1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề minh bạch hoá trong khuôn khổ các quy định của WTO và tác động của nó với việc xây dựng, thực thi chính sách, pháp luật của việt nam liên quan đến thương mại quốc tế

84 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 9,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay Việt Nam đã trở thành thành viên của WTO, để có thể hội nhập theo đúng lộ trình, cũng như nắm bắt được các cơ hội kinh doanh từ việc gia nhập WTO đem đến, yêu cầu công khai, mi

Trang 1

BÔ T ư PHÁP

BÔ GIÁO DỰC VẢ ĐẢO TẠO

TRƯỜNG ĐAI HỌC LUẬT HẢ NỘI

NGUYỄN HUY AN

VẤN ĐÊ MINH BẠCH HOÁ TRONG KHUÔN KHO CÁC QUY ĐỊNH CỦA WTO VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ VỚI VIỆC XÂY DỤNG, THỰC THI CHÍNH SÁCH,

PHÁP LUẬT CỦA VIỆT NAM LIÊN QUAN

ĐẾN THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

LUẬN VẪN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TưPHÁP

NGUYỄN HUY AN

VÂN ĐỂ MINH BẠCH HOÁ TRONG KHUÔN KHỔ CÁC QUY ĐỊNH CỦA WTO VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ VỚI VIỆC XÂY DựNG, THựC THI CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT CỦA VIỆT NAM LIÊN QUAN ĐẾN

THƯƠNG MẠI QUỐC TÊ

Chuyên ngành: Luật Quốc Tế

Mã số: 603860 LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TIẾN SỸ v ũ THỊ HỔNG MINH

THƯ VIỆN

TRƯỜNG ĐAI H O CLŨ ÂĨ HÀ NÒI PHÒNv- o o c

HÀ NỘI NĂM 2008

Trang 3

JiỜ J &ẨM ƠQl

tĨồì xin hài/ tú Lồnụ b iĩí ổn Síĩtt iấti tó i ^7ìên i l <T)Ũ 'ĩh i 'd&ềtuị .M in h - DÌ s ự hííở tU Ị d ẫ n , su ụ ìíip đ ẵ tậ n tìn h o à n h ữ n ạ

kình n ạ h iệ m (Ịm ị lứ íií mà đ ã d à n h eh& tồ i irtH KỊ s itẽ i th à i ạỉan

tò i h tìà n th à n h !%ài ẨUiận o á n H ít l ị

x ĩò l eũnụ x in (‘h à n th à n h cá m tín »jự tạc) đ ỉền k iê n a Ề m ặ t

th ò i ạian eủa (ĨJ( x J QẮÍBQỈÍD phurítiụ (ịh ảti 3Chêr €7hị s e ỡ £ 7 « ' (S<tti

tỉn h (Bấa Q iin h ; n i g iú p (Tò ú ề m ặ t ch u y ê n m ôn t-ủa eáa thầụ., cỗ

gitít) tro nụ 3Chtưi; u i í‘ỗ lũi, itỗnụ oìên eiitL tịia đình oà hè bạn

tm n ạ Síữít thài, ạ ia n a ừ a q u a /

Học viên NGUYỄN HUY AN

Trang 4

TT Nội dung Trang

05 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của vấn đề minh bạch hoá 10-12

06 1.2 Khái niệm minh bạch hoá và vai trò của minh bạch hoá đối với

thương mại quốc tế

12-16

07 1.3 Quy định về minh bạch hoá trong các văn kiện của WTO 16- 39

chính sách, pháp luật của Việt Nam liên quan đến thương mại

40-61

09 2.1 Cam kết của Việt Nam về minh bạch hoá khi gia nhập WTO 40-42

10

2.2 Thực thi cam kết và tác động của sự thực thi các cam kết gia nhập

WTO của Việt Náni về minh bạch hoá đối với quá trình xây dựng chính

sách, pháp luật về thương mại

42- 56

11

2.3 Thực thi cam kết và hệ quả của sự tác động thực thi các cam kết về

minh bạch hoá đối với việc thực thi pháp luật, các thủ tục hành chính,

quyết định hành chính liên quan đến thương mại

56- 59

12 2.4 Nhũng thách thức và cơ hội trong xây dựng và thực thi pháp luật của

Việt Nam dưói tác động của minh bạch hoá của WTO

59-61

13

Chương DI: Giải pháp hoàn thiện chính sách và pháp luật thương mại

Việt Nam liên quan đến việc thực thi các cam kết với WTO về minh

Trang 5

NHŨNG TỪ VIẾT TẮTQPPL: Quy phạm pháp luật.

WTO: Tổ chức thương mại thế giới (V/oiịcl Trade Organization)

ITO: Tổ chức thương mại quốc tế (Internation Trade Organization)

GATT: Hiệp định chung vế thuế quan và Thương mại (General Agreement on

Tariff and Trade)

GATS: Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (General Agreement on Trade

in Services)

TREPs: Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của các quyền sở hữu trí tuệ (A Agreement on Trade - Related Aspects of Intellectual Property Rights)

TPRM : Cơ chế thẩm tra chính sách thương mại

TPRB : Cơ quan Rà soát Chính sách Thương mại.

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài.

Sự hoà nhập về một sân chơi thương mại thống nhất, bình đẳng và cùng phát triển giữa các quốc gia trên thế giới đã và đang được thiết lập Để duy trì và phát triển sự thống nhất về một sân chơi thương mại bình đẳng giữa các quốc gia, Tổ chức Thương mại thế giới (Word Trade Organization- sau đây gọi tắt WTO) được thành lập năm 1995 đã mang đến những cơ hội và thách thức cho từng quốc gia thành viên

Trước xu thế hội nhập kinh tế quốc tế của thế giới, Đảng và Nhà nước ta đã

có những bước đi phù hợp với hoàn cảnh của đất nước để từng bước đưa “con thuyền kinh tế Việt Nam” ra “biển lớn” Thực hiện công cuộc “đổi mới” đất nước từ sau Đai hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), đất nước ta đã dần thoát khỏi khủng hoảng kinh tế và xã hội Sau hơn 20 năm đổi mới, diện mạo nền kinh tế của đất nước đang thay đổi theo chiều hướng tích cực

Qua các văn kiện của Đảng cũng như việc hoạch định các chính sách kinh

tế vĩ mô của Nhà nước ta đều khẳng định nhất quán việc tham gia, hội nhập tích cực vào các tổ chức kinh tế quốc tế, coi đó là một trong những bước đi quan trọng và cấp thiết để xây dựng một đất nước Việt Nam: Dân giàu- nước mạnh-

xã hội công bằng dân chủ văn minh Việc trở thành thành viên của ASEAN từ năm 1995; và đặc biệt là việc chính thức trở thành thành viên của WTO (từ ngày 11/01/2007) đã đánh dấu sự thành công của Đảng và Nhà nước trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới đặt ra từ Đại Hội Đảng toàn quốc lần thứ VI

Có thể nói, việc trở thành thành viên của WTO đã tạo ra những thách thức

và cơ hội cho nền kinh tế của đất nước Tham gia sân chơi thương mại lớn nhất thế giới, với những quy định tác động trực tiếp vào nền kinh tế của đất nước, những đòi hòi của thế giới trong việc xây dựng hoàn thiện chính sách, pháp luật của Việt Nam liên quan đến thương mại quốc tế

Trang 7

“ Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế theo lộ trình, phù hợp với

chiến lược phát triển đất nước từ nay đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 Chuẩn bị tốt các điều kiện đ ể kỷ kết các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương Thúc đẩy quan hệ hợp tác toàn diện và có hiệu quả với các nước ASEAN, các nước Châu á- Thái Bình Dương củng cô' và phát triển quan hệ hợp tác song phương tin cậy với các đối tác chiến lược, khai thác có hiệu quả các cơ hội và giảm tối đa những thách thức, rủi ro khi nước ta là thành viên Tổ chức thương mại th ế giới (WTO).

Tiếp tục đổi mới thể ch ế kinh tế, rà soát lại các văn bản pháp quy, sửa đổi,

bổ sung hoàn chỉnh hệ thống pháp luật bảo đảm tính đồng bộ, nhất quán, ổn định và minh bạch ” Như vậy chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là một trong

những nhiệm vụ trọng tâm của Đảng, Nhà nước ta đã đặt ra trong thời gian tới.Trong nỗ lực xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập

kinh tế quốc tế, công khai, minh bạch hoá hệ thống pháp luật ở nước ta đang trở

thành vấn đề mang tính thời sự và có ý nghĩa rất quan trọng

“ Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi,

công khai, minh bạch, trọng tâm là hoàn thiện thể ch ế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; đổi mới căn bản cơ chế xây dựng và thực hiện pháp luật, phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật, đ ể góp phần quản lý xã hội, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền con người, quyền tự do, quyền dân chủ của công dân, góp phần đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020”.2

1 Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (2006), Hà Nội

2 Đảng Cộng Sản V iệt Nam (2005), Nghị quyết số 48- NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật V iệt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội

Trang 8

Như vậy, để có thể thực hiện được mục tiêu đặt ra tại Nghị quyết số 48-

NQ/TW ngày 24/5/2005 của BAN CHAP h à n h t r u n g ư ơ n g về chiến

lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 tính công khai, minh bạch hoá của hệ thống pháp luật

được đặt ra và là yêu cầu cần phải được thực hiện trong quá trình xây dựng chính sách và pháp luật

Không chỉ là yêu cầu của việc xây dựng nội luật, tính công khai, minh

bạch hoá còn là nội dung của nguyên tắc “có thể dự đoán các rủi ro trong

hoạt động thương mại quốc tế” của WTO Hiện nay Việt Nam đã trở thành

thành viên của WTO, để có thể hội nhập theo đúng lộ trình, cũng như nắm bắt được các cơ hội kinh doanh từ việc gia nhập WTO đem đến, yêu cầu công khai, minh bạch hoá chính sách, pháp luật của Việt Nam liên quan đến thương mại quốc tế

Chính vì lẽ đó, đứng trước các yêu cầu khách quan, chủ quan việc nghiên

cứu làm sáng tỏ các quy định về “ tính công khai, m inh bạch hoá” trong khuôn

khổ WTO cũng như tác động của đến quá trình xây dựng, thực thi chính sách, pháp luật của Viột Nam liên quan đến thương mại quốc tế đang là nhu cầu cấp thiết mà các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách của Đảng và Nhà nước cần quan tâm Để từ đó đưa ra các giải pháp trong việc xây dựng, thực thi chính sách, pháp luật của Việt Nam liên quan đến thương mại quốc tế một cách công khai, minh bạch hoá, tiếp cận gần hơn với những quy định của thế giới về

thương mại Do vậy, tác giả đã chọn việc nghiên cứu “ Vấn đ ề m inh bạch hoá

trong các quy định của WTO và tác động của nó đối với việc xây dựng, thực thi chính sách, pháp luật của Việt Nam liên quan đến thương mại quốc tê”

làm đề tài luận văn Thạc sĩ luật học với mong muốn đóng góp một phần công sức nghiên cứu nhỏ của mình cho công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay của Đảng và Nhà nước ta đang quan tâm, thực hiện./

Trang 9

2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài:

Theo cách hiểu hiện nay khái niệm về công khai, minh bạch hoá hệ thống pháp luật có nội dung rất rộng, bao hàm nhiều khía cạnh khác nhau như hệ thống pháp luật rõ ràng, thống nhất và đầy đủ để điều chỉnh các hoạt động kinh

tế, xã hội; các chính sách phải nhất quán, ổn định và đảm bảo bình đẳng, không phân biệt đối xử; các quy định pháp luật phải công khai, dễ tiếp cận; các quy trình, thủ tục hành chính đơn giản, rõ ràng và công khai Yêu cầu về minh bạch theo quy định của WTO, cũng như yêu cầu đối với Việt Nam bao gồm ba giai đoạn (ba cấp độ):

Minh bạch trong giai đoạn hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật.

Minh bạch trong giai đoạn thực thi chính sách, pháp luật.

Minh bạch trong giai đoạn thực hiện các biện pháp tố tụng.

Trong điều kiện có hạn, phạm vi nghiên cứu của đề tài Luận văn tập trung phân tích, nghiên cứu tác động của tính công khai, minh bạch hoá vào giai đoạn thứ nhất và giai đoạn thứ hai liên quan đến thương mại quốc tế

3 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Luận văn đã sử dụng phương pháp duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác- Lênin kết hợp với phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp, so sánh để nghiên cứu vấn đề công khai, minh bạch hoá trong các quy định của WTO và tác động

của công khai, minh bạch hoá đến pháp luật về thương mại hiện hành ở Việt

Nam Qua đó chỉ ra những điểm còn bất cập, tồn tại chưa công khai, minh bạch hoá và đưa ra giải pháp, phương hướng xây dựng, thực thi chính sách, pháp luật của Việt Nam liên quan đến thương mại quốc tế ngày càng minh bạch hơn

4 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, luận văn đề ra ba mục đích sau:

- Trình bày khái quát về nội hàm của “công khai, minh bạch hoá” trong khuôn khổ các quy định của WTO

Trang 10

- Xác định các yếu tố tạo nên và các yếu tố bảo đảm tính “công khai, minh bạch hoá” trong việc xây dựng, thực thi chính sách, pháp luật của Việt Nam liên quan đến thương mại quốc tế

- Trên cơ sở giải quyết lý luận, phân tích các quy định của pháp luật, nghiên cứu thực tiễn xây dựng thực thi chính sách, pháp luật của Việt Nam liên quan đến thương mại quốc tế chỉ ra những điểm còn tồn tại, bất hợp lý từ đó đưa ra những giải pháp nhằm mục đích nâng cao hơn nữa tính công khai, minh bạch hoá pháp luật của Việt Nam liên quan đến thương mại quốc tế

5 Tình hình nghiên cứu đê tài:

“Minh bạch hóa việc xây dựng, thực thi chính sách và pháp luật của Việt Nam liên quan đến thương mại quốc tể” là một vấn đề được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà quản lý, học giả, luật gia và các doanh nghiệp trong thời điểm hiện nay Có khá nhiều công trình nghiên cứu, bài viết liên quan đến việc thực hiện “minh bạch hóa chính sách thương mại quốc tế” dưới nhiều góc độ và cách nhìn khác nhau Trong đó, hướng tiếp cận từ góc độ của các nhà quản lý và hoạch định chính sách, những nhà nghiên cứu luật học chiếm một tỷ lệ khá cao

Có thể kể tên một số công trình nghiên cứu, bài viết liên quan như: Trung tâm thông tin, thư viện và nghiên cứu khoa học Văn phòng Quốc hội (CILIRES) và

Cơ quan phát triển Quốc tế Hoa Kỳ- Dự án STAR Việt Nam, Báo cáo nghiên

cứu Công khai, minh bạch hóa ở Việt Nam so sánh tham chiếu với hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ và các quy định của tổ chức thương mại th ế giới-

Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 ; Hoàng Phước Hiệp- Chủ biên,

Báo cáo tổng thuật kết quả ra soát, so sánh giai đoạn II Các văn bản pháp luật Việt Nam với yêu cầu của Hiệp định Thương mại Việt Nam- Hoà kỳ và quy định của T ổ chức thương mại th ế giới, Nhà Xuất bản Tư pháp, Hà Nội, 2006; John

Bentley, “Những vấn đề hiện tại về tính công khai của pháp luật Việt Nam và

các giải pháp kiến nghị”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 4/2001; Nguyễn Công

Hồng, “Một sô' suy nghĩ về hệ thống các quy định liên quan đến việc bảo đảm

Trang 11

tính minh bạch của hệ thống pháp luật ở nước ta”, Bài tham luận tại hội thảo Minh bạch hoá hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật, Hà Nội, ngày 12-01-

2004; Phạm Duy Nghĩa, “Tính minh bạch hoá của pháp luật- Một thuộc tính

của nhà nước pháp quyền”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 1, 2002

Nhìn chung các công trình nghiên cứu, các bài viết, các bài tham luận tại các hội thảo đều cố gắng góp phần làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản về khái niệm, nội dung, bản chất của “minh bạch hóa” và tác động của nó đến quá trình xây dựng, thực thi chính sách và pháp luật của Việt Nam liên quan đến thương mại quốc tế Tuy nhiên, để đánh giá hết những tác động của vấn đề minh bạch hóa trong các quy định của WTO và tác động của nó với việc xây dựng, thực thi chính sách và pháp luật của Việt Nam liên quan đến thương mại quốc tế vẫn cẩn nghiên cứu sâu hơn, hiện nay đây là một mảng còn khá mới đối với nhiều học viên sau đại học

6 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn

- Hệ thống một cách khoa học nội hàm của tính công khai, minh bạch hoá trong các quy định của WTO

- Đánh giá tổng quát tác động của công khai, minh bạch hoá đối với chính sách và pháp luật của Việt Nam liên quan đến thương mại quốc tế

- Xác định được các yếu tố tạo nên và đảm bảo tính công khai, minh bạch hoá của chính sách và pháp luật của Việt Nam liên quan đến thương mại quốc tế

từ đó đưa ra những giải pháp giải pháp xây dựng, thực thi chính sách về pháp luật của Việt Nam liên quan đến thương mại quốc tế hướng công khai, minh bạch hoá

7 Cơ cấu của luận văn

Luận văn này ngoài phần mở đầu, phần kết thúc và thư mục tài liệu tham khảo, gồm 03 chương:

Trang 12

Chương I: Vấn đề minh bạch hoá trong các văn kiện của WTO.

Chương II: Tác động của minh bạch hoá đối với việc xây dựng, thực thi chính sách, pháp luật của Việt Nam liên quan đến thương mại quốc tế Chương III: Giải pháp hoàn thiện chính sách và pháp luật thương mại Việt Nam liên quan đến việc thực thi các cam kết WTO về minh bạch hoá.

Kết luận

Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 13

Chương I:

VÂN ĐỂ MINH BẠCH HOÁ TRONG CÁC QUY ĐỊNH CỦA WTO 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của vấn đề minh bạch hoá.

Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, nhằm khôi phục sự phát triển kinh tế

và thương mại, hơn 50 nước trên thế giới đã tham gia vào các cuộc đàm phán với mục tiêu tạo lập một tổ chức mới điều chỉnh hoạt động hợp tác kinh tế quốc tế Ban đầu, các nước dự kiến thành lập Tổ chức thương mại quốc tế (ITO) với tư cách là một tổ chức chuyên môn của Liên Hiệp Quốc Dự thảo Hiến chương thành lập ITO điều chỉnh rất nhiều lĩnh vực liên quan đến thương mại quốc tế, trước khi Hiến chương được thông qua, 23 trong số hơn 50 nước tham gia đã quyết định đàm phán để giảm và ràng buộc thuế quan ngay trong năm 1946 Kết quả là các quy định thương mại và các nhân nhượng thuế quan đưa vào Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) Do có sự không phê chuẩn của một số nước, đặc biệt là của Quốc hội Hoa Kỳ, Hiến chương ITO cuối cùng đã không còn tác dụng trên thực tế, điều đó đã khiên GATT trở thành công cụ đa phương duy nhất điều chỉnh thương mại quốc tế từ năm 1948 đến năm 1995 khi

Tổ chức thương mại thế giới (WTO) ra đời Trong 47 năm tồn tại, GATT hoạt động chủ yếu thông qua 08 vòng đàm phán đa phương chủ yếu về thuế quan Tuy nhiên, từ thập kỷ 70 và đăc biệt từ hiệp định Uruguay (1986- 1994) do thương mại quốc tế không ngừng phát triển, GATT đã mở rộng diện hoạt động, đàm phán không chỉ về thuế quan mà còn tập trung xây dựng các hiệp định hình thành các chuẩn mực, luật chơi điều tiết các hàng rào phi thuế quan, về thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ, các biện pháp đầu tư có liên quan tới thương mại, về thương mại hàng nông sản, hàng dệt may, về cơ chế giải quyết tranh chấp Với diện điều tiết được mở rộng nên Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) đã không còn thích hợp Do đó ngày 15/4/1994 các nước thành viên của GATT đã nhất trí ra Tuyên bố Marrkesh (Marốc) hoàn thành hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) nhằm kế tục và phát triển

Trang 14

sự nghiệp GATT Hiệp ước GATT đã trở thành tập quy tắc cơ bản của WTO về thương mại hàng hoá Vòng đàm phán Uruguay đã đặt ra những quy tắc mới điều chỉnh thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ Ngoài ra, WTO còn điều hành một hê thống giải quyết tranh chấp chung cho các lĩnh vực trong các Hiệp định khác nhau Một chức năng khác của WTO là đánh giá thường kỳ về chính sách thương mại của các nước và hợp tác với các cơ quan quốc tế khác để thúc đẩy sự hài hoà trong chính sách kinh tế toàn cầu.

Trong Hiệp định GATT 1947, vấn đề minh bạch hóa đã được đề cập đến,

đó là yêu cầu tất cả các thành viên đều có nghĩa vụ công bố các quy định và hướng dẫn hành chính của mình liên quan đến xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá Mọi nước thành viên cũng phải có một cơ quan luật pháp để các công ty có thể khiếu nại ở đó Nội dung này được quy định tại Điều X- GATT 1947 đề cập

đến tính minh bạch: mỗi quốc gia thành viên phải công b ố tất cả các luật, quy

định, phán quyết toà án, và quy tắc hành chính liên quan đến việc phân loại

và định giá hải quan hàng hoá.

Trong GATT 1947, thuật ngữ minh bạch hoá chưa được đề cập trực tiếp,

nhưng nội dung quy định tại Điều X đã phản ánh một cách khá đầy đủ nội hàm của khái niệm minh bạch hoá theo cách hiểu của WTO Thực chất tính minh

bạch chỉ là một nội dung của nguyên tắc “D ễ dự đoán nhờ cam kết, ràng buộc,

ổn định và m inh bạch”, đây là một trong năm nguyên tắc chính của WTO,

được kế thừa từ GATT 1947 Mục tiêu của nguyên tắc này là các bên tham gia hiệp định có nghĩa vụ đảm bảo tính ổn định, và có thể dự báo trước được về các

cơ chế, chính sách, quy định thương mại của mình nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, kinh doanh nước ngoài có thể hiểu, nắm bắt được lộ trình thay đổi chính sách, nội dung các cam kết về thuế, phi thuế của nước chủ nhà để

từ đó doanh nghiệp có thể dễ dàng hoạch định về kế hoạch, đầu tư của mình mà không bị đột ngột thay đổi chính sách làm tổn hại tới kế hoạch kinh doanh của

họ Trong ba cột trụ của WTO, GATT 1994 được xây dựng dựa trên nền tảng

Trang 15

của GATT 1947 có bổ sung, do vậy vấn đề minh bạch hoá được duy trì và phát triển, được đưa vào trong các Hiệp định thành lập WTO, trở thành một yêu cầu bắt buộc đối với các nước thành viên của WTO khi tham gia hoạt động thương mại quốc tế Trong các Hiệp định chính của WTO cũng đều có quy định về minh bạch hoá, bao gồm:

- Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT- Điều X)

- Hiệp định về các biện pháp kỹ thuật (Điều 2.9)

- Hiệp định về quy tắc xuất xứ hàng hoá (Điều 2.g và Điều 3.e)

- Hiệp định trợ cấp và các biện pháp đối kháng (Điều 25)

- Hiệp định về các biện pháp tự vê (Điều 12)

- Hiệp định về việc áp dụng các biện pháp kiểm dịch động- thực vật (Điều 7)

- Hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại (Điều 63)

- Hiệp định về nông nghiệp (Điều 18.2-3)

- Hiệp định về biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (Điều 6.1)

- Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS- Điều III)

Tuy không phải là một nguyên tắc độc lập nhưng minh bạch hoá đã và đang trở thành một yêu cầu quan trọng, bắt buộc đối với tất cả các nước thành viên TỔ chức thương mại Thế giới (WTO)

Sau khi tổ chức WTO chính thức hoạt động, các nước thành viên của WTO thống nhất sau năm 2000 sẽ tiến hành tổ chức vòng đàm phán thương mại đa phương lần thứ 9 tại Doha (Quatar), nội dung của vòng đàm phán Doha tập trung vào rất nhiều lĩnh vực nhạy cảm, có tác động rất lớn đến sự phát triển của thương mại quốc tế cũng như chính sách của thành viên Tuy vòng đàm phán Doha chưa kết thúc và không đạt được kết quả như mong muốn, nhưng những nội dung đưa ra thảo luận tại vòng đàm phán thực sự là những vấn đề quan tâm

và giải quyết của các nước thành viên

thương mại quốc tê

Trang 16

“Minh bạch là một trạng thái của sự vật khi chúng ta có thể nhìn thấy tất

cả các phần cấu thành của sự vật đó cả từ bên ngoài, lẫn bên trong Khoảng không gian đổ đầy ánh sáng mặt trời là ví dụ d ễ cảm nhận về trạng thái minh bạch Trong khoảng không gian này, không có chỗ cho những điều mờ ám, khuất tất Mình bạch, vì vậy là cơ sở của lòng tin Đến lượt mình, lòng tin là cơ

sở đ ể xây dựng các mối quan hệ xã hội cần thiết cho sự phát triển và thịnh vượng ” 3

Trong quá trình chuyển dịch thuật ngữ “Transparency” sang tiếng Việt các

nhà Luật học cũng như các dịch giả đã cố gắng diễn giải và sử dụng thuật ngữ tương ứng trong hệ thống pháp luật Việt Nam để có thể chuyển tải được đầy đủ nội hàm của thuật ngữ, tuy nhiên đã không có một thuật ngữ tương ứng trong hệ thống pháp luật Việt Nam Bản thân các nhà dịch giả Luật học và một số nhà quản lý đã có sự không thống nhất khi diễn giải thuật ngữ này; theo nghĩa tiếng

Anh khi dịch sang tiếng Việt: Transparency(n): cố nghĩa là phim đèn chiếu, sự

trong suốt; Transparent (adj): trong suốt, trong sạch, trong sáng sau nhiều lần

tranh luận cũng như diễn giải, các nhà làm luật, Luật gia thống nhất từ

Transparency dịch sang tiếng Việt có nghĩa là công khai, minh bạch.

Chính vì điều này đã khiến nhiều người vẫn thường hiểu minh bạch đổng nghĩa vói công khai, nhưng thực ra khái niệm minh bạch là khái niệm rộng hơn,

nó bao gồm cả cơ hội, tính bình đẳng trong tiệp cận thông tin, tính dự đoán trước được và sự cởi mở của các cơ quan cung cấp thông tin

Điều đó có nghĩa “công khai” thực chất chỉ là một nội dung trong nội hàm của tính “minh bạch” Trong rất nhiều tài liệu nghiên cứu một số Luật gia, nhà quản lý đều sử dụng khái niệm công khai, minh bạch hoá để chỉ “tính minh bạch”

Khái niệm “công k h a ĩ\ “minh bạch'” được Từ điển Tiếng Việt do Hoàng

Phê chủ biên, Viện ngôn ngữ học xuất bản năm 2004 giải nghĩa:

3 Nguyễn Sĩ Dũng, M inh bạch, Vietnam net ngày 12/9/2003, ] 1:12’ (GM T+7) tại

htpp://www.vnn.vn/thuhanoi/2003/29086, truy cập ngày 15-6-2008.

Trang 17

- Công khai (t): tính từ hay tính ngữ và tổ hợp tương đương không giữ kín,

mà đ ể cho mọi người đều có thể biết.

- Minh bạch (t): Rỗ ràng, rành mạch.4

Từ điển từ và ngữ Hán Việt của Giáo sư Nguyễn Lân do Nhà xuất bản Văn

học xuất bản năm 2003 giải thích khái niệm “công khai” và “minh bạch” như sau:

- Công khai (Công: việc chung, khai mở): cho mọi người biết, không giữ bí

mật, không giấu giếm.

- Minh bạch: (Minh: sáng, bạch: trắng) rõ ràng.s

Theo nghĩa thông thường, minh bạch là sự rõ ràng, rành mạch, ai cũng có thể biết Như vậy vấn đề minh bạch hoá sẽ phải bao gồm hai nội dung chính: Thứ nhất đó là sự không bí mật, không giấu giếm đối với mọi người đây chính là việc công khai; Thứ hai đó là sự rõ ràng, hiển hiện ai cũng có thể thấy, nội dung này có nghĩa là dễ tiếp cận và có khả năng dự đoán trước

Công khai, minh bạch hóa là một thuật ngữ pháp lý mới đối với hệ thống pháp luật Việt Nam, được đề cập đến nhiều sau khi Việt Nam ký kết và thực hiện Hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ và trong quá trình đàm phán, gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) như là một yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế- quốc tế

Mặc dù là một thuật ngữ pháp lí mới, nhưng giờ đây “minh bạch” đã được nhắc đến không chỉ như là một nghĩa vụ pháp lí quốc tế, mà còn được đề cập như một yêu cầu của cuộc sống xã hội trong giai đoạn phát triển mới

Thuật ngữ “minh bạch” theo cách hiểu của WTO là sự đánh giá về tính công khai và dễ dự đoán của các chính sách và tập quán thương mại cũng như quá trình triển khai chúng

Nghĩa vụ bảo đảm tính công khai, minh bạch trong các quy định của WTO không phải mang tính ngẫu nhiên hay áp đặt của WTO, mà nó xuất phát từ nhu

cầu “gìn giữ các nguyên tắc và mục tiêu cơ bản của hệ thống thương mại đa

4 Hoàng Phê- Chủ biên (2004), T ừ điển Tiếng Việt, Viện Ngôn Ngữ học xuất bản, Hà Nội.

5 Nguyễn Lvân (2003), T ừ điển và ngữ H án Việt, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội

Trang 18

phương” và thúc đẩy tự do hoá thương mại nhằm ngăn ngừa các biện pháp tuỳ

tiện, không thích hợp được đặt ra trong chính sách, luật pháp, quy định và các biện pháp hành chính của các quốc gia thành viên Đôi khi lời hứa không tăng thêm rào cản cũng quan trọng không kém lời hứa giảm rào cản thương mại bởi

vì điều này giúp doanh nghiệp thấy được rõ hơn khả năng phát triển của mình trong tương lai Chính sách ổn định và minh bạch sẽ khuyến khích đầu tư, tạo việc làm; người tiêu dùng tận dụng được nhiều lợi thế nhờ tự do cạnh tranh, nghĩa là họ có thêm nhiều cơ hội lựa chọn và được hưởng một mức giá thấp Hệ thống thương mại đa biên cụ thể hoá những nỗ lực của chính phủ các quốc gia thành viên nhằm tạo một môi trường thương mại ổn định và dễ dự đoán

Trong hoạt động thương mại quốc tế, sự rủi ro và không tin cậy giữa các đối tác cũng như giữa các quốc gia thành viên của WTO hiện diện thường xuyên, do sự khác nhau về chính trị- văn hoá- pháp luật và xã hội Để giảm thiểu rủi ro cũng như phát sinh những tranh chấp không đáng có, yêu cầu về tính minh bạch của các quốc gia thành viên WTO mang tính ràng buộc chung và không có bảo lưu Mục đích chính của minh bạch hoá chính là xây dụng và bảo đảm lòng tin của các quốc gia, các doanh nghiệp khi tham gia hoạt động thương mại quốc tế

Trong nhà nước pháp quyền, minh bạch hoá còn là nguyên tắc cơ bản trong

quá trình lập pháp và hành pháp, theo nguyên tắc này thì “pháp luật phải được

công chúng biết trước, ổn định theo thời gian, rỗ ràng và không mập mờ và được

áp dụng một cách thống nhất và không tuỳ tiện bởi một hội đồng xét xử độc lập

và quyết định đưa ra sẽ được xem xét lại bởi cơ quan tư pháp”.6 ở chừng mực

mỗi quốc gia thành viên cho phép, minh bạch hoá còn giúp cho công dân và các quốc gia thành viên khác góp ý kiến trong việc xây dựng luật và các văn bản liên quan đến luật thương mại quốc tế

Công khai, minh bạch hoá cũng là điều kiện không thể thiếu để đảm bảo

và phát huy quyền tự chủ, tự do tiến hành các hoạt động kinh tế, tham gia các

6 Phạm Văn Phai, M inh bạch hoá pháp luật, công khai các phán quyết của Toà án trong tổ chức thương mại th ế giới va thực trạng của Việt Nam, lualsuhanoi.org, 15:00 (GM T+7) tại

http://www.luatsuhanoi.org.vn/traodoi/m inhbachhoaphapluat.asp

Trang 19

hoạt động xã hội của người dân, đảm bảo và phát huy dân chủ trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội Dưới nhiều góc độ, nhiều đối tượng khác nhau, minh bạch hoá có những vai trò, tác động khác nhau.

Đối với xã hội, minh bạch sẽ giúp phân bổ nguồn lực xã hội một cách hiệu quả Khi minh bạch, về nguyên tắc, tài sản và nguồn lực của xã hội sẽ có cơ hội tìm đến được người sử dụng nó hiệu quả nhất

Đối với nhà đầu tư, sự minh bạch có ý nghĩa quan trọng đối với việc giảm thiểu chi phí, giảm rủi ro cho doanh nghiệp và nhà đầu tư Khi nhà đầu tư dễ dàng trong tiếp cận thông tin, nhanh chóng trong thực hiện các thủ tục hành chính, tiên liệu được các thay đổi về chính sách thì rõ ràng có động lực để quyết định đầu tư lớn và lâu dài

Đối với bộ máy Nhà nước, như ánh sáng mặt trời đối với vi trùng, minh bạch có vai trò rất quan trọng trong giảm thiểu tham nhũng Đòi hỏi về minh bạch còn tạo ra được sức ép để bộ máy nhà nước vận hành tốt hơn

Không như cơ sở hạ tầng “cứng” (đường sá, cảng biển, chất lượng nhân lực ) khó cải thiện trong một sớm một chiều, tính minh bạch chính là một trong những cơ sở hạ tầng “mềm” mà mỗi quốc gia có thể tập trung cải thiện trong thời gian ngắn để cạnh tranh hơn trong thu hút đầu tư và phát triển doang nghiệp, đây là yêu cầu của hội nhập kinh tế- quốc tế nhung cũng là sự lựa chọn khôn ngoan trong điểu kiộn nguồn lực có hạn

Đối với hoạt động thương mại quốc tế, minh bạch đóng vai trò góp phần gìn giữ các nguyên tắc và mục tiêu cơ bản của hệ thống thương mại đa phương và thúc đẩy tự do hoá thương mại nhằm ngăn ngừa các biện pháp tuỳ tiện, không thích họp được đặt ra trong các chính sách, luật pháp, quy định và các biện pháp hành chính của các quốc gia khi tham gia hoạt động thương mại quốc tế

1.3 Quy định về minh bạch hoá trong các văn kiện của WTO.

Để đảm bảo hoạt động thương mại được công bằng tự do như mục đích đề

ra, các nước thành viên WTO thương lượng đ ể thống nhất ban hành các quy tắc

Trang 20

và tuân thủ các quy tắc đó Các quy tắc của WTO được ghi nhận tại các Hiệp định của WTO, là kết quả thương lượng giữa các nước thành viên đều đã được Quốc hội của tất cả các nước thành viên phê chuẩn.

Hệ thống quy tắc hiện nay là kết quả của Vòng đàm phán Uruguay (1986- 1994), qua đó điều chỉnh đáng kể Hiệp ước CiATT nguyên thuỷ (GATT 1947) Vòng đàm phán Uruguay đã đặt ra những quy tắc mới điều chỉnh thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ, giải quyết tranh chấp và xem xét chính sách thương mại.Toàn bộ hệ thống quy tắc của WTO hiện nay gồm 60 hiệp định, dài đến 30.000 trang Trong các Hiệp định của WTO, tính minh bạch hoá là nội dung không được bảo lưu

Nội dung về công khai, minh bạch hoá trong các hiệp định, thoả thuận của WTO bao gồm những cơ bản:

Thứ nhất, các quy định về nghĩa vụ yêu cầu các nước thành viên phải đăng tải tất

cả các luật, quy định chung trước khi thực thi các luật, quy định chung này

Thứ hai, các quy định yêu cầu các nước thành viên phải thông báo những chính sách có liên quan đến thương mại của nước mình tới WTO và các nước thành viên;

Thứ ba, các quy định liên quan đến việc thực thi các quy định của nhà nước một cách nhất quán, đồng bộ, công bằng và hợp lý; và các quy định liên quan đến quyền được yêu cầu xem xét lại các quyết định trước khi thực thi

Trong quá trình hoạt động, yêu cầu về minh bạch hoá đối vói các nước thành viên theo quan điểm của WTO thông qua ở 03 giai đoạn, bao gồm:

Thứ nhất, minh bạch trong hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật: Trong giai đoạn này yêu cầu về minh bạch hoá bao gồm việc lấy ý kiến

nhân dân trong quá trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật, chính sách đến việc công bố chính sách, văn bản quy phạm pháp luật sau khi được ban hành và phổ biến, bao gổm: đăng tải văn bản quy phạm pháp luật trên một địa chỉ cụ thể, việc dịch chính sách, văn bản quy phạm pháp luật ra tiếng dân tộc thiểu số và

Trang 21

tiếng nước ngoài; minh bạch trong việc tiếp thu ý kiến phản biện, góp ý từ phía

xã hội

Thứ hai, minh bạch trong thực thi chính sách, pháp luật: có thể nói đây

chính là việc thực hiện minh bạch trong lĩnh vực quản lý nhà nước Đây là lĩnh

vực rất rộng liên quan đến hoạt động nội bộ của các cơ quan nhà nước mà quan

trọng hơn là liên quan trực tiếp đến việc giải quyết các yêu cầu cụ thể của công

dân Như vậy yêu cầu về minh bạch hoá là việc quy định các thủ tục hành chính,

tiêu chí để ban hành các quyết định hành chính có ảnh hưởng đến thương mại

phải được công khai, rõ ràng và tạo điều kiện về mặt thời gian để những đối

tượng bị tác động bởi quyết định hành chính có thời gian chuẩn bị

Thứ ba, minh bạch trong lĩnh vực tư pháp: đây chính là yêu cầu về minh

bạch hoá các thủ tục tố tụng, ban hành bản án, quyết định của Toà án, thi hành

án liên quan đến hoạt động thương mại

Cả ba giai đoạn trên đều phải đáp ứng được hai yêu cầu của tính minh bạch

đó là: công khai; rõ ràng, rành mạch, nhất quán và ổn định

Quy định về minh bạch hoá trong WTO được thể hiện trong nhiều Hiệp

định khác nhau, từ các Hiệp định cơ bản cho đến nhũng Hiệp chi tiết bổ sung;

các Phụ lục; quy định liên quan đến giải quyết tranh chấp; quy định về chính

sách xem xét thương mại

(Hiệp định Marrkesh) và trong các hiệp định : GATT; GATS; TRIPS.

“ Quyết tâm xây dựng một cơ ch ế thương mại đa biên chặt chẽ, ổn định, và

khả thi hơn” trong lời nói đầu của Hiêp định thành lập WTO không đề cập trực

tiếp đến thuật ngữ minh bạch, nhưng tính minh bạch đã được đề cập đến thông

qua yêu cầu về “ơn định” của cơ chế thương mại đa biên Không có điều khoản

cụ thể đề cập đến tính minh bạch hoá, tuy nhiên toàn bộ các quy định của Hiệp

định được xây dựng và hoàn thiện một cách công khai, cũng như nội dung các

quy định được diễn giải một cách dễ hiểu Như vậy, với mục đích xây dựng một

Trang 22

Cơ chế thương mại đa biên chặt chẽ, ổn định và khả thi hơn, Hiệp định thành lập WTO đã tạo ra một cơ chế hoạt động minh bạch cho bản thân Tổ chức thương mại thế giới.

Các Hiệp định của WTO điều chỉnh nhiều lĩnh vực khác nhau trong hoạt động thương mại quốc tế, nhưng tựu trung lại tập trung vào 03 lĩnh vực: thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, quyền sở hữu liên quan đến thương mại; tương ứng là ba Hiệp định cơ bản của WTO: Hiệp định chung về thuế quan và thương mại- General Agreement on Tariff and Trade (GATT 1994); Hiệp định chung về thương mại dịch vụ- General Agreement on Trade in Services (GATS); Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của các quyền

sở hữu trí tuệ- A Agreement on Trade - Related Aspects of Intellectual Property Rights (TRIPs) Trong ba Hiệp định cơ bản của WTO điều chỉnh ba lĩnh vực của hoạt động thương mại quốc tế, tính minh bạch được quy định một cách cụ thể, chi tiết để điều chỉnh hành vi của các quốc gia thành viên khi tham gia hoạt động thương mại quốc tế

Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT 1994), tại Điều X: Công bố và quản lý các quy tác thương mại:

“ 1 Các luật, quy tắc, quyết định pháp luật và quy tắc hành chính có hiệu

lực chung, được bất cứ bên kỷ kết nào áp dụng

2 Các Bên kỷ kết sẽ không thực thi trước khi công b ố chính thức ”

Như vậy theo yêu cầu của Điều X (1), nghĩa vụ công bố cho các Chính phủ hay các doanh nhân biết các Luật, quy tắc, quyết định pháp luật và quy tắc hành chính có hiệu lực chung ảnh hưởng đến hoạt động thương mại là bắt buộc Việc

công bố này phải tuân thủ và tiến hành một cách “khẩn trương’ và bằng một

cách nào đó để các Chính phủ, doanh nhân biết nhanh nhất Không chỉ có vậy, điều này còn buộc Chính phủ các nước thành viên có nghĩa vụ công bố cả những hiệp định có tác động tới hoạt động thương mại quốc tế đang có hiệu lực đến các Chính phủ và doanh nhân biết, việc công bố này cũng được thực hiện với cách

Trang 23

khẩn trương nhất Tuy nhiên, đã xuất hiện ngoại lệ, đó là không buộc các nước thành viên phải tiết lộ thông tin được quy định là thông tin mật, hoặc việc công

bố đó có thể gây trở ngại cho việc thực thi pháp luật, hoặc trái với quyền lợi chung gây tổn hại quyền lợi thương mại chính đáng của một doanh nghiệp nào

đó (dù là quốc doanh hay tư nhân) Đây chính là thực hiện khía cạnh “công

khai” để đạt được sự minh bạch theo quy định của WTO.

Không chỉ dừng lại ở việc “công bồ” các luật, quy tắc, quyết định pháp luật

và quy tắc hành chính, tại Điều X (2) nghĩa vụ “công bơ” trước khi thực thi còn

là điều kiện tiên quyết để các luật, quy tắc, quyết định pháp luật, quy tắc hành

chính có hiệu lực Điều này khẳng định, chỉ những “biện pháp nào có phạm vi

áp dụng chung” đã được công bố mới có hiệu lực thi hành và những trường hợp

không được công bố thì đương nhiên không có hiệu lực

Ngoài ra, Điều X (3) còn quy định rằng các bên ký kết cần quản lý việc thực hiện tất cả các văn bản pháp luật và các quy định có liên quan một cách đồng bộ, khách quan và họp lý, cũng như phải duy trì tất cả các cơ chế giám sát độc lập và phù hợp như cơ chế tố tụng tư pháp, trọng tài hay hành chính nhằm xem xét và điều chỉnh kịp thời các hoạt động hành chính có liên quan tới lĩnh vực thuế quan

Theo điều này, các nước thành viên phải có trách nhiệm và nghĩa vụ “công bố

khẩn trương bằng cách nào đó để các chính phủ hay cấc doanh nhân biết ” đối vối

những thông tin liên quan đến các hoạt động thương mại, ngoài ra nó còn yêu cầu các bên ký kết cần quản lý việc thực hiện tất cả các văn bản pháp luật và các quy định có liên quan một cách đồng bộ, khách quan và hợp lý cũng như phải duy trì tất

cả các cơ chế giám sát độc lập và phù hợp như cơ chế tố tụng tư pháp, trọng tài hay hành chính nhằm xem xét và điều chỉnh kịp thời các hoạt động hành chính có liên quan tói lĩnh vực thuế quan

Hiệp định chung vê thương mại dịch vụ (GATS).

Trang 24

Cũng như đối với thương mại hàng hoá, các thương nhân về thương mại dịch vụ

sẽ gặp phải trở ngại lớn không kém trong quá trình làm ăn kinh doanh ở nước ngoài nếu họ không được biết về các quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động của

họ Chính vì vậy mà GATS yêu cầu mọi quốc gia thành viên phải thực hiện “tất cả

các biện pháp áp dụng thành viên công bô' kịp thời” theo quy định của Hiệp định

(tức là biện pháp áp dụng cho tất cả các thương nhân chứ không phải chỉ áp dụng cho từng thương nhân riêng biệt) Các quốc gia thành viên cũng phải thông báo với Hội đồng về thương mại dịch vụ các văn bản pháp luật, các hướng dẫn hành chính mói hoặc các văn bản pháp luật và các hướng dẫn được sửa đổi, bổ sung có ảnh hưởng tới hoạt động thương mại dịch vụ trong khuôn khổ các cam kết cụ thể của các quốc gia thành viên

Những nội dung về công khai, minh bạch được quy định tại Điều I I I : Tính

minh bạch

" 1 Các Thành viên phải nhanh chóng công bố mọi biện pháp

2 Trong trường hợp việc công bố quy định tại khoản 1 của Điều này không thể

thực hiện được, các thông tin đó phải được công khai theo cách thức khác.

3 Các Thành viên phải nhanh chóng và ừ nhất môi năm một lần thông báo cho Hội đồng thương mại dịch

4 Mỗi Thành viên phải trả lời không chậm trễ

5 Các Thành viên có thể thông báo cho Hội đồng thương mại dịch vụ bất kỳ biện pháp nào do một Thành viên khác áp dụng được coi là có tác động đến việc thực thi Hiệp định này

Nếu so sánh GATT vối GATS, sẽ thấy rằng các nguyên tắc căn bản của GATS được chuyển từ GATT sang chính là các nguyên tắc để bảo đảm tính công khai,

minh bạch Tại Điều ru (1), nghĩa vụ “nhanh chóng công bổ’ mọi biện pháp có liên

quan hoặc tác động đến việc thi hành Hiệp định này tương ứng với cách diễn đạt

“công b ố khẩn trưong”, nhưng trong điều này còn có quy định về thời gian của việc

thực hiện nghĩa vụ công bố “chậm nhất” trước khi các biện pháp đó có hiệu lực thi

Trang 25

hành Như vậy, việc công bố các biện pháp có liên quan hoặc tác động đến GATS phải được thực hiện càng sớm càng tốt, tuy nhiên không thể muộn hơn trước khi các biện pháp đó có hiệu lực trừ trường hợp khẩn cấp Đối với những Hiệp định quốc tế

có liên quan hoặc tác động đến thương mại dịch vụ mà các Thành viên tham gia cũng phải thực hiện nghĩa vụ này, yêu cầu này cũng giống như quy định tại Điều X-

GATT Thực hiện tốt nghĩa vụ “công b ố \ chính là các nước thành viên đã đáp ứng

được khía cạnh công khai hoá của tính minh bạch theo yêu cầu của WTO

Dự liệu trong trường hợp không thể công bố các thông tin theo quy định tại Điều n i (1), Điều DI (2) quy định: khi không thể thực hiện được việc công bố theo khoản 1, các thông tin đó phải được công khai theo cách thức khác Cách thức khác tuỳ theo từng trường hợp cụ thể áp dụng một cách linh hoạt

Không chỉ thuần tuý yêu cầu các nước thành viên thực hiện việc “công bố”,

tại Điều m (3) còn đưa ra nghĩa vụ về định kỳ thông báo các văn bản pháp luật mới hoặc bất kỳ sửa đổi bổ sung nào trong các luật, quy định hoặc hướng dẫn hành chính có tác động cơ bản đến thương mại dịch vụ thuộc các cam kết cụ thể theo Hiệp định, việc định kỳ thông báo này phải được thực hiện một cách nhanh chóng và ít nhất mỗi năm một lần cho Hội đồng thương mại dịch vụ của WTO

Để thực hiện nghĩa vụ về minh bạch hoá ở một cấp độ cao hơn trong Hiệp định, tại Điều m (4) đó là nghĩa vụ trả lời đối với các yêu cầu của bất kỳ một thành viên nào khác về những thông tin cụ thể liên quan đến các biện pháp được

áp dụng chung hoặc các hiệp định quốc tế Ngoài nghĩa vụ trả lời, mỗi nước thành viên cũng phải có trách nhiệm thành lập một hoặc nhiều điểm cung cấp thông tin cụ thể theo yêu cầu của các thành viên khác về những vấn đề nêu trên cũng như những vấn đề thuộc đối tượng được yêu cầu Thời gian thành lập các điểm hỏi đáp này là hai năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực, riêng đối với các nước thành viên đang phát triển có thể thoả thuận thời hạn linh hoạt hơn

Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của các quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS)

Trang 26

Liên quan đến nghĩa vụ về bảo đảm tính công khai, minh bạch trong TRIPs, chính phủ và doanh nghiệp của các quốc gia thành viên có quyền tiếp cận các văn bản pháp luật và các thủ tục liên quan đến bảo hộ phát minh sáng chế, bản quyền và nhãn hiệu thương mại của quốc gia thành viên khác.

TRIPs cũng đề ra các thủ tục thi hành cụ thể và nhấn mạnh vấn đề bảo đảm tính công khai, minh bạch bằng việc dùng trực tiếp thuật ngữ “công khai, minh

bạch” làm tiêu đề cho các quy định của: Điều 63: Tính minh bạch:

“ 1 Các luật và các quy định, các quyết định xét xử và các quyết định hành chính cuối cùng đ ể ấp dụng chung

2 Các Thành viên phải thông tin

3 Theo yêu cầu bằng văn bản của một Thành viên

4 Không quy định nào tại các khoản từ khoản 1 đến khoản 3 trên đây buộc các Thành viên tiết lộ những thông tin bí mật có thể cản trở việc thực thi luật hoặc trái với lợi ích xã hội hoặc có thể gây tổn hại cho lợi ích thương mại hợp pháp của doanh nghiệp cụ thể nào đó, thuộc khu vực nhà nước hoặc tư nhân ”

Thực hiện nghĩa vụ minh bạch hoá thương mại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, Điều 63 (1) yêu cầu tất cả các luật và các quy định, các quyết định xét xử và các quyết định hành chính cuối cùng để áp dụng chung do các Thành viên ban hành

“phải được công b ố \ hoặc nếu việc công bố không thực hiện được, thì “phải dược tiếp cận một cách công khai” sao cho để các Chính phủ và người nắm quyền tác có

thể biết rõ về các văn bản đó Ngoài ra, các Thoả ước liên quan có hiệu lực giữa Chính phủ hoặc một cơ quan của Chính phủ của một nước thành viên với Chính

phủ hoặc một cơ quan của Chính phủ nước thành viên khác cũng “phải được công

b ố \ do quy định pháp luật của các nước liên quan đến sở hữu trí tuệ ở từng nước

Trang 27

trí tuệ”, thường gọi là Hội đổng TRIPs Các quốc gia thành viên phải thông báo

cho Hội đổng tất cả các văn bản quy định và các biện pháp hành chính liên quan

đến bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Thông qua các quy định này cũng như qua Hội

đổng TRIPs tính công khai, minh bạch hoá của Hiệp định được đảm bảo thực

thi, góp phần thúc đẩy tự do thương mại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ

Hiệp định còn trao cho các Thành viên quyền yêu cầu bằng văn bản, yêu cầu

mỗi Thành viên khác phải sẵn sàng cung cấp thông tin về các vấn đề được quy định

tại khoản 1, ngoài ra nếu Thành viên nào có lý do để tin rằng tồn tại một quyết định

xét xử hoặc quyết đinh hành chính hoặc thoả thuận song phương trong lĩnh vực

quyền sở hữu trí tuệ ảnh hưởng đến các quyền của mình theo Hiệp định cũng có

quyền yêu cầu bằng văn bản để được tiếp cận hoặc được thông tin chi tiết về những

quyết định xét xử, quyết định hành chính hoặc các thoả thuận song phương như vậy-

Điều 63 (3) Thực hiện quyền yêu cầu và nghĩa vụ cung cấp thông tin này chính là

thực hiện cơ chế “hỏi đáp”, một cấp độ cao hơn của minh bạch, như vậy không chỉ

thực hiện việc công khai, mà còn thực hiện cả nghĩa vụ trả lòi, cung cấp các thông tin

có liên quan Tuy nhiên đối vói những thông tin bí mật khi cung cấp có thể gây ảnh

hưởng đến việc thực thi pháp luật hoặc trái vói lợi ích xã hội hoặc có thể gây tổn hại

đến lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp thì sẽ không buộc phải tiết lộ

sung các Hiệp định theo lĩnh vực và trong phụ lục các Hiệp định cụ thể.

Trong bộ các Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới, ngoài ba

Hiệp định cơ bản điểu chỉnh ba lĩnh vực hoạt động thương mại quốc tế còn có

rất nhiều các hiệp định chi tiết bổ sung ba Hiệp định cơ bản theo từng lĩnh vực

Vấn đề minh bạch hoá đều được đề cập đến trong các Hiệp định với các quy

định cụ thể

Ngoài ba Hiệp định cơ bản nêu trên, còn có một số Hiệp định chi tiết bổ

sung sau đây đã đề cập đến vấn đề minh bạch hoá, bao gồm:

Hiệp định về rào cản kỹ thuật đối với thương mại.

Trang 28

Theo quy định tại Điều 2- Mục 9: Chuẩn bị, thông qua và áp dụng các quy

định kỹ thuật của các cơ quan chính phủ; Thực hiện minh bạch hoá theo quy định

của Hiệp định được tiến hành với các cấp độ khác nhau: công khai, cung cấp thông tin, trả lời các câu hỏi, tiếp nhận các ý kiến phản hồi và giải đáp ý kiến của các thành viên Khi dự định đưa vào áp dụng một quy định kỹ thuật cụ thể nào đó nước thành

viên phải có nghĩa vụ công khai bằng hình thức xuất bản “ấn phẩm”, trong một

khoảng thời gian nhất định để các bên hữu quan biết; Ban thư ký sẽ có trách nhiệm thông báo cho các nước thành viên khác về các sản phẩm sẽ được áp dụng tiêu chuẩn

kỹ thuật và kèm theo đó là các chỉ dẫn cần thiết, thông báo này được thông báo sớm

để có thể tiếp nhận ý kiến đóng góp, phản hồi từ đó đưa ra được những sửa đổi cần thiết Ngoài ra, khi có nước Thành viên yêu cầu, phải cung cấp cho các Thành viên khác bản sao của quy định kỹ thuật dự định áp dụng và, khi cần thiết, làm rõ những phần nội dung của quy định đó có sự khác biệt với các tiêu chuẩn quốc tế có liên quan Không những vậy, các nước thành viên khác còn có quyền tham gia góp ý kiên, thảo luận và kết quả của quá trình thảo luận phải được công khai Khi các tiêu chuẩn kỹ thuật được ban hành, nó cũng không thể có hiệu lực ngay lập tức trừ trường hợp khẩn cấp (đề cập đến tại khoản 10- Điều 2) mà cần có một khoảng thời gian nhất định để các nước thành viên có thời gian điều chỉnh sản phẩm của mình sao cho phù hợp với các tiêu chuẩn mới

Như vậy, việc thực hiện công khai, minh bạch trong một thời gian hợp lý

chính là các nước thành viên phải có nghĩa vụ “công b ố trên một ấn phẩm”, hoặc “thông báo qua Ban thư ký” về dự định đưa vào áp dụng một quy định kỹ

thuật cụ thể nào đó và có khả năng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến thương mại của các thành viên khác Ngoài ra trong khoảng thời gian hợp lý các thành viên khác có quyền được góp ý đối với nội dung của quy định kỹ thuật dự định áp dụng, trong trường hợp cần thiết có thể yêu cầu quốc gia dự định áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật đó làm rõ những phần nội dung của quy định đó có sự khác

Trang 29

biệt với các tiêu chuẩn quốc tế có liên quan Đây chính là nội dung công khai của minh bạch hoá trong qúa trình ban hành các văn bản pháp luật

Việc đặt ra cơ chế này nhằm hạn chế các quốc gia thành viên tuỳ tiện đặt các tiêu chuẩn kỹ thuật, bao gồm các yêu cầu về bao bì, ký mã hiệu, nhãn hiệu và các thủ tục đánh giá sự phù hợp với các quy định và các tiêu chuẩn kỹ thuật từ đó tạo ra các trở ngại không cần thiết cho thương mại quốc tế

Thừa nhận rằng, không một nước nào có thể bị ngăn cản tiến hành các biện pháp cần thiết để đảm bảo chất lượng hàng hóa xuất khẩu của mình, hoặc để bảo

vệ cuộc sống hay sức khỏe con người, động và thực vật, bảo vệ môi trường hoặc

để ngăn ngừa các hoạt động gian lận, ở mức độ mà nước đó cho là phù hợp và phải đảm bảo rằng các biên pháp này không được tiến hành với cách thức có thể gây ra phân biệt đối xử một cách tuỳ tiện hoặc không thể biện minh được giữa các nước, trong các điều kiện giống nhau, hoặc tạo ra các hạn chế trá hình đối với thương mại quốc tế, hay nói cách khác phải phù hợp với các quy định của Hiệp định này;

Hiệp định về quy tắc xuất xứ hàng hoá.

Cũng như một số Hiệp định khác của WTO, Hiệp định có những quy định

đề cập trực tiếp đến Khoản 1- Điều X- GATT 1994

Tại Điều 2- g:“ các luật, qui định dưới luật, quyết định tư pháp và hành

chính đ ể áp dụng chung liên quan đến qui tắc xuất xứ sẽ được công bô' như là đối tượng chịu sự điều chỉnh và tuân thủ các qui định tại khoản 1 Điều X GATT

1 9 9 4 và Điều 3- e:“tái cả các luật, qui định dưới luật, quyết định tư pháp và hành chính được áp dụng chung liên quan đến qui tắc xuất xứ sẽ được công bố như là đối tượng và phải phù hợp với qui định tại khoản 1 Điều X của GATT 1994-r

Như vậy, có thể nói vói những quy định nêu trên, Hiệp định đã thể hiện tất cả các nội dung về minh bạch hoá, công khai hoá theo cách hiểu và áp dụng của WTO thông qua việc viện dẫn đến Điều X- GATT 1994 Đó là việc công khai các luật, quy định

Trang 30

dưói luật, quyết định tư pháp và hành chính để áp dụng chung liên quan đến quy tắc xuất xứ một cách khẩn trưang và bằng nhiều cách thức sao cho Chính phủ, doanh nhân các nước Thành viên biết.

Việc viện dẫn Điều X- GATT 1994 góp phần ngăn chặn sự không minh bạch của các quốc gia thành viên trong việc sử dụng văn bản quy phạm quốc nội, quyết định tư pháp và hành chính có thể gây ra sự hạn chế tự do hoá thương mại toàn cầu

Hiệp định về thủ tục cấp phép nhập khẩu:

Tại Lời nói đầu ‘Tin tưởng rằng việc cấp phép nhập khẩu, đặc biệt là việc cấp

phép không tự động phải được thực hiện một cách minh bạch và có thể dự đoán trước được; ”

“Mong muốn đơn giản hoá, và làm minh bạch các thủ tục hành chính và thực tiễn áp dụng trong thương mại quốc tế, và để đảm bảo việc áp dụng, và quản lý các thủ tục và thực tiễn đó được bình đẳng và công bằng; ”

Như vậy một trong các mục tiêu cơ bản của Hiệp định là nhằm đảm bảo thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu của các quốc gia thành viên phải được minh bạch, các quy định có liên quan phải được công bố và mẫu đơn xin cấp phép phải rõ ràng, đơn giản

và dễ áp dụng Toàn bộ quy trình thủ tục cấp phép phải thống nhất với các nghĩa vụ chung của quốc gia theo quy định của WTO

Cũng tại Điều 1- Những quy định chung, có những quy định cụ thể, về

việc minh bạch liên quan thủ tục nộp đơn xin cấp phép nhập khẩu, gia hạn giấy phép nhập khẩu; điều đó góp phần minh bạch hơn nữa thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu của mỗi quốc gia thành viên

Thực hiện nghĩa vụ công bố mọi quy định, thông tin liên quan đến thủ tục nộp đơn xin giấy phép nhập khẩu như điều kiện để người, công ty và tổ chức được quyền nộp đơn xin cấp phép, cơ quan hành chính cấp phép, danh mục hàng hoá phải xin phép nhập khẩu, ngoài ra còn đồng thời phải thông báo cho Uỷ ban Cấp phép Nhập khẩu nói tại Điều 4 (trong Hiệp định này gọi là uỷ ban) với cách thức sao cho chính

Trang 31

phủ các nước và nhà kinh doanh có thể nắm bắt được Không chỉ thực hiện công khai đến một số đối tượng, mà trong điều kiện cho phép, Hiệp định khuyến khích các Thành viên thực hiện thông báo công khai các thông tin trong thời hạn 21 ngày trước khi các quy định, yêu cầu có hiệu lực, nhưng thời hạn bắt buộc phải thông báo trong mọi trường hợp không được muộn hơn ngày có hiệu lực Như vậy, nước thành viên phải dành một khoảng thời gian nhất định để tiếp nhận các ý kiến đóng góp, phản hồi của các nước thành viên khác Các nước thành viên khác có quyền được thảo luận về những quy định đó, và được biết kết quả thảo luận các ý kiến đóng góp; nước Thành viên phải có trách nhiệm nghiên cứu nghiêm túc các kết quả của cuộc thảo luận Nước thành viên còn có trách nhiệm cung cấp bản sao cho các nước Thành viên khác nghiên cứu nếu có yêu cầu Tóm lại, thực hiện yêu cầu của tính minh bạch, Hiệp định đã yêu cầu các nước Thành viên thực hiện một loạt các biện pháp góp phần minh bạch hơn nữa thủ tục cấp phép xuất, nhập khẩu Ngoài ra, Hịêp định còn yêu cầu các nước thành viên đơn giản hoá tói mức tối đa về mẫu đơn, nội dung của đơn, đơn giản hoá thủ tục nộp đơn cũng như đưa ra thòi hạn cụ thể là 21 ngày để giải quyết.

Hiệp định trợ cấp và các biện pháp đối kháng:

Đối vói yêu cầu về minh bạch chính sách, pháp luật thương mại quốc tế của các

nước thành viên, tại Điều 25- Các thông báo: quy định các thành viên có nghĩa vụ

nộp thông báo về trợ cấp không chậm hơn ngày 30 tháng 6 hàng năm, cũng như buộc các nước thành viên phải thông báo về mọi khoản trợ cấp được truy trì hay áp dụng trên lãnh thổ của mình Không chỉ buộc các nước thành viên thực hiện nghĩa

vụ thông báo, hiộp định còn yêu cầu nội dung thông báo phải đủ chi tiết cụ thể để các Thành viên khác có thể đánh giá tác động thương mại của nó và hiểu về hoạt động của chương trình trợ cấp được thông báo Ngoài ra, bất kỳ nước thành viên nào cũng có quyền yêu cầu nước thực hiện biện pháp trợ cấp cung cấp thông tin về biện pháp trợ cấp, giải thích lý do đối với những biện pháp trợ cấp nhưng không có trong thông báo Tóm lại, trong Hiệp định trợ cấp và các biện pháp đối kháng yêu cầu về tính minh bạch là rất cao, các quy định để thực hiện sự minh bạch chủ yếu tập trung

Trang 32

vào việc thực hiện nghĩa vụ thông báo việc áp dụng các biện pháp trợ cấp của các nước thành viên.

Hiệp định về các biện pháp tự vệ.

Hiệp định quy định các biện pháp tự vệ giúp hạn chế nhập khẩu trong trường hợp khẩn cấp, Hiệp định cho phép nước nhập khẩu tạm thời hạn chế nhập khẩu nếu các cơ quan có thẩm quyền, sau khi tiến hành điều tra, khẳng định rằng việc hàng đang được nhập khẩu với số lượng tăng (tăng tuyệt đối hoặc tương đối so với sản xuất trong nước) sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành công nghiệp trong nước sản xuất cũng như sản phẩm tương tự hoặc trực tiếp cạnh tranh với những sản phẩm đó

Nhằm mục đích hạn chế sự tuỳ tiện trong việc áp dụng các biện pháp tự vệ, gây ảnh hưởng đến quá trình tự do hoá thương mại quốc tế, các quốc gia thành viên thống nhất đưa ra cơ chế công khai, minh bạch để giám sát Thông qua Uỷ ban về các biện pháp tự vệ, một quốc gia nếu muốn tiến hành áp dụng biện pháp

tự về phải có trách nhiệm “thông báo ngay lập tức” cho u ỷ ban ngay từ quá trình điều tra, kết luận của cuộc điều tra và “quyết định áp dụng hoặc mở rộng

biện pháp tự vệ” Ngoài ra thành viên dự kiến áp dụng hay mở rộng biện pháp tự

vệ còn có trách nhiệm cung cấp tất cả các thông tin cần thiết cho Ưỷ ban (chứng

cứ về sự tổn hại nghiêm trọng hay đe dọa gây ra tổn hại nghiêm trọng do sự gia tăng nhập khẩu, mô tả rõ ràng loại sản phẩm liên quan, biện pháp dự kiến, thời điểm áp dụng dự kiến và tiến độ thực hiện tự do hóa biện pháp này) Không

những vậy, nước thành viên dự định áp dụng biện pháp tự vệ còn có phải dành những cơ hội thích hợp để tham vấn trước với các Thành viên có quyền lợi cung cấp chủ yếu như nhà xuất khẩu sản phẩm có liên quan, nhằm rà soát thông tin được cung cấp tại khoản 2, trao đổi các quan điểm về biện pháp áp dụng và đạt được một sự hiểu biết về những phương thức nhằm đạt được mục tiêu đề ra

Tại Điều 12: Thông báo và tham vấn; các yêu cầu về “thông báo”, “cung cấp

thông tin cần thiết”, “dành những cơ hội thích hợp để tham vấn trước” cho uỷ ban,

Trang 33

nước thành viên có quyền lọi liên quan là bắt buộc đối với nước thành viên có ý định

áp dụng các biện pháp tự vệ Đây là nhũng biện pháp làm minh bạch hoá cũng như góp phần làm ổn định hoạt động thương mại quốc tế

Tóm lại, tính minh bạch trong Hiệp định đã được thực hiện với nhiều cấp

độ khác nhau: từ việc công khai các biện pháp tự vệ đến việc dành cơ hội thích hợp để tham vấn nước Thành viên có quyền lợi cung cấp chủ yếu Để góp phần thực hiện các biện pháp nhằm đáp ứng yêu cầu của tính minh bạch, một cơ chế được đặt ra để tiếp nhận thông tin, cung cấp thông tin chính là việc thành lập Uỷ ban về các biện pháp tự vệ Các Thành viên sẽ thông báo ngay lập tức cho Ưỷ ban về các biện pháp tự vệ về pháp luật, quy định và thủ tục hành chính của mình có liên quan tới các biện pháp tự vệ này cũng như những sửa đổi của chúng Đây là tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận các thông báo của nước Thành viên về việc áp dụng các biện pháp tự vệ, từ đó các nước Thành viên còn lại có thể tham khảo Trong trường hợp việc tiết lộ thông tin bí mật mà việc tiết lộ này

có thể ngăn cản việc thực thi pháp luật hay nói cách khác là đi ngược lại lợi ích chung và lợi ích thương mại của các 30

doanh nghiệp nhà nước hay tư nhân cụ thể thì các nước Thành viên không nhất thiết phải thực hiện nghĩa vụ thông báo

Hiệp định về việc áp dụng các biện pháp kiểm dịch động- thực vật.

Tại Hiệp định này thuật ngữ “minh bạch” đã xuất hiện và được sử dụng

trực tiếp Điều 7: Minh bạch chính sách “Các Thành viên sẽ thông báo những

thay đổi trong các biện pháp vệ sinh động-thực vật và cung cấp thông tin về cấc biện pháp vệ sinh động-thực vật của mình theo các điều khoản của Phụ lục B

Minh bạch ở đây chính là thực hiện nghĩa vụ công khai thông qua hình thức thông báo các biện pháp vệ sinh động- thực vật, việc cung cấp các biện pháp vệ sinh động-thực vật theo quy định

Trong Hiệp định và phần Phụ lục B có những quy định để thực hiện việc minh bạch chính sách thông qua việc yêu cầu các thành viên có nghĩa vụ thông

Trang 34

báo những thay đổi trong các biện pháp vệ sinh động- thực vật và trách nhiệm cung cấp thông tin về các biện pháp động- thực vật

Quy định cụ thể về trách nhiệm cung cấp thông tin, Phụ lục B: Minh bạch

các quy định vệ sinh động, thực vật; quy định nghĩa vụ công bố các quy định,

xây dựng điểm hỏi đáp, thủ tục thông báo và các bảo lưu chung Các Thành viên đảm bảo tất cả các quy định vệ sinh động-thực vật đã ban hành đều được công bố ngay sao cho các Thành viên quan tâm có thể biết về các quy định đó trong một khoảng thời gian hợp lý để các nhà sản xuất ở các Thành viên xuất khẩu, đặc biệt là tại các Thành viên đang phát triển, điều chỉnh sản phẩm và phương pháp sản xuất của mình theo yêu cầu Trừ trường hợp khẩn cấp, việc công bố có thể không cần có thời gian chuẩn bị cho các nhà sản xuất Không chỉ thực hiện nghĩa vụ công bố các quy định, nước Thành viên còn có trách nhiệm xây dựng một điểm hỏi đáp chịu trách nhiêm trả lòi mọi câu hỏi hợp lý từ các Thành viên có quan tâm cũng như cung cấp tài liệu có liên quan đến việc ban hành, thủ tục kiểm tra- kiểm dịch, cũng như các yếu tố khác liên quan đến vệ sinh động- thực vật

Trong trường hợp một quy định vệ sinh động-thực vật dự kiến đưa ra cơ bản không giống với nội dung của một tiêu chuẩn, hướng dẫn và khuyến nghị quốc tế, và nếu quy định đó có thể có tác động quan trọng đến thương mại các Thành viên khác, nước Thành viên đưa ra phải thực hiện việc công khai thông qua hình thức thông báo đến các nước Thành viên, cho Ban thư ký, cung cấp các bản sao theo yêu cầu, dành một khoảng thời gian họp lý cho việc đưa ra các nhận xét, thảo luận các nhận xét đó Tính minh bạch còn được thể hiện bằng việc dịch các bản sao ra những ngôn ngữ thông dụng (tiếng Anh, tiếng Pháp hoặc tiếng Tây Ban Nha) Hiệp định còn yêu cầu ở mỗi nước thành viên phải có một cơ quan đầu mối duy nhất (cấp Trung ương) để thực hiện nghĩa vụ thông báo theo quy định

Hiệp định về Nông nghiệp.

Trang 35

Tại Mục 7- Điều 5: Tự vệ đặc biệt; Hiệp định yêu cầu nước thành viên khi áp

dụng các biện pháp tự vệ đặc biệt phải có trách nhiệm thông báo cho Uỷ ban nông nghiệp càng sớm càng tốt (thời hạn tối đa không quá 10 ngày) Biện pháp tự vệ đặc biệt chính là các biện pháp tạm thời được đặt ra để giảm bớt nhập khẩu nhằm giúp một ngành sản xuất nào đó tự điều chỉnh chính mình để thích ứng với sự cạnh tranh ngày càng tăng từ các nhà sản xuất nước ngoài (Saíeguard), các biện pháp tự vệ thường được áp dụng cho hàng hoá phi nông sản

Biện pháp tự vệ đặc biệt (Special Saíeguard) là một cơ chế trong Hiệp định Nông nghiệp dành cho các nước thành viên đã chuyển các biện pháp phi thuế quan sang bảo hộ bằng thuế quan Nó cho phép các nước thành viên đánh thuế

bổ sung các sản phẩm nông nghiệp nếu khối lượng hàng nông sản nhập khẩu vượt quá mức độ cho phép hoặc giá cho phép Các biện pháp tự vệ đặc biệt do

đó tạo ra một cơ chế bảo đảm an toàn cho các nước nhập khẩu trong trường hợp nhu cầu nhập khẩu gia tăng Các biện pháp tự vê phải được sử dụng một cách công khai Ngay khi bắt đầu giai đoạn thực hiện, phải có nghĩa vụ thông báo trước, trong đó nêu rõ cách thức quản lý hạn ngạch thuế quan Thông báo này

phải trình bày rõ, ví dụ, nhập khẩu được thực hiện trên nguyên tắc “ai đến trước

được hưởng trước” hay nếu sử dụng giấy phép nhập khẩu, cần có sự chỉ rõ ai là

người có thể được cấp phép và chúng được phân bổ như thế nào Cần phải có thông báo tức thời nếu có bất kỳ thay đổi nào trong phương pháp phân bổ hạn ngạch Cuối mỗi năm, phải có thông báo lượng nhập khẩu trong khuôn khổ hạn ngạch thuế quan Các quốc gia thành viên có quyền sử dụng các quy định về tự

vệ đặc biệt phải thông báo khi bắt đầu áp dụng nhằm cho phép các đối tác thương mại thiết lập được các tham số của hành động tự vệ đặc biệt, như là số lượng hoặc giá cả được sử dụng để khởi tạo biện pháp tự vệ đặc biệt Trong trường hợp khống chế giá, cần có thông báo trước về mức giá tham chiếu Thêm vào đó, một thông báo tóm tắt thường niên về việc sử dụng các biện pháp tự vệ cũng là bắt buộc Khi nước Thành viên có hành động thực hiện các biện pháp tự

Trang 36

vệ đặc biệt, nước thành viên đó cần tạo điều kiện cho các Thành viên có lợi ích trong đó được tham vấn về điều kiện áp dụng hành động đó.

Tại Mục 2, 3-Điều 18: Rà soát việc thực hiện cam kết có những yêu cầu về nghĩa vụ “thông báo” của các nước thành viên trong quá trình thực hiện cam kết,

quy định này đáp ứng được ba nội dung cơ bản của công khai, minh bạch theo cách hiểu của WTO Bất kỳ biện pháp hỗ trợ trong nước nào hoặc sửa đổi biện pháp hiện hành có yêu cầu được miễn trừ cắt giảm đều phải được thông báo ngay Trong bản thông báo đó phải đề cập đầy đủ và chi tiết về biện pháp mới hoặc sửa đổi và sự phù hợp của chúng

Tóm lại, công khai minh bạch trong Hiệp định về Nông nghiệp tập trung trong việc thực hiện biện pháp tự vệ đặc biệt của các nước thành viên, và quá trình

rà soát việc thực hiện các cam kết của Hiệp định do nó có ảnh hưởng trực tiếp đến quản lý thương mại của các nước thành viên khác cũng như ảnh hưởng đến quá trình tự do hoá thương mại quốc tế Để giám sát quá trình thực hiện minh bạch, công khai hoá trong các quy định của Hiệp định về Nông nghiệp, các nước thành viên thống nhất thành lập Uỷ ban Nông nghiệp, đây là nơi tiếp nhận các thông báo liên quan đến quản lý thương mại của tất cả các nước thành viên

Hiệp đinh về biện pháp đầu tư liên quan đến thương m ạ i.

Do bản Hiệp định chỉ áp dụng cho các biện pháp đầu tư liên quan đêh thương mại hàng hoá, các quy định của bản Hiệp định đều có những dẫn chiếu quan trọng

đến Hiệp định GATT 1994 Điều 6.1- Minh bạch hoá, chính là việc các Thành viên

khẳng định lại cam kết thực hiện nghĩa vụ về minh bạch hóa và thông báo tại Điều X

của GATT 1994, về việc thực thi "Thông báo" qui định tại Bản Diễn giải về thông

báo, tham vãh, giải quyết tranh chấp và giám sát được thông qua ngày 28 tháng 11 năm 1979 và tại Quyết định của các Bộ trưởng về các thủ tục thông báo thông qua ngày 15 tháng 4 năm 1994

Ngoài các Hiệp định nêu trên, tiêu chí công bố kịp thời, quản lý thực hiện đổng bộ, khách quan và họp lý các quy định về thương mại trong Điều X-

Trang 37

GATT cũng được quy định một cách đa dạng nhưng nhất quán trong hầu hết các

thoả thuận đa phương trong Phụ chương 1A của Hiệp định Marrakesh hình

thành WTO cũng như trong các Bản ghi nhớ kèm theo GATT 1994 Trong số

sáu Bản ghi nhớ đi kèm GATT 1994, ba Bản ghi nhớ đã quy định đảm bảo tính

công khai, minh bạch của quyền và nghĩa vụ pháp lý liên quan đến cắt giảm và

xác định lộ trình thuế quan, bảo đảm tối đa tính công khai, minh bạch cơ chế

giám sát chính sách liên quan tới các hoạt động của các doanh nghiệp thương

mại nhà nước, bảo đảm công bố công khai và kịp thời thời gian biểu cắt giảm

các biện pháp hạn chế nhập khẩu vì mục đích giữ cân bằng thanh toán và bảo

đảm hạn chế tới mức tối thiểu các biện pháp bảo hộ đột xuất và việc thực hiện

các biện pháp này cần được quản lý một cách minh bạch và công khai

Bản ghi nhớ về giải thích Điều II: l(b) của GATT 1994, khoản 1 quy định:

nhằm đảm bảo tính minh bạch của các quyền về nghĩa vụ pháp lý phát sinh từ

khoản 1 (b) Điểu n , bản chất và mức “thuếhoặc phí khác” có liên quan đến các

hạng mục chịu thuế, được viên dẫn trong quy định này, sẽ phải được ghi giữ

trong Danh mục nhượng bộ (Schedule of Concession) đính kèm tại Phụ lục của

GATT 1994 đối với các hạng mục thuế mà chúng áp dụng Điều này được hiểu

rằng việc ghi giữ đó không làm thay đổi tính chất pháp lý của “các loại thuế và

phí khác”.

Bản ghi nhớ về giải thích Điều XVII- GATT 1994, khoản 2 quy định “ Mỗi

thành viên s ẽ tiến hành thẩm định các chính sách của quốc gia mình có liên

quan ”.

Khi tiến hành thẩm định các chính sách, Bản ghi nhớ yêu cầu các thành

viên phải đảm bảo tối đa tính công khai, minh bạch trong việc thông báo, từ đó

cho phép đánh giá rõ ràng phương thức hoạt động của doanh nghiệp được thông

báo và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó trong thương mại quốc tế

tranh chấp.

Trang 38

Một hiệp định quốc tế tốt nhất sẽ không có nhiều giá trị nếu những nghĩa

vụ của hiệp định này không được thực thi khi một bên trong các bên ký kết không tuân thủ nghĩa vụ này Do vậy, một cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả

sẽ làm gia tăng giá trị thực tiễn của các cam kết mà các bên ký kết đã chấp thuận trong hiệp định quốc tế Việc các thành viên WTO đã thành lập ra một hệ thống giải quyết tranh chấp trong vòng Uruguay đã nhấn mạnh tầm quan trọng rất lớn của việc tất cả các nước thành viên trong WTO tuân thủ các nghĩa vụ của mình theo Hiệp định WTO

Việc giải quyết tranh chấp kịp thời và theo cách thức được xây dựng chặt chẽ là rất quan trọng Nó sẽ giúp hạn chế các tác động bất lợi của các mâu thuẫn không được giải quyết trong thương mại quốc tế và làm dịu đi những bất bình đẳng giữa những người yếu và kẻ mạnh thông qua việc giải quyết tranh chấp giữa họ trên cở sở các quy định pháp luật thay vì cho phép bên có sức mạnh quyết định kết quả

Hệ thống giải quyết tranh chấp hiện nay được thành lập như là một phần của Hiệp định WTO trong thời gian vòng Uruguay Nó bao gồm Thoả thuận về các quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp và thường được nhắc tói như là Thoả thuận về giải quyết tranh chấp, viết tắt là DSU DSU chính là phụ lục 2 của Hiệp định WTO đã đưa ra các thủ tục và quy tắc hình thành nên

hệ thống giải quyết tranh chấp ngày nay

Đối với việc minh bạch hoá, Thỏa thuận và giải quyết tranh chấp chính là một cơ chế góp phần bảo đảm cho sự an toàn và tính dự báo trước cho hệ thống thương mại đa phương Đáp ứng, bảo đảm tính minh bạch cho hệ thống thương mại đa phương là mục tiêu trọng tâm của Hệ thống giải quyết tranh chấp WTO

Tại Điều 3: Các quy định chung: “ 2 Hệ thống giải quyết tranh chấp

của WTO là một nhân tố trung tâm trong việc tạo ra sự an toàn và khả năng dự đoán trước cho hệ thống thương mại đa phương ”

Trang 39

Mặc dù hệ thống thương mại quốc tế được hiểu trong WTO như là dòng hàng hoá và dịch vụ lưu chuyển giữa các nước thành viên, nhưng nói chung, các nhà nước không trực tiếp tiến hành các hoạt động thương mại như vậy, mà do các đối tác kinh tế tư nhân tiến hành Những đối tác tham gia thị trường này cần

sự ổn định và tính dự đoán trước trong các luật lệ, quy định, nguyên tắc điều chỉnh hoạt động thương mại của họ, đặc biệt là khi họ thực hiện thương mại trên

cơ sở các giao dịch dài hạn Do đó mục tiêu của DSU là bảo đảm có một hệ thống hoạt động trên cở sở quy định pháp luật, tin cậy, hiệu quả và nhanh chóng

để giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc áp dụng các điều khoản của Hiệp định WTO Thông qua việc tăng cường nguyên tắc pháp quyền, hệ thống giải quyết tranh chấp làm cho hệ thống thương mại trở nên an toàn hơn và có khả năng dự đoán trước Khi một thành viên cho là có sự không tuân thủ Hiệp định WTO, hệ thống giải quyết tranh chấp sẽ đưa ra cách giải quyết tương đối nhanh chóng đối với vấn đề đó bằng một quyết định độc lập, buộc phải thi hành ngay, và nếu thành viên thua kiện không chịu thi hành thì có thể sẽ bị trừng phạt thương mại

Để có thể đáp ứng các yêu cầu của tính minh bạch, các nội dung của bản Thoả thuận về giải quyết tranh chấp trong WTO được xây dựng một cách dễ hiểu, nội dung rõ ràng và đặc biệt trong quá trình giải quyết các tranh chấp đều đặt ra những thời hạn cụ thể và hợp lý để các bên tham gia tranh chấp có được

sự chuẩn bị tốt nhất Đặc biệt, tại Phụ lục 3- Thủ tục làm việc- Khoản 10: “ Đ ể

đảm bảo hoàn toàn minh bạch, các bài trình bày, phản bác và tuyên b ố được đề cập từ Khoản 5 đến 9 phải được đưa ra khi có mặt các bên ” Quy định này

nhằm hạn chế sự không công khai của các bên trong quá trình đưa ra các bài trình bày hoặc phản bác của mình, tăng cường tính minh bạch của quá trình giải quyết của Ban hội thẩm Các bài trình bày, tuyên bố của các bên khi đưa ra phải

có mặt của các bên, và các văn bản độ trình của mỗi bên phải được cung cấp cho các bên khác Tại Khoản 12- Phụ lục 3, quy định về thời gian biểu dự kiến cho

Trang 40

công việc của Ban hội thẩm, đã đặt ra một thời gian cụ thể, chặt chẽ, rõ ràng và

công khai cho từng công đoạn giải quyết của Ban hội thẩm để các bên có thể

nắm bắt và tham gia Tuy nhiên thời gian biểu nêu trên cũng có thể thay đổi

theo những diễn biến không thể lường trước được

Như vậy, có thể nói thông qua việc thực hiện triệt để các quy định trong

Thoả thuận về giải quyết tranh chấp trong WTO chính là góp phần làm minh

bạch hoá quá trình hoạt động của hệ thống thương mại đa phương

thương mại.

Một cơ chế quan trọng được đặt ra nhằm đảm bảo tính công khai, minh

bạch của WTO là Cơ chế thẩm tra chính sách thương mại (TPRM) Cơ chế này

được hình thành vào năm 1989 trong Phụ lục 3 của Hiệp định Marrakesh về

thành lập Tổ chức thương mại thế giới

Trước hết TPRM là một cơ chế được thiết kế nhằm tăng cường công khai

và đối thoại về các vấn đề chính sách thương mại Tuy nhiên, nó cũng là một cơ

chế nhằm khuyến khích các nước thực hiện cải cách thương mại và đơn giản hoá

các quy định về thương mại

Mục tiêu của Cơ chế thẩm tra chính sách thương mại là góp phần nâng cao

sự tôn trọng của các quốc gia thành viên đối với các quy chế trật tự và cam kết

do WTO đề ra TPRM hỗ trợ cho hệ thống thương mại đa biên hoạt động trôi

chảy hơn bằng cách hiện thực hoá tính công khai, minh bạch và tăng cường sự

hiểu biết về các chính sách và thực tiễn thương mại của các quốc gia thành viên

Tại Mục A- Các mục tiêu: “ i) Mục đích của Cơ chế Rà soát Chính sách Thương

mại ( ‘TPRM ”) là nhằm làm cho các Thành viên tuân thủ triệt đ ể các quy tắc,

nguyên tắc và cam kết được ghi nhận trong các Hiệp định Thương mại Đa biên và

các Hiệp định Thương mại Nhiều bên

Dựa trên mục tiêu đặt ra, trong bản Phụ lục đề ra yêu cầu về sự minh bạch

nội tại của mỗi quốc gia thành viên; B Sự minh bạch nội địa:“ Các Thành viên

Ngày đăng: 24/01/2021, 22:23

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w