1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng và hoàn thiện mô hình pháp lý công ty mẹ công ty con ở việt nam

101 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 10,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ sỏ pháp lý của việc hình thành quan hệ công ty mẹ - công ty con Khi nền sản xuất hàng hoá phát triển đến m ột mức độ nhất định, các nhà kinh doanh đã liên kết với nhau để đáp ứng nhu

Trang 2

V À PHÁP LUẬT LUẬT HÀ NỘI ■ ■

Trang 3

SỐ TT Ký hiệu Nội dung

Trang 4

MUC LUC• •

LỜI MỞ ĐẦU

C H Ư Ơ N G 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ MÔ HÌNH PHÁP LÝ “CÔNG TY

MẸ- CÔNG CON”

1.1 Khái niệm mô hình pháp lý công ty mẹ - công ty con

1.1.1 Cơ sở pháp lý của việc hình thành quan hệ công ty mẹ -

công ty con

1.1.2 Bản chất của quan hệ công ty mẹ - công ty con

1.1.3 Đặc điểm quan hệ công ty mẹ - công ty con

1.1.4 Định nghĩa mô hình pháp lý công ty mẹ - công ty con

1.2 Đối tượng áp dụng thí điểm mô hình công ty mẹ - công

ty con

1.2.1 Vai trò chủ đạo và yêu cầu đổi mới nâng cao hiệu quả

hoạt động của doanh nghiệp nhà nước

1.2.2 Trình độ, quy mô tổ chức quản lý hoạt động sản xuất-kinh

doanh của doanh nghiệp nhà nước

1.2.3 Định hướng chiến lược và quy hoạch phát triển ở một số

ngành, lĩnh vực

1.3 Lý do, mục đích xây dựng mô hình pháp lý công ty mẹ

- công ty con hiện nay

1.3.1 Lý do xây dựng mô hình pháp lý công ty mẹ - công ty

con

1.3.2 Mục đích của việc chuyển Tổng công ty, doanh nghiệp

nhà nước quy mô lớn sang hoạt động theo mô hình công

ty mẹ - công ty con

1.4 So sánh mô hình công ty mẹ - công ty con với mô hình

tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước độc lập quy mô

Trang 5

công ty con

1.5.1 M ột số dạng mô hình công ty mẹ - công ty con qua kinh

quốc tế

1.5.2 M ột số kinh nghiệm quốc tế về tổ chức và hoạt động của

các tập đoàn kinh tế theo mô hình công ty mẹ - công ty

con (trên cơ sở so sánh các dạng tập đoàn)

CHƯƠNG 2: T ổ CHỨC, QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP HOẠT ĐỘNG THEO MÔ HÌNH

PHÁP LÝ CÔNG TY MẸ - CÔNG TY CON

2.1 \ Tổ chức, quản lý của công ty mẹ

2.1.1 Cơ cấu tổ chức của công ty mẹ

2.1.2 Cơ chế quản lý, điều hành công ty mẹ

2.2 i Tổ chức, quản lý công ty con

2.2.1 Cơ cấu tổ chức của công ty con (phân theo loại hình

doanh nghiệp)

2.3 Quan hệ giữa công ty mẹ vói các công ty con

2.3.1 Quan hệ giữa công ty mẹ với công ty con nhà nước

2.3.2 Quan hệ giữa công ty mẹ với công ty con là công ty

TNHH một thành viên

2.3.3 Quan hệ giữa công ty mẹ và công ty con có cổ phần, vốn

góp chi phối của công ty mẹ

2.3.4 Quan hệ giữa công ty mẹ và các doanh nghiệp là công ty

có cổ phần đặc biệt và các dạng liên kết doanh nghiệp

khác

2.4 Q uan hệ giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và

doanh hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con

2.4.1 Quan hệ quản lý nhà nước theo quy định của pháp luật

2.4.2 Quan hệ giữa đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước tại

doanh nghiệp

Trang 6

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG XÂY DựNG VÀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ T ổ CHỨC 7 9

VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY MẸ - CÔNG TY CON

3.1 Phương hướng chung của việc xây dựng và hoàn thiện 79

pháp luật về tổ chức và hoạt động của công ty mẹ

-công ty con

3.1.1 Cần xây dựng một Quy chế chuyển tổng công ty và doanh 79

nghiệp nhà nưóc sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ -

công ty con

3.1.2 Các Bộ ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Quy chế 83

chuyển tổng công ty và doanh nghiệp nhà nước sang hoạt

động theo mô hình công ty mẹ - công ty con

3.1.3 Tổ chức và vận hành cơ chế kiểm tra, giám sát việc thực 87

hiện Quy chế chuyển tổng công ty và doanh nghiệp nhà

nước sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con

3.2 Những kiến nghị về việc xây dựng và hoàn thiện pháp 90

luật về tổ chức và hoạt động của công ty mẹ - công ty con

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 9 8

SO Đ ổ

Sơ đồ 1: Tổ chức Tổng cồng ty Hàng không Việt Nam trước khi 34

thí điểm mô hình mới

Sơ đồ 2: Tổ chức Tổng công ty Hàng không Việt Nam sau khi hoàn 35

chỉnh mô hình Công ty mẹ - Công ty con

Sư đồ 3: Các mức độ liên kết trong mô hình Công ty mẹ - Công ty con 37

Sơ đồ 4: Mô hình tập đoàn Lufthansa Ag (Tr ) 39

Trang 7

LỜI NÓI Đnu

1 TÍNH C Ấ P THIẾT C Ủ A VIỆC NGHIÊN c ứ u D Ề TÀ !

Đại hội lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam (1986) đã mở đầu cho công cuộc đổi mới và phát triển toàn diện doanh nghiệp nhà nước Từ đây, đổi mới doanh nghiệp nhà nước được đặt trong tổng thể đổi mới nền kinh tế nói chung Cho đến nay, doanh nghiệp nhà nước đã trải qua nhiều đợt sắp xếp lại và đang dần dần thích ứng với cơ chế mới, đóng góp tích cực vào

sự phát triển của nền kinh tế, chi phối các ngành, các lĩnh vực then chốt và sản phẩm thiết yếu, thực hiện vai trò ổn định phát triển kinh tế-xã hội của đất nước ta

Để thực hiện được mục tiêu tiến hành đổi mới nhằm nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nưóc trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, đã có nhiều văn bản pháp quy về đổi mới cơ chế, chính sách quản lý vĩ mô được ban hành trong các lĩnh vực như: kế hoạch hoá, tiền lương, tài chính, tín dụng v.v Đổng thời, Nhà nước cũng quan tâm đổi mới tổ chức quản lý doanh nghiệp nhà nước theo hướng tăng cường quyền tự chủ và tự chịu trách nhiêm của doanh nghiệp nhà nước, giảm bói sự can thiệp trực tiếp của các cơ quan quản lý và điều hành sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Một số mô hình tổ chức quản lý doanh nghiệp nhà nước

đà được áp dụng như: mô hình doanh nghiệp nhà nước có HĐQT được áp dụng cho các Tổng công ty thành lập theo Quyết định 90/Ttg và 91/TTg ngày 7-3-1994 của Thủ tướng Chính phủ và mô hình doanh nghiệp nhà nước không có HĐQT áp dụng cho các doanh nghiệp nhà nước độc lập và doanh nghiệp nhà nước thành viên hạch toán độc lập thuộc các Tổng công ty Nhờ vậy, bước đầu đã đạt được những kết quả nhất định trong việc ổn định và phát triển nền kinh tế Tuy nhiên, trong quá trình vận hành, việc thực hiện các mô hình tổ chức quản lý đang bộc lộ một số mặt hạn chế gây ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Kết quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước vẫn còn chưa tương xứng với tiềm năng và nguồn lực được nhà nưóc giao

Tinh hình thực tiễn trên đã đặt ra nhiều yêu cầu đòi hỏi Nhà nước ta cần nghiên cứu hoàn thiện các mô hình tổ chức quản lý hiện hành để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là các tổng công ty hay các doanh nghiệp nhà nước độc lập quy mô lớn thực sự là chủ thể kinh doanh trên thị trường Khắc phục một phần những hạn chế này, trong thời gian gần đây Đảng và Nhà nước đã có chủ trương cho phép một số doanh nghiệp thực

Trang 8

hiện thí điểm mô hình tổ chức quản lý mới (ví dụ: mô hình Chủ tịch HĐQT

và Tổng giám đốc là một người ở Tổng công ty công nghiệp tàu thuỷ Việt

Nam) Đặc biệt, Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ ba (khoá IX) đã chủ trương tiến hành thí điểm, rút kinh nghiệm để nhân rộng việc thực hiện chuyển tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước độc lập quy mô lớn sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con Có thể coi đây là một trong những giải pháp quan trọng để khắc phục được những nhược điểm

và tiếp tục cải cách, củng cố vị trí của doanh nghiệp nhà nước trong giai đoạn hiện nay Những lý do để tiến hành hoạt động này là:

Thứ nhất: nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhà nước để thực hiện vai trò nòng cốt và then chốt trong nền kinh tế

Thứ hai: việc tổ chức, quản lý và tổ chức sản xuất kinh doanh theo mô hình công ty mẹ - công ty con là phù hợp vói sự phát triển của doanh nghiệp hoạt động trong giai đoạn hiện nay

Thứ ba: việc đổi mới tổ chức quản lý là nhu cầu bức xúc và cần thiết của các doanh nghiệp nhà nước hiện nay nhằm đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập khu vực và thế giới

Như vậy, việc thực hiện thí điểm mô hình pháp lý công ty mẹ - công

ty con sẽ góp phần khắc phục được những bất cập trong tổ chức quản lý và

Cơ chế hoạt động của doanh nghiệp nhà nước Đây là mô hình tổ chức doanh ngiệp đáp ứng được nhu cầu phát triển của doanh nghiệp trong giai đoạn tới Tim hiểu những cơ sở lý luận và thực tiễn cũng như một số quy định cụ thể

về mô hình công ty mẹ - công ty con để từ đó đưa ra những giải pháp thích hợp để xây dựng và hoàn thiện mô hình pháp lý công ty mẹ - công ty con là một vấn đề hết sức cần thiết nhằm góp phần thực hiện chủ trương đổi mới và sắp xếp doanh nghiệp của nhà nước hiện nay Chính vì vậy mà chúng tôi chọn vấn đề “Xây dựng và hoàn thiện mô hình pháp lý công ty mẹ - công ty con” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học Luật, chuyên ngành Luật Kinh

2 TÌNH HÌNH NGHIÊN cứu Đ Ề TÀI

Cho tới nay, chúng ta vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu đề cập một cách có hệ thống về những quan niệm cơ bản của mô hình công ty mẹ- công ty con cũng như những quy định cụ thể về tổ chức, quản lý các doanh nghiệp hoạt động theo mô hình này Một số công trình nghiên cứu khoa học mới chỉ tập trung vào nghiên cứu các tập đoàn kinh tế, mà thực chất mô hình công ty mẹ - công ty con là một trong những hình mẫu phổ biến về quan hệ

Trang 9

liên kết, tập trung sức mạnh kinh doanh nhằm hình thành tập đoàn kinh tế

Sở dĩ có tình trạng như vậy là bởi hiện nay, chủ trương thí điểm mô hình công ty mẹ-công ty con ở một số tổng công ty và doanh nghiệp nhà nước độc lập quy mô lớn mới thực hiện ở giai đoạn đầu Trong thực tế, các quan hệ pháp lý cơ bản về công ty mẹ, công ty con vẫn chưa được xác định rõ ràng và hoàn chỉnh Vì vậy, việc nghiên cứu những vấn đề pháp lý liên quan đến mô

hình công ty mẹ-công ty con hiện nay mới chỉ ở những bước ban đầu.

Mặc dù vậy, trong thời gian gần đây, một số doanh nghiệp nhà nước thực hiện thí điểm mô hình công ty - mẹ công ty con cũng đã có một số nghiên cứu rất cần thiết cho việc nhận thức về mồ hình này, thể hiện qua một

số đề án của các doanh nghiệp tiến hành chuyển đổi như Tổng công ty Hàng không, Tổng công ty hàng hải Với việc làm sáng tỏ một số vấn đề thực tiễn

và lý luận về mô hình công ty mẹ-công ty con, đề tài đã đưa ra và bước đầu giải quyết một số vấn đề chủ yếu nhằm cụ thể hoá, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện mô hình công ty mẹ-công ty con trong nền kinh tế thị trường ở nưóc ta trong giai đoạn hiện nay

3 M Ụ C ĐÍCH, ĐỐI TƯỢ N G, PH ẠM VI NGHIÊN ■ ■ ■ ■ cứu ĐỂ TÀI

“ Xây dựng và hoàn thiện mô hình pháp lý công ty mẹ-công ty con ở Việt N am ” là một đề tài nghiên cứu rất mới mẻ và phức tạp, vì vậy mục đích của viêch nghiên cứu đề tài là nhằm đưa ra một số luận điểm khoa học về việc thiết lập và tiếp tục hoàn thiên các quy định của pháp luật về mô hình công ty mẹ - công ty con ở nước ta hiện nay

Xuất phát từ mục đích nghiên cứu của đề tài và do điều kiện thời gian

có hạn nên chúng tôi chỉ nghiên cứu mô hình pháp lý công ty mẹ-công ty con dưới góc độ chung nhất về những cơ sở lý luận và thực tiễn của mô hình công ty mẹ-công ty con, những quy định cụ thể về tổ chức quản lý của mô hình công ty mẹ công ty con Thông qua việc nghiên cứu đề tài, tác giả đưa

ra những điểm mới của mô hình công ty mẹ-công ty con so với những quy định của pháp luật hiện hành về mô hình tổ chức đang được áp dụng cho các doanh nghiệp nhà nước (mà cụ thể ở đây là các Tổng công ty và doanh nghiệp nhà nước độc lập quy mô lớn) Từ đó tác giả luận văn đề xuất, kiến nghị những hướng cơ bản cho việc xây dựng và hoàn thiện mô hình công ty mẹ-công ty con trong thời gian tới

4 PHƯƠNG P H Á P NGHIÊN cứu Đ Ể TÀI:

Để nghiên cứu đề tài, chúng tôi đã vận dụng tổng hợp phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, các phương pháp phân tích, so sánh,

Trang 10

tổng hợp, kết hợp lý luận với thực tiễn Ngoài việc nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành và các kết quả nghiên cứu của một số tác giả trong nước, chúng tôi còn tham khảo các tư liệu của nước ngoài nhằm xem xét, đánh giá và so sánh từ đó tìm ra những cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc nghiên cứu đề tài.

5 Ý NGHĨA K H O A HỌC V À T H ự C TIEN c ủ a l u ậ n v ă n

Có thể nói, đây là một trong những công trình đầu tiên nghiên cứu về

mô hình pháp lý công ty mẹ-công ty con trong điều kiện Chính phủ đang có chủ trương thí điểm thực hiện mô hình này tại Việt Nam Luận văn góp phần vào việc xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoàn thiện các quy định

về mô hình công ty mẹ-công ty con, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho doanh nghiệp nhà nước thực hiện thí điểm mô hình mới hoạt động và phát triển, đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường, nâng cao hiệu quả quản lý của nhà nước đối với các doanh nghiệp Những kết quả nghiên cứu của luận văn có thể coi là một trong những tài liệu tham khảo bổ ích cho những độc giả có nhu cầu tìm hiểu mô hình pháp lý công ty mẹ-công ty con

6 C ơ C Ấ U C Ủ A LU Ậ N VĂ N :

Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn bao gồm 3 chương:

Chương I: Những vấn đề lý luận chung về mô hình pháp lý “Công ty mẹ

Do điều kiện thời gian và nguồn tư liệu có hạn, trình độ lý luận và kinh nghiệm thực tế của bản thân còn hạn chế nên Luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót Chúng tôi rất mong nhận được sự góp ý và giúp đỡ của thầy

cô giáo, độc giả và bạn bè đồng nghiệp nhằm hoàn thiện việc nghiên cứu đề tài này

Trang 11

CHƯƠNG 1 NHỮNG V Ấ N Đ Ể LÝ LU Ậ N C H U N G V Ề M Ô HỈNH P H Á P LÝ

" C Ô N G T Y M Ẹ - C Ô N G T Y C O N "

1.1 KHÁI NIỆM MÔ HÌNH PHÁP LÝ CÔNG TY MẸ - CÔNG TY CON 1.1.1 sỏ pháp lý của việc hình thành quan hệ công ty mẹ - công ty con

Khi nền sản xuất hàng hoá phát triển đến m ột mức độ nhất định, các nhà kinh doanh đã liên kết với nhau để đáp ứng nhu cầu về vốn nhằm thực hiện mục đích mở mang hoạt động kinh doanh của mình và cũng để chia sẻ rủi ro trong các vụ đầu tư Sự tin tưởng vào các mối quan hệ làm ăn lâu dài được chuyển hoá thành các hình thức tổ chức kinh doanh dựa trên sự hùn chung vốn mà ban đầu là hội buôn hợp danh, được gọi là Công ty (company) với nghĩa gốc ban đầu là hội các chiến hữu - bằng hữu (xuất phát từ từ

companion là chiến hữu, bằng hữu- tiếng Latin là compainis) Khi hai hay

nhiều người góp vốn để hình thành một liên kết mang tính tổ chức nhằm cùng nhau tiến hành hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận tức là họ đã thành lập một công ty Công ty là mô hình tổ chức được hình thành, phát triển phù hợp quy luật và đòi hỏi tự thân của nền kinh tế thị trường về trình độ tổ chức và quản

lý vốn đầu tư Ngay từ khi ra đời, nó đã tạo được sự hấp dẫn với những người kinh doanh và sau đó không ngừng được cải tổ, phái sinh ra nhiều loại hình nhằm góp phần hạn chế những rủi ro cho các doanh nhân trong điều kiện các quan hệ kinh tế càng trở nên phức tạp Các công cụ cho phép thực hiện quyền

sở hữu, sử dụng vốn trong chế định công ty như cổ phiếu, trái phiếu, họp đồng góp vốn V.V cũng chính là những phương tiện pháp lý quan trọng nhất để phân định, xử lý các quan hệ về quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên cùng tham gia hùn hạp

ở đây, cần phải kể đến tác động của quá trình công nghiệp hoá, cùng với sự phát triển của hệ thống ngân hàng, thị trường tài chính trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản công nghiệp (cuối thế kỷ 18 đến khoảng 1870) đã thúc đẩy

sự di chuyển một cách linh hoạt các luồng vốn của chủ sở hữu ở các doanh nghiệp khác nhau nhằm tìm kiếm lợi nhuận và phân chia rủi ro Tuy nhiên, trong khi nãng lực quản lý, điều hành của chủ doanh nghiệp là có hạn về quy

mô tổ chức một cơ cấu sản xuất - kinh doanh thì nhu cầu tăng vốn đầu tư kiếm lời là không có giới hạn Bên cạnh đó, bản thân chủ doanh nghiệp cũng chỉ có thể chuyên kinh doanh trong một vài lĩnh vực trong khi họ lại cần mở rộng phạm vi ngành nghề kinh doanh để phân tán rủi ro Những mâu thuẫn

Trang 12

này chỉ có thể được giải quyết thông qua việc doanh nghiệp tự mình đưa vốn (vốn tự có hoặc vốn vay) vào sản xuất - kinh doanh ở một địa bàn hoặc một ngành nghề nhất định trong khuôn khổ việc thành lập doanh nghiệp mới theo các hình thức mà pháp luật quy định hoặc mua lại để điều hành doanh nghiệp

đã có sẵn từ chủ sở hữu khác Với việc thực hiện hành vi đầu tư trực tiếp này, một doanh nghiệp đã thực hiện quyền chi phối, kiểm soát của mình đối với doanh nghiệp khác dựa trên quyền sở hữu về vốn (theo tỷ lệ mức vốn góp trong doanh nghiệp) và tạo nên một quan hệ liên kết chặt chẽ và bền vững giữa doanh nghiệp đầu tư và doanh nghiệp nhận vốn đầu tư Một doanh nghiệp với tư cách chủ sở hữu của doanh nghiệp khác có thể bỏ ra toàn bộ vốn

đầu tư hoặc hùn vốn với nhiều nhà đầu tư khác (đổng chủ sở hữu) Quyền chi

phối, kiểm soát hay thâu tóm doanh nghiệp này được ví như trong quan hệ giữa người mẹ đối với con Như vậy, về mặt cơ sở pháp lý, việc nhìn nhận một quan hệ công ty mẹ - công ty con phải xuất phát từ địa vị pháp lý của doanh nghiệp thuộc một trong số các loại hình pháp luật quy định, cho phép nó được thực hiện quyền đầu tư để trở thành chả sở hữu tại doanh nghiệp khác có vốn đầu tư của nó Tuy nhiên, trước hết chúng ta cần làm rõ từng đối tượng là công ty mẹ và công ty con trong mối quan hệ này

Công ty mẹ

Công ty mẹ là doanh nghiệp được thành lập, đăng ký hoạt động theo quy chế pháp lý của một số loại hình doanh nghiệp, thực hiện việc nắm giữ toàn bộ (100%) vốn điều lệ hoặc nắm giữ cổ phần (hoặc vốn góp) ở mức chi phối (>50%) ở một hoặc nhiều công ty khác, được gọi là công ty con của công ty này Sở hữu về vốn của công ty mẹ ở công ty con là cơ sở vững chắc duy nhất cho việc tạo ra quyền lực hợp pháp của công ty mẹ nhằm chi phối công ty con Quyền lực của công ty mẹ thể hiện ở hai quyền cơ bản sau đây:

- Quyền quyết định hình thức tổ chức của công ty con cho phù hợp với các mục tiêu phát triển trong các ngành, lĩnh vực cụ thể Ví dụ, công ty

mẹ có thể quyết định công ty con là công ty TNHH một chủ sở hữu duy nhất

là công ty mẹ, nếu bản thân nó muốn quyết định và hưởng dụng toàn bộ kết quả sản xuất - kinh doanh của công ty con (có thể có những lợi thế, hoặc ưu thế đặc biệt về địa bàn, sản phẩm có thương hiệu mang tính độc quyền) Trong trường hợp công ty mẹ thấy cần phải chia sẻ rủi ro cũng như lợi nhuận cho m ột số nhà đầu tư khác, nó có thể quyết định chuyển đổi công ty con thành hình thức công ty cổ phần

- Quyền quyết định của công ty mẹ về nhân sự chủ chốt của công ty con (như thành viên Hội đồng quản trị và Giám đốc) Đây là yếu tố tạo tiền đề cho sự can thiệp gián tiếp vào định hướng chiến lược phát triển, cách thức tổ

Trang 13

chức, quản lý sản xuất - kinh doanh, cơ cấu chi tiêu, thị trứờng tiêu thụ, đối tác làm ăn v.v của công ty con.

Cần lưu ý là khi thiết kế quan hệ công ty mẹ - công ty con cho các Tổng công ty nhà nước và doanh nghiệp nhà nước độc lập quy mô lớn ở nước

ta, người ta có xu hướng nhìn nhận quyền chi phối việc quyết định chiến lược,

kế hoạch đầu tư, phát triển của công ty con là một quyền chi phối độc lập thứ

ba của công ty mẹ, như hai quyền nêu trên Điều này cho thấy rõ ràng có sự ảnh hưởng từ thực tế hiện tại, khi mà quan hệ giữa Tổng công ty và doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn với các đơn vị thành viên là quan hệ mang nặng tính chất kế hoạch hoá giữa các cấp hành chính - mệnh lệnh (Tổng công ty phê duyệt các kế hoạch, chỉ tiêu - định mức sản xuất - kinh doanh của đơn vị thành viên) Thực chất là khi đã chuyển thành quan hệ công ty mẹ - công ty con thì công ty mẹ chỉ có quyền chi phối gián tiếp về mặt chiến lược, kế hoạch mà thôi vì về phương diện pháp lý cả “m ẹ” lẫn “con” đều độc lập và bình đẳng với nhau về tư cách pháp nhân (đặc điểm nêu trong Mục 1.1.2 dưới đây)

Ngoài sự chi phối giữa chúng trong quan hệ sở hữu, thông thường công ty mẹ còn có thể chi phối công ty con bằng các phương thức liên kết khác, tuỳ theo dạng mô hình công ty mẹ - công ty con cụ thể Trong nhiều trường hợp, công ty mẹ nắm khâu then chốt nhất, có công nghệ tiến tiến nhất trong một dây chuyền sản xuất - kinh doanh hoặc cũng có thể uy tín và thương hiệu sản phẩm trên thị trường của công ty mẹ là điều kiện kinh doanh

mà công ty con không thể tách rời để duy trì sự tồn tại và phát triển của mình

Công ty con

Công ty con là doanh nghiệp mà vốn điều lệ của nó do một công ty khác nắm giữ ở mức chi phối (từ >50% đến 100%) Như vậy, để là một công

ty con thì phần lớn hoặc toàn bộ sở hữu vốn của một công ty không thể thuộc

về một hoặc nhiều chủ sở hữu có tư cách pháp nhân thuần tuý mà phải thuộc \

về một doanh nghiệp “M ẹ” và “con” đều được nhìn nhận trên cùng một mặt bằng pháp lý là tư cách pháp nhân của doanh nghiệp Các doanh nghiệp là công ty con tham gia vào quan hệ công ty mẹ - công ty con này là những đơn

vị có tư cách pháp nhân, có thể là các loại hình doanh nghiệp sau đây:

1 Công ty TNHH một thành viên do công ty mẹ là chủ sở hữu duy nhất (nắm 100% vốn điều lệ)

2 Công ty TNHH từ hai thành viên trở lên hoặc công ty cổ phần: được hình thành trên cơ sở góp vốn của công ty mẹ với một số tổ chức cá nhân khác được pháp luật cho phép

Đ ộ n g Thu Thuỷ/Luộn v â n T h ạc sĩ Luột/2003

V

Trang 14

3 Công ty liên doanh là công ty do công ty mẹ nắm giữ tỷ lệ vốn góp chi phối hợp tác đầu tư với các tổ chức, cá nhân đầu tư nước ngoài hoặc doanh

nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài theo quy định của pháp luật về đầu

tư trực tiếp nước ngoài

Về cơ bản, đối vói các công ty con là công ty TNHH từ hai thành viên

trở lên và công ty liên doanh thì công ty mẹ nắm giữ ở mức trên 50% vốn

điều lệ Tuy nhiên, trong m ột số trường hợp cần thiết, pháp luật có thể quy

định sở hữu vốn của công ty mẹ ở công ty con dưới mức 50% Nhưng phải từ

mức có cổ phần hoặc vốn góp đặc biệt trở lên (gấp đôi cổ đông lớn nhất,

thường là trên 30% vốn điều lệ) và kèm theo những điều kiện kinh doanh đặc

biệt mà công ty con bị ràng buộc chặt chẽ và không thể tách rời sự chi phối

của công ty mẹ Các điều kiện đó pháp luật quy định hoặc trong điều lệ của

công ty mẹ được công ty con chấp thuận (điều đó có thể so sánh với quan hệ

giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi - dựa trên một sự đồng tình và phải được pháp

luật thừa nhận)

Ngoài ra, khi nghiên cứu, xem xét mô hình công ty mẹ - công ty con

áp dụng đối với Tổng công ty hoặc doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn hoạt

động theo Luật Doanh nghiệp nhà nước, người ta cũng đặt ra khả năng coi các

doanh nghiệp nhà nước đang trong giai đoạn quá độ chò sắp xếp, chuyển đổi

loại hình là công ty con, cho dù quan hệ giữa chúng chưa thực sự được chuyển

hoá về bản chất thành quan hệ sở hữu vốn

1.1.2 Bản c h ố t củ a quan hệ cô n g ty m ẹ - cô n g ty con

Qua việc nghiên cứu các khái niệm: công ty mẹ, công ty con, có thể

đi đến kết luận ra sao về bản chất của quan hệ công ty mẹ - công ty con - đặc

tính cơ bản, xuyên suốt và m ang ý nghĩa quyết định đối với sự duy trì mối

quan hệ này? Đây thực sự là m ột quan hệ mang bản chất kinh tế-pháp lý xuất

hiện khi m ột công ty có nhu cầu tổ chức phát triển sản xuất-kinh doanh để thu

lợi nhuận bằng cách thiết lập quan hệ sở hữu về vốn và tài sản của nó ở một

hoặc nhiều công ty khác ở mức từ trên 50% đến 100% vốn điều lệ (tức liên kết

về tài sản, về quyền và nghĩa vụ đối với tài sản) Sự liên kết này cho phép một

công ty tạo ra m ột sự chi phối vừa đủ cho đến tuyệt đối nắm quyền kiểm soát

hoàn toàn công ty khác theo định hướng, ý đồ tổ chức triển khai sản xuất -

kinh doanh của mình Ngoài ra, quan hệ này cũng ít nhiều m ang tính chất liên

kết x ã hội, thể hiện ở những hình thức, phương pháp liên kết khác được công

ty mẹ khai thác, tổ chức thực hiện như bằng các hợp đồng kinh tế nhằm mục

đích chuyển giao công nghệ, hỗ trợ đào tạo và tư vấn kỹ thuật, cho vay đầu tư,

thầu lại cũng như các quy ước (chính thức và ngầm) về phân chia thị trường

Trang 15

cung ứng nguồn ỉực đầu vào hoặc sản phẩm dịch vụ đầu ra v.v giữa công ty

mẹ với một nhóm các công ty con

Việc xác định bản chất của quan hệ công ty mẹ - công ty con cho phép chúng ta rút ra kết luận như sau:

- Các liên kết doanh nghiệp chỉ thuần tuý dựa trên phương pháp hành chính - mệnh lệnh hoặc thông qua phương pháp bình đẳng, thoả thuận (hợp đồng với nhau) không đủ điều kiện để trở thành quan hệ công ty mẹ - công ty con, mặc dù về hình thức liên kết bề ngoài có vẻ như vậy (chẳng hạn giữa Tổng công ty và các đơn vị thành viên)

- Nhận thức về sự hình thành tập đoàn kinh tế là qúa trình đi từ biểu hiện bên ngoài đến bản chất thực sự của quan hệ liên kết kinh tế Để tái cơ cấu một trong những bộ phận quan trọng nhất của lực lượng sản xuất của đất nước chúng ta là các tổng công ty và doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn thì

mô hình tổ chức hiện nay là chưa đáp ứng được yêu cầu tăng cường tích tụ về vốn để tổ chức triển khai, mở rộng quy mô sản xuất- kinh doanh theo hướng phân công, chuyên môn hoá đối với các tập đoàn kinh tế Chưa hề có quan hệ công ty mẹ - công ty con như một số người lầm tưởng khi thấy ở một số tổng công ty quyền chi phối đối với các đơn vị thành viên Hầu hết các tổng công

ty không nắm quyền sở hữu vốn ở công ty thành viên bởi nó chưa bao giờ nắm thật sự và có thể quyết định các vấn đề then chốt của đơn vị thành viên như một chủ sở hữu thực thụ

- Để tồn tại quan hệ công ty mẹ - công ty con thì cả công ty mẹ và công ty con đều phải đủ các điều kiện để có tư cách “mẹ” hoặc “con”, cụ thể là:

1) Công ty mẹ phải nắm được thực sự và có quyền định đoạt đối với số vốn của mình nằm ở công ty con (thay vì chỉ nắm trên hình thức)

2) Công ty con phải có sự độc lập nhất định về phương diện pháp lý với công ty mẹ Điều này đòi hỏi công ty con phải được hưởng quy chế pháp

lý của một trong số các loại hình doanh nghiệp, mà theo pháp luật, công ty mẹ

có thể được thực hiện đầy đủ quyền chủ sở hữu

1.1.3 Đ ạ c điểm quan hệ công ty mẹ - công ty con

Xuất phát từ những khái niệm về công ty mẹ, công ty con như đã nêu, quan hệ pháp lý giữa công ty mẹ với công ty con có một số đặc điểm như sau:

Thứ nhất, vê địa vị pháp lý, cả công ty mẹ và các công ty con đều là

các pháp nhân độc lập, bình đẳng trước pháp luật Điều đó thể hiện ở việc công ty mẹ và công ty con đều tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất - kinh

Trang 16

doanh và tự chịu trách nhiệm về các khoản nợ trong phạm vi số vốn điều lệ của mình Công ty mẹ tuy có thể chi phối công ty con dựa trên quyền sở hữu

về vốn nhưng đó là sự chi phối gián tiếp thông qua vai trò và thẩm quyền của người đại diện công ty mẹ được cử tham gia quản lý của công ty con (Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc - đối với doanh nghiệp không có Hội đồng quản trị) Ngoài ra, cũng có thể tính đến các ràng buộc gián tiếp khác của công ty

mẹ với công ty con thông qua việc kiểm soát các kênh tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ trên thị trường, về sự hỗ trợ công nghệ, thương hiệu sản phẩm v.v Sự bình đẳng về tư cách pháp nhân, ngược lại, cũng khiến cho công íy mẹ chỉ phải có trách nhiệm trong phạm vi số vốn, số cổ phần của nó ở công ty con (trừ phi có các cam kết, bảo lãnh đặc biệt đối với tất cả các hệ quả phát sinh từ hành vi kinh doanh của công ty con)

Thứ hai, cơ c h ế quản lý, chi phối của công ty mẹ với công ty con thể

hiện chủ yếu thông qua quyền của chủ sở hữu vốn, tài sản của công ty mẹ đối với công ty con Trong đó, quan trọng nhất là quyền quyết định về bộ máy tổ chức, nhân sự chủ chốt của công ty con, thông qua đó điều chỉnh các chiến lược, kế hoạch kinh doanh quan trọng của công ty con Mức độ chi phối giữa công ty mẹ với từng loại công ty con cũng khác nhau Các công ty con chịu sự chi phối toàn diện, tuyệt đối vì nấu công ty con được công ty mẹ đầu tư và nắm giữ 100% vốn điều lệ Thứ đến là các công ty do công ty mẹ nắm giữ trên 50% vốn điều lệ Tuy nhiên, đó mới chỉ là tính đến khả năng chi phối về

mặt pháp lý bằng công cụ vốn của chủ sở hữu Trên thực tế, những công ty

con nào hoạt động trong những lĩnh vực không thuộc hướng mà công ty mẹ

ưu tiên hoặc có nhiều kinh nghiệm phát triển, cạnh tranh thì sẽ được công ty

mẹ trao nhiều quyền chủ động hơn và mức độ chi phối trên thực tế đối với công ty đó sẽ giảm xuống Mặt khác, một số công ty liên kết có vốn của công

ty mẹ thấp hơn 50% nhưng vẫn có thể chịu sự khống chế mạnh của công ty

mẹ, bởi sự cam kết chấp hành các “luật chơi” do công ty mẹ đặt ra là điều kiện tiên quyết để có thể có được thương hiệu hoặc nhận được sự bảo trợ của công ty mẹ

Đối với các tập đoàn kinh tế nhiều tầng thì khả năng chi phối của công ty mẹ có thể là rất sâu, đến tận các cấp “công ty cháu” hoặc xa hơn nữa Các công ty con có thể tham gia góp vốn và tài sản để hình thành nên các công ty cháu nhưng có thể phải cần đến sự cho phép của công ty mẹ vì địa bàn và lĩnh vực kinh doanh là những yếu tố mang tính chiến lược mà bất kỳ một công ty mẹ nào cũng phải tính đến để làm sao vốn đầu tư của mình không

bị thất thoát và lợi nhuận đạt được sẽ là tối đa

Trang 17

Thứ ba, vê quan hệ giữa công ty mẹ - với công ty con trong sản xuất

- kinh doanh Mặc dù công ty mẹ có quyền chi phối công ty con, nhưng trong

hoạt động sản xuất kinh doanh thì đó vẫn phải là quan hệ mang tính phối hợp, dựa trên hợp đồng Đặc điểm này là hệ quả tất yếu của đặc điểm thứ nhất đã nói ở trên Các họp đồng được ký kết giữa công ty mẹ với công ty con chủ yếu

là hợp đồng thầu lại các công đoạn của một công trình hoặc một lô sản phẩm nào đó Đó cũng có thể là hợp đồng tư vấn, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ hoặc đào tạo, tuỳ theo yêu cầu, tính chất công việc cần phải giải quyết Nhưng quan hệ dựa trên hợp đồng cũng khiến người ta đặt ra câu hỏi là phải

xử lý những tranh chấp kinh doanh như thế nào, nếu điều đó xảy ra giữa công

ty mẹ và công ty con? Thông thường, về nguyên tắc, các tranh chấp kinh doanh được xử lý trước hết thông qua con đường hoà giải, nếu không thành công mới phải thông qua các thủ tục tố tụng tư pháp hoặc trọng tài Đương nhiên, một khi công ty mẹ có thể chi phối công ty con thì nó cũng có thể dàn xếp những bất đồng này Hậu quả tai hại nhất (nếu có tranh chấp thực sự) chỉ liên quan đến việc rời bỏ vị trí lãnh đạo công ty con Song cũng có thể công ty

mẹ chấp nhận những yêu cầu chính đáng của công ty con và có những sự xử

lý nào đó đối với cán bộ quản lý trong bộ máy của mình Như vậy, từ bản chất của quan hệ giữa công ty mẹ với công ty con, có thể thấy rằng nhìn chung sẽ khó và rất hãn hữu mới xẩy ra các tranh chấp thực sự

1.1.4 Định nghĩa m ô hình pháp lý công ty mẹ - công ty con

Về phương diện kỹ thuật, theo Từ điển Tiếng Việt thì “mô hình” thường được hiểu là hình mẫu thu nhỏ của một vật nào đó Song về phương diện khoa học xã hội nói chung và trong lĩnh vực khoa học pháp lý hoặc khoa học kinh tế nói riêng thì “mô hình” cần được hiểu là dạng kết cấu mang tính điển hình của một loại quan hệ xã hội “Mô hình” phác thảo những nét liên hệ chính yếu nhất giữa một số chủ thể hay yếu tố then chốt Ví dụ, trong lĩnh vực kinh tế hộ gia đình có khái niệm mô hình VAC (Vườn-Ao-Chuổng), trong đó

mô tả các yếu tố cơ sở kinh tế then chốt phù hợp với trình độ sản xuất mang tính tự cung, tự cấp Trong lĩnh vực thể chế, pháp luật, người ta nói nhiều đến

“mô hình tổ chức”, và nó được cụ thể hoá trong lĩnh vực hoạt động cụ thể thành các khái niệm tương ứng như mô hình chính thể (liên bang hoặc đơn nhất, cộng hoà hoặc quân chủ), mô hình hợp tác xã, mô hình công ty cổ phần,

mô hình tổng công ty nhà nước V.V .

Để phản ánh quan hệ pháp lý giữa một công ty với một công ty khác được công ty đó sở hữu toàn bộ hoặc nắm cổ phần chi phối, người ra đã đưa ra khái niệm “mô hình (pháp lý) công ty mẹ - công ty con” Tuy nhiên, nói đến

“mô hình” này tức là không hàm ý một quan hệ “mẹ - con” cụ thể nào đó giữa

\

Đ ặ n g Thu Thuý/Luộn v ã n T h ạc sì Luột/2003

Trang 18

hai doanh nghiệp với nhau mà đó là sự khái quát thành dạng quan hệ pháp lý mang tính điển hình, bao trùm một tập hợp doanh nghiệp, trong đó tối thiểu phải có m ột doanh nghiệp đóng vai trò làm “công ty m ẹ”, có đủ năng lực chi phối một số doanh nghiệp khác làm “công ty con” Chúng ta biết rằng trên thế giới, mô hình công ty mẹ - công ty con đã tổn tại một cách khách quan từ lâu Nhưng đối với chúng ta, nhận thức về nó là một quá trình thử nghiệm được rút

ra từ sự cần thiết phải thay đổi phương thức tổ chức, quản lý nhằm tăng cường, tích tụ về vốn và quan hệ liên kết trong khu vực kinh tế nhà nước, tiến tới hình thành, củng cố và phát triển tập đoàn kinh tế

Điều quan trọng nhất khi phác thảo ra một mô hình tổ chức cho các tập đoàn kinh tế nhà nước trong tương lai là phải xác định mối quan hệ then chốt, m ang tính bản chất của liên kết kinh tế Hạn chế cơ bản nhất trong việc thiết kế m ô hình tổng công ty nhà nưóc trong những năm 90 của thế kỷ XX là chúng ta đã khoác một vỏ bọc doanh nghiệp lên một cơ cấu tổ chức sản xuất mang bản chất hành chính, thông qua việc ghép nối thuần tuý cơ học và vội vã một số doanh nghiệp lại với nhau Hậu quả tất yếu mà quan hệ và phương pháp quản lý hành chính mà cơ chế cũ mang lại là sự kìm hãm các yếu tố tiên tiến thuộc về lực lượng sản xuất trong khu vực nhà nước phát triển trên con đường thích ứng với nền kinh tế thị trường Mối quan hệ bản chất cho sự liên kết kinh tế trong một cơ cấu doanh nghiệp lớn hơn đã được lựa chọn từ kinh nghiệm quốc tế vì nó đơn giản và có vẻ chắc chắn, dường như phù hợp với trình độ quản lý của chúng ta: đó là quan hê công ty mẹ - công ty con Như vậy, có thể thấy rằng khái niệm mô hình pháp lý công ty mẹ - công ty con xuất hiện trong thời điểm này chủ yếu chỉ mang ý nghĩa để nhận thức về dạng liên kết kinh tế (dựa trên vốn) đối với các tập hợp doanh nghiệp nhà nước trong quá trình thực hiện đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả của các Tổng công ty và doanh nghiệp nhà nước độc lập quy mô lớn Tư duy nhận thức về mô hình này là hoàn toàn cần thiết và có tác dụng bổ sung cho những hiểu biết hạn chế về bản chất quan hệ liên kết doanh nghiệp trước đây, dù đó cũng mới chỉ là bước nhận thức cơ bản đầu tiên về liên kết doanh nghiệp trên quy mô lớn trong nền kinh tế thị trường Từ các phân tích trên đây, có thể định nghĩa mô hình pháp lý công ty mẹ - công ty con như sau:

M ô hình pháp lý công ty mẹ - công ty con là hình mẫu mô tả một cách khái quát và mang tính chất điển hình quan hệ pháp lý giữa một công

ty thực hiện quyền chủ sở hữu phần vốn của nó tại m ột s ố công ty khác từ mức chi ph ố i trở lên (mức này tuỳ thuộc vào các điêu kiện xác định cụ th ể đối với doanh nghiệp) trên cơ sở điêu lệ (hoặc thoả ước) liên kết chung

T H Ư V I Ề N3ƯCNG Oai H0fc I.' i ộ ĩ H/

Trang 19

Tất nhiên, sự mô tả quan hệ điển hình này về phương diện pháp lý là phải thông qua nhiều lý lẽ và phải được cụ thể hoá bằng các quy phạm về bản chất của sự liên kết, về cách thức tổ chức quản lý, về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên (mẹ, con và các thành viên khác) Tổng thể các quy định về các nội dung nêu trên tạo thành khung pháp lý cho sự vận hành, triển khai các quan

hệ pháp lý giữa công ty mẹ với công ty con, mà trước hết khung pháp lý này

sẽ được vận dụng khi thiết kế các điều lệ (hoặc thoả ước) giữa công ty mẹ với công ty con về tổ chức và hoạt động

1.2 ĐỐI TƯỢNG Á P DỤNG THÍ ĐIEM m ô h ìn h c ô n g t y m ẹ - CÔNG TY CON

Từ những nhận thức về mô hình pháp lý công ty mẹ - công ty con đã được trình bày ở trên, việc xác định những đối tượng để áp dụng thí điểm mô hình công ty mẹ - công ty con có thể dựa vào một số yếu tố cơ bản như sau:

1.2.1 V a i trò chủ đạo và yêu cầu đổi mới nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước

Ó nước ta, kinh tế nhà nước hình thành và được ưu tiên phát triển trong mấy chục năm qua, do vậy doanh nghiệp nhà nước được thiết lập với số lượng

và quy mô lớn, có mặt ở hầu hết các ngành và lĩnh vực của nền kinh tế với vai trò hết sức quan trọng Trong giai đoạn thực hiện chế độ kế hoạch hoá tập trung, kinh tế quốc doanh phát triển một cách tràn lan không có trọng điểm, lại được bao cấp nên hoạt động sản xuất kinh doanh không mấy hiệu quả Đầu những nãm 90, cùng với công cuộc đổi mới về kinh tế, chính sách, cơ chế quản lý chuyển sang giai đoạn thực thi cơ chế thị trường một cách toàn diện , các doanh nghiệp nhà nước cũng bắt đầu chuyển sang cơ chế mới Việc nghiên cứu mô hình công ty mẹ - công ty con trước hết nhằm thí điểm áp dụng cho các đối tượng là Tổng công ty và doanh nghiệp nhà nước độc lập quy mô lớn, chưa đặt ra với đối với các doanh nghiệp của các thành phần kinh

tế khác hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Trong thực tiễn, quan hệ công ty

mẹ - công ty con đã xuất hiện ở các doanh nghiệp ngoài khu vực kinh tế nhà nước Nhưng hiện nay, trình độ phát triển của các doanh nghiệp này vẫn còn thấp, chưa đủ để giữ vai trò là nền tảng của nền kinh tế quốc dân Hơn nữa, khi xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, yếu

tố bảo đảm định hướng này, về bản chất, vẫn phải là sự phát huy vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước Mặc dù các thành phần kinh tế đều được khuyên khích phát triển, các doanh nghiệp đều bình đẳng với nhau trong sản xuất - kinh doanh và trước pháp luật, nhưng sự bình đẳng đó không có nghĩa

là chúng có vị trí như nhau trong nền kinh tế Nhiều doanh nghiệp nhà nước

đã thực sự trở thành nòng cốt trong việc đảm bảo các cân đối chủ yếu của nền

Trang 20

kinh tế về những hàng hoá, vật tư chiến lược và các hàng tiêu dùng thiết yếu như than, điện, dầu k h í , góp một phần quan trọng vào việc bình ổn giá cả và duy trì sự phát triển của nền kinh tế.

Các doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là các doanh nghiệp mạnh, cần tiếp tục giữ vai trò “đầu tầu” bởi nó tồn tại và phát triển ở những ngành và lĩnh vực trọng điểm, có lợi cho việc duy trì chế độ kinh tế XHCN, khắc phục những hạn chế của cơ chế thị trường Các doanh nghiệp nhà nước có quy mô nhỏ, tính chất ngành nghề đơn lẻ, kinh doanh kém hiệu quả thì phải sắp xếp lại theo hướng hợp nhất, giải thể hoặc giao, bán, cho thuê doanh nghiệp Để doanh nghiệp nhà nước tiếp tục phát triển lổm mạnh, nhà nước có chủ trương sắp xếp lại lực lượng và đổi mới hoạt động của khu vực kinh tế này Việc thực hiện chuyển đổi sang mô hình công ty mẹ - công ty con đối với doanh nghiệp nhà nưóc là bước phát triển tiếp theo, kế thừa các bước thực hiện sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước trước đây nhằm củng cố vai trò chủ đạo của nó trong nền kinh tế thị trường

1.2.2 Trình độ, quy mô tổ chức quản lý hoạt động sàn xuát - kinh doanh củ a doanh nghiệp nhà nước

Thực hiện công cuộc đổi mới, doanh nghiệp nhà nước đang được tiếp tục củng cố và phát triển để thực hiện được vai trò là lực lượng chủ lực trong nền kinh tế Các doanh nghiệp nhà nước nói chung đều ổn định và đóng góp phần quan trọng cho ngân sách nhà nước, ổn định việc làm cho hàng nghìn người lao động v.v Tỷ trọng doanh nghiệp nhà nước trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng từ 36,5% năm 1991 lên 40,07% năm 1998[15, tr ll] Tuy nhiên, trong quá trình đổi mới và phát triển, doanh nghiệp nhà nước đã bộc lộ một số hạn chế và yếu kém về trình độ tổ chức và quản lý trong hoạt động của mình, đòi hỏi phải được tiếp tục khắc phục và tháo gỡ :

- Tốc độ tăng trưởng và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước chưa cao và đang giảm dần Tốc độ tăng trưởng bình quân sau thời gian liên tục đạt 13% đến năm 1998 và đầu 1999 giảm xuống còn 8- 9% Năm 1998, số doanh nghiệp kinh doanh thực sự có hiệu quả chiếm khoảng 40%, số doanh nghiệp kinh doanh không có hiệu quả, lỗ liên tục chiếm 20%, những doanh nghiệp kinh doanh chưa có hiệu quả, nằm trong tình trạng khi lỗ, khi lãi chiếm 40%[15,tr.26]

- Phần lớn doanh nghiệp nhà nước có quy mô vốn rất nhỏ, cơ sở vật chất nghèo nàn, lạc hậu về trang thiết bị Cho đến nay ,có tới 14 trong số 17 Tổng công ty 91 (82%) có mức vốn nhà nước dưới mức vốn bình quân (3.882

tỷ đồng) Vốn của các tổng công ty 90 bình quân chỉ có 280 tỷ đổng, chỉ bằng 65% tiêu chí quy định 80% số tổng công ty có vốn nhà nước thấp hơn mức

Trang 21

bình quân Chỉ có 13% các tổng công ty 90 có vốn trên 500 tỷ đổng [14,tr.9] Trong khi bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, ngày càng xuất hiện nhiều lĩnh vực kinh doanh đòi hỏi vốn lớn để đầu

lư phát triển công nghệ mới, công nghệ hiện đại Do đó, trong khi sức đầu tư các thành phần kinh tế khác trong nước có hạn thì doanh nghiệp nhà nước phải chuẩn bị đầy đủ tiềm lực đầu tư, chiếm lĩnh lĩnh vực này để không bị các nhà đầu tư nưóc ngoài lấn lướt, khống chế

- Nhiều vấn đề liên quan đến bộ máy tổ chức quản lý của doanh nghiệp hiện vẫn còn gây vướng mắc như về hiệu quả hoạt động của Hội đổng quản trị doanh nghiệp và cơ chế điều hành Tổng Giám đốc; quan hệ giữa các đơn vị thành viên chưa có sự đổi mới thực sự; quan hệ giữa doanh nghiệp với các Bộ, u ỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước, thực hiện một số quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp chưa được thực hiện đầy đủ theo nội dung được phân cấp V.V

- Phương thức hình thành doanh nghiệp mới chỉ dựa trên tập hợp các đơn vị nhỏ lẻ, tiêu chí về số đơn vị thành viên đối với Tổng công ty 91, Tổng công ty 90 là quá ít Mức độ liên kết cũng còn hạn chế, thậm chí ở một vài nơi còn rời rạc

Thực trạng nêu trên cho thấy trình độ tổ chức, quản lý doanh nghiệp ở nước ta trong thời gian qua còn thấp Phần lớn mục tiêu đề ra khi thành lập các Tổng công ty là tạo sự liên kết kinh tế, gắn bó về lợi ích, thị trường chưa đạt được Trong giai đoạn hiện nay, trình độ tổ chức, quản lý doanh nghiệp phù hợp với sản xuất - kinh doanh quy mô lớn, hoạt động đa ngành nghề là vấn đề được ưu tiên hàng đầu Do đó, việc áp dụng mô hình công ty mẹ - công

ty con với những quan hệ liên kết nội tại tương đối phức tạp trước hết thích hợp cho các Tổng công ty và doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn, đã có mạng lưới doanh nghiệp giống như quan hệ giữa công ty mẹ với nhiều công ty con

1.2.3 Đ ịnh hướng chiến lưọc và quy hoạch phát triển ỏ một s ố ngành, lĩnh vực để nâng cao sức cạnh tranh

Chủ trương của Đảng và nhà nước về sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ ba (khoá IX) đã đề ra yêu cầu hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các Tổng công ty nhà nước để tạo điều kiện thúc đẩy tích tụ tập trung, nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm nâng cao hiệu quả của nền kinh tế Tuy vậy, trong thực tế có sự chồng chéo về ngành nghề kinh doanh giữa các doanh nghiệp của trung ương với nhau và với địa phương trên cùng một địa bàn, thậm chí giữa các doanh nghiệp trong; cùng một ngành Trong

Trang 22

các lĩnh vực thương mại, dịch vụ kỹ thuật, tư vấn, xây dựng V.V tình trạng các doanh nghiệp cùng ngành nhưng trực thuộc nhiều cơ quan quản lý khác nhau, cùng tham gia cạnh tranh trên những địa bàn kinh doanh chật hẹp rất phổ biến Ví dụ, trên một sàn bay quốc tế có từ 4 đến 5 doanh nghiệp của Tổng công ty Hàng không Việt Nam và của Cục Hàng không dân dụng cùng tham gia khai thác cảng hàng không với các dịch vụ cùng tính chất Hệ quả dẫn tới có thể là giá các sản phẩm, dịch vụ bị đẩy lên quá cao trong khi chất lượng không được cải thiện, hoặc ngược lại, các doanh nghiệp nhà nước đua nhau bỏ thầu thấp khiến Nhà nước bị thiệt hại nặng Điều đó làm suy giảm nghiêm trọng sức cạnh tranh của doanh nghiệp Tuy vậy, trong giai đoạn vừa qua, cũng phải thấy rằng phần lớn các Tổng công ty đã xây dựng được chiến lược phát triển sản xuất - kinh doanh dài hạn để chỉ đạo các doanh nghiệp thành viên cùng phối thực hiện một cách thống nhất Nhờ vậy, có thể giảm dần tình trạng các doanh nghiệp hoạt động một cách khép kín, vô tình gây ra

sự cạnh tranh, làm suy yếu lẫn nhau

Nhằm định hướng lại quy hoạch chiến lược tổng thể các doanh nghiệp nhà nước theo tinh thần Nghị quyết của Ban chấp hành trung ương Đảng, trong năm 2001 - 2002, Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước đã tham mưu cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xác định một số lĩnh vực cần đẩy m ạnh sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước, chuyển sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con, tạo cơ sở cho việc tiến tới xây dựng tập đoàn kinh tế v ể nguyên tắc, tất cả các tổng công ty và doanh nghiệp nhà nưóc quy mô lớn (theo mô hình HĐQT và cơ chế quản lý từ 2 cấp trở lên - có đơn vị thành viên) đều có thể cân nhắc, tuỳ vào nhu cầu phát triển, điều kiện sản xuất - kinh doanh của mình (ví dụ không bị thua lỗ nặng nề và không có nhiều đơn vị thành viên thuộc diện để lại là doanh nghiệp nhà nước) để xin thí điểm chuyển sang thực hiện mô hình mới

Căn cứ vào Quyết định 58/2002/QĐ-TTg ngày 26/4/2002 của Thủ tướng Chính phủ ban hành tiêu chí, danh mục phân loại doanh nghiệp nhà nước và Tổng công ty nhà nước và danh sách các doanh nghiệp được đồng ý xây dựng, triển khai Đề án chuyển sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con, có thể thấy doanh nghiệp trong một số lĩnh vực được chọn thí điểm, có khả năng thực hiện bao gồm: vận tải hàng không, hàng hải, đường thuỷ nội địa, công nghiệp tàu thuỷ, xây dựng công trình và sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí chế tạo máy, kinh doanh buôn bán lương thực, dệt may, kinh doanh địa ốc, du lịch, chế biến thuỷ, hải sản V.V Các doanh nghiệp trong thời gian tới có thể thực hiện mô hình công ty mẹ - công ty con có khả năng thuộc các lĩnh vực: đường sắt (khép kín cả công nghiệp, vận tải và quản lý, khai thác cơ sở hạ tầng), điện tử - tin học, luyện kim, hoá chất, kinh doanh

Trang 23

buôn bán xăng dầu, sản xuất một số hàng tiêu dùng và công nghiệp thực phẩm quan trọng (cà phê, chế biến gỗ, rượu bia, thuốc lá bảo hiểm, tài chính Một số lĩnh vực có Tổng công ty ít nhiều mang tính độc quyền nhà nước như bưu chính - viễn thông, điện lực, dầu khí cần tiếp tục nghiên cứu xây dựng tập đoàn, nhưng cần cân nhắc mô hình cụ thể Đối với các doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích thì do cơ chế quản lý ít nhiều gắn bó với

cơ quan quản lý nhà nước nên chưa tính đến việc xây dựng mô hình công ty

mẹ - công ty con

Nhìn chung, từ các căn cứ trên đây, có thể kết luận là mô hình pháp lý công ty mẹ - công ty con hiện đang tổ chức triển khai được áp dụng cho các đối tượng là Tổng công ty và doanh nghiệp nhà nước độc lập quy mô lớn (doanh nghiệp có HĐQT) Tuy nhiên, do tính chất thí điểm của mô hình mới, các Tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước là đối tượng chuyển đổi sang mô hình công ty mẹ - công ty con cần được lựa chọn một cách chặt chẽ Trong dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về thí điểm chuyển Tổng công ty nhà nước và doanh nghiệp nhà nước sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ

- công ty con (năm 2003)[19,tr.4], Ban soạn thảo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư

đã dự kiến đưa ra một số điều kiện làm cơ sở giúp cho việc lựa chọn doanh nghiệp nhà nước hoạt động theo mô hình này như sau:

- Tổng công ty thuộc diện giữ lại là Tổng công ty nhà nước theo quy định của Chính phủ; doanh nghiệp nhà nước thuộc danh mục do Nhà nước tiêp tục duy trì 100% sở hữu

- Đang có vốn góp chi phối ở nhiều doanh nghiệp khác hoặc đã được phê duyệt k ế hoạch cổ phần hoá các doanh nghiệp thành viên Tổng công ty, các bộ phận của doanh nghiệp nhà nước, nhưng Tổng công ty hoặc doanh nghiệp nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối

- Kinh doanh đa ngành nghề, trong đó có một ngành kinh doanh chính;

có nhiều đơn vị phụ thuộc, chi nhánh, vãn phòng đại diên trong và ngoài nước

- Có quy mô lớn và có tiềm lực tài chính để thực hiện việc đầu tư vốnvào các công ty con

Trang 24

1.3 LÝ DO, MỤC ĐÍCH X Ã Y DựNG MÔ HÌNH PHÁP LÝ CÔNG TY MẸ

- CÔNG TY CON HIỆN IMAY

1.3.1 Lý do xây dựng mô hình pháp lý công ty mẹ - công ty con

Việc nghiên cứu xây dựng mô hình pháp lý công ty mẹ - công ty con xuất phát từ các lý do cơ bản sau đây:

1) Các chủ trương, chính sách vê sắp xếp, đổi mới, ph át triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước của Đảng và Nhà nước nhằm ph á t triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, trong đó kinh t ế nhà nước đóng vai trò chủ đạo

Thực hiện đường lối của Đảng, hơn 10 năm qua, Chính phủ đã đẩy mạnh công cuộc đổi mới và sắp xếp doanh nghiệp nhà nước, tiến hành ba đợt sắp xếp lớn các doanh nghiệp nhà nước Đợt thứ nhất được thực hiện từ 1990- 1993: thực hiện các giải pháp tình thế nhằm tập trung giải quyết về tổ chức, xây dựng cơ chế, chính sách và tài chính để sắp xếp các đơn vị cơ sở Với căn

cứ là Quyết định số 315-HĐBT ngày 1-9-1990 về chấn chỉnh và tổ chức lại sản xuất kinh doanh trong khu vực kinh tế quốc doanh và Nghị định số 388- HĐBT ngày 20.11.1991 ban hành quy chế về thành lập và giải thể doanh nghiệp nhà nước Đợt thứ hai thực hiện từ 1994-1997 dựa trên các Quyết định

số 90/TTg về việc tiếp tục sắp xếp doanh nghiệp nhà nước trong đó có việc sắp xếp, thành lập và đăng ký lại các liên hiệp xí nghiệp, tổng công ty; quyết định

số 91/TTg ngày 7-3-1994 về việc thí điểm tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam

nhằm nâng cao khả năng tích tụ của các Tổng công ty trong thời kỳ thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá hiên đại hoá đất nước Trong tổ chức, quản lý doanh nghiệp bỏ dần chế độ Bộ chủ quản và cấp hành chính chủ quản, phân biệt quản lý nhà nước và quản lý sản xuất kinh doanh, nâng cao hơn nữa tính chủ động, tự chủ của cơ sở và tăng cường vai trò quản lý nhà nước của các cơ quan quản lý các cấp Đợt thứ ba thực hiện từ giữa năm 1998 đến nay theo các Chỉ thị số 20/1998/TT-TTg ngày 21-4-1998 về đẩy mạnh sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp nhà nước trên cơ sở phân loại doanh nghiệp và Chỉ thị số 15/1999/CT-TTg ngày 26-5-1999 về việc hoàn thiện tổ chức hoạt động của Tổng công ty nhà nước

Có thể thấy rằng, vấn đề hoàn thiện mô hình tổ chức pháp lý của doanh nghiệp nhà nước được tập trung hơn từ giữa những năm 90 của thế kỷ XX, sau một loạt những điều chỉnh, thử nghiệm Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII và Hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ tư (khoá VIII) của Đảng đã xác định một số một số chủ trương đổi mới khá căn bản về hình thức tổ chức và nội dung hoạt động của doanh nghiệp nhà nước

Trang 25

theo hướng chuyển các doanh nghiệp nhà nước sang hoạt động theo hình thức

công ty TNHH hoặc công ty cổ phần, tổ chức lại các Tổng công ty nhà nước

để chúng đủ điều kiện trở thành tập đoàn kinh tế mạnh thông qua các biện

pháp thay cơ chế quản lý vốn bằng phương pháp hành chính sang cơ chế đầu

tư tài chính Đặc biệt, Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng

lần thứ ba (khoá IX) đã khẳng định mục tiêu tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát

triển và nâng cao hiệu qủa doanh nghiệp nhà nước, xác định rõ quan điểm chủ

đạo, nhiệm vụ và các giải pháp lớn trong việc thực hiện mục tiêu này Đổng

thời, chủ trương hình thành một số tập đoàn kinh doanh mạnh trên cơ sở các

tổng công ty nhà nước cũng đã được đề ra Thí điểm, rút kinh nghiệm để nhân

rộng việc thực hiện chuyển tổng công ty nhà nưóc sang hoạt động theo mô

hình công ty mẹ - công ty con, trong đó Tổng công ty đầu tư vốn vào các

doanh nghiệp thành viên là những công ty TNHH một chủ hoặc công ty cổ

phần mà tổng công ty giữ cổ phần chi phối

2) Các đê xuất, kiến nghị của các tổng công ty và doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn vê sự cần thiết phải thí điểm xây dựng mô hình công

ty mẹ - công ty con qua quá trình rút ra các bài học kỉnh nghiệm vê tổ

chức, quản lý doanh nghiệp trong nước và quốc tế.

Trong những năm vừa qua, mặc dù đã có những đóng góp tích cực cho

sự phát triển của nền kinh tế đất nước, nhưng kết quả hoạt động của các tổng

công ty và doanh nghiệp nhà nưóc vẫn còn chưa tương xứng với tiềm năng và

nguồn lực được Nhà nước đầu tư Ngay từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới, sắp

xếp lại các doanh nghiệp trong khu vực kinh tế nhà nước, nhiều doanh nghiệp

nhà nước đã nhận thức được những vấn đề còn hạn chế trong mô hình tổ chức

và hoạt động cũng như cơ chế quản lý đối với các doanh nghiệp này Sau khi

tiến hành nghiên cứu kinh nghiệm tổ chức và khảo sát trực tiếp ở một số tập

đoàn kinh tế lớn của nước ngoài, các doanh nghiệp đã đưa ra một số đề xuất

cho việc thiết lập một mô hình tổ chức mới có thể khắc phục được những bất

cập còn tồn tại và phù hợp với điều kiện Việt Nam Ớ vào thời điểm này, hầu

hết các doanh nghiệp vẫn chưa đưa ra được cái tên chính xác của mô hình này

là mô hình công ty mẹ - công ty con mà đặt nó dưới nhiều cách gọi, chẳng

hạn như: Tổng công ty Hàng hải có đề án về loại hình tổng công ty tham gia

góp vốn với doanh nghiệp thành viên (năm 2000), Tổng công ty Hàng không

đề xuất việc kiện toàn tổ chức và đổi mới cơ chế quản lý theo mô hình Tổng

công ty liên kết với các đơn vị thành viên trên cơ sở vốn góp (năm 1999) Đó

chính là những bước khởi đầu để tiến tới thừa nhận và xây dựng mô hình công

ty mẹ - công ty con

Trang 26

Nhà nước ta khẳng định chủ trương hình thành một số tập đoàn kinh

doanh mạnh trên cơ sở các tổng công ty nhà nước và thực hiện thí điểm, rút

kinh nghiệm để nhân rộng việc chuyển tổng công ty nhà nưóc sang hoạt động

theo mô hình công ty mẹ - công ty con, các doanh nghiệp đã có định hướng

cụ thể để thiết lập mô hình mới này Hiện nay, nhiều tổng công ty cũng như

doanh nghiệp nhà nước độc lập quy mô lớn, qua hoạt động thực tế, đã có yêu

cầu, kiến nghị được tiến hành chuyển đổi về tổ chức và cơ chế quản lý sang

hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con nhằm đáp ứng những yêu

cầu mới phát sinh và khắc phục những bất cập vẫn còn tồn tại trong hoạt động

sản xuất kinh doanh Đến giữa năm 2002 đã có 21 đơn vị thuộc khu vực kinh

tế nhà nước đã được Thủ tướng Chính phủ đồng ý cho phép xây dựng đề án thí

điểm mô hình công ty mẹ - công ty con, trong đó có một số doanh nghiệp lớn

như: Tổng công ty Hàng hải Việt Nam, Tổng công ty Hàng không Việt Nam,

Liên hiệp thuốc lá Khánh Hoà, Viện Máy và Dụng cụ công nghiệp, Công ty

Vàng bạc đá quý Sài Gòn V.V Như vậy, từ nhu cầu thực tiễn phải sắp xếp lại

và xây dựng cơ cấu tổ chức hoạt động hợp lý để tăng cường năng lực và nâng

cao sức cạnh tranh, các doanh nghiệp nhà nước đã tự lựa chọn một mô hình

tổ chức phù hợp trong điều kiện hiện nay để có thể phát huy được sức mạnh

của mình

3) Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về tổ chức hoạt động của doanh nghiệp nhà nước

Nhận thức được vai trò quan trọng của việc đổi mới cơ chế, chính sách

quản lý doanh nghiệp nhà nước đối với quá trình sắp xếp, đổi mới doanh

nghiệp nhà nước, Đảng đã ban hành nhiều Nghị quyết, Chính phủ đã ban hành

nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng

mắc để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nâng cao tính chủ động, phát huy

tối đa tiềm lực của mình Những cơ chế chính sách này về cơ bản, đã hình

thành khung pháp lý tương đối đồng bộ Tuy nhiên, pháp luật về doanh nghiệp

của chúng ta vẫn còn chưa thống nhất, chưa đầy đủ, mặc dù đã được sửa đổi

nhưng mới chỉ làm đơn giản hoá các thủ tục hành chính và thống nhất về cơ

bản trong một mặt bằng đối với các loại hình doanh nghiệp nói chung, còn đối

với doanh nghiệp nhà nước vẫn áp dụng quy chế riêng Pháp luật về doanh

nghiệp nhà nước còn chậm đổi mới, chưa chuyển biến kịp những yêu cầu mới

xuất hiện trong thực tiễn Chính hạn chế về hành lang pháp lý mà các Tổng

công ty và doanh nghiệp nhà nước hiện nay hầu như chưa đáp ứng được đòi

hỏi về quyền tự chủ, từ đó phát sinh hiện tượng thiêú trách nhiệm trong hoạt

động sản xuất kinh doanh Trong quá trình hội nhập khu vực và thế giới, do sự

phân biệt về loại hình tổ chức doanh nghiệp trong nước nên doanh nghiệp nhà

nước vẫn còn gặp nhiều khó khăn, khi tham gia đấu thầu quốc tế hay các dự

Trang 27

án lớn của nước ngoài, các tổng công ty của ta thường không được chấp nhận Xuất phát từ những vấn đề bức xúc như trên, yêu cầu hoàn thiện khung pháp

lý về tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước cũng là một trong những lý do thúc đẩy việc xây dựng mô hình công ty mẹ - công ty con của Tổng công ty và doanh nghiệp nhà nước trong tình hình hiện nay

Nhược điểm trên đây đã được khắc phục một bước trong quá trình chúng ta thành lập mới các tổng công ty và tổ chức lại nhiều liên hiệp xí nghiệp thành doanh nghiệp nhà nước độc lập trong những năm 90 (thế kỷ XX) Tuy nhiên, thực tế là việc tách quản lý nhà nước với quản lý sản xuất kinh doanh và vai trò của các cơ quan nhà nước trong việc trực tiếp quản lý doanh nghiệp là chưa thể xoá bỏ một sớm một chiều do sự chậm chạp trong việc đổi mới pháp luật doanh nghiệp và chế độ tài chính nhà nước Việc sửa đổi các thể ch ế quản lý hành chính nhà nước ở tầm vĩ mô trong thời gian gần đây, bắt đầu từ nội dung sửa đổi về thẩm quyền của Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ trong Luật Tổ chức Chính phủ (2001) và các nghị định của Chính phủ về tổ chức mới ban hành gần đây đã lần đầu tiên xác lập chính thức chức năng thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp

có vốn nhà nước của các cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương Tiếp đến, trong Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân (sửa đổi) cũng quy định chức năng của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Nỗ lực cải cách thể chế quản lý doanh nghiệp như trên là kết quả của một quá trình đổi mới nhận thức trong các chủ trương, chính sách của Nhà nước Cùng với quá trình thực tiễn về sắp xếp, đổi mới lại các doanh nghiệp nhà nước theo hướng thí điểm mô hình công ty mẹ - công ty con, pháp luật cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước

1.3.2 M ụ c đ ích của việc chuyển tổng công ty, doanh nghiệp nhà nưóc qu y mô lón sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ

- cô n g ty co n

Trong những năm qua, việc nghiên cứu, tìm tòi, phát hiện ra những phương thức đổi mới thích hợp nhằm phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước trong kinh tế thị trường rất được quan tâm Để thực hiên điều này, bên cạnh việc sửa đổi, cải cách các thể chế, thủ tục hành chính về k ế hoạch - đầu tư, tài chính - tín dụng, tiền lương cho doanh nghiệp, Chính phủ, các Bộ, ngành đã nghiên cứu đổi mới hình thức tổ chức, quản lý doanh nghiệp theo hướng tách hoạt động quản lý nhà nước khỏi hoạt động quản lý sản xuất - kinh doanh, hạn chế và từng bước xoá bỏ sự quản lý của Bộ chủ quản là cấp quản ]ý chính, v ề mô hình tổ chức, quản lý doanh nghiệp: mô

Trang 28

hình doanh nghiệp có HĐQT được áp dụng đối với các tổng công ty, doanh

nghiệp nhà nước quy mô lớn và mô hình doanh nghiệp không có HĐQT áp

dụng đối với các doanh nghiệp nhà nước hạch toán độc lập (quy mô vừa và

nhỏ), doanh nghiệp nhà nước hạch toán phụ thuộc Nhờ vậy, sản xuất - kinh

doanh của doanh nghiệp nhà nước đã có những bước tiến nhất định Tuy

nhiên, mô hình doanh nghiệp nhà nước hiện nay mới chỉ là bước đi quá độ và

đã bộc lộ nhiều mặt hạn chế không nhỏ Người ta đã trông chờ ở mô hình

công ty mẹ - công ty con ở khả năng thích nghi cao hơn với nền kinh tế thị

trường Cụ thể là, việc xây dựng, chuyển đổi các tổng công ty, doanh nghiệp

nhà nước theo mô hình công ty mẹ - công ty con hướng tới một số mục đích

chính sau đây:

1) Thay đổi bản chất quan hệ liên kết trong sản xuất - kinh doanh giữa các doanh nghiệp nhà nước trên cơ sở xác lập và tổ chức thực hiện

quyền đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Hiện nay, các tổng công ty và doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn có

cơ cấu tổ chức dựa trên sự ghép nối một cách cơ học nhiều doanh nghiệp nhà

nước lại với nhau Trong những năm 90, chúng ta đã sắp xếp lại nhiều tổng

công ty và liên hiệp xí nghiệp cũ bằng các quyết định điều chuyển, chia tách

doanh nghiệp Đa số các doanh nghiệp thành viên các tổng công ty và doanh

nghiệp quy mô lớn được thành lập, sắp xếp theo Nghị định 388/HĐBT ngày

20.11.1991 từ trước khi tổng công ty được thành lập nên kế thừa toàn bộ

quyền sử dụng vốn, tài sản trưóc đây Vì vậy, khi thành lập mới lổng công ty

và doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn thì thủ tục giao lại vốn cho các doanh

nghiệp thành viên chỉ mang tính hình thức Trong quan hệ hiện nay, đối với

một số Tổng công ty và doanh nghiệp quy mô lớn thì sự thay đổi này là rất

quan trọng vì từ khi thành lập đến giờ, họ chưa bao giờ có thể điều chỉnh vốn

của các đơn vị thành viên Họ không có đủ thẩm quyền cần thiết để quyết

định những bước tái cơ cấu doanh nghiệp, thậm chí phải rút toàn bộ vốn khỏi

doanh nghiệp Do đó, chủ trương thí điểm mô hình công ty mẹ - công ty con

là một giải pháp nhằm vào đúng điểm hạn chế bản chất nhất trong quan hệ

liên kết nội bộ Ví dụ, đối với Tổng công ty công nghiệp tầu thuỷ, lãnh đạo

Tổng công ty đã nhận ra điều này và họ đã quyết tâm thực hiện Đề án thí

điểm bởi vì bản thân Tổng công ty chưa bao giờ có đủ nội lực để tổ chức lại

toàn bộ dây chuyền đóng tàu Vói việc quan hệ sở hữu vốn được thiết lập,

Tổng công ty đã hoàn toàn có khả năng điều chuyển vốn và các nguồn lực

giữa các đơn vị thành viên nhằm phát triển sản xuất - kinh doanh trên một quy

mô rộng lớn hơn Đó chính là một trong những mục đích mang tính chất tiền

đề cho việc thiết lập mô hình công ty mẹ - công ty con

Trang 29

2) Tiếp tục đẩy mạnh tích tụ, tập trung vốn, các nguồn lực do Nhà nước đầu tư trên cơ sở lựa chọn m ột ngành hoặc m ột lĩnh vực làm nòng

cốt, đồng thòi thực hiện chuyên môn hoá, đa dạng hoá các sản phẩm và

dịch vụ trong m ột dây chuyền sản xuất - kinh doanh đồng bộ, nhằm nâng

cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, các doanh nghiệp lớn của Nhà nưóc

luôn được xác định nắm giữ các ngành kinh tế quan trọng: giao thông vận tải,

xây dựng cơ bản, năng lượng, bưu chính viễn thông, sản xuất nguyên vật liệu

công nghiệp Đây là những ngành kinh tế có công nghệ phức tạp, quy mô đầu

tư lớn nên đòi hỏi phải có tiềm lực đủ mạnh Muốn đạt được những yêu cầu

này, trước hết phải tiếp tục tăng cường tích tụ, tập trung vốn trên các nguồn

đầu tư, cơ sở vật chất của Nhà nước và lợi nhuận tích luỹ sẵn có Trên cơ sở

đó từng bước thực hiện chiến lược chuyên môn hoá, đa dạng hoá sản phẩm

theo hướng nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm giá thành Thông qua mô

hình công ty mẹ - công ty con, địa vị pháp lý bình đẳng, tự chủ của các công

ty con đã cho phép thực hiện cuộc sắp xếp, triển khai thực hiện định hướng

chiến lược này m ột cách thuận lợi

Về phía công ty mẹ, điều quan trọng nhất là phải xác định được một

ngành chủ đạo, nòng cốt có tính chất quyết định đối với toàn bộ dây chuyền

sản xuất - kinh doanh mà nó cần phải nắm giữ Trên cơ sỏ đó thực hiện phân

công cho các công ty con sản xuất - kinh doanh các mặt hàng, sản phẩm có

tính chất phụ trợ Ví dụ, Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam

Airlines) khi thực hiện mô hình thí điểm đã xác định nòng cốt của ngành mà

công ty mẹ phải nắm giữ là vận tải hàng không (hành khách, hàng hoá, thuê

chuyến) trong các tuyến chính trong nước và quốc tế Các dịch vụ khác có

tính chất phụ trợ như phục vụ mặt đất, bảo dưỡng sửa chữa máy bay, kinh

doanh xăng dầu, cung ứng suất ăn, bay dịch vụ đơn lẻ thì có thể dành hẳn cho

các công ty con thực hiện, công ty mẹ không trực tiếp tham gia Chủ trương

nâng cao sức cạnh tranh của toàn Tổng công ty, vai trò của công ty mẹ đối với

công ty con trở thành ảnh hưởng có tính chất chiến lược trong quan hệ kinh

doanh

3) Thực hiện sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước đ ể nâng cao trình

độ tổ chức, quản lý sản xuất - kinh doanh trong nền kinh t ế thị trường và

trong quá trình hội nhập với khu vực và th ế giới

Hoạt động trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp cần phải được

độc lập, tự chủ để tạo được tính năng động trong cạnh tranh Cùng với sự thay

đổi của môi trường đầu tư, việc sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước đã trở

thành yêu cầu cấp thiết để nâng cao hơn nữa trình độ tổ chức quản lý sản xuất

Trang 30

kinh doanh trong tình hình mới Theo kinh nghiệm của nhiều nước phát triển trên thế giới, các doanh nghiệp đã rất thành công trong việc sử dụng cơ chế đầu tư vốn để sắp xếp, cơ cấu lại hệ thống tổ chức sản xuất - kinh doanh của mình.

Trước hết, khi chuyển đổi sang mô hình mới cần đồng thời đẩy mạnh việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước theo các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, mà trong mô hình, cơ chế hiện tại thì rất khó thúc đẩy tiến

độ này nhanh hơn Đặc biệt là đối với các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ triền miên hoặc có quy mô quá nhỏ, thì không chỉ cổ phần hoá mà có thể áp dụng các biện pháp cứng rắn hơn, như hợp nhất, sáp nhập, giải thể doanh nghiệp

Tiếp nữa, mô hình công ty mẹ - công ty con tạo điều kiện tổ chức bộ máy quản lý công ty mẹ hoàn chỉnh và có khả năng quản lý đầu tư ở trình độ cao hơn, tập trung vào một số khả năng như: định hướng chiến lược kinh doanh cho các công ty con; đảm bảo thị trường tiêu thụ các sản phẩm, dịch vụ của ngành và quảng bá thương hiệu; tập trung vào đầu tư phát triển công nghệ then chốt; hỗ trợ về đào tạo nhân lực V.V Những công cụ, phương pháp tác động trên đây, nếu biết kết hợp thì sẽ nhân sức mạnh tổng hợp của toàn doanh nghiệp lên nhiều lần và điều đó là hoàn toàn phù hợp với những xu thế phát triển chung của doanh nghiệp nhà nưóc trong quá trình hội nhập kinh tế quốc

Thông qua một số mục đích cơ bản trên đây, có thể thấy chủ trưong xây dựng các tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước theo mô hình công ty mẹ - công ty con là nhằm chuyển từ liên kết hành chính từ cơ chế giao vốn sang cơ chế đầu tư tài chính là chủ yếu, tạo ra sự liên kết bền chặt, xác định rõ quyền, trách nhiệm tài sản và lợi ích kinh tế giữa các công ty có tư cách pháp nhân hoạt động trong một hoặc một số chuyên ngành kinh tế-kỹ thuật chính, tạo điều kiện để các tổng công ty và doanh nghiệp nhà nước quy mô lón dần dần phát triển thành các tập đoàn kinh tế

1.4 SO SÁNH MÔ HÌNH CÔNG TY MẸ - CÔNG TY CON VỚI MÔ HÌNH TỔNG CÔNG TY, DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC ĐỘC LẬP QUY MÔ LỚN HIỆN NAY

K ế thừa những thành quả từ đợt đổi mới và sắp xếp doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 1990 - 1993, mô hình tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn phổ biến hiện nay là kết quả của quá trình đẩy mạnh đổi mới thể chế kinh tế nhà nước, mà Luật Doanh nghiệp nhà nước (1995) là khuôn khổ pháp lý quan trọng nhất, v ề mặt tổ chức, các Quyết định số 90/TTg và 91/TTg ngày 7/3/1994, Chỉ thị 500/TTg ngày 28/5/1995 của Thủ tướng Chính

Trang 31

phủ đã góp phần tạo ra “cuộc giải phẫu lớn”, “sắp xếp lại các liên hiệp xí nghiệp, tổng công ty có tính chất hành chính trung gian” nhằm hình thành một hệ thống tổng công ty và doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn hoạt động theo cơ chế thị trường Bước đổi mới trên đây là phù hợp với xu thế phát triển khách quan của thời điểm chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tăng khả năng tích tụ về vốn, xoá bỏ dần chế độ Bộ chủ quản, cấp hành chính chủ quản, phân biệt quản lý nhà nước và quản lý sản xuất kinh doanh Đến nay, mô hình này cần phải được thay thế bằng một mô hình mới thích hợp hơn, mà chủ trương đã định rõ là mô hình công ty mẹ - công ty con Nhưng giữa hai mô hình cũ và mới không hoàn toàn xa lạ với nhau mà có những điểm k ế thừa do các đặc trưng về trình độ tp chức quản lý sản xuất - kinh doanh trên quy mô lớn Đồng thời, mô hình mới so với mô hình cũ cũng có những thay đổi đáng kể, mà nếu hiểu đúng thì đây không phải là sự cải tiến nửa vời mà là bước phát triển vượt bậc về phương thức tổ chức và quản lý Ngược lại, nếu hiểu không đúng thì có thể có cách làm nặng về hình thức, thủ tục, không khắc phục được những hạn chế mang tính bản chất của mô hình hiện tại Do đó, xuất phát từ khái niệm chung về mô hình pháp lý công ty mẹ - công ty con, cần phải tiến hành so sánh mô hình này với mô hình tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước độc lập quy mô lớn hiện nay trên một số mặt sau đây:

M ột là về cơ chê thực hiện quyền quản lý vốn của chủ sở hữu tại doanh nghiệp của cơ quan hành chính nhà nước.

Trong việc thành lập mới hay tổ chức lại một doanh nghiệp thì việc làm có ý nghĩa quan trọng nhất và phải tiến hành đầu tiên là sự xác lập quyền chủ sở hữu đối với doanh nghiệp Trong thực tiễn về tổ chức, quản lý của tổng công ty và doanh nghiệp nhà nước từ lâu nay, chúng ta đã không nhìn nhận được tách bạch việc thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước với việc thực hiện quyền quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp Các cơ quan quản lý hành chính nhà nước có thẩm quyền được giao trực tiếp quản lý doanh nghiệp bằng các phương pháp hành chính, dưói các hình thức: giao vốn, phê duyệt, quyết định nhiều mặt: kế hoạch - đầu tư, bổ nhiệm cán bộ đến tận cấp quản lý, điều hành các bộ phận nghiệp vụ giúp việc giám đốc đơn vị thành viên; phê duyệt đơn giá - định mức tiền lương trong toàn hệ thống doanh nghiệp mà không tính đến hiệu quả kinh doanh ở từng đơn vị cụ thể khác nhau V.V Các hình thức và phương pháp can thiệp như trên giống như với các chủ thể chịu sự quản lý nhà nước nói chung theo cơ chế xin - cho Do đó, trong mối quan hệ với doanh nghiệp, Chính phủ, các Bộ, UBND Tỉnh chỉ xuất hiện trong vai trò là cơ quan quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp

Trang 32

Trong quá trình tiến hành chính sách đổi mới doanh nghiệp và cải cách hành chính hiện nay, thẩm quyền của cơ quan quản lý đối với doanh nghiệp

là thẩm quyền thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước Thay

vì thẩm quyền như trước đây của cơ quan hành chính nhà nước trực tiếp quản

lý doanh nghiệp (cấp chủ quản), các quyền hạn được phân cấp theo hướng nâng cao tính tự chủ, thay đổi cách thức can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp (là công ty mẹ) bằng cách chuyển sang can thiệp gián tiếp thông qua vai trò của Hội đồng quản trị (cơ quan được giao trực tiếp thực hiện các quyền hạn cụ thể về đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp) Quyền can thiệp của cơ quan quản lý chỉ tập trung vào một số m ặt then chốt (hạn chế phê chuẩn, tăng cường định hướng chung bằng các quy hoạch, chiến lược phát triển của ngành và thông qua thẩm quyền của các thành viên Hội đồng quản trị được cơ quan quản lý có thẩm quyền bổ nhiệm)

H ai là vê quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm tài sản đối với đơn vị thành viên hoặc công ty con.

Công ty mẹ trong các đề án thí điểm mô hình công ty mẹ - công ty con vẫn được xác định là doanh nghiệp nhà nước, có tư cách pháp nhân Tuy nhiên, việc thực hiện trách nhiệm tài sản đối với đơn vị thành viên hoặc công

ty con ở m ỗi mô hình sẽ khác nhau Cơ chế quản lý hành chính trong mô hình tổng công ty và doanh nghiệp nhà nước hiện tại khiến cho các tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước cấp trên không nắm và kiểm soát vốn của doanh nghiệp thành viên, trong khi mức độ trách nhiệm đối với các doanh nghiệp này cũng không rõ ràng, dẫn tới không cho phép tách bạch tư cách pháp nhân của tổng công ty với tư cách pháp nhân của các doanh nghiệp thành viên

Về phía các doanh nghiệp thành viên, họ thường ỷ lại, đổ lỗi cho cơ chế, xin tăng vốn, xin ưu đãi về giá, địa bàn hoạt động hơn các doanh nghiệp khác V.V Các doanh nghiệp “chủ quản” của doanh nghiệp thành viên, đến lượt mình, cũng chỉ có thể có những biểu hiện như vậy đối với cơ quan hành chính nhà nước quản lý mình Cơ chế đó đã biến Nhà nước thành chủ thể chịu trách nhiệm vô hạn đối với kết quả sản xuất - kinh doanh của họ Khi chuyển sang thực hiện m ô hình công ty mẹ - công ty con, thì công ty mẹ, để thực hiện được chức năng đầu tư vốn, phải có quyền sở hữu thật sự số vốn ở các công ty con Các công ty mẹ có tài sản ở công ty con (là tài sản của Nhà nước nhưng được sử dụng tách biệt với số tài sản khác của Nhà nước) và chỉ chịu trách nhiệm độc lập trong phạm vi số vốn do nó quản lý Như vậy, quyền về tài sản của công ty mẹ đối với công ty con lớn hơn quyền tài sản của tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn đối với đơn vị thành viên (có quyền định

Trang 33

đoạt về số vốn nó nắm giữ ở công ty con) nhưng trách nhiệm tài sản là có giới hạn rõ ràng.

Ba là về bộ máy tổ chức, quản lý doanh nghiệp

Trong mô hình tổng công ty và doanh nghiệp nhà nước hiện nay và sau khi chuyển sang mô hình công ty mẹ - công ty con, về hình thức, một số bộ máy quản lý, điều hành vẫn theo tính chất truyền thống của doanh nghiệp, như: Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (hay Giám đốc) và bộ máy giúp việc (thậm chí, về tên gọi một số công ty mẹ vẫn được giữ lại cái tên

là tổng công ty Ví dụ, Tổng công ty Hàng không Việt Nam khi được phê chuẩn theo mô hình mới, tuy đồng nhất Hãng hàng không quốc gia với Tổng công ty - Công ty mẹ nhưng vẫn lấy tên là Tổng công ty)

Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu xây dựng quy chế thí điểm mô hình công ty mẹ - công ty con và thẩm định các đề án, người ta đã phát hiện

ra một số vấn đề đối với các tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước trong tổ

chức và hoạt động của bộ máy quản lý, điều hành, thể hiện ở mối quan hệ

- Trong mô hình công ty mẹ - công ty con, một số quan điểm đổi mói đã cho thấy cần phải điều chỉnh lại quan hệ này Để HĐQT thực sự trở thành cơ quan quản lý đại diện cho chủ sở hữu thực hiện quyền quản lý đối với công ty con thì HĐQT phải có những thẩm quyền về nhân sự và tổ chức của công ty con và quyền quyết định những vấn đề quan trọng trong điều hành công ty mẹ Tổng giám đốc công ty mẹ cần tập trung xử lý các vấn đề thuộc thẩm quyền điều hành của công ty mẹ, không can thiệp vào hoạt động của công ty con, trừ những vấn đề mang tính định hướng chiến lược chung Từ đây đặt ra khả năng đối với các tổng công ty, công ty chuyển sang thí điểm

mô hình mới thì có thể xin thí điểm cơ chế HĐQT thuê Tổng giám đốc Như vậy, trong nhận thức đã có sự tách bạch ít nhiều giữa các phạm trù “quản lý”

và “điều hành” công ty

Trang 34

Tuy nhiên, cách thức xây dựng bộ máy tổ chức, quản lý doanh nghiệp theo mô hình công ty mẹ - công ty con có thể khác nhau theo đề xuất

cụ thể của mỗi doanh nghiệp Ví dụ, theo Quyết định số 929/QĐ-TTg ngày 30/7/2001 của Thủ tướng Chính phủ về thí điểm loại hình công ty mẹ - công

ty con tại Công ty Xây lắp, Xuất nhập khẩu vật liệu và kỹ thuật xây dựng (Contresxim) thì Công ty mẹ không có HĐQT mà lại có Hội đồng Giám đốc, các Uỷ viên chính là các Giám đốc công ty con và do Giám đốc công ty mẹ làm Chủ tịch Trong hình thức tổ chức, quản lý này, thực chất mô hình công

ty mẹ - công ty con mới chỉ là hình thức quá độ do vẫn còn nhiều doanh nghiệp nhà nước trực thuộc công ty mẹ nhưng vẫn được gọi là công ty con như các công ty con khác hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Sự ràng buộc giữa công ty mẹ và công ty con thông qua một cơ chế đồng thuận (và có thể dẫn tới níu kéo lẫn nhau về mặt trách nhiệm quản lý) là Hội đồng Giám đốc

và bằng Điều lệ tổ chức và hoạt động của công ty mẹ - công ty con Cho đến nay chúng ta vẫn chưa có kinh nghiệm thực tiễn gì để đánh giá hiệu quả hoạt động của hình thức tổ chức, quản lý công ty mẹ - công ty con này

Bốn là vê hình thức tổ chức pháp lý của các đơn vị thành viên hoặc công ty con

Trong mô hình tổng công ty và doanh nghiệp nhà nước hiện nay thì các đơn vị thành viên đều là doanh nghiệp nhà nước (100% vốn nhà nước) được thành lập, đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp nhà nước Bao gồm 2 loại cơ bản là: đơn vị hạch toán phụ thuộc và đơn vị hạch toán độc lập (một số công ty liên kết, có vốn góp nhà nước là công ty cổ phần, công ty liên doanh và đơn vị sự nghiệp trực thuộc không được xác định

rõ là đơn vị thành viên) Việc phân nhóm các đon vị thành viên chỉ dựa vào nhận thức chủ quan theo tính chất ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh chính Nay, khi thí điểm chuyển sang mô hình công ty mẹ - công ty con thì các công

ty con được xác định rõ là các doanh nghiệp thuộc các loại hình theo quy định của Luật Doanh nghiệp (Công ty TNHH một thành viên, Công ty cổ phần có

cổ phần chi phối hoặc cổ phần đặc biệt liên kết chặt chẽ với công ty mẹ) hoặc Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, ngoại trừ trường hợp ở Công ty Contresxim như đã nói hoặc một số tổng công ty đang trong giai đoạn quá độ chuyển đổi, có doanh nghiệp nhà nước được thừa nhận là công ty con Hình 1

và hình 2 dưới đây mô tả các loại hình doanh nghiệp thuộc Tổng công ty Hàng không trước và sau khi thực hiện mô hình công ty mẹ - công ty con

Trang 35

Ờ 5

Uì N [_ N <X5Ĩ3 < <

Trang 36

c ro

5 cr

p o o

'CỤ

o

F ‘TO0

“< (D.c h- H- -C CO

0

'03'TO

0 0ư)

* D X

F

‘03-CcO) c 73

ro

0

T3 1—

cd rr? o

'<0.n Q.

'Jã ú

«0 «0 -C -C

Q

O) c

‘O

JỊ :CD ^

«0 -C O) c 'CO

JZ 0

Trang 37

Năm là về mức độ liên kết giữa các doanh nghiệp trong từng mô hình.

Trong mô hình tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước hiện nay, nghiên cứu về các Điều lệ được ban hành, có thể thấy rằng do quan niệm về mối quan

hệ như là doanh nghiệp “cấp trên” với doanh nghiệp “cấp dưới” nên liên kết trong doanh nghiệp thông qua các mệnh lệnh, giao nhiệm vụ, chỉ tiêu Doanh nghiệp cấp trên tổ chức chỉ định thầu lại hoặc “ban phát” các ưu đãi cho các đơn vị thành viên một cách “cào bằng” sao cho mỗi đơn vị thành viên đều được hưởng ít nhiều từ cơ chế của Nhà nước Cơ chế này không khuyến khích được nỗ lực và trách nhiệm của các đơn vị thành viên Trong khi đó, các doanh nghiệp thành viên đều xin cấp vốn để tự đầu tư cả dây chuyền sản xuất kinh doanh mà khó có thể dùng chung, không chuyên môn hoá được sản phẩm và từ đó chất lượng hàng hoá và dịch vụ không thể cao hơn, giá thành không thể giảm đi (với sự đầu tư dàn trải, phân tán như vậy kinh phí cấp cũng không bao giờ là đủ) Điều đó đủ để thấy mức độ hợp tác, liên kết trong nội

bộ tổng công ty là rất yếu kém, mặc dù nhiều tổng công ty cũng đã có những biện pháp hoạch định mang tính chiến lược

Việc hình thành mô hình công ty mẹ - công ty con được dựa trên cơ sở của sự liên kết kinh tế, gắn bó về lợi ích giữa các thành viên chứ không theo kiểu hành chính, ghép nối vốn là cách thức thành lập phổ biến của các tổng công ty hiện nay Trước hết, quan hệ liên kết được thiết lập theo 2 trục:

- Quan hệ liên kết dọc là quan hệ dựa trên sở hữu vốn của công ty mẹ với các công ty con Đây là quan hệ liên kết chủ đạo, xuyên suốt trong sản xuất - kinh doanh Quan hệ này có thể thể hiện ở nhiều mức độ khác nhau Trong đó, mức liên kết chặt chẽ bao gồm quan hệ giữa công ty mẹ với các

công ty còn là công ty TNHH, công ty cổ phần có vốn góp, cổ phần ở mức chi

phối của công ty mẹ; mức liên kết nửa chặt chẽ bao gồm quan hệ giữa công ty

mẹ vói các công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty liên doanh vốn góp, cổ phần đặc biệt của công ty mẹ; mức liên kết lỏng lẻo là quan hệ giữa công ty

mẹ với các công ty khác có vốn góp hạn chế, như các cổ đông thông thường Quan hệ giữa công ty mẹ với các công ty thứ cấp (công ty cháu) tuy là quan

hệ gián tiếp về sở hữu vốn cũng có thể xếp vào loại quan hệ liên kết nửa chặt chẽ hoặc liên kết lỏng lẻo tuỳ theo mức độ chi phối của công ty con với các công ty đó (xem hình 3)

- Quan hệ liên kết ngang là quan hệ giữa công ty mẹ với từng công ty con hoặc giữa các công ty con với nhau nhưng dựa trên nguyên tắc phân công, chuyên môn hoá lĩnh vực và địa bàn kinh doanh, thông qua ký kết hợp đồng Quan hệ này mang tính chất hợp tác, bình đẳng - thoả thuận Trong đó, việc

Trang 38

sử dụng, khai thác tổng hợp các yếu tố như thị trường (đầu ra và đầu vào), dây chuyền công nghệ sẽ đóng vai trò là cơ sở lâu dài để duy trì lợi ích liên kết trong nội bộ tập đoàn, nhóm doanh nghiệp theo mô hình công ty mẹ - công ty

HÌNH 3: C Á C MỨC ĐỘ LIÊN KẾT TRONG MÔ HÌNH CÔNG TY MẸ - CÔNG TY CON

Ghi chú:

- 1: M ức liên kết chặt chẽ

- 2: M ức liên kết nửa tương đối

- 3: Chi phối đặt biệt

(M ức liên kết lỏne lẻoì

Như vậy, mặc dù giữa mô hình tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước với mô hình công ty mẹ - công ty con có một số điểm tương đồng về hình thức, nhưng ở mô hình công ty mẹ - công ty con đã xuất hiện sự thay đổi cơ bản trong quan hệ liên kết nhằm khắc phục được những nhược điểm , hạn chế của mô hình tổng công ty, tách bạch rõ tư cách pháp nhân của tổng công ty với tư cách pháp nhân của các doanh nghiệp mà tổng công ty đầu tư vốn vào

Cơ chế này phân định rõ quyền, lợi ích, trách nhiệm của công ty mẹ với cáccông ty con, tạo điều kiện để các doanh nghiệp trong khu vực quốc doanh ngày càng phát triển và nắm vững vai trò chủ đạo của mình trong nền kinh tế quốc dân

Trang 39

1.5 KINH NGHIỆM QUỐC TẼ' VỀ X Â Y DựNG MÔ HÌNH CÔNG TY MẸ -

CÔNG TY CON

1.5.1 M ột s ố dạng mô hình công ty mẹ - công ty con qua kinh

nghiệm q uốc tô'

Hiện nay trên thế giới, mô hình công ty mẹ - công ty con thường được

tổ chức theo m ột số dạng cơ bản sau đây:

M ô hình công ty mẹ là công ty đầu tư tài chính (Holding Company):

Trong quá trình chu chuyển, tích tụ các nguồn vốn thông qua thị trường tài

chính, đã dần dần hình thành các công ty tài chính hoặc ngân hàng có sức

mạnh rất lớn nhờ tham dự cổ phần khống chế vào các công ty không chỉ trong

cùng m ột ngành sản xuất mà còn vươn sang các ngành khác Những công ty

tài chính lớn đã dần dần tập trung một loạt các công ty thành viên bị chúng

kiểm soát và chi phối để hình thành nên những tập đoàn lớn Đối với một

công ty đầu tư tài chính tổ chức tập đoàn của mình thì chức năng chủ yếu của

nó là chuyên thực hiện cấp các khoản vốn đầu tư trực tiếp nhằm thu mua (cổ

phần), tiến tới kiểm soát hoàn toàn các công ty hoạt động trong lĩnh vực hoặc

địa bàn mà công ty mẹ có chiến lược đầu tư Ngoài ra, công ty mẹ có thể phần

nào tham gia các hoạt động thương mại (buôn bán) tổng hợp nhằm cân đối,

liên kết các sản phẩm, dịch vụ của các công ty con mà nó nắm giữ Có thể lấy

ví dụ như: Công ty đầu tư tài chính Temasek (Temasek Holding) của

Singapore là cồng ty mẹ của Tập đoàn Temasek Công ty đầu tư tài chính -

thương mại Lufthansa (Luíthansa Commercial Holding GmbH) là công ty mẹ

của Tập đoàn Lufthansa của Đức (xem hình 4)

- Mô hình công ty mẹ - công ty con liên kết theo dãy chuyền sản xuất - kinh doanh : Mô hình liên kết này thường áp dụng đối với những sản

phẩm có cấu tạo nhiều cấp Trong đó, công ty mẹ có tiềm năng rất lớn thực

hiện các chức năng trung tâm như xây dựng chiến lược, nghiên cứu phát triển,

huy động và phân bổ vốn đầu tư, đào tạo nhân lực, lắp ráp những sản phẩm

nổi tiếng độc đáo, phát triển mối quan hệ đối ngoại Công ty mẹ kiểm soát

một m ạng lưới các công ty con thầu khoán cấp 1, cấp 2, cấp 3 (công ty “con,

cháu, chắt”) tạo thành một tổ hợp doanh nghiệp khổng lồ Ví dụ Công ty xe

hơi Honda của Nhật Bản có 168 công ty thầu khoán cấp 1, 4.700 doanh

nghiệp nhận thầu khoán cấp 2 và 31.600 doanh nghiệp nhận thầu khoán cấp 3

Sự phối hợp và kiểm soát hoạt động đối với các công ty con theo mô hình liên

kết này rất chặt chẽ, được thực hiện thông qua các kế hoạch chiến lược đồng

bộ từ trên xuống dưới, tham gia cổ phần, trợ giúp kỹ thuật, tài chính và nhân

lực, hệ thống hợp đồng nhận thầu

Ngày đăng: 24/01/2021, 22:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w