Quỹ Quốc tế về bảo tồn thiên nhiên WWF năm 1989 đã đề xuất định nghĩa như sau: “Đa dạng sinh học là sự phồn thịnh của sự sống trên trái đất, ỉà hàng triệu loài thực vật, động vật và vi
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ■ ■ ■ BỘ Tư PHÁP■
TRƯỜNG ĐẠỈ HỌC LUẬT - HÀ NỘim m m m
NGUYỄN thị thu hà
Trang 3M ài eẩến đn
Để tài này được hoàn thiện là kết quả hướng dẫn tận tình của
TS Đoàn Năng - Vụ trưởng Vạ Pháp chế, Bộ Khoa học, Côns; nghệ và Môi trường Tác giả đề tài xin chân thành bày tỏ lời cảm ơn đến TS Đoàn Năng, TS Trần Hồng Hà, Trưởng Phòng Chính sách - Pháp chế, ông Trần Liên Phong - Trưởng Phòng Bảo tồn thiên nhiên, Cục Môi trường, cùng các thầy, cô giáo Khoa Sau Đại học, Trường Đại học Luật
Hà Nội đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài này.
Trang 4MỤC LỤC
1 rang
CHƯƠNG I
KHÁI NIỆM VÀ THỰC TRẠNG ĐA DẠNG SINH HỌC ờ NƯỚC TA
I K hái niệm và tầm quan trọng của đa dạng sinh h ọ c 4
1 Khái niệm đa dạng sinh học 4
2 T ầm quan trọng của đa dạng sinh học ó
II T h ự c t r ạ n g đ a d ạ n g sin h học ỏ Việt N a m 4
1 Đặc điểm đa dạnơ sinh học ở Việt Nam 9
2 Sự biến đổi đa dạng sinh học và những nguvên nhân đe doạ
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH HIỆN HÀNH CỬA PHÁP LUẬT
VIỆT NAM VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC
I C ác quy định hiện hành của pháp luật V iệt Nam về đa
dạng sin h học 18
1 H ệ thống các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về đa
dạng sinh h ọ c 18
2 M ột số nhận xét về pháp luật Việt Nam về đa dạng sinh học 36
3 M ối quan hệ giữa các công ước liên quan đến đa dạng sinh học 51
4 M ối quan hệ giữa các công ước quốc tế và pháp luật trong
nước về đa dạng sinh học 52
II C ác cam kết quốc tê của Việt N am về đa dạng sinh h ọ c 39
1 Công ước Đ a dạng sinh học 41
2 Các Công ước khác có liên quan đến đa dạng sinh học m à Việt
3 M ối quan hệ giữa các công ước liên quan đến đa dạng sinh học 51
Trang 5CHƯƠNG III
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC ở NƯỚC TA
I N hững quan điểm chỉ đạo quan trọn g của Đ ản g và N hà
nước ta tro n g hoạt động bảo vệ m ôi trường và qúa trình
hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường nói chung và
pháp lu ậ t vệ đa dạng sinh học nói riêng 56
1 Bảo vệ m ồi trường để phát triển bền vững 56
2 G ắn bảo vệ môi trường với đường lối, chủ trương và k ế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội 58
3 T ă n s cường hợp tác quỗc tế trong lĩnh vực bao vệ môi trường,
cái thiện môi trưòng, hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi
trường 60
II K iến n gh ị phương hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp
lu ật V iệt N am về đa dạng sinh học 64
1 Phương hướng và giải pháp chung hoàn thiện pháp luật Việt
Phụ lục 2 Các ý kiến thảo luận tạo Hội thảo “Tạo thu nhập từ
đa d ạ n g sinh học để bảo vệ đa dạng sinh học”
Trang 6L Ò I M Ồ ©ẦU
Đa dạng sinh học (biological diversity) là một khái niệm mới khôns phải đối với Việt Nam mà cả với thế giới Thuật ngữ “biological điversity” lần đầu tiên xuất hiện năm 1988 trona một cône trình khoa học của Wilson và hiện nay đã trở thành một thuật neữ phổ biến nhất trên toàn cầu trone lĩnh vực bảo vệ môi trường
Đa dạng sinh học được biến đổi liên tục theo tiến hoá để tạo ra các loài mới trong điều kiện sinh thái mới khi những loài khác mất di Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, nhiều hoạt độne cúa con người đã tác động đến môi trườns sinh
í hái, làm suy thoái tài nguyên da dạng sinh học, biến đổi điều kiện tiến hoa của các
đề sống còn của nhân loại Trên thực tế hiên nay, đa dạne sinh học đang bị đe doạ
và có chiều hướng suy giảm nehiêm trọng
Ý thức được tầm quan trọng của đa dạng sinh học nên năm 1992 Công ước
Đa dạne sinh học đã được thôna qua tại Hội nghị thượng đỉnh của Liên hợp quốc về môi trường và phát triển Công ước này đã đề ra mục tiêu cơ bản là bảo tồn và sử dụne có hiệu quả đa dạng sinh học không chỉ cho thế hệ hiện tại mà còn cho cả các thố hệ tươne lai
Là m ột nước có khí hậu nhiệt đới, Việt Nam dược coi là một trong 10 truns tâm đa dạng sinh học cao trên thế giới1 Tuy nhiên, đa dạng sinh học của nước ta đã
và đang bị đe doạ suy giảm và bị huỷ diệt Chính vì vậy mà Nhà nước ta rất quan tâm đến việc bảo vệ đa dạn£ sinh học Năm 1993, Việt Nam đã ký Côna ước Đa dạng sinh học và phê chuẩn năm 1994
1 Báo cáo đ ề tà i "Đ iều tra dánh giá hiện trạn g đa dạng sinh học và việc thực hiện C ông ước Đa dạng sinh học
Trang 7Hệ thống pháp luật Việt Nam với những đạo luật cư bản như Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Bảo vệ môi trường đã tạo ra một nền tảng pháp lý cơ bản cho việc hình thành hệ thốne các quy định về đa dạng sinh học ở nước ta Các quy định
về bảo vệ đa dạng sinh học đã được thể hiện ở những mức độ và hình thức khác nhau tron? các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Sons trong quá trình thực hiện Cône ước Đa dạne sinh học nói riêng và cône
đã thể hiện nhiều khiếm khuyết và bất cập
Trone bối cảnh nêu trên, việc nshiên cứu thực trạne và phương hướns hoàn
thiện pháp luật nước la vò da dạng sinh học là rấl cần thiếc nhằm eóp phàn bao vệ da
dạne sinh học của nước ta Bảo vệ đa dạng sinh học chính là cơ sở vững chắc cho sự tồn tại và phát triển của dân tộc ta trong nhiều thế hẹ đã qua và nhữns thập kỷ sắp
tới Với tinh thần đó, tồi chọn đề tài "Thực trạng và phương hướng hoàn thiện pháp luật về da dạng sinh học" làm luận văn tốt nghiệp Cao học Luật Việt - Pháp khóa 1
M ụ c tiêu củ a đ ề tài:
Phân tích thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam về đa dạng sinh học, trên cơ sở đó kiến nghị phương hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật nước ta về đa dạng sinh học
Đ ô i tư ợ n g và p h ạ m vi ngh iên cứu:
Nghiên cứu hệ thốne các quy định hiên hành của pháp luật Việt Nam về đa đạnơ sinh học, dối chiếu hệ thống này với thực trạng đa dạng sinh học, với các quy định của Công ước Đa dạng sinh học và các điều ước quốc tế liên quan khác Từ đó xác định các căn cứ lý luận và thực tiễn cho việc kiến nehị phương hướne và các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật nước ta về đa dạne sinh học, góp phần bảo vệ đa dạne sinh học, tránh những bất lợi khi Việt Nam hội nhập thươne mại quốc tế
Trang 8P h ư ơ n g p h á p nghiên cứa:
Việc nehiên cứu đề tài được tiến hành với việc sử đụnc các phươne pháp tổne hợp, phân tích, so sánh dể giải quyết các vấn đề của nội dung, có kế thừa một số nehiên cứu khoa học đã có về thực trạng đa dạns sinh học ở Việt Nam
đó tìm hiểu và phân tích những bất cập và khiếm khuyết của pháp luật về đa dạng sinh học hiên hành
Chương 3 : Phương hướne và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về đa dạne sinh học: Chương; này tập trung vào việc trình bày và phân tích nhữne quan điểm cơ
bản của Đảns và Nhà nước chỉ đạo Côn2 tác bảo vệ môi trườne và quá trình hoàn
thiện pháp luật về bảo vệ môi trường nói chung và đa dạng sinh học nói riêng, kiến nehị phươne hướne và các giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về đa dạng sinh học
Trang 9CHƯ0NG ỉ
KHÁI NIỆM VÀ THỰC TRẠNG ĐA DẠNG SINH HỌC ở NƯỚC TA
I - K hái niệm và tầm quan trọng của đa dạng sinh học
1 - Khái niệm đa dạng sinh học:
Yêu cầu về bảo tồn đa dạng sinh học, tài nguyên thiên nhiên và môi trường là một trong những vấn đề mới xuất hiện trong những thập kỷ qua Các quần xã sinh vật trên trái đất trải qua hàng triệu năm phát triển đang bị đe doạ bơi các hoạt dộng của con người Rất nhiều các hệ sinh thái tự nhiên bị biến đổi có liên quan trực tiếp đến hoạt động phát triển kinh tế của con người Tinh trạng mất mát và suy eiảm đa dạna sinh học ngày càng trở nên trầm trọng hơn
do sự phân bố của cải trên thế giới không đồng đều, do sự phân hoá giàu nghèo giữa các nước phát triển và đang phát triển, mà sự đa dạng phong phú
về loài lại ở các nước nhiệt đới - các nước đang phát triển
Đứng trước những thách thức về tình trạng mất mát và suy giảm đa dạng sinh học, cộng đồng quốc tế đã có những cố gắng nỗ lực để ngăn chặn sự suy giảm và bảo tồn đa dạng sinh học Với nhiều công trình nghiên cứu khác nhau trên thế giới, cụm từ “đa dạng sinh học” đã có rất nhiều định nghĩa
Quỹ Quốc tế về bảo tồn thiên nhiên (WWF) năm 1989 đã đề xuất định
nghĩa như sau: “Đa dạng sinh học là sự phồn thịnh của sự sống trên trái đất,
ỉà hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, lả những gen chứa đựng trong các loài và là những hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại (rong môi trường"2 Như vậy, đa dạng sinh học là rất cần thiết cho sự tiếp tục tồn tại
sự sốne của loài người trên trái đất Đa dạng sinh học ở cấp loài bao gồm tất
cả các sinh vật từ vi khuẩn đến các loài nấm, thực vật, động vật sống trên trái
Trang 10đất Đa dạng sinh học bao gồm cả sự khác biệt về gien giữa các loài, khác biệt
về gien giữa các quần thể sống khác nhau về mặt điều kiện địa lý, khí hậu
Ý thức được tầm quan trọng của đa dạng sinh học đối với sự tiến hoá và duy trì các hệ thốns sinh sống bền vữns của sinh quyển, Công ước Đa dạns sinh học đã được thông qua tại Hội nghị Thượne đỉnh của Liên hợp quốc về môi trường và phát triển bền vững tháng 6 năm 1992 Theo định nghĩa của
Công ước này, “đa dạng sinh học có nghĩa là tính đa dạng biến thiên giữa các sinh vật sống của tất cả các nguồn bao gồm các hệ sinh thúi tiếp ‘ịiáp, trên cạn, biển, các hệ sinh thúi thuỷ vực khác và các tập hợp sinh thái mù chúng là một phản Tính da dạng này th ể hiện ứ trong mỏi loài, giữa các loai và các hệ sinh thái." (Điều 2) Nói cách khác, đa dạng sinh học là sự đa dạng của sự
sống ở tất cả các dạng, các cấp độ và các tổ hợp Nó khôn2 phải là tổne hợp của tất cả các hệ sinh thái, các loài và các kiểu gien Đúng hơn , nó là sự đa dạng trong và giữa các hệ sinh thái, loài, là một thuộc tính của sự sống Định nghĩa đa dạng sinh học của Công ước này đã chứa đựng tất cả các biểu hiện của đa dạng sinh học Với định nehĩa khoa học này, các thành viên ký kết cần thiết phải nỗ lực thực thi các yêu cầu của Công ước, tập trung vào các biểu hiện cụ thể, rõ ràng của đa dạng sinh học, chẳng hạn như yếu tố gien, quần thể các loài và các hệ sinh thái Vì là thuộc tính của sự sốne, đa dạng sinh học thực sự chỉ có thể được bảo vệ bằng cách bảo tồn và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên sinh học và các hệ sinh thái
Năm 1994, Hiệp hội quốc tế về bảo tổn thiên nhiên (IUCN) cũng đã đưa
ra định nghĩa về đa dạng sinh học Nội dung định nghĩa này của IUCN nhìn chung là giống với nội dung định nghĩa của Công ước Đ a dạng sinh học
Tiếp thu những kết quả nghiên cứu về đa dạng sinh học trên thế giới, dựa trên thực trạng đa dạng sinh học của nước ta, Luật Bảo vệ môi trường
1993 đã đưa ra định nghĩa về đa dạng sinh học ngắn gọn hơn: "Đa dạng sinh
Trang 11học lù sự phung phú vé nguồn gien, về giống, loài sinh vậi và hệ sinh thái trong tự nhiên" (khoản 10, Điều 2).
Nhìn chung, các định nghĩa trên đều xem xét về đa dạng sinh học từ ba góc độ: Đa dạng di truyền; Đa dạng loài; Đa dạng hệ sinh thái Nhìn từ góc độ pháp luật có thể nói rằng việc xây dựng một định nghĩa về đa dạng sinh học càng đầy đủ, chính xác bao nhiêu thì việc xây dựng các quy định pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học càng chặt chẽ bấy nhiêu, đồng thời nó cũng đem lại hiệu quả tốt hơn trong quá trình thực thi các quy định này
2 - Tầm quan trọng của đa dạng sinh học :
Đa dạng sinh học là một số lượng những nguồn sống trên hành tinh, bao gồm toàn bộ cây và con Chúng đa dạng và thay đổi về muôn loài trên thế giới
và thay đổi về hệ sinh thái chúng sống trong đó Sự đa dạng về loài cung cấp cho con người nguồn tài nguyên phong phú Sự đa dạng về gien cần thiết cho tất cả các loài để duy trì khả năng sinh sản, khả năng đề kháng đối với các loại dịch bệnh và thích nghi-đối với các điều kiện sống thay đổi Sự đa dạng về gien của câylrổng và vật nuôi có giá trị rất quan trọng trong việc tạo ra các giống mới phục vụ sản xuất nông nghiệp Các thành phần của đa dạng sinh học có thể cho những sản phẩm có giá tiị kinh tế trực tiếp phục vụ lợi ích loài người, và những giá trị kinh tế gián tiếp đem lại lợi nhuận mà không cần phải khai thác hay huỷ hoại nguồn tài nguyên đa dạng sinh học Giá trị kinh tế trực tiếp có thể phân làm hai loại: Giá trị tiêu thụ và giá trị sản xuất Giá trị tiêu thụ định lượng ra cho các sản phẩm được tiêu thụ trực tiếp tại địa phương như củi, thuốc chữa bệnh và nguyên vật liệu xây dựng Nhiều khi các sản phẩm này không xuất hiện ở thị trường trong nước và quốc tế mà nó được những người dân địa phương khai thác, sử dụng phục vụ cho nhu cầu cuộc sống hàng ngày
Trang 12Giá trị sản xuất của đa dạng sinh học được xác định qua những sản phẩm thu hoạch từ thiên nhiên hoang dã đem bán ra thị trường Những loài sinh sống trong thiên nhiên hoana dã có thể có giá trị to lớn và được sử dụng làm nguồn gien di truyền góp phần cải tiến, tạo giống cây con trong nông nghiệp Những loài hoang dã cũng là những nguồn chính cung cấp các loại dược phẩm.
Việc cung cấp những lợi nhuận kinh tế cho con người mà không cần phải khai thác, phá huỷ trone quá trình sử dụne, đó chính là giá trị gián tiếp của đa dạng sinh học Giá trị sử dụne không tiêu thụ các hệ sinh thái bao gồm năng suất của hệ sinh thái, chức nàng báo vệ nguồn tài nguyên đất và nước, mối tương tác qua lại giữa các loài hoang dã, cây trồng và điều hoà khí hậu Chống xói mòn và tăng độ phì cho đất, điều hoà dòng chảy và tuần hoàn nước,
ô xy và khoáng chất trong khí quyển, trái đất, sông suối, ao hổ và biển cả chính là nhờ chức năng sinh thái của đa dạng sinh học Các quần xã sinh học
có vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ rừng đầu nguồn, những hệ sinh thái vùng đệm đã góp phần phòng chống lũ lụt và hạn hán, duy trì chất lượng nguồn nước
Các quẩn xã sinh học có khá năng phàn huỷ các chất ô nhiễm như kim loại nặng, thuốc trừ sâu và các chất thải sinh hoạt khác đang ngay càng tăng
do hoạt động của con người Các loài nấm và vi khuẩn đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phân huỷ các chát thải Khi những hệ sinh thái bị tổn thương hoặc bị suy thoái thì cần phải thay thế bằng một hệ thống nhân toạ
để kiểm soát ô nhiễm với những chi phí tốn kém hơn nhiều lần để thực hiện chức năng phân huỷ chất thải giống như các quần xã sinh học.3
Đa dạng sinh học còn có tiềm năng cung cấp những giá trị khác chưa được phát hiện nhưng lại có thể mang lại lợi nhuận cho xã hội tương lai Ví dụ
Trang 13như nhừnư nguồn dược phẩm mới, các tác nhàn kiểm soái sinh học và cung cấp giống cây trồng Đa dạng sinh học còn có giá trị tồn tại Giá trị này được tính trên khoản tiền mà con người sẵn sàng trả để bảo vệ đa dạng sinh học.
Việc phát triển một ngành công nghiệp du lịch sinh thái phải dựa trên
cơ sở của đa dạng sinh học Du lịch sinh thái là một ngành công nghiệp không khói đans lớn mạnh ở nhiều nước dang phát triển, nó đã tạo ra một nguồn thu ngoại tệ đáng kể cho các nước này Những người đi du lịch sinh thái tham quan vùng sinh thái và trả tiền để có thể chiêm ngưỡng sự đa dạng sinh học hay chỉ để nhìn thấy một hoặc vài loài đặc biệt Trong quá trình quy hoạch các vùng du lịch sinh thái cần chú ý đến việc bảo vệ những khu vực dễ bị tổn thương Vì những hoạt động du lịch sinh thái có thể vô tình huỷ hoại những khu vực này (ví dụ như, du khách có thể vô tình gây tiếng ồn náo động tại các khu vực sinh sán của chim)
Bảo vệ đa dạng sinh học có thể dựa vào nền tảng về đạo đức cũng như kinh tế Hệ thống giá trị của hầu hết các tôn giáo, triết học và văn hoá cung cấp nền tảng, nguyên tắc và đạo lý cho việc bảo tổn các loài Những nguyên tắc, tục lệ này được con người hiểu và quán triệt một cách dễ dàng và làm cho con người bảo vệ cả những loài không mang lại giá trị kinh tế lớn Nhiều dân tộc có những quan niệm đạo đức cho rằng mỗi loài sinh ra đều có quyền tồn tại Con người hoàn toàn không có quyền tiêu diệt các loài mà ngược lại phải
nỗ lực hành động nhằm tránh sự tuyệt chủng
Bảo vệ đa dạng sinh học, chính là bảo vệ hành tinh xanh và những hệ sinh thái đại dương có thể kiểm soát khí hậu và khí quyển của thế giới Giá trị của đa dạng sinh học có quy mô rộng lớn và mang lại lợi ích không gì thay thế được cho sự sống trên trái đất
Trang 14II - Thực trạng đa dạng sinh học ở Việt Nam
l - Đặc điểm đa dạng sinh học ở Việt Nam:
Nước ta là một đất nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa với 3/4 diện tích
tự nhiên là núi đồi, là vùng đất của nơi gặp gỡ giao lưu của nhữne con sôns lớn Với những đặc trưng như vậy, ở nước ta đã hình thành nhiều cảnh quan khác nhau Ở mỗi cảnh quan đó lại có những hệ sinh thái tiêu biểu khác nhau như trên cạn có hệ sinh thái rừng, hệ sinh thái nông nghiệp, hệ sinh thái đô thị , vùne biển có hệ sinh thái rạn san hô, cỏ biển, hệ sinh thái vùng triều cửa sông, hệ sinh thái đầm phá ven biển, hệ sinh thái các vũng biển , vùng đất ngập nước có hệ sinh thái sồng, suối, ao-hồ, đầm lầy Mỗi kiểu hệ sinh thái này có những đặc tính riêng về môi trường tự nhiên, về cấu trúc thành phần loài sinh vật, đặc điểm phân bố số lựng và biến động theo mùa Những đặc điểm đó là cơ sở thuận lợi để đa dạng sinh học tồn tại và phát triển ở nước ta
Nước ta có rất nhiều kiểu rừng tạo nên một hệ động thực vật đa dạng và phong phú, có tính đa dạng sinh học cao Đó là các kiểu rừng kín vùng thấp, các kiểu rừng thưa, các kiểu trảng truông, các kiểu rừng kín vùng cao, các kiểu quần hệ lạnh vùng cao Mặc dầu có những tổn thất to lớn về diện tích rừng trong một thời kỳ kéo dài nhiều thập kỷ, hệ thực vật rừng ở Việt Nam vẫn còn phong phú về chủng loại Tổng kết các công bố về hệ thực vật Việt
Nam, Nguyễn Nghĩa Thìn (1999) đã ghi nhận 12.973 loài thực vật ở Việt
N am 4. C ũng như thực vật, các loài động vật ở nước ta có nhiều dạng đặc hữu,
có nhiều loài động vật có giá trị thực tiễn cao, có ý nghĩa lớn cần bảo vệ nhu
hổ xám, bò rừng, tê giác, hươu sao Hiên tại, hệ động vật nước ta có 276 loài
và phân loài thú, 828 loài chim, 258 loài bò sát, 186 loài giun đất, 82 loài ếch nhái, 544 loài cá nước ngọt, 2038 loài cả biển 5 Một điều đặc biệt được cả
4 Báo c áo dể tài "Đ iều tra đánh giá hiện trạ n a da dạng sừih học và việc thực hiện C ồna ước Đa dạng sinh học
củ a V iệt N am " - 1999, trang 6.
Trang 15thê giới quan tâm là trong vòna 5 nám gần dáy (1992 - 1997) các nhà khoa
học Việt Nam cùng phối hợp với WWF đã phát hiện thêm 3 loài thú lớn, 3 loài thú n hỏ và 2 loài cá mới chu khoa học6 và năm 2000 phát hiện ở Vịnh Hụ Long 7 loài thực vật mới Sự đa dạng của môi trường sống và thiên nhiên
vùng biển đã tạo nên sự phong phú và đa dạng của khu hệ sinh vật biển Tổng
các kết quả điều tra nghiên cứu biển cho thấy đến nay đã phát hiện "10.837 loài sinh vật biển"*.
Mức độ đa dạng sinh học của hệ thực vật cây trồng ở nước ta cao hơn
rất n h iều so với dự đoán của nhiều người Tính đa dạng này đã được phát triển
với các điều kiện tự nhiên và tác nhân trong các hệ sinh thái nông nghiệp tại
các cảnh quan khác nhau Theo các nghiên cứu gần đây thì có khoảng 734 loài thực vật thuộc 79 họ được gieo trồng trên lãnh th ố nước ta9 Do có sự đa
dạng các hệ sinh thái, đa dạng về khí hậu nên nước ta cũng là khu vực rất đa dạng về động vật nuôi
Việt Nam có vùng đất ngập nước khá rộng, trải ra khắp đất nước, nhưng được tập trung chủ yếu ở hai đồng bằng Sông Hổng và Sông cử u Long Tống
diện tích đất ngập nước ở nước ta ước tính khoảng 7 triệu đến 10 triệu h a 10
Đây không những là vùng sản xuất nông nghiệp quan trọng ở nước ta mà còn
là nơi sinh sống của nhiều loàiquý hiếm hoặc có nguy cơ bị tuyệt chủng như:
cò thìa, mòng biển đầu đen, bồ nông chân hồng, cò Châu Á, sếu cổ trụi, sếu
cổ đ ỏ 11
6 H ư ớ n g d ẫn về C ồng ước Đ a dạng sinh học, Cục M ôi trường - 2001 trang 229.
7 Đ a d ạ n g sin h họ c và m ôt số vấn dể trong việc sủ đụng và bảo tồn tài n g u y ên sinh học ở Việt N am , L ê Quý
A n, T ạp c h í Bảo vệ m ôi trường số 8/2000, trang 6.
8 Báo c áo d ề tài "Đ iều tra dánh giá hiện trạn e da d ạna sinh học và việc thực h iện Công ước Đ a dạng sinh học của V iệt N a m ” - 1999, trang 8
9 Báo c áo d ề tài "Đ iều tra dánh giá h iện trạng da dạng sinh học và việc thực h iện C ông ước Đa d ạn g sinh học của Việt N am " - 1999, trang 10
10 K ỳ yếu H ộ i thảo "C hiến lược quốc gia về bảo vệ và quản lý đất ngập nước" - 1996, trang 2 .
Trang 16Hiện nay, hầu hết cnúne ta đều biết ràng đa dạng sinh học có ý nehĩa
sống cò n đối với vận m ệnh của nhân loại Tài n g u y ên sinh học cung cấp cho
chúng ta những mặt hàng tiêu dùng hàng ngày, nhất là những sản phẩm của nông nghiệp và những giá trị về nghiên cứu khoa học Đ ồng thời nó còn cung cấp món ăn tinh thẩn cho chúng ta, đó là giá trị cảnh quan của các khu lửng, các hệ sinh thái Bảo vệ đa dạns sinh học cũng chính là bảo vệ được những giá tri văn hoá của dân tộc
Các kiểu gien, các loài và các hệ sinh thái trên trái đất là sản phẩm của quá trình tiến hoá trên 3 tỷ năm và chúng là cơ sở cho sự tồn tại của loài người chúng ta Đa dạng sinh học rất có giá trị, mà những giá trị và công dụng thực
tế sau này của nó là không thể dự đoán được, bởi kiến thức của chúng ta về hệ sinh thái còn quá ít để biết chắc về những tác động sẽ gây ra nếu chúng ta lấy
đi hất cứ phần nào của hệ sinh thái Một loài bị mất đi có nghĩa là một loài bị mất đi vĩnh viễn
2 - S ự biến đổi da dạng sinh học và những nguyên nhân đe doạ đến da dạng sinh học ở nước ta:
Với đặc điểm là rừng nhiệt đới, rừng nước ta là hệ sinh thái có độ đa dạng sinh học cao nhất, là nơi sinh sống của hầu hết các loài động thực vật hoang dã Tốc độ cạn kiệt và suy giảm ở rừng là điều thấy rõ nhất Với độ che
phủ là 43% vào năm 194312 xuống còn 33,2% vào năm 1999 (kể cả rừng
trồng, theo Quyết định số 0 3 /2 0 0 1/QĐ-TTg ngày 05/1/2001 phê duyệt kết quả tổng kiểm kê rừng toàn quốc) Trong đó, rừng ngập m ặn bị tàn phá nặng nề
nhất, với diện tích là 450.000 ha vào năm 1943, đến nay chỉ còn 154.000 h a 13
Điều đó cho thấy rằng tốc độ biến đổi da dạng sinh học ở nước ta đa diễn ra khá nhanh
12 Báo c áo đ ề tài "Đ iều tra đ án h g iá h iện trạn g da dạng sin h học và việc thự c h iện C ông ước Đ a dạng sinh học
c ủ a V iệt N am " - 1999, tran g 11.
Trang 17iVlột nhận định rất quan trọng đã được nêu trong Kế hoạch hành đ ộ n e
Đa dạng sinh học của Việt Nam (được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 22/12/1995 theo Quyết định số 845/TTg):
“Việc gia tăng quá nhanh dân sô' nước ta, việc diện tích rừng
bị thu hẹp, việc khai thác quá mức tài nguyên sinh vật biển, việc áp dụng quá rộng rãi các giống mới trong sản xuất nông nghiệp đã dẫn tới sự thu hẹp hoặc mất đi các hệ sinh thái, dãn tới nguy cơ tiêu diệt 28% loài thú, 10% loài chim, 21% loài bò sút và lưỡng cư Sự mất đi của loài lù mất đi vĩnh viễn, đồng thời mất đi cả nguồn tài nguyên di íruyỏii Trên thực lẻ lốc độ suy giảm đa dạng sinh học của
ta nhanh hơn nhiều so với các quốc gia khác trong khu vực”.
Trong hơn 40 năm qua dân số Việt Nam đã tăng lên gấp hai lần, với khoáng gần 80 triệu dân hiện nay Trong khi đó, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất của sự sống thì lại có hạn và bị tàn phá nặng nề trong hai cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước Và đó cũng là do sai lầm của việc khai thác lừng bừa bãi dã dẫn đến sự suy giảm nhanh chóng đa dạng sinh học ở nước ta Sự suy giảm và mất đi nơi sinh cư của các loài do hoạt động của con người như chặt phá rừng, đốt rừng làm rẫy, chuyển đổi đất sử dụng, khai thác huỷ diệt thuỷ sản Du canh cũng là nguyên nhân dẫn đến
cháy rừng Nước ta "hàng nám cháy mất khoảng 20 - 30 ngàn ha rừng, thậm chí có năm lên đến 100 ngàn ha rừng" (Kế hoạch hành động Đa dạng sinh học
của Việt Nam) Việc di dân không có kế hoạch cũng là một nguyên nhân thu hẹp dần diện tích các hệ sinh thái rừng Những người nông dân từ các tỉnh đồng bằng thiếu đất canh tác nông nghiệp tự di cư đến các vùng rừng núi mong tìm được vùng đất tốt hơn cho sản xuất nông nghiệp Họ đã khai thác và
sử dụng rừng một cách bữa bãi để lấy đất canh tác
Trang 18Việc khai thác gỗ và các lâm sản khác ngoài gỗ vẫn còn ỉà mối de doạ lớn Khai thác nhiên liệu trên quy mô lớn rất khó kiểm soát là mối đe doạ lớn
nhất đối với đa dạng sinh học ở nhiều nơi Chất lượng rừng và sản lượng rừng
ngày càng giảm ở những nơi gần khu vực dân cư Rừng nhiều vùng bị xé lẻ và trở lên nhỏ hơn, tách biệt ra khỏi những khu rừng khác, chúng không còn khả năng hỗ trợ tạo sinh cảnh cho sự phong phú của các loài như ban đầu Chính
sự thu hẹp của các khu rừng mà loài voi không còn đủ địa bàn để sinh sống, vì vậy chúng đã gây ra những thảm hoạ không lường ở Tỉnh Đồne Nai
Do áp lực tăng dân số, sự nghèo khổ ià yếu tố thúc đẩy sự khai thác quá mức tài nguyên sinh vật và làm giám đa dạng sinh học Dân sô' tăng nhanh đòi hỏi phải có nhiều đất đai để trổng trọt, cần có nhiều rừng để cung cấp gỗ làm chất đốt và nguyên liệu cho xây dựng Sự suy thoái của các hệ sinh thái tự nhiên và nơi cư trú, nhất là rừng nhiệt đới và các vùng đất ngập nước là nguyên nhân chính về suy thoái đa dạng sinh học ở nước ta Hơn nữa, tài nguyên thuỷ sản ven bờ bị suy kiệt nhanh chóng do những phương thức khai thác mang tính huỷ diệt như dùng mắt lưới quá nhỏ, nổ mìn, dùng hoá chất
gây mê Nạn khai thác san hô là điều đáng lo ngại nhất ở ven biển miền Trung
(từ Đà Nẩng đến Khánh Hoà) Khai thác san hô chết bằng chất nổ ở các vùng thuỷ triều để lấy nguyên liệu sản xuất xi măng đã tác động lớn tới môi trường sống của nhiều sinh vật biển và hạn chế khả năng ngăn chặn xói mòn ven biển Các khu rừng ngập mặn phải đương đầu với mối đe doạ của người dân địa phương phá rừng ngập mặn để nuôi trồng thuỷ sản, chủ yếu là để làm các đầm tôm Chính vì thế giá trị đa dạng sinh học và nguồn cá cửa sông đã bị suy
giám một cách đáng kể Rừng ngập mặn đã bị "tàn phú tương đương sức phá của chất độc hoá học trong chiến tranh"14
Hiện nay, nước ta vẫn là một nước mà nền kinh tế còn phải dựa chủ yếu vào tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên sinh học Việc sử dụng tài
Trang 19nguyên sinh học íhể hiện rõ nhất trong nùng, ỉãm, ngư nghiệp, mà trước hết nhằm đảm bảo đời sống của nhân dân và an ninh lương thực của đất nước Có
tới 2.300 loài tlìực vật được dùng làm lương thực, thực phẩm , thuốc chữa bệnh, thức ăn gia súc, tơ sợi và nguyên vật liệu15.
Nguyên nhân £ây nên sự tổn thất đa dạng sinh học ở nước ta cũng như nhiều nước khác trên thế giới là do sự mâu thuẫn giữa cuna và cầu Tài nguyên thiên nhiên thì có hạn mà nhu cầu tiêu dùng của người dân ngày càng tăng Các sản phẩm sinh học của các nước đang phát triển thường được các nước đã phát triển ưa chuộng Sự buôn bán các sản phẩm sinh học cũng như bán thân các sinh vật đó dang là mối lo ngại lớn về sự suy thoái đa clạne sinh học
Ô nhiễm môi trường cũng là một trong những nguyên nhận quan trọng dẫn đến sự suy giảm đa dạng sinh học Một số hệ sinh thái thuỷ vực, đất ngập nước bị ô nhiễm bởi các chất thái cồng nghiệp, chất thải từ khai khoáng, thuốc bảo vệ thực vật và phân bón trong nông nghiệp, thậm chí cả chất thải đô thị Trong đó đáng lưu ý là tình trạng ô nhiễm dầu ở các vùng cửa sông ven bờ,
nơi có hoạt động tàu thuyền lớn Ví dụ như, ô nhiễm dầu đã huỷ hoại trên diện rộng các hệ sinh thái biển, vừng ngập mặn và ngư nghiệp sau tai nạn của tàu trở hàng Leela làm rò rỉ 200 tấn dầu vào Vịnh Quy Nhơn núm 198916
Việc nạo vét bùn cát ở các cảng biển thường tạo ra bùn lắng ở các cửa sông và ven biển có lẫn dầu và các độc tố, gây hại cho hệ sinh thái ven biển và sinh vật biển
Việc nhập các loài ngoại lai không kiểm soát được (tình trạng ô nhiễm sinh học) có thể gây ảnh hưởng trực tiếp qua sự cạnh tranh, sự ăn mồi hoặc gián tiếp qua ký sinh trùng và thay đổi nơi sinh cư với các loài bản địa, gây
15 "Đ a dạng sinh h o c và m ột số vẫn đề rrong việc sử dụng và bảo tổn tài n g u y ên sinh học", L ê Q uý A n, Tạp chí Bảo vệ M ô i trường số 8/2000, trang 7.
Trang 20nguy cơ dịch bệnh, phá hoại sản xuất nông nghiệp ở nước ta, sự xâm nhập
củ a các sinh vật lạ, nhất là những loài mới xâm nhập còn ở mức độ chưa lớn,
nhưng đã và đang có tiềm ẩn gây ảnh hưởng trực tiếp cho sản xuất nông nghiệp, như ốc bươu vùng, cây trinh nữ{1.
Nước ta đang xây dựne một nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN cũng có những tác động đến hoạt động sản xuất nông nghiệp của rmười dân Với cơ chế thị trường đã thúc đẩy họ áp dụng nhiều giống, loài mới
có năng suất và chất lượng cao Điều này cũng là mối đe doạ lớn cho những giống, loài canh tác truyền thống dã thích nghi lâu đời với khí hậu và thổ nhưởng địa phương, có nhiều Lính di truyền quý nhưng bị lãng quèn vi không
đáp ứng được thị trường trước mắt Ví dụ như giống lợn bụng lang nổi tiếng của Việt N am hiện còn rất ít ở những gia đình nông dân nước ta, nhưng lại có
vẻ tliấy nhiều ở Anh và California (Mỹ)18
Nhìn chung, những vấn đề bức xúc trong quản lý, bảo vệ và phát triển
đa dạng sinh học là: Nhiều hệ sinh thái tự nhiên đang bị phá huỷ nhanh, mạnh như: hệ sinh thái rừng đầu nguồn, rừng ngập mặn ven biển, các rạn san hô, thảm cỏ biển, đầm phá và các vùng triều cửa sông; Số loài bị đe doạ và có nguy cơ mất hoàn toàn ngày càng tăng, đặc biệt đối với các loài có giá trị kinh tế; K ế hoạch bảo vệ đa dạng sinh học đã được xây dựng, nhưng chưa được lồng ghép vào trong các dự án phát triển kinh tế - xã hội và trong các chính sách kinh tế của đất nước, đặc biệt trong lĩnh vực thương mại
Để bảo vệ đa dạng sinh học, trong những năm qua nước ta đã có những
cố gắng rất nhiều trong việc xây dựng các khu bảo vệ và vườn quốc gia Vườn quốc gia đầu tiên Cúc Phương được thành lập từ năm 1962 Và đến nay, Chính
phủ đã thành lập một hệ thống 70 khu bảo tồn thiên nhiên, 33 khu văn hoá
-17 Đ a dạng sin h h ọ c và quản lý sự xâm nhập của sinh vật lạ, T ạp chí Bảo vệ m ôi trường số 4/2001, trang 13.
18 K ế hoạch h à n h dông đa dạng súih học của Việt N am , trang 126
Trang 21lịch sử - m ôi trường, 65 khu bảo tồn đất ngập nước, dự kiến thành lập 15 khu
bảo tồn b iển 19 Trong đó có một số khu bảo vệ đặc biệt, như khu bảo vệ Xuân
Thuỷ ở cửa sông Hồng để bảo vệ đất ngập nước và các loài chim di cư Đây
cũng là khu bảo vệ Ramsar đầu tiên ỏ' Việt Nam và ở Đông Nam Á Các vườn
thực, độnơ vật, trạm cứu hộ động vật và n eân h àn g giố n g đã được th àn h lập và
đang được củng cố Nước ta còn có vùng Biển Đông rộng lớn với nhiều rặng
san hô phong phú và tài nguyên đa dạng sinh học cần được bảo vệ Vì thế
trong hệ thống khu bảo vệ quốc gia cũng đang được từng bước lưu ý đến bảo
vệ các hệ sinh thái biển và tài nguyên sinh vật ở đó, dự kiến thành lập 15 khu
bảo tổn biển như đã nêu trên
Vùng đệm là một khái niệm mới được sử dụng ở nước ta từ những năm
90 của thế kỷ trước Vùng đệm là khu vực xung quanh các khu rừng đặc
dụng20 Để bảo vệ tốt rừng đặc dụng, trước hết cần quan tâm đến đời sống của
những người dân ở vùng đệm, lôi cuốn sự tham gia của họ vào công tác bảo vệ
các khu rừng đặc dụng Trong quá trình quản lý hệ thống rừng đặc dụng, nước
ta đã có một bài học kinh nghiệm là: nếu không có sự tham gia của những
người dân sông ở vùng đệm thì việc bảo vệ các khu rừng đặc dụng sẽ không
đạt được kết quả như mong muốn, thậm chí các khu rừng này còn có nguy cơ
bị tàn phá, huỷ diệt Chính vì vậy một phần vốn lớn của Chương trình 327 đã
được đầu tư vào quản lý vùng đệm, giúp người dân địa phương cải thiện cuộc
sống
Các trung tâm cứu hộ động vật cũng đã được thành lập và đi vào hoạt
động Trung tâm cứu hộ Linh trưởng ở Vườn quốc gia Cúc Phương đã nuôi
được 12 con kh ỉ quý hiếm như loài vọoc quần đùi trắng21.
19 T h eo "Bán đổ hệ th ố n g khu bảo tổ n th iên n h iên củ a V iệt N am ", N h à x u ất b án Bản đồ, tháng 6/2001
20 Báo cáo đ ề tài "Đ iều tra đ án h g iá h iện trạn g da d ạn g sinh h ọ c và việc thự c h iệ n Công ước Đ a dạng suih h ọ c
c ủ a V iệt N am " - 1999, tran g 34
21 Báo cáo d é tà i "Đ iều tra đ án h g iá h iện trạ n g da dạng sin h h ọ c và việc thự c h iện Công ước Đa dạng sin h học
Trang 22V ấn đề lưu trữ nguồn giống mới được m ột số cơ sở nghiên cứu thực
hiện, chủ yếu là lưu giữ hạt giốna cây lươne, thực với phương pháp bảo quản trono kho lạnh.Tuy nhiên, các kho này mới ở quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu, bảo quản ngắn hạn và trung hạn Hiện chưa có kho nào đạt tiêu chuẩn bảo
quản dài hạn Đến nay, các kho bảo quản lạnh đang lưu eiữ được 6.500 giống của 34 loài cây có hạt, bảo quản in vitro 76 giống các loài cây sinh sản vô tính, 200 hạt giống cây cao su22 Việc bảo tồn nguyên liệu gien dưới dạng tinh đông viên mới được thực hiện với bò (núm 1996 đã bảo quản được 5.000
liều, 50 phôi bò tươi23), v.v
Các kếi quả nghièn cứu và diều tra về đa dạng sinh học, tìm hiểu nguyên nhân làm suy giảm nó sẽ là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất
để xây dựng và thực hiện thành cồng một chính sách hoặc một văn bán quy phạm pháp luật về bảo vệ đa đạne sinh học trên thực tế
Trang 23CHƯƠNG I I
THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH HIỆN HÀNH CỦA PHÁP LUẬT
VIỆT NAM VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC
I - Các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về đa dạng sinh học
l - Hệ thống các văn bản quy phạm p h áp luật hiện hành vê đa dạng sinh học
Ngay từ những năm 6ơ của thê kỷ trước, trong những bộn bề khó khãn cùa cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, Nhà nước la vẫn ihể hiện sự quan tâm đến bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và đã ban hành các văn bản sau:
Chỉ thị số 134/TTg ngày 7/7/1960 của Phủ Thủ tướne về việc cấm bắn voi;
Quyết định số 72/TTg ngày 7/7/1962 của Phủ Thủ tướng
Pháp lệnh Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật;
Pháp lệnh Thú ý;
Luật Bảo vệ và Phát triển rừng;
Luật Bảo vệ môi trường;
v.v
Trang 24Trên cơ sở các luật và pháp lệnh trên, một hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành đã được ban hành Để tiện theo dõi, việc trình bày hệ thống các vãn bản quy phạm pháp luật hiện hành về đa dạng sinh học sẽ được trình bày trên cơ sở của định nehĩa đa dạna sinh học theo hai khía cạnh: các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ đa dạng nguồn gien và đa dạng loài; về bảo vệ
đa dạng hệ sinh thái Sự phân chia này chỉ mang tính tương đối
1.1 - Các quy định của pháp luật về bảo vệ đa dạng nguồn gien vả đa dạng loài
Trước khi tìm hiểu các ván bản quy phạm pháp luậl về bảo vệ (ia dạng nguồn gien, chúng ta nên tìm hiểu về đa dạng nguồn gien, đa dạng loài ở khía
cạnh khoa học "Đa dạng gien có nghĩa lã sự thay đổi gien giữa các cơ th ể sống, tức là sự khác nhau về gien giữa các cú th ể của cùng một lo.ài và giữa cúc loài của cùng một nhóm loài"24 Bảo vệ đa dạng nguồn gien có ý nghĩa rất
quan trọng, nó có thể làm tăng cơ hội sống cho các loài Đa dạng gien đã giúp các loài tổn tại, và dựa vào đó con người đã tạo ra nhiều giống cây, con, vi sinh vật có gien khác nhau phục vụ cho chính cuộc sống của mình Còn đa
dạng loài là "một sô lượng lớn cúc loài hoang d ã hoặc đ ã được thuần hoá trong một khu vực địa /ý"25.
Có thể thấy rằng, trong lĩnh vực đa dạng sinh học, Luật Bảo vệ môi
vật phải theo đúng thời vụ, địa bàn, phương pháp và bằng công cụ, phương tiện đ ã được quy định, bảo đảm sự phục hồi về mật độ và giông, loài sinh vật, không làm mất cân bằng sinh thái" (Điều 12), hoặc "Việc sử dụng, khai thác khu bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan thiên nhiên phải được phép của cơ quan
24 H ướng dãn về C ông ước Đ a dạng sinh học, Cục M ô i trường/IU C N - 2001, trang 40
Trang 25quản lý " (Điều 13), và việc sử dụng đất phải đảm bảo càn bằng sinh thái
(Điều 14)
-?Căn cứ Luật Bảo vệ Môi trường và các văn bản có liên quan, đổng thời dể thực hiện các quy định cảu Công ước về Đa dạng sinh học, Thủ tướns Chính phủ đã ra Quyết định số 845/TTg ngày 22/12/1995 về việc phê duyệt "Kế hoạch hành động Bảo vệ đa dạng sinh học của Việt Nam" với những mục tiêu lâu dài và mục tiêu trước mắt được thể hiện bằng các hành động cụ thể dưới hình thức dự án Bảo vệ đa dạne nguồn gien, đa dạng loài là một trong những nội dung chính của bản Kế hoạch này, thông qua các biện pháp sau:
- Xày dựng các ngân hàng gien thực vật, vật nuôi, vi sinh vật Cung cấp vật liệu di truyền cho công tác lai tạo, tuyển chọn giống phục vụ các mục tiêu kinh tế nhằm bảo hiểm cho các nguồn gien trong tự nhiên;
- T ăne cường năng lực các vườn thú là nơi tham quan, đào tạo, giáo dục ý
thức môi trường chung, nghiên cứu khoa học, bảo tồn các loài hoang dã đang có nguy cơ tuyệt chủng và khi có điều kiện cung cấp trở lại những loài này cho các khu bảo vệ thiên nhiên;
- Tăng cường các biện pháp bảo vệ đa dạng sinh học nồng nghiệp, phát huy hình thức "bảo tồn trang trại" thu hút người nông dân tham gia nhiệm vụ bảo vệ chung, đặc biệt chú ý gìn giữ những giống cây, con cổ truyền đã thích nghi với điều kiện địa lý, khí hậu địa phương ở các vùng của nước ta
Đây chính là biện pháp bảo tồn ngoại vi mà Công ước Đa dạng sinh học đã quy định Các biện pháp bảo tồn ngoại vi có thể được áp dụng một cách tích cực nhất để bảo tồn các giống cây trồng, vật nuôi Các kỹ thuật bảo tồn bên ngoài như ngân hàng gien, ngân hàng giống là phương pháp bảo tồn hàng đầu cho những loài cây nông nghiệp quan trọng Tuy nhiên, việc xây dựng và vận hành ngân hàng gien, giống này rất tốn kém, nhưng nếu có một cơ chế quản lỷ tốt, ngân hàng này sẽ mang lại những giá trị kinh tế to lớn
Trang 26- V iệc áp dụng các biện pháp phục hồi các loài bị đe doạ và sau đó phóne
thích chúng trở lại với nơi trú thiên nhiên trong, điều kiện thích hợp cũng là một trong những nội dung của biện pháp báo tồn ngoại vi Sự phóng thích các loài này phải đảm bảo khôn° có hại cho các loài, hệ sinh thái đang tồn tại ở khu vực thiên nhiên đó Liên quan đến vấn đề này, Chỉ thị số 359/TTg nsày 29/5/1996 của Thủ tướng Chính phủ về những biện pháp cấp bách để
bảo vệ và phát triển các loài động vật hoang dã đã quy định: "Đối với động vật hoang dã, quý hiếm thu giũ được qua kiểm tra phải thả trở lại mỏi trường sống của chúng Trước khi thủ phải kiểm la kỹ về tình trạng sức khoè, dịcli bệnh và đặc điểm sinh thái, đảm bảo con vật sống và phát triển” Đây chỉ là quy định mang tính nguyên tắc, còn các quy định về
kiểm dịch động vật, bao gồm cả động vật hoang dã và động vật nuôi, được quy định tại Pháp lệnh Thú y Kiểm dịch động vật nhằm phát hiện những bệnh truyền nhiễm, ký sinh trùng đã có hoặc chưa có ở Việt Nam, phát hiện các chất độc, chất nội tiết, kháng sinh gây hại cho người và động vật (Điều 19) Danh mục bệnh và các chất độc hại do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công bố theo từng thời kỳ Trong thực tế, do không nghiên cứu kỹ đặc điểm sinh thái của động vật hoang dã trước khi thả chúng vào tự nhiên đã dẫn đến tinh trạng không thích nghi và chúng không thể tồn tại được trong điều kiện tự nhiên đó
Bảo vệ động vật và thực vật quý, hiếm là một nhiệm vụ quan trọng trong việc bảo vệ tính đa dạng loài và đa dạng nguồn gien Những loài này có giá trị đặc biệt về kinh tế, môi trường, khoa học nhưng số lượng và trữ lượng ngày càng suy giảm và có neuy cơ bị tuyệt chủng Để thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của Nhà nước về bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ các nguồn gien quý hiếm, , Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị số 130-TTg ngày 27/3/1993 về việc quản lý và bảo vệ động vật và thực vật quý, hiếm Chỉ thị này đã cấm việc bày bán chim, thú nhồi là những
Trang 27đ ộ n g vật q u ý , hiếm và đặc hữu của địa phương; n g ăn chặn việc m ua bán
trái phép các động vật quý, hiếm và đặc hữu ở các chợ nội địa và chợ đường biên; Hạn chế đến mức tối đa việc khai thác để bán ra nước ngoài các dộng vật không phải là quý hiếm dùng làm thức ăn nhưng có nguy cơ
bị cạn kiệt gày mất cân bằne sinh thái Thực tế, không chỉ những, loài động, thực vật quý hiếm bị khai thác quá mức dẫn đến tuyệt chủng, mà các loài động vật khác cũng bị khai thác kiệt quệ dẫn đến tình trạng mất cân bằng sinh thái, ví dụ như ở nước ta do săn bắt quá mức loài rắn đã g;ây nên nạn dịch chuột trên phạm vi toàn quốc Sự mất cân bằng sinh thái này ở nước ta
đã gây ra những tổn thất lớn cho sán xuất nông nghiệp
Nghị định số 18-HĐBT ngày 17/1/1992 của Hội đồng Bụ trưởng (nay là Chính phủ) quy định danh mục thực vật, động vật rừng quý, hiếm và c h ế độ bảo vệ đã chia thực vật, động vật rừng quý, hiếm làm hai nhóm trên cơ sở giá trị khoa học và kinh tế của chúng và đều có nguy cơ bị diệt chủng Từng nhóm này có những quy định bảo vệ khác nhau:
• N hóm 1 gồm những loài đặc hừu, có giá trị đặc biệt về khoa học
và kinh tế có trữ lượng và số lượng rất ít bị cấm khai thác, sử dụng Trong trường hợp đặc biệt cần sử dụng cây, con vật sống và sản phẩm của chúng phục vụ nghiên cứu khoa học hoặc yêu cầu
về quan hệ quốc tế phải được Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay
là Thủ tướng Chính phủ) cho phép theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp (nay là Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)
• N hóm 2 gồm những loài có giá trị kinh tế cao đang bị khai thác quá mức dẫn đến cạn kiệt thì hạn chế khai thác, sử dụng Hạn chế khai thác, sử dụng có nghĩa là phải theo quy định của kế hoạch hàng năm và có giấy phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Việc khai thác, sử dụng này phải tuân thủ đúng các quy trình,
Trang 28quy phạm kỹ thuật cửa Bộ N ông nghiệp và Phát triển nông thôn
Cấm xuất khẩu eỗ tròn và °ỗ sơ chế
• Trường hợp tổ chức, cá nhân tự bỏ vốn nuôi trồng thực vật, động vật rừng quý, hiếm thì được khai thác, sử dụng và tiêu thụ sản phẩm đối với thực vật rừng; đối với động vật rừng thuộc nhóm 1 chỉ được sử dụng với mục đích gây nuôi phát triển; đối với động vật rừng thuộc nhóm 2 thì ngoài gày nuôi phát triển còn được sử dụng động vật sống từ hai thế hệ trở đi Và chủ sở hữu phải chịu
sự quản lý của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tại địa phương
Về mặt dối tượng điều chỉnh, Nghị định số 18-HĐBT hẹp hưn so với Chỉ thị số 130-TTg Vì Nghị định này chỉ quy định cho các thực vật, động vật rừng quy, hiếm, còn Chỉ thị quy định tất cả loài thực vật, động quý, hiếm hao gồm cả ở rừng, ven biển, biển và ở vùng đất ngập nước
- Quản lý và kiểm soát các sinh vật đã biến đổi gien, các sinh vật lạ để tránh những tác động bất lợi cho môi trường, ảnh hưởng đến đa dạng" sinh học Trong nông nghiệp việc sử dụng sinh vật biến đổi gien khá phổ biến, đó là
sự Ihay thế cây trồng, vật nuôi được chãm sóc theo cách truyền thống bằng giống cây trổng, vật nuôi được tạo ra từ việc sử dụng những cách chăm sóc hiện đại Nhưng điều này dễ gây ra sự suy thoái nguồn gien, suy thoái đất
do tăng nhu cầu sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật Và một mối đe doạ nghiêm trọng khác nữa làm suy giảm đa dạng sinh học, suy giảm các loài bản địa, đó là sự du nhập của các loài ngoại lai (hay còn gọi là sinh vật lạ) Những loài sinh vật lạ này thường phát triển rất nhanh ở những vùng thích hợp Chúng cạnh tranh thức ăn và tiêu diệt các loài bản địa ở nước ta
đã và đang phải đối mặt với những tác hại của các sinh vật lạ như ốc bươu vàng, cây xấu hổ (hay cây trinh nữ) Hiện tại, việc quản lý và kiểm soát
Trang 29sinh vật biến đổi gien, sinh vật lạ chủ yếu căn cứ vào hệ thống các văn bản
pháp luật về kiểm dịch động vật, thực vật
Sinh vật gây hại được định nghĩa trong Pháp lệnh Bảo vệ và kiểm
dịch thực vật là "sâu bệnh, cỏ, cây, chuột, chim và các nguyên nhân sinh học khác lảm hại tài nguyên thực vật" (khoản 2, Điều 2) Tuy
nhiên, trong điện kiện hiện nay thì định nghĩa này không còn phù hợp nữa Nó chưa thể hiện những sinh vật gây hại còn có thể là sinh vật biến đổi gien, sinh vật lạ như đã trình bày ở trên Để đáp ứng yêu cầu quản lý
về kiểm dịch thực vật phù hợp với điều kiện thực tế, Bộ Nône nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Danh mục đối lượng kiểm dịch thực vật kèm theo Quyết định số 117/2000/QĐ/BNN-BVTV ngày 20/11/2000 Theo quyết định này thì những sinh vật có tiềm năng gây hại nghiêm trọng cho tài nguyên thực vật, chưa có trên lãnh thổ Việt Nam thuộc nhóm 1, còn những sinh vật có tiềm năng gây hại nghiêm trọng cho tài nguyên thực vật, phân bố hẹp trên lãnh thổ Việt Nam thuộc nhóm 2
Các văn bản pháp luật về bảo vệ và kiểm dịch thực vật, về thú y quy định các biện pháp phòng ngừa và loại bỏ sinh vật gây hại đối với tài nguyên thực vật, kiểm dịch động vật và các sản phẩm của chúng, quản lý thuốc và giống vi sinh vật dùng trong thú ý, Nhìn chung, việc quản lý và kiểm soát sinh vật lạ gây hại chủ yếu được quy định trong Pháp lệnh Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật, còn Pháp lệnh Thú y gần như không có những quy định về vấn đề này Để phòng ngừa, loại bỏ sinh vật gây hại, các văn bản này quy định:
• Kết hợp khoa học hiện đại với kinh nghiệm cổ truyền, bảo đảm
lợi ích chung của toàn xã hội Việc kết hợp này cũng được Côngước Đa dạng sinh học nhấn mạnh nhằm bảo vệ tính đa dạngnguồn gien cổ truyền đã tồn tại hàng nghìn năm nay Khi những
Trang 30kinh nghiệm cổ truyền bị mai m ột ui cũng có ng h ĩa là m ai m ột đi
một thư viện lớn các kiến thức đã được tích luỹ, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến việc bảo vệ tính đa dạng nguồn gien
• Khuyến khích các tổ chức, cá nhàn trong nước và ngoài nước đầu
tư cho việc phòng, trừ sinh vật gây hại tài nguyên thực vật; sản xuất kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật; đầu tư cho công tác thú ý
ở Việt Nam Các dự án đầu tư bảo vệ môi trưòng sinh thái thuộc nhóm các dự án đặc biệt được khuyến khích đầu tư với những chính sách thuế ưu đãi theo pháp luật về đầu trong nước, đầu tư nước ngoài
• Nghiêm cấm mọi hành vi gày hại đến tài nguyên thực vật, đến bảo vệ và phát triển động vật và môi trường sinh thái Trong đó, cấm sinh vật gây hại lây lan thành dịch, huỷ diệt tài nguyên thực vật
• Công tác phòng trừ sinh vật gây hại tài nguyên thực vật gồm: điều tra, phát hiện, dự báo, dự tính và thông báo thời gian phát sinh, mức độ gây hại của sinh vật; hướng dẫn biện pháp phòng ngừa, trừ diệt sinh vật gây hại; áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào việc phòng ngừa, trừ diệt sinh vật gây hại
• Quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của chủ tài nguyên, cơ quan bảo vệ và kiểm dịch thực vật trong việc phòng, trừ sinh vật gây hại cho tài nguyên thực vật
{ 2) Bảo vệ tính đa dạng giống, loài còn được quy định bởi hệ thống các văn
bản pháp luật về báo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản:
• Các tổ chức, cá nhân có quyền khai thác nguồn lợi thuỷ sản thiên nhiên theo quy định của pháp luật, được giao sử dụng các vùng nước ổn định lâu dài hoặc có thời hạn để nuôi trồng, khai thác thuỷ sản với các hình thức phù hợp nhằm bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản
Trang 31» Nghiêm cấm các hành vi huỷ hoại nguồn, lợi thuỷ sán, gây ô nhiễm môi trường; Cấm đánh bắt, tổ chức tiêu thụ các loài thuỷ sản có giá trị kinh tế cao, quý hiếm hoặc có nguy cơ tuyệt chủng trong danh mục các đối tượng cần bảo bảo vệ; Cấm khai thác ở khu vực bãi đẻ, nơi sinh sống tập trung của các loài thuỷ sản thời
kỳ còn bé, có sức bổ sung lớn cho khu vực
• Mức sản lượng, các đối tượng và các loại nghệ khai thác ở các vùng nước, các nghề và phương tiện khai thác do Bộ trưởng Bộ Thuỷ sản quy định
• Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thuỷ sản được hướng lợi
ích vật chất do công sức của mình làm ra, được quyền chuyển, nhượng, bán thành quả lao động, giá trị công sức của mình và có trách nhiệm bảo vệ, phát triển nguồn lợi thuỷ sản, nộp thuế và làm các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật
Báo vệ nguồn gien, giông cây trồng, vật nuôi nằm trong chiến lược toàn cầu nhằm mục đích bảo tồn, duy trì tính năng di truyền vốn có Khoa học
và công nehệ sinh học ngày càng phát triển đã tạo ra những giống mới có năng suất cao, nhưng bên cạnh đó những giống truyền thống năng suất không cao nhưng lại có nguồn gien quý Hiện nay, những văn bản hiện hành chính về bảo vệ nguồn gien, giống là Pháp lệnh Bảo vệ và Phát triển nguồn lợi thuỷ sản, Nghị định số 07/CP ngày 5/2/1996 của Chính phủ về quản lý giống cây trồng, Nghị định số 14/CP ngày 19/3/1996 của Chính phủ về quản lý giống vật nuôi, Quyết định số 582/NSY ngày 5/1/1987 của Chủ nhiệm Ưỷ ban Khoa học, Kỹ thuật (nay là Bộ KHCN&MT) ban hành Quy định tạm thời về nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan lưu giữ, sử dụng nguồn gien và giống thực vật, động vật và vi sinh vật, Quyết định số 2177/1997/QĐ-BKHCNMT ngày 30/12/1997 của Bộ trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường về việc ban hành Quy chế quản, lý và bảo tổn
Trang 32ng uồn gien thực vật, động vật và vi sinh vật Các văn bản này gồm các nội
duno chủ yếu như sau:
• Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan lưu giữ, sử dụng nguồn gien và giống thực vật, động vật và vi sinh vật
• Khẳng định nguồn gien thực vật, động vật và vi sinh vật là tài nguyên quốc gia và ý nghĩa quan trọng của việc bảo tổn nguồn gien này Nhà nước thống nhất quản lý các nguồn gien, giống cây trồng
• Quy định các hlnh thức bảo tồn, lưu giữ tài nguyên gien như: in- situ, ex-situ, on-farm, in vitro, in vivo Công nhận các hình thức bảo tổn này được tiến hành ở tất cả các thành phần kinh tế khác nhau dưới sự quản lý trực tiếp của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường
• Quy định nội dang công tác quản lý và bảo tồn lưu giữ nguồn gien, như: điều tra, khảo sát và thu thập nguồn gien; bảo quản lâu dài và an toàn các nguồn gien đã thu thập được; đánh giá các nguồn gien; tư liệu hoá các nguồn gien; trao đổi thông tin tư liệu nguồn gien
• Nhà nước khuyến khích (như giảm thuế, vay vốn, trợ giá ) và bảo hộ quyền lợi hợp pháp của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tiến hành các hoạt động bảo vệ và phát triển giống cây trồng, vật nuôi, đặc biệt là việc sản xuất hoặc nhập khẩu giống gốc, giống nguyên chủng; Nhà nước đầu tư vốn ngân sách cho các cơ quan đơn vị Nhà nước làm nhiệm vụ bảo tồn nguồn gien, chọn tạo và quản lý chất lượng cây trồng, vật nuôi và đào tạo cán bộ; Nhà nước lập quỹ giống dự phòng thiên tai một số cây trồng quan trọng
• Giống mới tạo ra, hoặc mới nhập khẩu trước khi đưa vào sản xuất phải qua khảo nghiệm, được xác định là có đặc tính di truyền, tính năng sản xuất ổn định Bộ Nông nghiệp và Phát triển nône
Trang 33thôn, hoặc Bộ Thuỷ sản auvết định đơn vị khảo nghiệm Kết quả khảo nghiệm do Bộ trưởng của một trong hai Bộ này (theo chức năng quản lý ngành) xem xét ra quyết định công nhận giống mới,
đưa vào sản xuất
• Bộ Thuỷ sản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quyết định danh mục giống và ban hành những quy định quản lỷ giống vật nuôi, cây trồng; Quy định danh mục giống vật nuôi quý, hiếm cấm xuất khẩu ra nước ngoài; Quy định danh mục giống cây trồng quý hiếm và quy chế quản lý việc trao đổi, khai thác, sử dụng nguồn gien trong danh mục này; Việc nkệp-xuất nhập khấu giống phải được sự chấp thuận của Bộ Thương mại và Bộ Thuỷ sản/hoặc Bộ Nông nghiệp
• Nghiêm cấm mọi hành vi sản xuất và buôn bán giống cây trồng giả, giống kém phẩm chất, giống bị lẫn, giống có mầm mống sâu bệnh và giống chưa được công nhận
• Quy định các điều kiện sản xuất, kinh doanh giống như: sản xuất đúng quy trình kỹ thuật, có giấy phép, đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh
- Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ được quy định tại Phần VI, Bộ luật Dân sự Theo Bộ luật này, một số các đối tượng sinh học và các quá trình sinh học, những đối tượng liên quan đến đa dạng sinh học, được bảo hộ theo nguyên tắc bảo hộ sáng chế/giải pháp hữu ích Nhìn chung, những đối tượng được bảo hộ đó rất rộng rãi, không chỉ công nghê sinh học mà bao gồm cả sản phẩm của công nghệ sinh học, thậm chí cả chủng vi sinh vật Tại Nghị định
số 07/CP ngày 5/2/1996 (Điều 10) và Nghị định số 14/CP ngày 19/3/1996 (Điều 25) đều quy định người tạo giống mới được đăng ký với Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, cơ quan quản lý Nhà nước về sở hữu công nghiệp, để giữ bản quyền theo quy định của pháp luật Riêng về bảo hộ giông cây trồng mới đã được quy định chi tiết tại Nghị định số
Trang 3413/2001/NĐ-CP n»àv 20/4/200! Nehị đinh này ỌIIV định các điều kiện.1 ' o J ' 1 0 7 J í •/trình tự và thủ tục cấp văn bằng bảo hộ giống cây trổng mới; Quyền lợi và nehĩa vụ của chủ sở hữu văn bằng bảo hộ và của tác giả giống cây trồng mới, theo đó tác giả giống cây trồng mới sẽ được trả mức thù lao tối thiểu không thấp hơn 20% số tiền làm lợi mà chủ sở hữu văn bằng bảo hộ thu được trong mỗi năm khai thác eiống cây trồng mới hoặc 30% tổng số tiền
mà chủ sở hữu văn bằng nhận dược trong mỗi lần nhận tiền thanh toán do hán lixăng hoặc do được đền bù từ việc cấp lixăno không tự nguyện (nếu không có thoả thuận gì khác) Quy định này đã khuyến khích hoạt động tạo giống hơn so với Nghị định 31/CP ngày 23/1/1981 ban hành Điều lệ về sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất và sáng chế (Nghị định số 31/CP quy định tác giả sáng chế giống mới được hưởng từ 5 - 10 triệu
đổng, như vậy không đủ bù đắp những chi phí mà tác giả đã bỏ ra để tạo'
giống mới)
Giống cây trồng không được bảo hộ theo nguyên tắc cấp bằng độc quyền Nếu cấp bằng độc quyền sẽ gây những bất lợi cho việc sản xuất nông nghiệp, mà bất lợi này ảnh hưởng lớn nhất đến người sản xuất nông nghiẹp VI chủ bằng độc quyền sẽ có quyền ngăn cấm nông dân sử dụng vật liệu nhân giống của giống được bảo hộ do minh cất giữ từ vụ trước để gieo trồng cho các vụ tiếp theo, đồng thời khống chế giá vật liệu nhân giống trên thị trường của mình, điều này sẽ làm tăng chi phí sản xuất của người nông dân Hơn nữa, chủ bằng độc quyền sẽ
có quyền ngăn cấm các nhà tạo giống sử dụng giống được bảo hộ làm vật liệu lai tạo để tạo ra giống mới khác, nên sẽ hạn chế hoạt động tạo giống mới Vì vậy, Nghị định số 13/2001/NĐ-CP đã quy định tại Điều
13 về những hạn chế quyền của chủ sở hữu văn bàng bảo hộ: "Vì lợi ích quốc gia hoặc lợi ích chung, cơ quan có thẩm quyền có th ể ra quyết định cấp lixăng không tự nguyện đ ể khai thác giống cây trồng mới đ ã được bảo hộ".
Trang 35Sở hữu trí tuệ và chuvển giao công nghệ có mối ouan hệ chặt chẽ với nhau Bảo đảm các quyền sở hữu công nghiệp đối với giống cây trồng, vật nuôi mới (sản phẩm của công nghệ sinh học), quyền sở hữu trí tuệ đối với kiến thức bản địa cũng có nghĩa là thúc đẩy quá trình chuyển giao cône nghệ sinh học Khoản 2, Điều 16, Công ước Đa
dạng sinh học đã ghi nhận: "Trong trường hợp công nghệ lệ thuộc vào các bằng sáng c h ế và các quyền sở hữu trí tuệ thì sự tiếp cận và chuyển giao đó s ẽ được thực hiện nếu thừa nhận và tuân theo sự bảo đảm có hiệu quả và thích đúng của các quyền sở hữu trí tuệ". Công
ước khuyến khích việc tiếp cận và chuyển giao công nghệ, đặc biệt là tạo điều kiện ưu đãi cho các nước đans phát triển để sử dụng bền vững
và bảo vệ đa dạng sinh học So với Pháp lệnh Chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam 1988, phạm vi điều chỉnh của Chương III, Phần VI Bộ luật Dân sự rộng hơn vì không những chỉ hoạt động chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam, mà còn cả hoạt động chuyển giao công nghệ trong phạm vi Việt Nam, từ Việt Nam ra nước ngoài Nội dung chuyển giao công nghệ được quy định tại Điều 4 Nghị định số 45/1998/NĐ-CP ngày 1/7/1998 của Chính phú quy định chi tiết về chuyển giao công nghệ bao gồm: chuyển giao các đối tượng
sở hữu công nghiệp, các bí quyết về công nghệ, các giải pháp hợp lý hoá sán xuất, đổi mới công nghệ, thực hiện các hình thức dịch vụ hỗ trợ chuyển giao công nghệ Tại Nghị định này cũng quy định những công nghệ không đáp ứng các yêu cầu trong các quy định của pháp luật Việt Nam về vệ sinh lao động, an toàn lao động, sức khoẻ lao động, bảo vệ môi trường thì không được tiến hành các hoạt động chuyển giao (Điều 5) Nội dung của hợp động chuyển giao công nghệ được quy định chi tiết tại Chương n của Nghị định 45/1998/NĐ-CP ngày 1/7/1998 và Thông tư số 1254/1999/TT-BKHCNMT ngày 12/7/1999 của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường hướng dẫn
Trang 36thực hiện Nghị định số 45/1998/NĐ-CP ngày 1/7/1998 của Chính phủ quy định chi tiết về chuyển giao công nghệ.
Nhữno quy định về việc chuyển giao công nghệ sẽ giúp cho chúng ta dễ dàng hơn trong quá trình hội nhập thương mại quốc tế, tránh được những tổn thất kinh tế, bảo vệ đa dạng sinh học Chẳng hạn như, với thành tựu của công nghệ sinh học đã tạo ra một loại giống chỉ nảy mầm một lấn, nếu như trong quá trình chuyển giao công nshệ, chúng ta khône nắm được thông tin đầy đủ về đặc tính của loại giống này thì dễ dẫn đến tình trạng mất an toàn về lương thực, gày tổn thất
về kinh tế là khỏ tránh khỏi Ân Đ ộ là nưức đầu tiên ra quyết định cấm
nhập loại giống chỉ nảy mầm một lần.26
1 2 - Các quy định của pháp luật vế bảo vệ đa dạng hệ sinh thái
Động, thực vật và các vi sinh vật là những thành phần sống của một hệ
sinh thái, chúng tác động qua lại lẫn nhau "Hệ sinh thái là một hệ thống các quần th ể sinh vật sống chung và phút triển trong một môi trường nhất định, quan hệ tương tác với nhau và với môi trường đó" (khoản 9, Điều 2 Luật Bảo
vệ môi trường) Mỏi kiểu hệ sinh thái (hệ sinh thái rừng, hệ sinh thái nông nghiệp, hệ sinh thái đô thị, hệ sinh thái đất ngập nước, hệ sinh thái ven biển, ) đều có những đặc tính môi trường tự nhiên riêng biệt, cấu trúc thành phần loài sinh vật, đặc điểm phân bố số lượng biến động theo mùa Trên cơ sở khoa học về phân loại hệ sinh thái, có thể thấy rằng việc bảo vệ đa dạng hệ sinh thái nằm rải rác ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau
Điều 12, Luật bảo vệ môi trường đưa ra một quy định rất chung về bảo
vệ hệ sinh thái, đó là: tổ chức, cá nhân có trách nhiệm bảo vệ các hệ sinh thái; khai thác nguồn lợi thuỷ sản phải theo đúng thời vụ, địa bàn, phương pháp và
26 T heo báo cáo của ô ng Trẫn L iên Phonư - Cục mởi rrườna sau khi tham dự H ội nghị các Bên C ông ước
Trang 37bằng công cụ, phương tiện đã được quv định không làm mất cân hằng sinh thái; khai thác rừng phải theo đún? quy hoạch và các quy định của Luật Bảo
vệ và Phát triển rừne
Các văn bản pháp luật hiện hành đề cập trực tiếp đến việc quản lý, bảo vệ
hệ sinh thái thường là các văn bản có phạm vi điều chỉnh hẹp, cho một hệ sinh thái cụ thể như: Hệ sinh thái ở vùng núi Ngọc Linh thuộc Tỉnh Gia Lai - Kon Tum (Quyết định số 119/TTg ngày 22/4/1980 của Thủ tướng Chính phủ); Hệ sinh thái đất ngập nước vùng Đồng Tháp Mười (Chỉ thị số 169/CT ngày 18/8/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng) Hai văn bản này quy định trách
nhiệm của Uỷ ban nhàn dân Tỉnh và của các bộ/ngành liên quan Các hệ sinh
thái này phải được quy hoạch và xây dựng các phương án bảo vệ đặc biệt
1 Hê sinh thái rừng là một trong những hệ sinh thái được bảo vệ bằng pháp
luật sớm nhất Nội dung chủ yếu của các văn bản pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng bao gồm:
■ Nghĩa vụ hảo vệ và phát triển ràng, bảo vệ môi trường sinh thái là của tất cả các tố chức, cá nhân
■ Mọi hành vi huỷ hoại tài nguyên rừng đều bị nghiêm cấm
■ Việc giao rừng cho tổ chức, cá nhân quản lý phái theo đúng quy hoạch, kế hoạch đã được duyệt
■ Ưỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tổ chức quản lý, bảo vệ, phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ và phát triển rừng; thực hiện các biện pháp bảo vệ, nuôi dưỡng, phát triển động, thực vật lửng, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất rừng
■ Chủ rừng phải có biện pháp phòng, chống cháy rừng, chịu trách nhiệm về việc gây ra cháy rừng; thực hiện các biện pháp phòng, trừ sâu bệnh gây hại rừng
Trang 38■ N g h iêm cấm khai thác, sử dụng các động, thực vật rừng đặc hữu có
giá trị đặc biệt về khoa học và kinh tế, có trữ lượng rất ít hoặc đangcó nguy cơ bị diệt chủng
■ Việc khai thác động, thực vật rừng phải theo quy định của cơ quan quản lý Nhà nước về quản lý, bảo vệ động, thực vật rừng; Xuất khẩu động, thực vật rừng phái dược phép của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
■ Trên cơ sở cấp phép của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, việc nhập giống động, thực vật rừng phải đảm bảo nguyên tắc sinh học và tuân thủ các quy định về kiểm dịch, không gây hại cho hệ sinh thái
■ Xây dựng các khu bảo tồn thiên nhiên để bảo tồn mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia, bảo tồn nguồn gien phục vụ nghiên cứu khoa' học, bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá, du lịch Những người tiến hành hoạt động trong khu rừng đặc dụng phải tuyệt đối tuân thủ các quy định về bảo vệ rừng đặc dụng, khi cần lấy mẫu để nghiên cứu khoa học phải được phép của cơ quan quản lý Nhà nước về lâm nghiệp
■ Cư quan lâm nghiệp trung ương, địa phương quy hoạch và xây dựng
hệ thống rừng quốc gia và khu vực để chọn, lai tạo, nhân giống, nhập nội các giống cần thiết để cấp giống cho sản xuất Việc khai thác các loại đặc sản ở rừng sản xuất phải tuân theo quy định về quản lý, bảo vê, phát triển và sử dụng đặc sản rừng của Nhà nước
Bảo vệ hệ sinh thái đất ngập nước được quy định tản mạn trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành như: Luật Đất đai, Luật Tài nguyên nước, Luật Bảo vệ và Phát triển ràng, Pháp lệnh Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Bảo vệ môi trường, mặc dù khái niệm "đất ngập nước" chưa được quy định cụ thể trong bất kỳ văn bản nào Các quy định về bảo vệ hệ sinh thái đất ngập nước có thể tìm thấy nhiều hơn ở các quyết định, chỉ thị của Thủ
Trang 39tướng Chính phủ điều chỉnh trực tiếp về đất ngập nước cho một số vùng điển hình, cụ thể.
Bảo vệ hệ sinh thái đất ngập nước được quy định gián tiếp qua việc bảo vệ và phát triển rừng, bảo vệ môi trường sinh thái trên cơ sở đó khai thác có tổ chức tiềm năng kinh tế - xã hội của vùng theo quy hoạch
và kế hoạch Nhà nước ở các vùng nước ven biển Ví dụ có thể tìm thấy những quy định này ở Chỉ thị số 12/TTg ngày 6/1/1996 của Thủ tướne Chính phủ về việc tiếp tục thực hiện nehiêm túc Quyết định số 432/TTg ngày 7/8/1995 để bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn và vùng bãi bồi huyện Ngọc Hiển, Tỉnh Minh Hải Trong các quy định pháp luật có liên quan gián tiếp đến bảo vệ hệ sinh thái đất ngập nước thì Luật Đất đai có vai trò rất quan trọng Điều 48, Luật Đất đai quy định: việc sử dụng đất
có mặt nước ven biển để sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, lâm' nghiệp phải đúng quy hoạch sử đụng dất đai đã được cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền xét duyệt, phải bảo vệ đất, làm tăng sự bồi tụ đất ven biển, bảo vệ hệ sinh thái và môi trường Những văn bản quy phạm pháp
luật về bảo vệ và phát triển n guồn lợi thuỷ sản có ảnh hưởng rất lớn đến
bảo vệ hệ sinh thái đất ngập nước Pháp lênh bảo vệ và Phát triển nguồn lợi thuỷ sản quy định tại Điều 8 các hành vi nghiêm cấm huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản, gây ô nhiễm môi trường, trong đó có nghiêm cấm phá rừng ngập mặn, rừng đầu nguồn, các rạn đá và san hô, các bãi thực vật ngầm và các sinh cảnh đặc biệt khác
Hàng loạt các văn bản pháp luật có những quy định liên quan đến bảo vệ môi trường trong hoạt động giao thông thuỷ (Điều 30 Luật Tài nguyên nước, Điều 19 Nghị định số 40/CP ngày 5/7/1996 của Chính phủ về đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường thuỷ nội địa ), trong hoạt động du lịch (Điều 2, Điều 16 Pháp lệnh Du lịch) đều góp phần bảo vệ hệ sinh thái đất ngập nước
Nhìn chung, hoạt động có tác động trực tiếp đến việc bảo vệ hệ sinh thái đất ngập nước là lập và thẩm định báo cáo đánh giá tác động
Trang 40môi trường Báo cáo đánh °iá tác đổn° mỏi tmờnẹ là một cơ sở khoa học để các nhà quản lý, hoạch định chính sách đưa ra các quyết định hợp lý làm giảm tác động của các dự án có ảnh hưởng đến hệ sinh thái đất ngập nước Các quy định về lập và thẩm định Báo cáo đánh giá tác động môi trường được quy định tại Điều 17, 18 Luật Bảo vệ Môi trường, Chương III Nghị định 175/CP ngày 18/10/1994 hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường, và một số thông tư khác hướng dẫn về lập và thẩm định Báo cáo đánh giá tác động môi trường.
Bảo vệ hệ sinh thái, tính đa dạng sinh học của biển cần là trọng tâm để xem xét quyết định đối với các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên và phát triển kinh tế Hiện nay, chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào quy định trực tiếp, cụ thể về bảo vệ hệ sinh thái, bảo vệ đa dạng sinh học' biển, mà chỉ quy định gián tiếp qua một số văn bản về bảo vệ môi trường biển và những quy định về bảo vệ môi trường trong các văn bản khác thông qua việc ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển Tuyên bố Chính phủ ngày 12/5/1977 về các vùng biển Việt Nam đã khẳng định: nước CHXHCN Việt Nam có thẩm quyền bảo vệ môi trường, chống ô nhiễm trong vùng đặc quyền kinh tế Tàu thuyền nước ngoài phải áp dụng đầy đủ các biện pháp chống, ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển, cấm vứt chất thải, chất độc hại gây ô nhiễm môi trường sống ở các vùng biển và đất liền của Việt Nam (Nghị định số 30/CP ngày 29/11/1980 về hoạt động của người và phương tiện nước ngoài trong các vùng biển Việt Nam) Các hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí ở các vùng biển Việt Nam phải
tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường (Điều 4, 5, 6 ,1 , 13 Luật Dầu
khí, Quyết định số 395/1998/QĐ-BKHCNMT ngày 10/4/1998 của Bộ trưởng Bộ KHCN&MT về việc ban hành Quy chế Bảo vệ môi trường trong việc tìm kiếm, thăm dò, phát triển mỏ, khai thác, tàng trữ, vận chuyển, chế biến dầu khí và các dịch vụ liên quan ) Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản, bảo vệ môi trường trong hoạt động giao thông ở các vùng biển