường xét xử, hình thức ghi nhận phán quyết chính là bán án được biểu hiện tập trung ở nội dung phần quyết định của bản án Lun ý phần quyết định của bản án phải là quyết định trách nhiệm pháp lí đối với tội phạm, quyết định bị cáo không phạm tội hoặc quyết định giải quyết tranh chấp chứ không phải là quyết định nói chung (tránh cách hiểu mọi bản án đều chứa đựng phán quyết vì có trường hợp cấp phúc thẩm ra quyết định huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại bằng hình thức là bản án)

Nếu không thông qua xét xử, hình thức ghi nhận phán quyết được thể hiện tập trung ở nội dung phần quyết định trong văn bản quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự hoặc trong quyết định của cấp giám đốc thẩm, tái thẩm hủy bản án có hiệu lực pháp luật tuyên bố bị cáo không phạm tội và đình chỉ vụ án

Theo quy định pháp luật hiện hành, chức năng của tòa án không chỉ là xét

xử để ra phán quyết đối với các hành vi bị cho tội phạm hoặc giải quyết các tranh chấp nhằm bảo vệ pháp luật, mà còn thực hiện một số hoạt động mang tính chất hành pháp - áp dụng pháp luật để ra các quyết định công nhận hay không công nhận đối với các yêu cầu về quyền dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao động; công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lí là căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; quyết định đối với yêu cầu phá sản doanh nghiệp, hợp tác

xã Và để thực hiện việc này, tòa án không phải tiến hành xét xử mà chỉ mở phiên họp để xem xét liệu có cơ sở để chấp nhận các yêu cầu đó hay không và ghi nhận sự quyết định này dưới hình thức là văn bản quyết định

Do vậy, để cho phù hợp với chức năng của tòa án, khái niệm hoạt động tài phán do tòa án thực hiện và phán quyết của tòa án cần được mở rộng thêm, theo

đó hoạt động tài phán do tòa án thực hiện không chỉ là hoạt động xét xử, xét lại,

9

Trang 14

công nhận sự thỏa thuận của đương sự mà còn là hoạt động xét yêu cầu; và phán quyết của tòa án được bổ sung thêm quyết định giải quyết các việc, dân sự và yệu cầu tuyên bố phá sản.

Như vậy, gắn với chức năng của tòa án, phán quyết của tòa án được hiểu là một hoạt động quyết định về trách nhiệm pháp lí đối với tội phạm (hoặc quyết định bị cáo không phạm tội), quyết định về giải quyết vụ việc hoặc yêu cầu tuyên

b ỏ phá sản thông qua hoạt động tài phán bởi tòa án thực hiện với hình thức thể hiện là bản án và quyết định (biểu hiện tập trung ở nội dung phần quyết định), làm cơ sở cho việc thi hành án.

Từ định nghĩa trên, phán quyết của tòa án sẽ được hiểu theo hai nghĩa sauđây:

chấp, quyết định giải quyết yêu cầu, làm cơ sở cho việc thi hành án

trung ở phần quyết định trong bản án hoặc quyết định) do tòa án ban hành Phần quyết định này luôn thể hiện những nội dung của phán quyết và đây là dấu hiệu phân biệt với các hình thức quyết định khác không mang tính phán quyết như quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung, quyết định phân công vụ án, quyết định hoãn phiên tòa

1.1.2 Nội dung của phán quyết

Căn cứ theo các quy định của pháp luật hiện hành, phán quyết của tòa án quyết định những nội dung sau đây:

- Trong vụ án hình sự, quyết định bị cáo không phạm tội; quyết định loại và mức hình phạt (gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung) đối với tội phạm; quyết định áp dụng các biện pháp tư pháp (nếu có), quyết định mức bồi thường dân sự (nếu có); quyết định giải quyết vật chứng (nếu có)

- Trong các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao động, quyết định bác bỏ yêu cầu xác lập quyền và/hoặc nghĩa vụ của các bên; quyết định xác lập và đưa ra cách thức hiện các quyền và nghĩa vụ giữa các bên

Trang 15

- Trong vụ án hành chính, quyết định bác hay chấp nhận một phần hoặc toàn bộ đơn khởi kiện để khẳng định, hủy một phần hoặc toàn bộ các quyết định hành chính, hành vi hành chính và quyết định kỷ luật buộc thôi việc bị khiếu kiện; quyết định mức bổi thường thiệt hại (nếu có).

- Trong các việc dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động và yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, quyết định công nhận hay không công nhận quyền dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao động; công nhận hay không công nhận một sự kiện pháp lí là căn cứ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao động; tuyên bố hay không tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản, quyết định cấm với thời hạn thích hợp đối với những người có trách nhiệm để doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản (nếu có)

Ngoài các nội dung trên, nội dung phán quyết còn thể hiện ở việc quyết định án phí, lệ phí, phí phá sản, các chi phí, tạm ứng và các vấn đề liên quan theo quy định của pháp luật

1.1.3 VỊ trí trọng tâm trong cơ chẻ tài phán của phán quyết và ý nghĩa của nó

Từ góc độ tiếp cận chức năng - hệ thống, hệ thống tư pháp bao gồm hộ thống các nguyên tắc, các quy phạm pháp luật; hệ thống các thiết chế và hệ thống các chức danh (xem sơ đồ 4) có nhiệm vụ chung là thực hiện chức năng bảo vệ pháp luật bằng phương thức đặc thù là tài phán (trong đó hoạt động xét xử

là chủ yếu) Khi có sự kiện tranh chấp, yêu cầu hoặc hành vi bị nghi là tội phạm,

hệ thống tư pháp sẽ vận hành để thực hiện hoạt động tài phán Sự vận hành này

là quá trình hiện thực hóa của hệ thống tư pháp, theo đó, các thiết chế cùng với các chức danh sẽ thực hiện cơ chế tài phán nhằm đưa đến một phán quyết đúng đắn và bảo đảm thi hành Trong đó, cơ c h ế tài phán là hệ thống các phương tiện tài phán gồm: các quy phạm pháp luật (thủ tục và nội dung); các văn bản tố tụng (quyết định thụ lí vụ án, quyết định khởi tố, kết luận điều tra, cáo trạ nạ, bản

án quyết đinh thi hành án ); các quan hệ pháp luật (xác lập các quyền và nghĩa vụ thủ tục và nội dung) và các hoại động nghiệp vụ tài phán ị điều tra, xét hỏi, tranh luận ) Các phương tiện tài phán này có quan hệ mật thiết, tác động

Trang 16

qua lại với nhau, là cơ sớ của nhau trong một th ể thống nhất theo một quá trình nhất định nhầm bảo đảm cho hoạt động tài phán đưa đến một phún quyết đúng đắn và được thi hành trên thực tế.

Phán quyết của tòa án là một hoạt động tất yếu của hoạt động tài phán sau khi đã làm sáng tỏ nội dung, thực chất, tính hợp pháp của vụ việc, được thể hiện thông qua bản án hoặc quyết định, khi có hiệu lực có giá trị thi hành Đây là nhiệm vụ mà cơ chế tài phán phải đảm bảo thực hiện Điều đó khẳng định phán quyết của tòa án chiếm một vị trí trọng tâm trong cơ chế tài phán

Với bản chất và vị trí đặc biệt của mình, phán quyết của tòa án chứa đựng nhiều ý nghĩa quan trọng trong đời sống xã hội, đó là:

- Phán quyết của tòa án cùng với các hoạt động khác trong hoạt động tài phán là một hoạt động chuyên môn pháp lí của cơ quan tư pháp để quyết định trách nhiệm pháp lí đối với tội phạm hay giải quyết vụ việc, yêu cầu cụ thể;

- Phán quyết của tòa án là kết quả của hoạt động nhân danh pháp luật, nhân danh công lí, vì vậy nội dung của nó luôn chứa đựng các giá trị pháp lí và các giá trị xã hội tốt đẹp như công bằng, nhân đạo, văn hóa, văn minh ;

- Thông qua nội dung, hình thức và công tác thi hành án nghiêm chỉnh, phán quyết của tòa án thể hiện tính giáo dục không chỉ đối với những đối tượng

có liên quan mà còn có tác dụng đối với những đối tượng khác trong xã hội nhằm nâng cao ý thức pháp luật, bảo đảm pháp chế trong nhân dân

1 2 KHÁI NIỆM CÔNG BẰNG VÀ ĐẶC ĐIỂM c ủ a n ó

1.2.1 Khái niệm công bằng

Trong suốt quá trình phát triển của lịch sử, công bằng luôn là vấn đề được quan tâm, gắn bó với con người Nó tồn tại xuất phát từ nhu cầu tâm lí thỏa mãn lợi ích khách quan của con người, và khi không được thỏa mãn nhu cầu tâm lí nàỵ, con người hay cộng đồng trong mối quan hệ ấy sẽ cảm thấy bị ức chế, dễ đi đến đấu tranh Thực tế lịch sử đã chứng minh, ở đâu có áp bức, có bất công, ở đó

sẽ có những cuộc đấu tranh đòi lại sự công bằng

Tư tưởng công bằng có một quá trình phát triển Từ những quan niệm sơ khai, đơn giản, dần dần tư tưởng công bằng được gắn với lợi ích giai cấp, với nhà nước và pháp luật và được quy định bởi các điều kiện kinh tế - xã hội trong từng

Trang 17

thời kỳ lịch sử nhất định, cùng với sự giao thoa giữa tính thời đại với bản sắc văn hóa dân tôc Chính vì vậy, công bằng luôn là một khái niệm đa diện và phức tap,

có nhiều cách hiểu khác nhau

Theo Từ điển tiếng Việt, công bằng có nghĩa là “theo đúng l ẽ phải, không

công bằng nêu ra sự tương quan giữa một s ố hiện tượng theo quan điểm phân

p h ối phúc và họa, lợi và hại giữa người với người Cống bằng đòi hỏi sự tương xứng giữa vai trò của những cá nhân (những giai cấp) với địa vị của họ, giữa hành vi với sự đền bù (lao động và thù lao, công và tội, thưởng và phạt), giữa quyền với nghĩa vụ Không có sự tương xứng trong những quan hệ ấy là bất

Trong Báo cáo phát triển thế giới năm 2006 “Công bằng và phát triển”,

Ngân hàng thế giới có nhận xét: “K ể từ những năm 1970, nhiều nhà tư tưởng có ảnh hưởng lớn như John Rawls, Amartye Sen, Ronald Dworkin và John Roemer

đ ã có những đóng góp quan trọng cho cách nghĩ về sự công bằng Rawls cho rằng, công bằng x ã hội đòi hỏi phải thỏa mãn hai nguyên tắc cơ bản Nguyên tắc thứ nhất yêu cầu mở rộng tối đa sự tự do cho mồi người, nhất quán với sự tự

do tương tự của người khác Nguyên tắc thứ hai yêu cầu cơ hội p hải được mở cho tất cả các thành viên trong x ã hội và phải tối đa hóa được c ơ hội cho những nhóm thiệt thòi nhất Sen b ổ sung, những cơ hội mà Rawls đ ề cập, đó là tập hợp các hành động và các trạng thái mà người đó đánh giá cao hoặc thụ hưởng Còn Dworkin thì cho rằng, công bằng đòi hỏi các cá nhân phải được đền bù cho những khía cạnh thuộc về hoàn cảnh của họ mà không có khả năng kiểm soát hoặc họ không chịu trách nhiệm về nó Cồn đối với Roemer, công bằng đòi hỏi phải có chính sách cơ hội bình đẳng Nhìn chung, quan niệm của bốn nhà tư tưởng đều thống nhất với nhau ở chỗ: chuyển trọng tăm của công bằng từ kết cục

Ở Việt Nam, gần đây có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề công bằng dưới nhiều góc độ khác nhau, nhưng hầu hết đều tập trung ở vấn đề tương xứng với hai cách tiếp cận khác nhau:

13

Trang 18

Cách tiếp cận thứ nhất tập trung đến đối tượng được thụ hưởng, lấy sự tương xứng làm cơ sở để đánh giá sự công bằng Cụ thể, trong Luận án phó tiến sĩ

“Nguyên tắc công bằng trong luật hình sự Việt Nam”, tác giả Võ Khánh Vinh định nghĩa: “Công bằng là sự đánh giá tương xứng giữa giá trị thực t ế của những

cá nhân khác nhau ị các nhóm x ã hội, các giai cấp) và địa vị x ã hội của họ, giữa lao động và trả công, giữa hành vi và sự đền đáp, giữa công lao và việc thừa nhận nỏ, giữa phẩm giá của con người và sự thừa nhận của x ã hội đối với những phẩm giá đó, giữa quyền và nghĩa vụ, giữa vi phạm pháp luật và trách

đảm công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay”, tác giả Vũ Anh Tuấn định nghĩa:

“Công bằng x ã hội là khái niệm chỉ sự tương xíừig giữa vai trò và vị th ế của các thành viên trong x ã hội (cá rihân, giai cấp, nhóm x ã hội), giữa cái mà họ tạo ra được cho x ã hội với cái mà họ được nhận lại từ xã hội ị cái tạo ra và cái được nhận lại cố th ể là điều tốt lành hoặc ngược lại) như cống hiến và hưởng thụ, lao động và sự trả công, quyền và nghĩa vụ, vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp

Cách tiếp cận thứ hai quan tâm đến sự hài hòa xã hội, đối tượng được hưởng dụng phải phù hợp với các nhóm xã hội, khả năng, hiện thực và những điều kiện nhất định Cụ thể, trong tác phẩm “Quản lí sự phát triển xã hội trên nguyên tắc tiến bộ và công bằng xã hội”, GS.TS Phạm Xuân Nam định nghĩa: “Công bằng

xã hội là một giá trị định hướng đ ể con người thỏa mãn những nhu cầu cơ bản về đời sống vật chất và tinh thần trong mối quan hệ phân phối sản phẩm x ã hội tương đối hợp lí giữa các cá nhân và nhóm x ã hội, phù hợp với sự cống hiến của mỗi người và khả năng hiện thực của những điều kiện kinh t ế - x ã hội nhất

người ở các quốc gia đa tộc người”, PGS.TS Nguyễn Quốc Phẩm định nghĩa:

“Công bằng x ã hội là sự điều hòa các quan hệ phân phối, quan hệ lợi ích của cá nhân, các nhóm dân cư, các tầng lớp x ã h ộ i vừa theo nguyên tắc phân phối theo lao động (phân phối theo cống hiến cho x ã hội), mặt khác, công bằng còn

Trang 19

th ể hiện ở việc x ã hội phải tạo ra những cơ hội và điều kiện như nhau cho năng

Nhìn chung, những định nghĩa trên đã làm rõ nội hàm của khái niệm công báng qua các góc độ, tuy nhiên, để có cái nhìn tổng thể và toàn diện, chúng tôi cho rằng khái niệm công bằng cần phải được nhìn nhận hai góc độ và mỗi góc

độ đều có những yêu cầu khác nhau:

- Ở góc độ xem xét nội dung bên trong các mối quan hệ với chủ thể là trung tâm thì công bằng là sự biểu hiện của cả hai mặt Mặt đòi hỏi sự tương xứng giữa vai trò và vị thế, giữa cái tạo ra, cái đáp ứng và cái nhận lại của chủ thể trung tâm Đồng thời mặt tương xứng này không thể tách rời các mối quan hệ xã hội

và phải chịu sự tác động của các mối quan hệ đó; chính vì thế, đòi hỏi ở sự tương xứng phải được định tính, định lượng và giới hạn bởi các giá trị, nhóm xã hội, khả năng, hiện thực và những mục đích nhất định do các mối quan hệ xã hội đó đem lại Vì vậy, ở góc độ này, công bằng được hiểu là một giá trị hình thành trong đời sống x ã hội, chỉ sự tương xứng giữa vai trò và vị th ế của các thành viên

x ã hội (cá nhân, giai cấp, nhóm x ã hội), giữa cái mà họ tạo ra cho x ã hội hoặc đáp ứng yêu cầu của x ã hội với cái mà họ nhận được từ x ã hội (cái tạo ra hoặc cái đáp ứng và cái nhận được có th ể là điều tốt lành h oặc bất lợi) như cống hiến

và hưởng thụ, lao động và sự trả công, mất mát và bù đắp, vi phạm và trách nhiệm, điều kiện và cơ h ội Sự tương xứng này được định tính, định lượng và giới hạn bởi các giá trị, nhóm x ã hội, khả năng, hiện thực và những mục đích nhất định.

ở góc độ biểu hiện ra bên ngoài của các mối quan hệ giữa những chủ thể với nhau thì công bằng được th ể hiện ở sự đối xử không thiên vị trong việc xem

được nhận sự tương xứng giữa vai trò và vị thế, giữa cái tạo ra, cái đáp ứng và cái

nhận lại một cách bình đẳng với nhau, trên cùng việc định tính, định lượng và

giới hạn bởi những giá trị, nhóm xã hội, khả năng, hiện thực và những mục đích

nhất định

1.2.2 Những đặc điểm cơ bản của công bằng

15

Trang 20

a) Là một giá trị xã hội lớn lao, công bằng là một khái niệm được nhận thức

và thực hiện dưới nhiều góc độ khác nhau với những nội dung yêu cẩu khác nhau Điều đó càng thêm phức tạp khi công bằng được nhận thức qua “lăng kính” giai cấp, tính lịch sử và bản sắc dân tộc Vì vậy, khi nghiên cứu về vấn đề công bằng, phải đặt khái niệm này trong một phạm vi, yêu cầu nghiên cứu cụ thể

và dưới những góc độ khác nhau mới làm rõ được những nội dung yêu cầu của nó

b) Trong xã hội có giai cấp, công bằng là một khái niệm có tính giai cấp và tính xã hội Được qui định bởi lợi ích, địa vị trong xã hội, mỗi giai cấp, mỗi nhóm xã hội sẽ có những quan niệm khác nhau về các chuẩn mực cồng bằng và cách thức thực hiện nó Mặt khác, các quan niệm đó luôn đặt trong tổng thể, dưng hòa ý chí, lợi ích của các giai cấp, các nhóm xã hội khác cũng như ý chí lợi ích chung của toàn xã hội, vì có như vậy tính giai cấp, tính xã hội của khái niệm này mới tồn tại và phát triển trong những đặc tính của nó

c) Trong bất kỳ thời đại nào, công bằng luôn là khái niệm chứa đựng bản sắc dân tộc và những giá trị chung của nhân loại Một nền văn hóa của một dân tộc bao giờ cũng mang đậm bản sắc, tính cách của một dân tộc đó, nhưng

“không một nền văn hóa nào đứng một mình cả, bao giờ nó cũng liên kết với

[5,tr.84] Do đó, chuẩn mực công bằng bao giờ cũng chịu sự chi phối của bản sắc dân tộc và phản ánh những giá trị công bằng chung của nhân loại qua các thế hệ.d) Là sản phẩm của những điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội trong từng giai đoạn lịch sử, công bằng là khái niệm có tính lịch sử cụ thể và có quan hệ chặt chẽ với mục đích xác định trong một phạm vi nhất định Tương ứng mỗi hình thái kinh tế - xã hội nhất định sẽ có một kiểu quan niệm công bằng đặc trưng cho hình thái kinh tế - xã hội đó; và ngay trong mỗi hình thái kinh tế -

xã hội thì quan niệm về công bằng cũng thay đổi, phát triển tùy thuộc vào từng thời kỳ Mặt khác, trong mỗi lĩnh vực nhất định, công bằng cũng phải đáp ứng các mục đích xác định Chẳng hạn, trong hoạt động xây dựng pháp luật vể hình phạt trong lĩnh vực hình sự, việc định ra các loại, các mức hình phạt tương xứng cho mỗi loại tội phạm không chỉ nhằm trừng trị mà còn đảm bảo tính răn đe,

Trang 21

giáo dục người phạm tội và cộng đồng Do vậy, sẽ là sai lầm khi áp đặt những chuẩn mực công bằng khi những điều kiện vật chất xã hội chưa phù hợp, cũng như dùng một thước đo công bằng chung cho mọi thời kỳ, mọi mục đích.

đ) Sự “tương xứng” mà công bằng đòi hỏi được hiểu là sự tương đối phù hợp với nhau giữa hai mặt: vai trò và vị thế, giữa cái tạo ra, cái đáp ứng với cái nhận được như cống hiến và hưởng thụ, lao động và trả công, vi phạm và trách nhiệm Sự phù hợp này được định tính, định lượng và giới hạn bởi các giá trị, nhóm xã hội, khả năng, hiện thực và những mục đích nhất định (giới hạn cả hướng cực đại và cực tiểu) Ví dụ: vê mặt định tính, một người có hành vi tốt thì phải nhận được kết quả tốt như cống hiến phải đi đôi với hưởng thụ hoặc một người cố hành xấu thì phải gánh chịu hậu quả xấu như vi phạm pháp luật phải

đi đôi với trách nhiệm pháp lí , về mặt định lượng và giới hạn, chẳng hạn đ ể đảm bảo tính giáo dục và trừng trị hình phạt, nếu áp dụng thời hạn tù giam tương xứng cho người phạm tội thì phải bảo đảm nhẹ lắm cũng không thấp hơn 3 tháng, nặng lắm cũng không quá 20 năm

e) Công bằng là một khái niệm mang tính tương đối Cái vai trò, cái tạo ra, cái đáp ứng của các chủ thể trong xã hội thể hiện rất đa dạng Khi nó được đặt trong mối quan hệ với những giá trị, khả năng, hiện thực, mục đích phong phú do các mối quan hệ xã hội đem lại thì sự tương xứng vói nó là vị thế, cái chủ thể nhận được sẽ rất khác nhau Vì vậy, các chủ thể cùng một vai trò, cùng một cái tạo ra hoặc cùng đáp ứng một yêu cầu nào đó, trong mối quan hệ với những giá trị, điều kiện càng giống nhau bao nhiêu thì sự tương xứng ở vị thế, cái nhận được của các chủ thể càng ít khác nhau bấy nhiêu

g) Công bằng luôn quan hệ chặt chẽ với chân lí, các giá trị nhân đạo, dân chủ và văn minh Thật vậy, để đánh giá một hoạt động nào đó có công bằng hay không tất nhiên phải dựa vào chân lí, đó là những tri thức phù hợp với hiện thực khách quan đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn, cho nên sẽ không thể hình dung được nếu đánh giá một hiện tượng nào đó có công bằng hoặc bất công mà lại dựa vào những tín điều tôn giáo hay những quan điểm thiếu khoa học Ở góc độ chung, nhân đạo, dân chủ, văn minh ỉà những giá trị mà mọi xã hội đều hướngtới, ở đó quyền con người đươc đăt ở v ĩ | f c ậ m của moi vấn đề xã hội, và

ĨRƯONG ĐẠI H Ọ C LUẬT HÀ N Ô I

[PHÒNGlỡbc

Trang 22

điều đó là hoàn toàn phù hợp với mục đính tự thân của công bằng - luôn hướng

tới sự thỏa mãn cho con người Dân chủ, nhân đạo, văn minh, là cơ sở để xây

dựng một xã hội công bằng, và tiến tới công bằng là để xã hội nhân đạo hơn, dân

chủ hơn, văn minh hơn Mặt khác, ở khía cạnh văn minh - giá trị tiến bộ nhất

định của con người trong một giai đoạn nhất định, chúng ta thấy có nhà nước, có

pháp luật, có pháp chế và những giá trị hiện đại khác Rõ ràng, công bằng sẽ có

một ý nghĩa rất lớn và được tôn trọng thực hiện nếu nó dựa trên và tiếp thu các

giá trị hiện đại, và được đảm bảo thực hiện bởi nhà nước, pháp luật và pháp chế

Ó góc độ cụ thể, các giá trị nhân đạo, dân chủ, văn minh còn đặt ra sự định tính,

định lượng và giới hạn đối với yêu cầu “tương xứng” trong khái niệm công bằng

đã đặt ra

h) Công bằng có mối quan hệ chặt chẽ với bình đẳng và trong một chừng mực nhất định, công bằng đồng nghĩa với bình đẳng Bình đẳng là sự ngang nhau

về một giá trị nào đó, chẳng hạn bình đẳng về quyền con người, bình đẳng nam

nữ, bình đẳng trước pháp luật Xét trong mối quan hệ bình đẳng, công bằng

được thể hiện qua sự đối xử không thiên vị giữa các bên chủ thể, tức là không

thiên về bên nào khi cân nhắc các giá trị, nhóm xã hội, khả năng, hiện thực và

những mục đích nhất định để xác lập sự tương xứng giữa vai trò và vị thế, giữa

cái tạo ra, cái đáp ứng với cái nhận được cho các chủ thể

Như vậy, ứng dụng vào lĩnh vực tư pháp, khái niệm công bằng cung cấp

cho ta hai nguyên tắc trong hoạt động tài phán để cho ra đời những bản án, quyết

định mang tính công bằng

phải bảo đảm sự tương xứng giữa hình phạt và tội phạm; sự tương xứng giữa

quyền và nghĩa vụ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại hoặc lao

động giữa các bên; tương xứng giữa tính đúng đắn hay sai trái của quyết định

hành chính, hành vi hành chính và quyết định kỷ luật buộc thôi bị khởi kiện với

việc khẳng định hay bác bỏ các quyết định, hành vi đó; tương xứng giữa cái đáp

ứng các căn cứ pháp lí của các yêu cầu công nhận hay không công nhận quyền

dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao động, của yêu cầu công

nhận hay không công nhận một sự kiện pháp lí là căn cứ làm phát sinh quyền và

Trang 23

nghĩa vụ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao động, của yêu cẩu tuỵên bố phá sản với cái nhận được là sự quyết định công nhận hay không công nhận các yêu cầu đó.

Sự tương xứng này được định tính, định lượng và giới hạn bởi pháp luật, mà pháp luật - đại lượng của công bằng, chính là biểu hiện của sự cân nhắc hài hòa các giá trị tốt đẹp, các nhóm xã hội, khả năng, hiện thực và những mục đích phù hợp trong các lĩnh vực nhất định

- Nguyên tắc không thiên vị yêu cầu đối với hoạt động tài phán phải thật sự khách quan, tạo sự bình đẳng giữa những người phạm tội, giữa các bên tranh chấp, giữa bên khiếu kiện và bên bị kiện và giữa những người yêu cầu với nhau trên cơ sở duy nhất là pháp luật Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và có quyền nhận những phán quyết đúng pháp luật

Từ đó làm cơ sở cho việc nghiên cứu vấn đề tính công bằng trong phán quyết của tòa án nhân dân

1 3 TÍNH CÔNG BẰNG TRONG PHÁN Q UYẾT CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN

Như đã trình bày trên, phán quyết của tòa án là quyết định về trách nhiệm pháp lí đối với tội phạm, quyết định về giải quyết vụ việc hoặc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản, được thể hiện thông qua bản án hoặc quyết định, khi có hiệu lực có giá trị thi hành Với ý nghĩa đó, phán quyết của tòa án luôn được cả

xã hội mong đợi ở sự công bằng trong cả nội dung và tính hiện thực của nó mà theo ngôn ngữ thông thường người dân hay gọi, đó là những bản án, quyết định

có tình, có lí Những bản án, quyết định có tính công bằng là những bản án, quyết định: trong hình sự, có nội dung quyết định xác lập sự tương xứng giữa tội

phạm và hình phạt; trong tranh chấp dân sự, nội dung quyết định xác lập các quyền và nghĩa vụ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao

động một cách tương xứng, không thiên vị giữa các bên; trong vụ án hành chính,

nội dung quyết định bác hay chấp nhận đúng pháp luật, chính xác đơn khởi kiện

vể tính hợp pháp, đúng đắn của các quyết định hành chính, hành vi hành chính

và quyết định kỷ luật buộc thôi việc; trong giải quyết các yêu cầu, nội dung

quyết định công nhận hoặc không công nhận phải đúng pháp luật, chính xác đối

với các yêu cầu

19

Trang 24

Với mong muốn như thế, nên khi đề cập đến phán quyết của tòa án, người

ta nói ngay đến yêu cầu công bằng và coi đó là một phẩm chất cần phái có của các bản án, quyết định của tòa án.“© ó là thông qua hiện thực của nội dung xác lập sự tương xứng và sự không thiên vị trong bản án hoặc quyết định, phán quyết của tòa án sẽ lập lại sự công bằng xã hội trong lĩnh vực tư pháp mà nhà nước giao thẩm quyền cho các cơ quan tư pháp thực hiện Theo quy định pháp luật, tòa án có thẩm quyền ra phán quyết đối với 266 hành vi tội phạm (từ Điều 78 đến Điều 344 Bộ luật hình sự) và các loại vụ việc theo quy định tại các Điều 25,

26, 27, 28, 29, 30 và 31 Bộ luật tố tụng dân sự; các vụ khiếu kiện hành chính theo quy định tại Điều 11 Pháp lệnh giải quyết các vụ án hành chính, được sửa đổi bổ sung năm 2006; các yêu cầu phá sản theo quy định tại các Điều 13, 14,

15, 16, 17 và 18 Luật phá sản Phạm vi xác lập sự công bằng trong lĩnh vực tư pháp đến đâu phụ thuộc vào sự phát triển của xã hội và nhận thức của nhà nước

về cách thức bảo vệ pháp luật Chẳng hạn, hiện nay Nhà nước ta đang nghiên cứu

và xây dựng mô hình tòa án hiến phán để thực hiện cơ chế bảo hiến thay cơ chế bảo hiến do các cơ quan lập pháp và hành pháp thực hiện

Qua đó, tính công bằng trong phán quyết của tòa án được hiểu rằng, giá trị công bằng là một phẩm chất cần phải có của bản án, quyết định - kết quả của hoạt động quyết định Một khỉ bản án, quyết định của tòa án có phẩm chất này thì thông qua việc thi hành, phán quyết của tòa án s ẽ xác lập sự công bằng

x ã hội trong lĩnh vực tư pháp mà các cơ quan tư pháp có thẩm quyền thực hiện,

đó là sự tương xứng giữa tội phạm và hình phạt; sự tương xứng và không thiên vị giữa các quyền và nghĩa vụ dân sự, hôn nhân gia đình giữa các bên; sự tương xứng giữa tính đúng đắn hay sai trái của quyết định hành chính, hành vi hành chính và quyết định kỷ luật buộc thôi bị khởi kiện với việc khẳng định hay bác bỏ các quyết định, hành vi đó; sự tương xứng giữa cái đáp ứng các căn cứ pháp lí của các yêu cầu với sự công nhận hay không công nhận các yêu cầu đó.

Nhìn từ góc độ hoạt động tài phán, một bản án, quyết định có tính công bằng thì trước đó phải có các hoạt động phán đoán, phán xét mang tính toàn diện, khách quan, chính xác làm cơ sở cho hoạt động quyết định một cách đúng

Trang 25

đắn, công bằng và khi có hiệu lực pháp luật, bản án, quyết định đó phải được bảo đảm thi hành một cách triệt để trên thực tế.

Với góc độ đó, xét theo vị trí trọng tâm của phán quyết trong cơ chế tài phán và vai trò của tòa án quyết định đến nội dung và hình thức thể hiện của phán quyết, để cơ chế tài phán cho ra đời những bản án, quyết định có tính công bằng thì hoạt động của các chủ thể liên quan phải đáp ứng những yêu cầu và được đảm bảo bởi các điều kiện sau đây:

xét xử hoặc thẩm phán được giao nhiệm vụ giải quyết vụ việc, yêu cầu phải đầm bảo tính toàn diện, khách quan và chính xác trong việc làm rõ nội dung, thực chất của hành vi, con người và sự kiện để làm cơ sở cho việc cân nhắc xác lập sự tương xứng, sự không thiên vị trong các quyết định Đây là những yêu cầu đối với hoạt động quyết định trực tiếp đến nội dung của phán quyết

yêu cầu thứ nhất thì hoạt động của các cơ quan và chức danh tư pháp phải tuân thủ nghiêm ngặt các thủ tục tố tụng cũng như đảm bảo chất lượng qua hoạt động nghiệp vụ điều tra, thu thập, xác minh chứng cứ, xét xử, thi hành án nhằm tạo

cơ sở pháp lí và cung cấp chứng cứ cho hoạt động tư duy của hội đồng xét xử hoặc thẩm phán được toàn diện, khách quan, chính xác đưa ra những quyết định đúng đắn và công bằng; đồng thời qua đó cũng đảm bảo cho bản án, quyết định được thi hành triệt để nhằm xác lập công bằng trên thực tế Đây là những yêu cầu đối với hoạt động quyết định gián tiếp đến nội dung của phán quyết và hoạt động bảo đảm tính hiện thực của nội dung của phán quyết

hội đồng xét xử hoặc thẩm phán thể hiện một cách chính xác, thuyết phục, đầy

đủ, đúng văn phong là văn bản nhân danh pháp luật, thể hiện ý chí, quyền lực nhà nước nhằm bảo đảm cho bản án, quyết định luôn mang tính giáo dục và dễ thi hành Đây là yêu cầu đối với hoạt động thể hiện hình thức của phán quyết

lợi, tạo điều kiện cho hoạt động tài phán luôn sản xuất ra và đảm bảo thực hiện những phán quyết công bằng Đây là những điểu kiện đảm bảo như: quy phạm

21

Trang 26

pháp luật; trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của các cán bộ tư pháp

Yêu cầu khách quan, toàn diện và chính xác trong hoạt động phán đoán, phán xét của hội đồng xét xử hoặc thẩm phán được giao nhiệm vụ

Hoạt động phán đoán là hoạt động làm sáng tỏ thực chất các tình tiết, những hành vi, con người, sự kiện liên quan đến việc giải quyết đúng đắn vụ việc

và yêu cầu Để thực hiện hoạt động này, chủ thể phải phải hết sức khách quan, công tâm, tôn trọng thực tế, sử dụng vốn kinh nghiệm, trí thức khoa học và niềm tin nội tâm để phán đoán, suy luận, đánh giá toàn diện các chứng cứ nhằm xác định được những thông tin-chính xác nhất để trả lời cho câu hỏi mà những vấn đề cần chứng minh của vụ việc và yêu cầu đã đặt ra

- Trong vụ án hình sự, những vấn đề cần chứng minh là: có hành vi phạm tội hay không, thời gian, địa điểm của hành vi phạm tội; người thực hiện hành

vi phạm tội; cỏ lỗi hay không có lỗi, cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình

sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội; những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo; những đặc điểm về nhân thân của bị cáo; tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; những vấn đề về vật chứng,

án phí

- Trong các vụ việc và yêu cầu, đó là các vấn đề xác định cơ sở của quyền

và nghĩa vụ giữa các bên trong vụ án dân sự; cơ sở của việc ra các quyết định, hành vi hành chính hoặc kỷ luật buộc thôi việc trong vụ án hành chính; cơ sở để

Trang 27

công nhận các quyền và nghĩa vụ, các sự kiện, các căn cứ của các yêu cầu trong việc dân sự và ỵêu cầu tuyên bố phá sản; án phí, lệ phí, phí phá sản

Từ đó làm cơ sở cho hoạt động phán xét Hoạt động phán xét là hoạt động khẳng định tính đúng đắn, hợp pháp của những hành vi, tranh chấp và yêu cầu

Vì vậy, chủ thể phải thực hiện một cách khách quan, công tâm, đối chiếu những tình tiết của vụ việc, yêu cầu đã làm sáng tỏ với những quy định của pháp luật liên quan để khẳng định đầy đủ và chính xác những vấn đề đã được chứng minh

- Trong hình sự, đó là việc khẳng định bị cáo có phạm tội hay không, nếu

có thì phạm tội gì, theo điều, khoản nào của Bộ luật hình sự; tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; nhân thân người phạm tội; những tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; dạng vật chứng; có phải bồi thường dân sự hay không, mức thiệt hại; có thuộc trường hợp miễn giảm án phí hay không

- Trong tranh chấp dân sự là xác định quyển và nghĩa vụ pháp lí giữa các bên tranh chấp; trong vụ án hấnh chính là tính đúng đắn, hợp pháp của các quyết định, hành vi hành chính hoặc kỷ luật buộc thồi việc; trong giải quyết yêu cầu là tính có căn cứ pháp lí của các yêu cầu của đương sự; và các vấn đề khác liên quan như án phí, phí

Trên cơ sở phán đoán và phán xét một cách khách quạn, toàn diện và chính xác đó, chủ thể tiến hành phán quyết, tức là phải cân nhắc để quyết định

Yêu cầu hoạt động cân nhắc đ ể quyết định phải không thiên vị, đảm bảo sự tương xứng và toàn diện

Khái niệm công bằng cung cấp cho hoạt động phán quyết hai nguyên tắc công bằng: nguyên tắc bảo đảm sự tương xứng và nguyên tắc không thiên vị

* Trong hình sự, nếu khẳng định bị cáo vô tội thì phải quyết định bị cáo không phạm tội; nếu khẳng định bị cáo có tội thì chủ thể phải áp dụng hai nguyên tắc công bằng để quyết định hình phạt cho tương xứng với tội phạm Thể hiện của việc tuân thủ hai nguyên tắc này là việc chủ thể phải dựa vào các quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc các tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự (Điều 45 Bộ luật hình sự) để quyết định hình phạt

23

Trang 28

Theo đó, chủ thê phải khách quan, công tâm cân nhắc tổng thê đến các vấn đề sau đây:

- Các giá trị: Giá trị nhân đạo qua nguyên tắc khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác tội phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra; đối với người lần đầu phạm tội

ít nghiêm trọng, đã hối cải, thì có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đình giám sát giáo dục Nghiêm khắc đối với người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố, chống đối, lưu manh, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội; người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng Giá trị bình đẳng trước pháp luật của mọi người phạm tội, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội;

- Các dấu hiệu thể hiện bản chất xã hội của con người phạm tội thể hiện cả mặt tốt và mặt xấu, thuộc hay không thuộc những trường hợp cần quan tâm bảo

vệ (như vị thành niên, phụ nữ có thai ), nhóm đặc biệt (người nước ngoài)

- Hiện thực của hành vi phạm tội thể hiện qua tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi; ở tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình

sự Từ hiện thực của hành vi cùng với các dấu hiệu về nhân thân nói lên khả năng cải tạo giáo dục đối với người phạm tội;

- Mục đích của hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục người phạm tội trở thành người có ích cho xã hội, ngăn ngừa họ phạm tội mới Hình phạt phải làm sao vừa bảo đảm tính trừng trị nhưng cũng bảo đảm tính khoan hồng; không quá nhấn mạnh đến tính trừng trị mà xử quá nặng và cũng không quá nhấn mạnh đến tính khoan hồng mà xử quá nhẹ sẽ không có tính giáo dục Mặt khác, hình phạt cũng phải bảo đảm tính giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm

- Sự phân hóa khách quan hình phạt giữa những người đồng phạm (nếu có);

sự phù hợp của hình phạt theo mặt bằng chung của tình hình đấu tranh phòng chống tội phạm của địa phương và cả nước trong từng thời điểm nhất định

Như vậy, chủ thể phải cân nhắc đầy đủ các vấn đề trên thì mới có đủ cơ sở

đi đến quyết định tính, lượng và giới hạn hình phạt tương xứng với tội phạm

Trang 29

Chẳng hạn: A phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều ì 38 Bộ luật hình

sự, xét thấy A lần đậu phạm tội ít nqhiêm trọng, đ ã có nghê nghiệp và chỗ ở ổn định, do một lần túng quẫn trộm 01 chiếc xe máy (trị giá 05 triệu đồng) của người hàng xóm đ ể tiêu xài, sau khi bị phát hiện đ ã đem trả lại cho chủ sở hữu,

đ ã tỏ ra ăn năn hối cải Xét thấy tình hình địa phương nơi A sống ít xảy ra tình trạng trộm cắp Như vậy, qua những biểu hiện trên có th ể thấy A có khả năng cải tạo ngoài x ã hội tốt mà không cần giam, cần quyết định tính giáo dục nhiều hơn tính trừng trị và cho A được hưởng án treo với hình phạt là 2 năm tù, thời gian thử thách 2 năm là tương xứng với tội phạm.

Ngoài những vấn đề chính, chủ thể cũng phải dựa vào hệ thống pháp luật hình sự và tố tụng hình sự để quyết định một cách khách quan, đúng đắn và đầy

đủ những vấn đề về áp dụng các biện pháp tư pháp, xử lí vật chứng trong vụ án hình sự (nếu có) và án phí; nếu có quyết định phần bồi thường dân sự thì cũng phải bảo đảm sự tương xứng với thiệt hại mà người phạm tội gây ra

* Trong tranh chấp dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao động, chủ thể phải dựa vào hệ thống quy phạm pháp luật ở mỗi lĩnh vực có liên quan và những đề xuất của các bên (nếu có) để xác lập hoặc bác bỏ các quyền và/hoặc nghĩa vụ của các bên đúng pháp luật, phân định và đưà ra cách thực hiện một cách tương xứng, không thiên vị và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mỗi bên Yêu cầu của hoạt động phân định và đưa ra cách giải quyết này là việc chủ thể phải khách quan, công tâm cân nhắc tổng thể các vấn đề:

- Giá trị văn hóa, phong tục, tập quán, truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đó

là tình đoàn kết, tương thân, tương ái, quan tâm đến những đối tượng bị thiệt thòi, mỗi người vì cộng đồng, cộng đồng vì mỗi người Các giá trị đạo đức cao đẹp của các dân tộc trên đất nước Việt Nam Giá trị bình đẳng trước pháp luật

- Các đối tượng cần quan tâm, bảo vệ đặc biệt như người già, trẻ em, phụ nữ đang nuôi con, người tàn tật, đồng bào các dân tộc thiểu số

- Hiện thực của những quan hệ, tài sản, điều kiện của các bên Khả năng thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mỗi bên;

- Mục đích của việc giải quyết Iranh chấp là làm chấm dứt sự vi phạm và khôi phục các quyền và nghĩa vụ của các bên trên cơ sở bảo đảm không được

25

Trang 30

xâm phạm đến lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Đồng thời hướng đến sự chuẩn mực trong cách giải quyết nhằm không chỉ giáo dục các bên mà cả cộng đồng trong việc lựa chọn cách xử sự phù hợp tránh xảy ra những tranh chấp không đáng có.

Chẳng hạn: Đ ể giai quyết chia tài sản chung trong vụ án ly hôn, chủ thể

p hải cân nhắc những vấn đ ề:

con chưa thành niên h oặc đ ã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản đ ể nuôi mình Nhóm người này cần phải được ưu tiên khi cân nhắc cho hưởng các quyền lợi.

+ Hiện thực của mỗi bên qua hoàn cảnh, tình trạng tài sàn, công sức đóng góp, các lợi ích chính đáng của các bên trong sản xuất, kinh doanh, nghề nghiệp, qua đó cân nhắc tạo điều kiện, khả năng cho các bên tiếp tục lao động tạo thu nhập;

+ Lao động của vợ chồng trong gia đình được coi là lao động có thu nhập; cho nên nguyên tắc chia tài sản chung là chia đôi bằng hiện vật hoặc bằng giá trị nhưng có xem xét hiện thực và khả năng của mỗi bên, bên nào nhận hiện vật

có trị giá lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch.

* Trong vụ án hành chính, sau khi đã khẳng định tính đúng đắn, hợp pháp của các quyết định, hành vi hành chính hoặc kỷ luật buộc thôi việc bị khiếu kiện một cách khách quan, toàn diện và chính xác, chủ thể chỉ thực hiện bước thủ tục tiếp theo là quyết định rõ ràng, dứt khoát việc chấp nhận hay bác đơn khởi kiện, tuyên hủy hay giữ nguyên các quyết định hành chính đó Việc quyết định bác hay chấp nhận đơn khởi kiện có đúng đắn hay không phụ thuộc hoàn toàn vào việc phán xét về tính hợp pháp đúng đắn của các quyết định, hành vi hành chính,

kỷ luật buộc thôi việc có khách quan, chính xác và toàn diện hay không

Ví dụ: Sau khi xem xét một cách khách quan, toàn diện và chính xác nội dung vụ án, xác định sự hợp pháp, đúng đắn của Quyết định s ố 2477IQĐ-CT ngày 13/10/2006 của Chủ tịch Ưỷ ban nhân dân huyện D.A hủy Giấy chứng

Trang 31

nhận quyền sử dụng đất s ố 1682IQSDĐ cấp cho bà Nguyễn Thị T ngày 121'3/2000, Tòa án quyết định: bác đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị T Giữ nguyên Quyết định số2477/QĐ-CT ngày J 3/10/2006 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện D.A; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s ố 1682/QSDĐ cấp cho

bà Nguyễn Thị T ngày 12/3/2000.

Ngoài ra, nếu có quyết định phần bồi thường dân sự thì cũng phải bảo đảm

sự tương xứng với thiệt hại do bên có lỗi gây ra

* Tương tự trong việc giải quyết các yêu cầu, sau khi đã khẳng định một cách khách quan, đúng đắn, toàn diện tính có căn cứ pháp lí của các yêu cầu, chủ thể quyết định rõ ràng, dứt khoát công nhận hay không công nhận quyền dân sự ; công nhận hay không công nhận một sự kiện pháp lí là căn cứ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự ; tuyên bố hay không tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản và quyết định cấm với thời hạn thích hợp đối với những người có trách nhiệm để doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản (nếu có) Đồng thời các vấn đề liên quan mà pháp luật yêu cầu cũng phải được quyết định đầy đủ.Chẳng hạn: sau khi xác định yêu cầu tuyên b ố về A là hạn c h ế năng lực hành vi dân sự có căn cứ, tòa án quyết định áp dụng Điều 23 Bộ luật dân sự tuyên b ố A hạn c h ế năng lực hành vi dân sự Đồng thời quyết định B (giả sử B đáp ứng đủ điều kiện) là người đại diện theo pháp luật cho A theo khoản 2 Điều

321 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ngoài những nội dung chính phải quyết định trong việc giải quyết tranh chấp và yêu cầu, chủ thể còn phải dựa trên hệ thống quy phạm pháp luật có liên quần để cân nhắc quyết định một cách đúng đắn, khách quan, đầy đủ các vấn đề

về án phí, lệ phí, phí phá sản, các chi phí, tạm ứng để đảm bảo cho nội dung của phán quyết được toàn diện, đầy đủ

* Những yêu cầu đối với hoạt động quyết định gián tiếp đến nội dung của phán quyết và hoạt động bảo đảm tính hiện thực của nội dung của phán quyết trong việc bảo đảm tính công bằng

qu >ết của tỏa án

27

Trang 32

Phán đoán, phán xét của hội đồng xét xử hoặc thẩm phán được giao nhiệm

vụ giải quyết có mang tính khách quan, toàn diện, chính xác làm cơ sở cho phán quyết được đúng đắn, công bằng và toàn diện hay không phụ thuộc hoàn toàn vào những chứng cứ có đảm bảo tính khách quan, liên quan, hợp pháp và được thu thập đầy đủ hay không

Tính khách quan của chứng cứ thể hiện ở chỗ chứng cứ phải là cái có thật, tồn tại ngoài ý muốn của những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng Do vậy, hoạt động thu thập, xác minh chứng cứ phải loại bỏ được những cái không có thật để giải quyết vụ việc được chính xác

Tính liên quan của chứng cứ được thể hiện ở chỗ giữa chứng cứ và vụ việc phải có mối quan hệ với nhau Nhờ chứng cứ này mà tòa án có thể công nhận hay phủ nhận tình tiết, sự kiện, hành vi, con người trong vụ việc đó hoặc đưa ra tin tức vể nó

Tính hợp pháp của chứng cứ yêu cầu chứng cứ phải được rút ra từ những nguồn nhất định do pháp luật quy định; quá trình thu thập, xác minh, đánh giá và

sử dụng chứng cứ phải tiến hành theo đúng quy định của pháp luật thủ tục

Đồng thời các chứng cứ phải được thu thập một cách đầy đủ để giải quyết đúng đắn vụ việc và yêu cầu

Để đảm bảo các yêu cầu trên về chứng cứ, chủ thể phải xác định nghĩa vụ chứng minh, nội dung cần chứng minh trong những vụ việc, yêu cầu cụ thể và phải hết sức khách quan, công tâm trong hoạt động thu thập, xác minh chứng cứ

- Trong vụ án hình sự, nghĩa vụ chứng minh thuộc về các cơ quan tiến hành

tố tụng Vì vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng có quyển triệu tập những người biết về vụ án để hỏi và nghe họ trình bày về những vấn đề có liên quan đến vụ

án, trưng cầu giám định, tiến hành khám xét, khám nghiệm và các hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; có quyền yêu cầu cũng nhự tạo điều kiện cho những người tham gia tố tụng hoặc bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào cũng đều có thể đưa ra những tài liệu, đồ vật và trình bày những vấn đề liên quan đến vụ án Những chứng cứ thu thập được phải phục vụ cho việc làm rõ những vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự, đó là: có hành vi phạm tội hay không, thời gian, địa điểm của hành vi phạm tội; người

Trang 33

thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội; những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo; những đặc điểm về nhân thân của bị cáo; tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.

- Đối với các vụ án phi hình sự, nghĩa vụ chứng minh thuộc về các đương

sự Vì vậy, tòa án phải khách quan trong việc hướng dẫn việc cung cấp những chứng cứ cần thiết để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự Đồng thời phải tạo điều kiện bình đẳng giữa các đương sự trong việc thực hiện nghĩa

vụ chứng minh, bên này đưa ra chứng cứ, lí lẽ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì bên kia cũng phải được đưa ra các chứng cứ, lí lẽ để bảo vệ quyền, lợi

ích hợp pháp của họ.TMặt khác, trong những trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ thì tòa án có thể tiến hành các biện pháp xác minh thu thập chứng cứ theo luật định Trong trường hợp này, tòa án cũng phải khách

quan, công tâm, tận tâm trong việc thu thập chứng cứ để bảo đảm quyền và lợi

ích hợp pháp của các đương sự Những chứng cứ thu thập phải làm rõ được

những hành vi, con người, sự kiện, những tình tiết để giải quyết đúng đắn vụ

việc, yêu cầu Tùy vào vụ việc, yêu cầu cụ thể và dựa yào pháp luật mà chủ thể

xác định những vấn đề cần phải chứng minh để từ đó định hướng cho việc thu

thập toàn diện các chứng cứ Chẳng hạn: trong giải quyết tranh chấp thừa kế,

dựa vào quy định của Bộ luật dân sự có th ể xác định những vấn đ ề cần chứng

minh trong vụ án là thời điểm mở thừa kế, di sản thừa kế, quyền thừa k ế của các

bên tranh chấp và các vấn đ ề liên quan đến thừa kế Từ đó cố th ể xác định

những chứng cứ cần thu thập là giấy chứng tử đ ể xác định thời điểm mở thừa kế;

di chúc, giấy khai sinh, s ổ hộ khẩu, bản khai lí lịch của các bên tranh chấp và

liên quan đ ể xác định các diện thừa kế; các giấy tờ xác định tổng th ể tài sản

tranh chấp, có th ể phải tiến hành thẩm định tại ch ỗ; các giấy tờ xác định phần

đống gớp của những người liên quan vào tài sản đang tranh chấp mà không phải

đồng chủ sở hữu; những giấy tờ xác định đồng sở hữu tài sản đang tranh chấp;

các giấy tờ chứng minh nghĩa vụ tài sản và chi phí liên quan đến thừa k ế được

thanh toán từ di sản; các giấy ĩ ờ xác định quyền và nghĩa vụ đối với nhau của

các đương sự đang tranh chấp hoặc với những người liên quan khác

29

Trang 34

Từ những vấn đề trình bày trên, có thể rút ra những yêu cầu đối với hoạt động thu thập, xác minh chứng cứ của các chức danh tiến hành tố tụng, đó là

phải khách quan khi thu thập chứng cứ, phải tuân thủ đúng pháp luật tố tụng và phải thu thập toàn diện, đầy đủ các chứng cứ đ ể bảo đảm cho các chứng cứ có tính khách quan, hợp pháp và liên quan.

Mặt khác, việc thực hiện tốt các yêu cầu về hoạt động thu thập, xác minh chứng cứ sẽ giúp cho hoạt động phán đoán, phán xét bước đầu của các cơ quan

để từ đó làm cơ sở cho hoạt động quyết định trực tiếp nội dung của phán quyết đáp ứng được các yêu cầu đã đặt ra

Trong vụ án hình sự, những phán đoán, phán xét bước đầu được biểu hiện tập trung qua bản kết luận điều tra của cơ quan điều tra, cáo trạng của viện kiểm sát mà dựa vào đó, tòa án thực hiện chức năng của mình

Trong các vụ án tranh chấp, nhờ vào hoạt động phán đoán, phán xét bước đầu mang tính khách quan, toàn diện, chính xác đó mà công tác hòa giải, hướng dẫn pháp luật đạt kết quả tốt, các bên đương sự có thể nhận thức được các quyền

và lợi ích hợp của mình để hòa giải, thỏa thuận, lựa chọn cách xử sự phù hợp để chấm dứt vụ kiện càng sớm càng tốt, đáp ứng được mục đích trong giao lưu dân

sự cũng như làm lành mạnh hóa đòfi sống xã hội Việc các bên cảm thấy thỏa mân cũng có nghĩa các bên cảm thấy công bằng

Yêu cầu của tính công bằng cũng đòi hỏi ở việc tuân thủ nghiêm ngặt các

tụng, bảo đảm đúng thời hạn tố tụng Đây cũng là yêu cầu chung mà mọi cá nhân, liên quan đều có quyền được hưởng một cách không thiên vị

Đặc biệt khi tiến hành xét xử, những người tiến hành tố tụng tại phiên tòa phái tuân thủ nghiêm ngặt và đầy đủ các qui định tố tụng, nhất là thành phần tiến hành tố tụng sao cho khách quan, vô tư, đủ khả năng nhất để giải quyết đúng đắn

vụ án Trong khi xét xử, phải xét hỏi khách quan, toàn diện, phải bảo đảm sự tranh tụng dân chủ giữa kiểm sát viên, luật sư, bị cáo, bị hại, nguyên đơn, bị đơn sao cho mọi chứng cứ được các bên đưa ra được xem xét một cách toàn diện nhất, khách quan nhất để từ đó làm cơ sở cho hội đồng xét xử quyết định

Trang 35

Các thẩm phán, các hội thẩm, giữa thẩm phán và hội thẩm phải độc lập trong việc xem xét, đánh giá chứng cứ dựa trên cơ sở duy nhất là pháp luật; thảo luận tập thể, dân chủ để làm sáng tỏ mọi vấn đề và quyết định theo đa số để đảm bảo

vụ án được giải quyết một cách đúng đắn nhất, khách quan nhất, toàn diện nhất

của phán quyết của tòa án

Tính công bằng trong phán quyết của tòa án còn đặt ra những yêu cầu đối với hoạt động đảm bảo nội dung của phán quyết, đó là: yêu cầu hoạt động xử lí tội phạm phải không thiên vị và việc thi hành nghiêm chỉnh, triệt đ ể các phán quyết có hiệu lực pháp luật.

Như V.I.Lênin đã chỉ rõ: “Tác dụng ngăn ngừa của hình phạt hoàn toàn không phải ở chỗ hình phạt đó phải nặng mà ở chỗ đ ã phạm tội thì không thoát khỏi trừng phạt Điều quan trọng không phải ở chỗ đ ã phạm tội thì phải trừng

Rõ ràng việc xử lí người này mà không xử lí người kia là biểu hiện của sự không công bằng cũng như một ngứời bị xử lí oan mà không được minh oan Để hạn chế đến mức thấp nhất sự thiên vị này, yêu cầu cơ quan điều tra, viện kiểm sát phải tích cực phát hiện và xử lí các hành vi phạm tội, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng gây ra có quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của mình; tổ chức, cá nhân có trách nhiệm gây ra thiệt hại phải chịu trách nhiệm trước pháp luật Mặt khác, cơ quan điều tra, viện kiểm sát phải tạo điều kiện và làm tốt công tác tiếp nhận và xử lí mọi tố giác, tin báo tội phạm do các cá nhân, cơ quan, tổ chức chuyển đến Viện kiểm sát kiểm sát hoạt động tư pháp có trách nhiệm phát hiện kịp thời mọi vi phạm pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng Trong hoạt động tư pháp, phải đảm bảo tốt quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền khiếu nại, tố cáo của công dân cũng như phát huy sự giám sát của các cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử đối với hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng Tóm lại, yêu cầu đặt ra đối với hoạt động phát hiện xử lí tội phạm

là phải thực hiện một cách triệt để, nghiêm túc nguyên tắc - không một hành vi

31

Trang 36

phạm tội nào mà không bị phát hiện và xử lí và không một cá nhân nào vô tội mà không được minh oan.

Khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật và là biểu hiện của sự công bằng thì các cơ quan chức năng có trách nhiệm phải tôn trọng và thi hành nó một cách triệt để, không có một ngoại lệ ngoài căn cứ pháp luật Thực hiện tốt điều này sẽ có tác dụng giáo dục rất lớn, góp phần giữ vững niềm tin vào công lí, vào công bằng, sự tôn trọng và thực hiện pháp luật trong nhân dân

Bên cạnh đó, trong hoạt động của mình, các cơ quan tư pháp phải có trách nhiệm thực hiện công tác giáo dục pháp luật một cách bình đẳng đối với người phạm tội, các đương sự qua việc giải thích đầy đủ các quyền, nghĩa vụ tố tụng, chính sách pháp luật liên quan của nhà nước Hoạt động này nhằm giúp người phạm tội nhận thức rõ trách nhiệm, quyền, nghĩa vụ tố tụng cũng như nhận thức

rõ sai phạm để họ lựa chọn phương sách tối ưu nhất để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho mình, tích cực hỗ trợ các cơ quan tiến hành tố tụng nhanh chóng giải quyết đúng đắn vụ án, mà thông qua đó, người phạm tội được hưởng sự khoan hồng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; giúp cho đương sự nhận thức rõ quyền và nghĩa vụ của mình để lựa chọn cách xử sự phù hợp bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của mình

* Yêu cầu đối với hình thức thể hiện của phán quyết

Khi hoạt động tài phán đã đáp ứng đầy đủ các yêu cầu đã đặt ra thì kết quảcủa hoạt động này phải được hội đồng xét xử hoặc thẩm phán thể hiện bằngnhững bản án, quyết định làm cơ sở để thi hành, để hiện thực hóa những giá trị công bằng mà phán quyết của tòa án đã chứã đựng Xuất phát từ ý nghĩa của phán quyết của tòa án:

- Là một hoạt động chuyên môn pháp lí của cơ quan tư pháp cho nên ngônngữ thể hiện của nó phải thể hiện bằng những thuật ngữ pháp lí, các nội dung trình bày phải chặt chẽ, khoa học qua các phần nhận thấy (nêu các tình tiết của

vụ việc, yêu cầu), phần xét thấy (thể hiện sự phán đoán, phán xét) và phần quyết

- Là kết quả của hoạt động nhân danh pháp luật, nhân danh công lí, nênhình thức trình bày phải trang nghiêm với một khuôn mẫu thống nhất

Trang 37

- Vì nội dung của phán quyết chứa đựng các giá trị pháp lí và các giá trị

xã hội tốt đẹp như công bằng, nhân đạo, văn hóa, văn minh nên những lí lẽ lập luận thể hiện phải có sức thuyết phục, có căn cứ, có lí, có tình

- Vì là cơ sở để thi hành, thông qua đó nhằm giáo dục không chỉ đối với những đối tượng có liên quan mà còn có tác dụng đối với những đối tượng khác nhằm nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân Cho nên, nội dung, ngôn ngữ trình bày phải dễ hiểu, mang tính phổ thông

Tóm lại, những yêu cầu đối với hình thức của phán quyết nhằm góp phần bảo đảm tính công bằng, đó là: trang nghiêm, ngôn ngữ mang tính chuyên môn

và p h ổ thông, d ễ hiểu, nội dung trình bày cố tính thuyết phục, có tình, có lí, chặt

c h ẽ và khoa học.

* Một sô điều kiện đảm bảo tính công bằng trong phán quyết

Sự hoàn thiện của hệ thống quy phạm pháp luật trong lĩnh vực tư pháp

Trong nhà nước pháp quyền, pháp luật chính-là cơ sở, nền tảng của hoạt động bộ máy nhà nước, trong đó có hoạt động tư pháp; và hoạt động tư pháp với trọng tâm là hoạt động xét xử của tòa án phải luôn độc lập, công bằng để bảo vệ hiệu quả pháp luật Trong cơ chế tài phán, hệ thống quy phạm pháp luật trong lĩnh vực tư pháp là phương tiện tài phán quan trọng nhất để đảm bảo cho phán quyết của tòa án có tính công bằng, vì chỉ có pháp luật chứa đựng giá trị công bằng thì phán quyết - nhân danh và cụ thể hóa pháp luật, mới có thể có phẩm chất công bằng và góp phần duy trì công bằng

Chính vì vậy, trong hoạt động xây dựng pháp luật, cần chú ý tới giá trị công bằng ở pháp luật nội dung cũng như tạo điều kiện để giá trị công bằng được thể hiện qua pháp luật thủ tục, và để thông qua hoạt động tài phán, giá trị công bằng được thực hiện một cách mạnh mẽ trong cuộc sống Ngoài ra, cần phải chú ý đến những quy định đảm bảo như quy định về tổ chức và hoạt động, quy định về sự kiểm tra giám sát của nhân dân, quy định về chế độ khen thưởng, kỷ luật nhằm khuyến khích, tạo điều kiện cho các cơ quan tư pháp hoạt động được độc lập, khách quan, để chức năng bảo vệ pháp luật, bảo vệ công lí, công bằng của các cơ quan tư pháp được hiệu quả, đảm bảo trên thực tế

33

Trang 38

Nhìn chung, trong xu thế xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, những yêu cầu trên được khái quát thành những nguyên tắc trong công tác xây dựng pháp luật mà đa số các nhà nghiên cứu luật học

đã thống nhất, đó là: nguyên tắc khoa học; nguyên tắc phản ánh và cân nhắc các lợi ích xã hội; nguyên tắc pháp chế; nguyên tắc dân chủ xã hội chủ nghĩa; nguyên tắc phù hợp giữa luật quốc gia và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; nguyên tắc tiếp nhận có chọn lọc các giá trị tiến bộ, hợp lí của pháp luật nước ngoài; nguyên tắc công khai, minh bạch trong xây dựng pháp luật và nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng.[2,tr.l42-147]

Chê độ chính trị xã hội chủ nghĩa và đường lôi lãnh đạo của Đảng

Chế độ chính trị và hệ thống tư pháp đều là bộ phận của kiến trúc thượng tầng có sự tác động qua lại lẫn nhau Sự tác động này bắt nguồn từ bản chất chính trị, mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp trong xã hội được phản ánh trong pháp luật và hoạt động của nhà nước

Chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một chế độ tốt đẹp mà những biểu hiện của nó được thể hiện tập trung và chủ yếu ở bản chất nhà nước, đó là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân Tất

cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức; khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là ánh sáng, cơ sở tư tưởng của việc tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước và sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân, đối với nhà nước và xã hội nhằm xây dựng một xã hội ổn định và phồn vinh, vì mục đích giải phóng giai cấp, giải phóng con người khỏi mọi áp bức, bóc lột và bất công

Chính vì thế, hệ thống tư pháp xã hội chủ nghĩa luôn là hệ thống tư pháp của dân, do dân và vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam

Hệ thống tư pháp của dân là để bảo vệ, đấu tranh, phòng chống hiệu quả các vi phạm pháp luật, phân xử tranh chấp, duy trì và bảo vệ công lí, lẽ phải, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân

Hệ thống tư pháp vì dân là công cụ hữu hiệu để bảo vệ công bằng, bình đẳng, trật tự và dân chủ trong quá trình tố tụng tư pháp, đảm bảo nguyên tắc mọi

Trang 39

phán quyết của tòa án đều dựa trên kết quả của việc tranh tụng công khai, bình đẳng tại tòa.

Hệ thống tư pháp do dân đòi hỏi hoạt động của các cơ quan tư pháp, bổ trợ

tư pháp và các tổ chức liên quan thuộc hệ thống chính trị sao cho nguyên tắc đảm bảo sự tham gia và kiểm tra, giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp, bảo đảm quyền khiếu kiện của công dân trước tòa án về các quyết định, hành vi trái pháp luật của các cơ quan và công chức nhà nước xâm phạm quyền lợi ích hợp pháp của công dân, hạn chế đến mức thấp nhất những oan sai cho nhân dân Đồng thời, các cơ quan tư pháp phải là công cụ bảo vệ chế độ trách nhiệm pháp lí qua lại giữa nhà nước và công dân, đảm bảo mọi hành vi lợi dụng dân chủ để làm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của các nhân, tổ chức đều bị

xử lí nghiêm minh

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong hoạt động của mình, bên cạnh việc phải tuãn thủ triệt để pháp luật, các chủ thể tiến hành tố tụng còn phải cân nhắc những nhiệm vụ chính trị mà đường lối của Đảng đặt ra trong từng thời kì, từng phạm vi cụ thể để thực hiện cho phù hợp Đồng thời Đảng cũng phải đề ra phương thức lãnh đạo đúng đắn nhằm đảm bảo cho pháp luật được áp dụng một cách độc lập và công bằng Đó là:

+ Cấp ủy Đảng định kì nghe báo cáo tình hình hoạt động và cho ý kiến chỉ đạo về đường lối, chính sách xét xử cho từng thời kì nhất định; đưa ra các kiến nghị bảo đảm các điều kiện cho các tòa án thực sự độc lập trong khi thực hiện chức năng xét xử; đối với vụ án cụ thể, cấp ủy không can thiệp trực tiếp

+ Đối với các vụ án chính trị hoặc mang tính chính trị, việc xử lí phức tạp, cấp ủy Đảng đòi hỏi các cơ quan tư pháp phải có sự cân nhắc kỹ nhiều mặt; tuy nhiên vẫn phải dựa vững chắc vào pháp luật khi xét xử Đối với các vụ án có quan hệ đến cán bộ do cấp ủy quản lí, việc lãnh đạo của Đảng cũng là tạo điều kiện đê các cơ quan tư pháp phát huy hết trách nhiệm của mình, xử lí đúng người, đúng pháp luật

+ Đảng thực hiện công tác kiểm tra để thông qua đó, đánh giá ưu và khuyết điểm trong hoạt động tư pháp, để từ đó có có chủ trương lãnh đạo, kiện toàn, nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp.[3,tr.57-58]

35

Ngày đăng: 24/01/2021, 22:23

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w