Ở Việt Nam, các quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng nhượng quyền thương mại cũng như các quy định liên quan đến việc bảo vệ quyền lọi cho bên nhận quyền còn khá sơ s
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TRƯỜNG ĐẠI HỌC TổNG HỢP LUND
NGUYỄN THỊ TÌNH
VẤN ĐỂ BẢO VỆ QUYỂN LỢI CỦA BÊN NHẬN QUYỀN TRONG QUAN HỆ HỢP eỔNG NHƯỢNG QUYỂN THUDNG MẠI
CỦA ANH, PHÁP VÀ LIÊN IHINH CHÂU Âu
Chuyên ngành: Luật Quốc tế và So sánh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới hai giáo viên hướng dẫn, PGS.TS Katarina Olsson - Khoa Luật, Trường Đại học Tổng họp Limd, Thụy Điển và TS Nguyễn Viết Tý - Khoa Pháp luật Kinh tế trường Đại học Luật Hà Nội, những người đã cho tôi lòi khuyên và hướng dẫn tận tình trong suốt quá trình viết luận văn
Xin chân thành cảm ơn các anh, chị làm việc tại Thư viện Khoa Luật, trường Đại học Tổng họp Lund, Thụy Điển và trường Đại học Luật Hà Nội đã tận tình giúp đỡ tôi trong việc tra cứu tài liệu
Cuối cùng tôi xin được bày tỏ ỉòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn
bè - những người đã thầm lặng động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thòi gian qua!
Trang 4M Ụ C LỤ C• e
MỤC L Ự C
1 Lời mở đầu
1.1 Lý do lựa chọn đề t à i
1.2 Mục đích nghiên cứu của đề tà i
1.3 Phạm vi nghiên c ứ u
1.4 Phương pháp nghiên cún của đề tà i
1.5 Nguồn tài liệ u
1.6 Kết cấu của Luận v ă n
2 Những vấn đề cơ bản về họp đồng và họp đồng nhượng quyền thương m ại
2.1 Họp đ ồ n g
2.1.1 Khái niệm họp đồng
2.1.2 Nguyên tắc ký kết và thực hiện họp đồng .
2.2 Nhượng quyền thương mại và hợp đồng nhượng quyền thương m ại
2.2.1 Việt Nam 7 7 7
2.2.2 Pháp
2.2.3 A nh
2.2.4 Liên minh Châu  u
3 Thực trạng pháp luật Việt Nam, Anh, Pháp và Liên minh Châu Âu về việc bảo vệ quyền lợi cho bên nhận quyền
3.1 Vấn đề cung cấp íhôns tin trước khi ký kết họp đồng nhượng quyền thương m ạ i
3.1.1 Việt Nam
3.1.2 P h á p
3.1.3 A nh
3.1.4 Liên minh Châu  u
3.2 Vấn đề trợ giúp kv thuật của bên nhưọng quyền đối với bên nhận quyền
3.2.1 Việt Nam
3.2.2 P h áp
3.2.3 A nh
Ị 1
-.2 3
4
4
5
6
6
6
„7 13 14 20 21 23
31 31 33 39 43 47 52 53 54 56
Trang 53.2.4 Liên minh Châu  u 56
3.3 Nguồn cung cấp hàng hóa, nguyên vật liệu đối vói bên nhận quyền 59
3.3.1 Việt Nam 62
3.3.2 P háp 64
3.3.3 Anh 65
3.3.4 Liên minh Châu  u 66
3.4 Vấn đề xác định giá bán hàng hóa/dịch vụ của bên nhận quyền 70
3.4.1 Việt Nam.' ! 71
3.4.2 Pháp 72
3.4.3 A n h 74
3.4.4 Liên minh Châu  u 75
4 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền lợi cho bên nhận quyền 80
4.1 Hoàn thiện quy định pháp luật về nghĩa vụ cung cấp thông tin trước khi ký hợp đồng nhượng quyền thương m ại 81
4.2 Hoàn thiện quy định pháp luật về trợ giúp kỹ thuật đối với bên nhận quyền 83
4.3 Hoàn thiện quy định pháp luật về nguồn cung cấp hàng hóa/nguyên vật liệu cho bên nhận quyền 84
4.4 Hoàn thiện quy định pháp luật về xác định giá bán hàng hóa/dịch vụ của bên nhận quyền 85
5 Kết luận 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 61 L ời m ở đầu
1.1 Lý do lựa chọn đề tài
Trong thời gian gần đây các hoạt động thương mại ở Việt Nam diễn ra rất sôi động đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), nhượng quyền thương mại với tư cách là một hoạt động thương mại cụ thể cũng không nằm ngoài vòng xoáy đó Thực tiễn cho thấy hoạt động nhượng quyền thương mại có rất nhiều ưu điểm như hạn chế rủi ro cho các chủ thể mới gia nhập thị trường; chi phí đầu tư thấp; khả năng thành công cao do kinh doanh dưới tên một thương hiệu, phương thức đã được kiểm nghiệm trên thực tế Chính
vì vậy, phương thức kinh doanh thông qua nhượng quyền thương mại rất được các thương nhân quan tâm, hàng loạt các thương hiệu kinh doanh theo phương thức nhượng quyền đã hình thành rất nhanh chóng ở Việt Nam trong thời gian qua, như: McDonalcTs, Loterria, Seven Eleven, Kentucky, Cà phê Trung Nguyên, Kinh đô Bakery, Phở 24, Phở Vuông, AQ Silk, Trà Qualitea, Dilmah, thời trang Foci
v ề nguyên tắc, trong quá trình kinh doanh theo phương thức nhượng quyền, bên nhượng quyền và bên nhận quyền hoàn toàn độc lập về tư cách pháp
lý cũng như các vấn đề liên quan đến tài chính Để tiến hành kinh doanh dưới hình thức nhượng quyền, bên nhượng quyền thường soạn sẵn hợp đồng nhượng quyền với rất nhiều điều khoản theo hướng có lợi hơn cho mình, và thường bất lợi với rất ít sự lựa chọn cho bên nhận quyền Do ở vị thế phải “đi mua sự nổi tiếng”, kinh doanh dựa trên quyền thương mại của bên nhượng quyền, do đó trong quá trình giao kết cũng như thực hiện hơp đồng, bên nhận quyền thường ở
vị trí yếu thế hơn Bên cạnh đó, do bản chất của quan hệ nhượng quyền thương mại, phán luật của các nước thường cho phép bên nhượng quyền kiểm soát hành
vi kinh doanh của bên nhận quyền nhằm bảo vệ danh tiếng cũng như tính thống
1
Trang 7nhất trong toàn bộ hệ thống nhượng quyền Đây là những nguyên nhân chủ yếu
lý giải tại sao bên nhận quyền thường ở vị thế bất lợi trong quá trình đàm phán
cũng như thực hiện họp đồng
Ở Việt Nam, các quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp
đồng nhượng quyền thương mại cũng như các quy định liên quan đến việc bảo
vệ quyền lọi cho bên nhận quyền còn khá sơ sài, Do vậy, nếu không được pháp
luật bảo vệ một cách họp lý, bên nhận quyền có thể phải đối mặt với khả năng bị
xâm phạm quyền lợi chính đáng từ chính đối tác của mình là bên nhượng quyền
Xét về mặt thực tiễn, hoạt động nhượng quyền thương mại đã hình thành
từ rất sớm và rất phát triển ở các nước Châu Âu, chính vì vậy, hệ thống pháp luật
về nhượng quyền thương mại ở những nước này khá hoàn thiện Do đó, việc
nghiên cứu, so sánh giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật của một số nước Châu
Âu trong lĩnh vực này sẽ giúp chúng ta có thể học hỏi được nhiều kinh nghiệm
lập pháp của họ
Từ những phân tích trên, tôi đã quyết định chọn đề tài “ vấn đề bảo vệ
quyền lợi của bên nhận quyền trong quan hệ hợp đồng nhượng quyền thương
mại theo pháp luật Việt nam - So sánh với pháp luật của Anh, Pháp và Liên
minh Châu Ẩu” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ luật học của mình
1.2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề tài có mục đích so sánh pháp luật Việt Nam với pháp luật của Anh,
Pháp và Liên minh Châu Ầu về vấn đề bảo vệ quyền lợi của bên nhận quyền
Thông qua việc so sánh, đề tài mong muốn đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn
thiện pháp luật Việt Nam về nhượng quyền thương mại nói chung và bảo vệ
quyền lợi cho bên nhận quyền nói riêng
Cụ thể, một số vấn đề cần phải nghiên cứu trong luận văn là:
Nam, Anh, Pháp và Liên minh Châu Âu
Trang 8— Cách thức để có thể hoàn thiện pháp luật Việt Nam điều chỉnh vấn đề này.
1.3 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu việc bảo vệ quyền lợi của bên nhận quyền
thông qua bốn vấn đề cơ bản, đó ià: (1) v ấ n đề cung cấp thông tin cho bên nhận
quyền trước khi ký kết họp đồng; (2) v ấn đề về trợ giúp kỹ thuật đối với bên
nhận quyền; (3) v ấ n đề về nguồn cune cấp nguyên vật liệu hoặc hàng hóa cho
bên nhận quyền, và (4) v ấ n đề về quyền ấn định giá bán lẻ đối với hàng hóa/dịch
vụ của bên nhận quyền
Việc lựa chọn nghiên cứu so sánh bốn vấn đề nêu trên xuất phát từ các lý
do sau đây:
M ột là, việc cung cấp thông tin và trợ giúp kỹ thuật cho bên nhận quyền
được thực hiện chủ yếu dựa vào thiện chí của bên nhượng quyền, do vậy trong
thực tế bên nhượng quyền có thể vi phạm nghĩa vụ của mình mà bên nhận quyền
khó có thể nhận biết hoặc kiểm soát được
Hai là, việc chỉ định nguồn cung cấp nguyên vật liệu/hàng hoá cho bên
nhận quyền cũng như việc ấn định giá bán đối với hàng hóa/dịch vụ của bên
nhận quyền là hai vấn đề thường bị bên nhượng quyền lạm quyền để áp đặt do vị
thế bất lợi của bên nhận quyền
Cần phải lưu ý là Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu so sánh bốn vấn đề
nêu trên trên cơ sở quy định của pháp luật Việt Nam, Anh, Pháp và Liên minh
Châu Âu Việc lựa chọn so sánh với các nước nêu trên xuất phát từ hai lý do sau
đây: (1) Hệ thống pháp luật của họ khá khác biệt so với Việt Nam, do đó việc
nghiên cứu pháp luật của các quốc gia có hệ thống pháp luật khác biệt như
những nước này có thể giúp Việt Nam học hỏi được một số quan điểm mới từ
họ; (2) Hoạt động nhưọng quyền thương mại đã xuất hiện rất sớm và rất phát
3
Trang 9triển ở các nước này, do đó pháp luật về nhượng quyền thương mại ở đây khá toàn diện.
1.4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Để đạt được mục đích nêu trên, tác giả đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp ứong quá trình nghiên cứu, như:
- Phương pháp mô tả được sử dụng để phác họa nội dung của các quy định pháp luật của Việt Nam, Anh, Pháp và Liên minh Châu Âu liên quan đến quyền và vấn đề bảo vệ quyền cho bên nhận quyền
- Phương pháp so sánh được sử dụng để rút ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật của Anh, Pháp và Liên minh Châu Âu về những vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Cuối cùng, phương pháp phân tích được sử dụng để làm rõ nội dung của các quy đinh này và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề bảo vệ quyền lợi cho bên nhận quyền
1.5 Nguồn tài liệu
- Các quy định pháp lý về điều chỉnh các quan hệ hợp đồng, cạnh tranh và nhượng quyền thương mại ở Việt Nam, Anh, Pháp và Liên minh Châu Âu
- Án lệ
- Các ý kiến, bình luận, bài báo liên quan đến nhượng quyền thươngmại
Trang 101.6 Kết cấu của Luân văn
Phần 1: Lời mỏ' đầu
Phần 2: Những vấn đề cơ bản về họp đồng và họp đồng nhượng quyền thương mại
Phần 3: Thực trạng pháp luật Việt Nam, Anh, Pháp và Liên minh Châu
Âu về việc bảo vệ quyền lợi cho bên nhận quyền
Phần 4: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về việc bảo vệ quyền lợi cho bên nhận quyền
Phần 5: Kết luận
5
Trang 11đó nhu cầu trao đổi, giao lưu của con người được thực thi và đảm bảo Dưới góc
độ pháp lý, họp đồng được đề cập đến như là sự thống nhất ý chí của nhiều người nhằm dung hòa các lợi ích để đạt được điều mình đang hướng tới Nền kinh tế thị trường càng phát triển, hình thức và lĩnh vực phát sinh của hợp đồng càng đa dạng Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, những hợp đồng phát sinh
từ quan hệ nhượng quyền thương mại cũng góp phần quyết định mức độ thành công của các bên chủ thể hợp đồng nói riêng và hệ thống nhượng quyền thương mại nói chung
Khái niệm hợp đồng được pháp luật các nước định nghĩa khá tương đồng Chẳng hạn, theo Điều 1101, Bộ luật Dân sự Pháp: “Họp đồng là sự thoả thuận giữa hai hoặc nhiều người, theo đó một hoặc một số người sẽ chuyến giao, làm hay không làm một công việc nhất định”.1 Hay trong Bộ luật Thương mại Thống nhất của Hoa Kỳ (ƯCC), Điều 1, phần 2 §1-201(11) đã định nghĩa, "Họp đồng" là tổng hợp những nghĩa vụ pháp lý do các bên thỏa thuận được điều chỉnh bởi luật này và các nguyên tắc áp dụng pháp luật khác Tương tự như vậy,
ở Việt Nam, khái niệm họp đồng được định nghĩa tại Bộ luật Dân sự 2005 dưới
http://w m v.Iegifrance.gouv.fr/htm l/codes_traduits/code_civiI_textA htỉn#C H A PTER % 20I
%20%20PRE (truy cập lần cuối ngày 18 tháng 4 năm 2009).
Trang 12thuật ngữ “hợp đồng dân sự”2, theo đó họp đồng dân sự là sự thoả tuận giữa các bên nhàm xác lậD, thay đổi hay chấm dút quyền và nghĩa vụ dân sự.3
Từ những định nghĩa như trên, chúng ta có thể thấy họp đồng có 3 đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, họp đồng trước hết là sự thỏa thuận, tự do ý chí, tự nguyện
giao kết giữa các bên chủ thể trong quan hệ họp đồng;
Thứ hai, đối tượng của hợp đồng có thể là vật, tài sản, thực hiện hoặc
không thực hiện một công việc nhất định;
Thứ ba, nội dung của hợp đồng bao giờ cũng là các quyền và nghĩa vụ
pháp lý Hay nói cách khác, hệ quả của việc giao kết họp đồng chính là làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên
2.1.2 Nguyên tắc ký kết và thực hiện hợp đồng
Để đảm bảo quyền lợi của các bên, đảm bảo hợp đồng được thiết lập trên
cơ sờ tự do ý chí và bình đảng, pháp iuật của hầu hết các quốc gia đều đưa ra những nguyên tắc nhất định đối với các bên trong họp đồng Trong đó, hai nguyên tắc sau đây được xem như kim chỉ nam trong quá trình giao kết cũng như thực hiện họp đồng, đó là:
- Nguyên tắc tự do họp đồng, và
- Nguyên tắc thiện chí và trung thực
2 ở Việt Nam, khái niệm “họp đồng dân sự” được hiểu như khái niệm hợp đồng nói chung, bỏ'i theo như Điều 1 cùa Bộ luật Dân sự 2005, quan hệ dân sự được hiểu là tất cà các quan hệ trong lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanli, thương mại, lao động.
3 Điều 388, Bộ luật Dân sự 2005.
7
Trang 132 1 2 1 N g u y ê n t ắ c T ự D O H Ợ P Đ Ổ N G
Nguyên tắc này ghi nhận quyền rộng rãi của các chủ thể trong việc tự do lựa chọn đối tác giao kết hợp đồng, tự do xác định nội dung của họp đồng mà không bị ép buộc bỏi bất cứ một chủ thể nào Đây được coi như là nguyên tắc nền tảng của pháp luật về họp đồng không chỉ ở pháp luật của các quốc gia mà còn trong các quy định của tổ chức quốc tế Cụ thể:
Bộ nguyên tắc về luật hợp đồng Châu Âu 1998 được ban hành bởi Hội đồng Pháp luật Họp đồng Châu Âu4 ( gọi tắt là “Bộ nguyên tắc 1998”) đã quy định rõ “Các bên hoàn toàn tự do ừong việc giao kết và xác định nội dung, đối tượng của hợp đồng theo nguyên tắc thiện chí trung thực, và các nguyên tắc bắt buộc khác theo quy định của Bộ nguyên tắc này”.5 Thêm vào đó, Điều 4.108 của
Bộ nguyên tắc này chỉ rõ : “một bên tham gia họp đồng do bị bên kia đe doạ một cách nghiêm trọng có thể hủy bỏ hợp đồng nếu: (a) Hành vi đe doạ đó có bản chất rõ ràng là bất hợp pháp hoặc (b) Hành vi đó được sử dụng nhằm mục đích đạt được việc giao kết hợp đồng, trừ trường hợp bên bị đe dọa hoàn toàn có khả năng lựa chọn hợp lý khác” Đây là biểu hiện của việc vi phạm nguyên tắc tự do hơp đồng, do các bên trong hợp đồng không hoàn toàn tự nguyện trong việc tham gia giao kết hợp đồng đó Do vậy, các bên tham gia giao kết họp đồng trong những trường họp này có quyền lựa chọn, hoặc là hủy bỏ họp đồng hoặc là tiếp tục thực hiện hợp đồng
4 Theo Điều 1:101 Phạm vi áp dụng của bộ nguyên tắc: (1) Bộ nguyên tắc này dự định áp dụng như những quy tắc luật họp đồng chung ỏ' Cộng đồng chung Châu Âu (EC); (2) Bộ nguyên tắc này sẽ được áp dụng khi các bên trong hợp đồng thỏa thuận rõ trong hợp đồng hoặc hợp đồng đó được điều chỉnh bởi bộ nguyên tắc; (3) Bộ nguyên tắc có thể được áp dụng khi các bên trong hợp đồng: (a) thỏa thuận rằng hợp đồng của họ sẽ được điều chỉnh bởi “nguyên tắc chung của luật”; hoặc (b) không chọn bất kỳ một hệ thống hay nguyên tắc pháp luật nào điều chỉnh hợp đồng cùa họ; (4) Bộ nguyên tắc này có thể cung cấp giải pháp để bổ sung khi mà hệ thốns hoặc nguyên tắc áp dụng luật được lụa chọn không quy định.
5 Điều 1.102 (1) Bộ nguyên tắc về luật hợp đồng ờ Châu Âu 1998
Trang 14Ở Pháp, nguyên tắc này cũng được đề cập trong Bộ luật Dân sự Pháp thông qua việc khẳng định “thoả thuận là cơ sở duy nhất trói buộc các bên trong họyp đồng” Đây là yêu cầu cần thiết để đảm bảo hiệu lực của hợp đồng.6 Nếu không có sự thoả thuận, hoặc khi mà sự thoả thuận được xuất phát bởi sự nhầm lẫn, hoặc đe doạ, lừa đối thì họp đồng có thể bị huỷ bỏ.7 Tuy nhiên, cũng theo quy định của Bộ luật Dân sự Pháp, một hợp đồng được giao kết bởi sự nhầm lẫn,
đe doạ hoặc lừa dối sẽ không bị tuyên vô hiệu thông qua hoạt động pháp luật, mà
nó là cơ sở làm phát sinh hành động huỷ bỏ họp đồng.8
Ở Việt Nam, cũng giống như các nước khác nguyên tắc này được quy định rõ trong Bộ luật Dân sự 2005 khi quy định rằng “Việc giao kết hợp đồng dân sự phải tuân theo các nguyên tắc sau đây: Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội”9 và “Người tham gia giao dịch10 hoàn toàn tự nguyện.”11 Nếu “một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị
đe dọa thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.” 12
Bên cạnh đó, Luật Thương mại 2005 cũng đã đề cập đến nguyên tắc này khi quy định: “(1) Các bên có quyền tự do thoả thuận không trái với các quy định của pháp luật, thuần phong mỹ tục và đạo đức xã hội để xác lập các quyền
và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại Nhà nước tôn trọng và bảo
hộ các quyền đó; (2) Trong hoạt động thương mại, các bên hoàn toàn tự nguyện,
6 Điều 1108, Bộ luật Dân sự Pháp.
7 Điều 1.102 (1) Bộ nguyên tắc về luật họp đồng ờ Châu Âu 1998
8 Điều 1117, Bộ luật Dân sự Pháp.
9 Điều 389.1, Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005.
10 “Giao dịch Dân sự” được hiểu là họp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hay chấm dút quyền và nghĩa vụ dân sự (Điều 121, Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005)
11 Điều 122 l(c) Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005
12 Điều 132 Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005
9
Trang 15không bên nào được thực hiện hành vi áp đặt, cưỡng ép, đe doạ, ngăn cản bên nào.’
Từ những quy định như trên có thể thấy nguyên tắc tự do hợp đồng được
thể hiện dưới các góc độ sau đây: Một là, các bên trong họp đồng có quyền tự
quyết trong việc có tham gia giao kết hợp đồng hay không cũng như quyết định
nội dung, đối tượng của họp đồng; Hai là, tất cả các trường họp ảnh hưởng đến
nguyên tắc tự do hợp đồng, như đe doạ, lừa dối hay nhầm lẫn bởi hành động của một bên có thể dẫn đến vô hiệu hoặc hủy bỏ họp đồng Bên cạnh đó, sự tự do này còn bị giói hạn ở tính họp pháp và không trái đạo đức xã hội trong nội dung họp đồng Nguyên tắc này là tất yếu và được ghi nhận trong pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới Tuy vậy, xét ở góc độ thực tiễn kinh tế xã hội, tự do ý chí và tự do giao kết hợp đồng chưa đủ để đảm bảo sự công bằng Thực tế cho thấy hợp đồng vẫn thường được sử dụng như một phương tiện để buộc ngưòi khác phải lệ thuộc vào mình đặc biệt trong mối quan hệ giữa một bên yếu và một bên mạnh, sự thiếu cân bằng trong quyền lực và khả năng thương lượng của các bên đòi hỏi phải có sự can thiệp nhất định của pháp luật nhằm kiểm soát các điều khoản và quy định của họp đồng Do đó, trong những trường hợp này cần thiết phải có một giới hạn nhất định về nguyên tắc tự do họp đồng để hạn chế những điều khoản bất bình đẳng trong họp đồng nói chung và trong hợp đồng nhượng quyền thương mại nói riêng
2 1 2 2 N g u y ê n t ắ c t h i ệ n c h í v à t r u n g T H ự c
Đây là nguyên tắc vô cùng quan trọng trong quan hệ họp đồng Pháp luật Việt Nam, Pháp, Anh và Liên minh Châu Âu không có bất cứ một định nghĩa nào về sự “thiện chí và trung thực” Tuy nhiên, có học giả đã định nghĩa thiện chí và trung thực là “không có mục đích gây tổn hại về mặt kinh tế được pháp
13 Điều 11, Luật Thương mại Việt Nam 2005.
Trang 16luật bảo vệ”14 hoặc là “hành vi theo một chuẩn mực họp lý theo tập quán thương mại và phù hợp với sự mong đợi được biết trước của bên kia của hợp đồng”.15
Bộ nguyên tắc năm 1998 của Hội đồng pháp luật Hợp đồng Châu Âu có những điều khoản liên quan đến nguyên tắc này với các quy đinh như “mỗi bên trong họp đồng phải thực hiện một cách thiện chí và trung thực Các bên không thể loại trừ hay hạn chế nguyên tắc này”16 và “mỗi bên phải có nghĩa vụ họp tác với nhau nhằm thực hiện hợp đồng một cách tốt nhất”' 7
Trong bộ nguyên tắc về Hợp đồng Thương mại Quốc tế 2004 của UNIDROIT (PICC),18 “thiện chí và trung thực” được coi như là nguyên tắc nền tảng Điều 1.7 đã quy định “các bên của hợp đồng phải tuân theo những yêu cầu
về thiện chí và trung thực trong thưcmg mại quốc tế”
Điều này cho thấy thiện chí và trung thực có thể được xem như một trong những tư tưởng chủ đạo mang tính nền tảng của Bộ nguyên tắc 1998 của Hội đồng pháp luật Hợp đồng Châu Âu và trong Bộ nguyên tắc của UNIDROIT Bằng việc quy định mỗi bên trong hợp đồng phải tuân theo những yêu cầu về
14 Burton, Steven J., “Breach of contract and the common law duty to períorm in good faith“, 94 Harvard
Law Review (1980) 369, at 372-73 and 372.nl7.
15 Holmes, Eric M., “A contextual Study of Commercial good faith: Good faith in disclosure in contract
Formation“, 39 University o f Pittsburgh Law Review (1978) 381, at 452.
16 Điều 1.201, Bộ nguyên tắc Luật Họp đồng Châu Âu 1998.
17 Điều 1.202, Bộ nguyên tắc Luật Họp đồng Châu Âu 1998.
18 PICC không phải là một hiệp định quốc tế Nó được soạn thảo bời Viện nghiên nghiên cứu quốc tế về thông nhất luật tư (UNIDROIT) với mục đích xây dụng những quy tắc chung áp dụng đối với hợp đồng thương mại quốc tế PICC sẽ được áp dụng khi các bên thoả thuận hợp đồng sẽ được điều chỉnh bởi bộ nguyên tắc này, hoặc các bên thoả thuận hợp đồng sẽ được điều chình bời “các nguyên tắc chung của
pháp luật”, bởi “lex mercatoria ” hay một cách diễn đạt tương tự Bộ nguyên tắc cũng sẽ được áp dụng
khi các bên không lựa chọn một luật cụ thể để điều chỉnh hợp đồng cùa họ; có thể được sử dụng để giải thích hay bổ sung cho các văn bản pháp luật quốc tế thống nhất khác, để giải thích hay bổ sung cho luật quôc gia hoặc có thể được dùng làm mẫu cho các nhà lập pháp quốc gia và quốc tể (Xem: Lời mờ đầu của PIC C ).
11
Trang 17thiện chí trung thực, quy định này cho thấy rõ là ngay cả khi không có nhũng quy định cụ thể trong Bộ nguyên tắc, các bên vẫn phải hành động vói tinh thần thiện chí và trung thực trong suốt thời gian thực hiện hợp đồng, kể cả trong giai đoạn đàm phán Bên cạnh đó, cả hai Bộ nguyên tắc trên đều quy định rõ nghĩa vụ thiện chí và trung thực là một nghĩa vụ cơ bản mà các bên không thể thoả thuận trong hợp đồng về việc loại bỏ hoặc hẹn chế Để làm rõ quy định này mục 2, phần bình luận Điều 1.7 của Bộ nguyên tắc ƯNIDROIT đã giải thích rõ “lạm dụng quyền” là một ví dụ điển hình cho việc thực hiện trái với nguyên tắc thiện chí và trung thực Nội dung của việc thực hiện trái với nguyên tắc này là những
xử sự gian dối của một bên, chẳng hạn: khi một bên thực hiện một quyền nào đó chỉ đế gây ra thiệt hại cho bên kia hay với mục đích khác với mục đích mà vì nó
họ có quyền này, hay khi việc thực hiện một quyền là không cân xứng với kết quả mong muốn ban đầu
Ở Pháp, Điều 1134, đoạn 3 của Bộ luật Dân sự Pháp đã đưa ra quy định mang tính nguyên tắc “Hợp đồng phải được thực hiện một cách thiện chí”
Tương tự như pháp luật của một số nước và các tổ chức quốc tế, pháp luật Việt Nam cũng ghi nhận nguyên tắc “thiện chí và trung thực” là nguyên tắc nền tảng trong môi trường kinh doanh hiện đại Điều 389, khoản 2, Bộ luật Dân
sự 2005 đã quy định rõ nguyên tắc giao kết hợp đồng dân sự là “tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trang thực và ngay thẳng” và việc thực hiện hợp đồng phải được “thực hiện một cách trung thực, theo tinh thần họp tác và có lợi nhất cho các bên, bảo đảm tin cậy lẫn nhau.”19
Như vậy, có thể hiểu đây là nguyên tắc đề cao sự hợp tác, trung thực của các bên trong quá trình giao kết cũng như thực hiện họp đồng Nó thường thể hiện dưới các góc độ sau đây:
19 Điều 412.2, Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005
Trang 18(1) Trong quá trình giao kết hợp đồng: Các bên phải cung cấp thông tin đầy đủ, rõ ràng, chính xác về hàng hóa, dịch vụ là đối tượng của họp đồng trước khi giao kết hợp đồng Chẳng hạn, trong quan hệ nhượng quyền thương mại, nguyên tắc này được đề cập rất cụ thể khi quy định bên nhượng quyền phải cung cấp đầy đủ thông tin cần thiết về hệ thống nhượng quyền cho bên nhận quyền trước khi giao kết hợp đồng nhằm giúp bên nhận quyền nắm được đầy đủ thông tin cần thiết để quyết định ký hay không ký hợp đồng.
(2) Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nguyên tắc thiện chí trung thực
sẽ được áp dụng dưới hai góc độ chính sau đây:
i Nghĩa vụ trung thành (loyalty): Trong hoạt động nhượng quyền thương mại, nghĩa vụ này được thể hiện ở chỗ bên nhận quyền phải giữ bí mật những thông tin về bí quyết kỹ thuật đã được bên nhượng quyền chuyển giao, kể
cả sau khi đã chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại
ii Trách nhiệm họp tác (co-operation), như trách nhiệm giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho đối tác trong quá trình thực hiện họp đồng, hạn chế tối đa những thiệt hại có thể xảy ra cho đối tác Bên cạnh đó, các bên trong họp đồng cũng không được phép lạm dụng quyền và lợi thế của mình để dành lợi thế cho mình và tạo ra sự bất bình đẳng đối với bên kia
2.2 Nhượng quyền thương mại và họp đồng nhượng quyền thương mại
Họp đồng nhượng quyền thương mại là một dạng họp đồng khá đặc biệt Tuy nhiên, giống như tất cả các loại hợp đồng khác, họp đồng nhượng quyền thương mại là sự đồng thuận làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên trong hợp đồng Nó phải tuân thủ các nguyên tắc trong quá trình giao kết cũng như thực hiện hợD đồng như đã được đề cập ở mục 2.1 Tuy vậy, xét về bản chất mỗi loại hợp đồng sẽ có một đặc trưng riêng, do đó hợp đồng nhượng quyền thương mại cũng được định nghĩa cụ thể trong các văn bản pháp luật của nhiều
13
Trang 19quốc gia và các tổ chức quốc tế với các định nghĩa khác nhau Để làm rõ khái niệm hợp đồng nhượng quyền thương mại, trước hết chúng ta phải làm rõ khái niệm “nhượng quyền thương mại”.
Ở Việt Nam, nhượng quyền thương mại là một khái niệm khá mới tron2 thực tiễn kinh doanh cũng như trong thực tiễn pháp lý v ề thực tiễn kinh doanh, nhượng quyền thương mại xuất hiện lần đầu tiên trong giai đoạn cuối của thập
kỷ 1990 Trong giai đoạn đầu, hoạt động này đã xuất hiện thông qua việc kinh doanh các thiết bị lọc nước do người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư.20 Tuy vậy, thị trường Việt Nam lúc này còn khá xa lạ vói hoạt động nhượng quyền thương mại, hơn nữa bản thân các doanh nghiệp dự định kinh doanh bằng nhượng quyền thương mại chưa khẳng định được vị trí trên thương trường nên hoạt động này nhanh chóng bị thất bại Thực tiễn này bắt nguồn từ một số
nguyên nhân chính sau đây: Một là, vào thời điểm này pháp luật về sở hữu trí tuệ
ở Việt Nam21 tuy đã có nhưng chưa hoàn thiện, chưa có Luật Sở hữu trí tuệ riêng, hoạt động này được quy định trong rất nhiều Bộ luật, chỉ thị và thông tư cũng như các quy định do Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam ban hành22 do vậy việc thực thi gặp rất nhiều bất cập, đặc biệt là vấn đề bảo hộ các đối tượng của quyền
sở hữu trí tuệ do ý thức xã hội về quyền sở hữu trí tuệ còn rất thấp, chính vì vậy, các chủ thể kinh doanh thường có xu hướng xâm phạm quyền sở hữu trí tụệ của các chủ thể kinh doanh khác, hậu quả là bên nhượng quyền dù có nhu cầu nhượng quyền thì gặp phải rất nhiều khó khăn do bên nhận quyền không sẵn
20 Nguồn: Bộ Thương mại, Tài liệu Hội thảo về nhượng quyền thương mại được tài trợ bởi chính phủ ú c và Việt Nam, tháng 12/2004
21 Trong quan hệ nhượng quyền thưong mại, quyền sờ hữu trí tuệ là các yếu tố cơ bàn của quyền thương mại được bên nhưcmg quyền cấp cho bên nhận quyền.
22 Luật Sò' hữu trí tuệ Việt Nam được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2006.
Trang 20sàng chi trả một số tiền lớn (phí nhượng quyền) để nhận được quyền thương mại của bên nhưcmg quyền do không cảm thấy an toàn khi mà đối tượng của quyền
sở hữu trí tuệ được nhượng quyền có thể dễ dàng bị xâm hại; Hai là, mãi đến
năm 1986 Việt Nam mới thừa nhận loại hình doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân,
23 do vậy trong một thời gian ngắn doanh nghiệp khó có thể tạo lập được cho mình một thương hiệu mạnh, đủ sức để nhượng quyền thành công trên thương trường
Sự thành công của hoạt động nhượng quyền thương mại ỏ' Việt Nam được đánh dấu bằng bước đi ngoạn mục của Công ty Cà phê Trung Nguyên Thông qua nhượng quyền thương mại, sau một thời gian hoạt động, công ty này
đã có một mạng lưới với hơn 500 cửa hàng trong nước mang thương hiệu Cà phê Trung Nguyên cùng một số cửa hàng khác đã được nhượng quyền tại Thái Lan, Campuchia, Singapore, Nhật Bản, Mỹ
Pháp luật điều chỉnh đối với hoạt động nhượng quyền thương mại ở Việt Nam đã được ghi nhận lần đầu tiên năm 1999 tại Thông tư 1254/1999/TT- BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn Nghị định 45/ 1998/NĐ-CP
về chuyến giao công nghệ Tại Mục 4.1 l(a) đoạn 5 của Thông tư này đã đề cập đến cụm từ “họp đồng cấp phép đặc quyền kinh doanh” với giải thích tiếng Anh
là “franchise” Tuy nhiên, nghĩa của từ “íranchise” được đề cập trong Thông tư này có ý nghĩa giống như chuyển giao công nghệ Theo đó, loại họp đồng này được hiểu là họp đồng với nội dung cấp li xăng sử dụng nhãn hiệu hàng hoá kèm theo các bí quyết sản xuất, kinh doanh được chuyển giao từ nước ngoài vào Việt nam có giá trị thanh toán cho một họp đồng trên 30.000 USD.24 Thông tư này không coi “nhượng quyền thương mại” là một hoạt động kinh doanh và cũng
23 Lần đầu tiên Việt Nam ban hành Luật Công ty là năm 1990 và Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1991 (Hiện nay, tất cả các loại hình doanh nahiệp đều chịu sự điều chình của Luật Doanh nghiệp 2005)
24 Mục 4.1.1 (a), đoạn 5 Thông tư 1254/1999/TT-BKHCN do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành về việc hướng dẫn Nahị định số 45/1998/NĐ-CP về chuyển giao công nghệ.
15
Trang 21không đưa ra một khái niệm rõ ràng cụ thể về hoạt động nhượng quyền thương mại Tiếp đó, năm 2005, Chính phủ ban hành Nghị định 11/2005/NĐ-CP25 và Thông tư số 30/2005/ TT-BKHCN26 auy định về hoạt động chuyển giao công nghệ, theo đó, hoạt động cấp phép đặc quyền kinh doanh chỉ được coi là một hoạt động chuyển giao công nghệ Điều này cho thấy hoạt động nhượng quyền thương mại đã có ở Việt Nam trên thực tế, nhưng hoạt động này được tiếp cận dưới góc độ của chuyển giao công nghệ, chưa phản ánh được bản ehất thực sự của hoạt động thương mại đặc thù này Mãi đến năm 2005, hoạt động nhượng quyền thương mại mới được pháp luật Việt Nam ghi nhận như là một hoạt động thương mại độc lập trong Luật Thương mại năm 2005 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2006 từ Điều 284 đến Điều 291 Theo đó, “Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây:
(1) Việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền;
(2) Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh.”27
Theo khái niệm này, nhượng quyền thương mại được coi như một hoạt động thương mại độc lập phải do thương nhân28 thực hiện với các đặc điểm sau đây:
23 Nghị định số 11/2005/NĐ-CP quy định chi tiết về chuyển giao công nghệ (sữa đổi), do Chính phủ ban hành ngày 02 tháng 02 năm 2005
26 Thông tư số 30/2005/TT-BKHCN hướng dẫn một số điều của Nghị định 11/2005/NĐ-CP quy đinh chi tiết về chuyển giao công nghệ (sửa đổi)
27 Điều 284, Luật Thương mại 2005.
Trang 22Một lấ, các bên trong quan hệ nhượng quyền phải có tư cách thương
nhân, gọi là Bên nhượng quyền và Bên nhận quyền
Bên nhượng quyền chỉ được phép cấp quyền thương mại khi đáp ứng đủ
các điều kiện sau đây: Thứ nhất, hệ thống kinh doanh dự định dùng để nhượng
quyền đã được hoạt động ít nhất 01 năm Nếu thương nhân Việt Nam là Bên nhận quyền sơ cấp từ Bên nhượng quyền nước ngoài, thương nhân Việt Nam đó phải kinh doanh theo phương thức nhượng quyền thương mại ít nhất 01 năm ở
Việt Nam trước khi tiến hành cấp lại quyền thương mại; Thứ hai, đã đăng ký
hoạt động nhượng quyền thương mại với cơ quan có thẩm quyền Bên cạnh đó, hàng hoá, dịch vụ kinh doanh phải thuộc đối tượng được phép kinh doanh nhượng quyền thương mại.29
Bên nhận quyền là bên “đi mua sự nổi tiếng”, kinh doanh dưới phương pháp kinh doanh, thương hiệu của bên nhượng quyền, để kinh doanh dưới hình thức nhượng quyền thương mại, bên nhận quyền phải có đăng ký kinh doanh ngành nghề phù họp với đối tượng của quyền thương mại được chuyển nhượng.30
Như vậy, điều kiện để tiến hành kinh doanh nhượng quyền thương mại đối với bên nhận quyền đơn giản hơn rất nhiều so với bên nhượng quyền Việc quy định về điều kiện thời gian hoạt động một năm của hệ thống kinh doanh nhượng quyền đối với bên nhượng quyền là nhằm mục đích đảm bảo hoạt động nhượng quyền thương mại có khả năng thành công cao, giảm thiểu rủi ro kinh doanh cho
28 Theo Điều 6.1, Luật thương mại Việt Nam 2005, thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế đưọc thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh.
29 Điều 5 Nghị định 35/2006/NĐ-CP.
30 Điều 6 Nghị định 35/2006/NĐ-CP.
17
Trang 23bên nhận quyền sau khi đã đầu tư một số tiền khá lớn (phí nhượng quyền) để được bên nhượng quyền cấp quyền thương mại.
Hai là, đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại chính là quyền
thương mại, được hiểu là một “gói quyền”, bao gồm các quyền đối với nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, ỉogo và các đối tượng thuộc quyền sở hữu trí tuệ khác Bên nhận quyền có quyền sử dụng quyền thương mại này của bên nhượng quyền để tiến hành kinh doanh hàng hóa, dịch vụ dưới thương hiệu của bên nhượng quyền
Ba là, bên nhượng quyền có quyền kiểm soát việc kinh doanh của bên
nhận quyền ở một mức độ nhất định và có nghĩa vụ trợ giúp kỹ thuật đối với bên nhận quyền trong suốt quá có hiệu lực của hợp đồng Điều này là cần thiết để đảm bảo việc kinh doanh của bên nhận quyền tuân thủ đúng các quy trình, phương pháp tổ chức kinh doanh của bên nhượng quyền
Việc thừa nhận nhượng quyền thương mại là một hoạt động thương mại độc lập trong Luật Thương mại 2005 đã tạo ra cơ sở pháp lý cho việc phát triển hoạt động nhượng quyền thương mại vốn đã tồn tại trước đó ở Việt Nam Đồng thòi, người tiêu dùng cũng có nhiều điều kiện lựa chọn các sản phẩm khác nhau
từ Việt nam cũng như từ các nước khác trên thế giới được mang đến thông qua
hệ thống nhượng quyền thương mại
về khái niệm hợp đồng nhượng quyền thương mại, Pháp luật Việt Nam không có bất cứ một đinh nghĩa cụ thể nào về nội hàm của khái niệm hợp đồng nhượng quyền thương mại Điều 285, Luật Thương mại 2005 với tiêu đề “họp đồng nhượng quyền thương mại” chỉ đề cập đến hình thức của họp đồng nhượng quyền thương mại với quy định “họp đồng nhượng quyền thương mại phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương” 31
31 Điều 285 Luật Thương mại Việt Nam 2005.
Trang 24mà không hề định rõ bản chất của họp đồng nhượng quyền Mặc dù không có một định nghĩa cụ thể riêng biệt về họp đồng nhượng quyền thương mại, Nghị định 35/2006/NĐ-CP vẫn chỉ ra một số dạng cụ thể của hợp đồng nhượng quyền như: “họp đồng phát triển quyền thương mại” là hợp đồng nhượng quyền thương mại theo đó Bên nhượng quyền cấp cho Bên nhận quyền quyền được phép thành lập nhiều hơn một cơ sở của mình để kinh doanh theo phương thức nhượng quyền thương mại trong phạm vi một khu vực địa lý nhất định;32 và “họp đồng nhượng quyền thương mại thứ cấp”33 là họp đồng nhượng quyền thương mại ký giữa Bên nhượng quyền thứ cấp34 và Bên nhận quyền thứ cấp35 theo quyền thương mại chung.
Thêm vào đó, trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Bộ luật Dân sự được coi như luật gốc của tất cả các quan hệ họp đồng trong đó có hợp đồng nhượng quyền thương mại Tư tưởng này được thể hiện rõ tại Điều 1 về nhiệm vụ và phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Dân sự 2005: “Bộ luật dân sự quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác; quyền, nghĩa vụ của các chủ thể về nhân thân và tài sản trong các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là quan hệ dân sự)
Bên cạnh đó, Điều 4, Luật Thương mại 2005 cũng quy định về việc áp dụng Luật thương mại và pháp luật có liên quan Theo đó, trong trường hợp hoạt động thương mại đặc thù có văn bản pháp luật khác điều chỉnh thì sẽ áp dụng quy định của văn bản pháp luật chuyên ngành Trong trường họp hoạt động
Trang 25thươne mại không được quy định trong Luật thương mại và trong các luật chuyên ngành khác thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự Từ nguyên tắc chỉ đạo như trên, chúng ta có thể coi hợp đồng nhượng quyền thương mại cũng là một dạng họp đồng dân sự Do vậy, có thể sử dụng Điều 388 của Bộ luật Dân sự
2005 về khái niệm hợp đồng dân sự như đã trình bày trong mục 2.1.1 và Điều
384 của Luật Thương mại 2005 về khái niệm “nhượng quyền thương mại” để làm rõ khái niệm “hợp đồng nhượng quyền thương mại” là “sự thỏa thuận giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong hoạt động nhượng quyền thương mại theo quy định tại Điều 284 Luật Thương mại”
Ở Pháp, hoạt động nhượng quyền đã xuất hiện lần đầu tiên vào thập niên
50 và bắt đầu phát triển mạnh từ thập niên 60 của thế kỷ 20, đặc biệt là sau khi một số công ty kinh doanh thời trang trẻ em, thời trang áo cưới, thời trang bà bầu (bao gồm các công ty Pronuptia, Prénatal và Natalys) Tuy nhiên, khái niệm về nhượng quyền thương mại không được quy định trong một điều luật cụ thể Hợp đồng nhượng quyền thương mại chỉ được coi như một loại hợp đồng thương mại nói chung
Mặc dù không có bất cứ một quy định eụ thể nào trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh riêng đối với hoạt động nhượng quyền thương mại, khái niệm nhượng quyền thương mại vẫn được đề cập đến trong một phán quyết của Tòa Phúc thẩm Paris ngày 20/04/197836 Theo phán quyết này, nhượng quyền thương mại là một “phương pháp họp tác giữa hai hoặc nhiều bên, bên nhượng quyền và bên nhận quyền Theo đó,
36 Dennis Campbell, InternationalFranchisingLaw, Volume 1, Mathew Bender & Companv, 2005, s 1 {2},
p FRA-10 refer to Bull Transport 1978 277 See also the decision of 20 September 1974 (Mage
Distribution)
Trang 26Bên nhượng quyền là chủ sở hữu của tên thương mại, các ký hiệu đặc biệt hoặc tên nhãn hiệu, cùng với bí quyết kinh doanh, sẽ trao cho bên nhận quyền độc quyền sử dụng một tập họp các sản phẩm, dịch vụ nguyên gốc để độc quyền khai thác chúng, thay vào đó bên nhận quyền phải trả một khoản phí nhượng quyền Bên nhượng quyền cũng sẽ cung cấp cho bên nhượng quyền sự trợ giúp về kỹ thuật thương mại để giúp bên nhận quyền tiến hành hoạt động kinh doanh Từ đó có thể giúp bên nhận quyền phát triển thị trường hàng hóa cũng như phát triển hoạt động kinh doanh có liên quan khác.”
Từ khái niệm như trên, chúng ta có thể thấy khái niệm nhượng quyền thương mại ở Pháp và Việt Nam là tương đối giống nhau
Ở Anh, Chỉ thị số 2954 năm 1997 (The Restrictive Trade Practices (Non- notiíĩable Agreements) (Sale and Purchase, Share Subscription and Franchise Agreements))37 đã đề cập đến khái niệm nhượng quyền thương mại như sau:
“Nhượng quyền thương mại là một gói quyền sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu công nghiệp liên quan đến nhãn hiệu, dấu hiệu cửa hàng, kiểu dáng, thiết kế, quyền tác giả, bí quyết kỹ thuật hoặc sáng chế, được khai thác nhằm mục đích kinh doanh hàng hóa dịch vụ, trong đó:
(a) Bên nhận quyền hoặc bên nhận quyền thương mại chung có được thu nhập từ việc kinh doanh hàng hóa, dịch vụ là đối tượng của quyền thương mại được chuyển nhượng, hoặc
(b) Bên nhận quyền thương mại chung có được thu nhập chủ yếu từ việc tiếp tục cung ứng dịch vụ cho bên nhận quyền thứ cấp cũng như từ doanh thu của bên nhận quyền thứ cấp.”38
37 Chi thị này có hiệu lực từ ngày 09 tháng 01 năm 1998
38 Mục 2, Chỉ thị số 2945 năm 1997
21
Trang 27Như vậy, định nghĩa này không đề cập đến quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ nhượng quyền thương mại như khái niệm được đưa ra trong Luật Thương mại Việt Nam Tuy nhiên, theo khái niệm này, nhượng quyền thương mại được hiểu là một gói quyền bao gồm quyền sở hữu trí tuệ và quyền
sở hữu công nghiệp được bên nhận quyền khai thác và sử dụng Định nghĩa này đặc biệt nhấn mạnh vai trò và lợi ích của bên nhận quyền trong việc khai thác quyền thương mại được chuyển nhượng Nó không đề cập đến vai trò của bên nhượng quyền như Luật Thương mại Việt Nam đã quy định Việc “khai thác” của bên nhận quyền được sử dụng trong cả hai trưcmg hợp “trực tiếp cung ứng hàng hóa hoặc dịch vụ cho người tiêu dùng” và cả trong trường họp “cung ứng dịch vụ cho bên nhận quyền thứ cấp cũng như từ doanh thu của bên nhận quyền thứ cấp”
Chỉ thị này cũng đã đưa ra định nghĩa rõ ràng về “hợp đồng nhượng quyền thương mại” Theo đó, họp đồng nhượng quyền thương mại là sự thỏa thuận giữa một bên (gọi là bên nhượng quyền) cấp cho một bên khác (gọi là bên nhận quyền) quyền được khai thác quyền thương mại nhằm mục đích cung ứng hàng hóa hoặc dịch vụ với các nghĩa vụ sau đây:
(a) sử dụng nhãn hiệu hàng hóa hoặc dịch vụ, tên thương mại chung và - (i) các cửa hàng thương mại được trang bị theo một tiêu chuẩn nhất định nhằm đạt đến sự đồng bộ về mặt hình thức với bên nhượng quyền và các bên nhận quyền hoặc (ii) phương tiện mà bên nhận quyền quản lý hoạt động kinh doanh và trang thiết bị phù họp vói tiêu chuẩn nhất định, đảm bảo tính đồng bộ chung của
hệ thống nhượng quyền
(b) Bên nhượng quyền hoặc bên nhượng quyền thương mại chung phải cung cấp cho bên nhận quyền bí quyết kỹ thuật; và,
Trang 28(c) Bên nhượng quyền hoặc bên nhượng quyền thương mại chung phải tiếp tục trợ giúp cho bên nhận quyền sự trợ giúp về kỹ thuật, thương mại trong
suốt quá trình có hiệu lực của họp đồng.39
Từ sự phân tích như trên, chúng ta có thể thấy theo pháp luật Anh, họp
đồng nhưcmg quyền thương mại có một số đặc trưng sau đây:
Một là, là sự thoả thuận giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền, theo
đó, bên nhượng quyền cấp cho bên nhận quyền quyền khai thác quyền thương
mại (một gói quyền sở hữu công nghiệp và sở hữu trí tuê); Hai là, bên nhận
quyền có quyền khai thác quyền thương mại để tiến hành cung ứng hàng hoá
dịch vụ với điều kiện luôn đảm bảo tính đồng bộ của toàn bộ hệ thống nhượng
quyền; Ba là, bên nhượng quyền có nghĩa vụ chuyển giao bí quyết kỹ thuật và
trợ giúp kỹ thuật cho bên nhận quyền trong suốt quá trình có hiệu lực của họp
đồng
Với những đặc trưng này, có thể thấy khái niệm về “họp đồng nhượng
quyền thương mại” của Anh xác định nội hàm tương tự như khái niệm “nhượng
quyền thương mại” được đề cập trong Luật Thương mại của Việt Nam
Quy định về họp đồng nhượng quyền thương mại của Liên minh Châu
Âu lần đầu tiên được quy định trong Chỉ thị số 4087/88 năm 1988 về áp dụng
Điều 85(3) Hiệp ước thành lập Cộng đồng chung Châu Âu - EC Treaty- (Sau đây
gọi tắt là Hiệp ước EC) về hoạt động nhượng quyền thương mại Văn bản này
được ra đời trên cơ sở một phán quyết của Toà án Tư pháp Châu Âu năm 1986
trong vụ án Prunuptia,40 đã đưa ra một số ngoại lệ trong việc áp dụng Điều 85(3)
Hiệp ước EC đối với họp đồng nhượng quyền thương mại Trong vụ án này, rất
39 Mạc 2 Chỉ thị số 2945 năm 1997
40 Vụ án 161/84, Pronuptia
23
Trang 29nhiều điều khoản trong họp đồng nhượng quyền thương mại có dấu hiệu của thoả thuận hạn chế cạnh tranh, vi phạm Pháp luật cạnh tranh của Cộng đồng chung Châu Âu (Điều 81(1) (trước đây là Điều 85(3)) của Hiệp ước thành lập Cộng đồng chung Châu Âu) Sự ra đời của Chỉ thị này có tính chất hướng dẫn cho hoạt động nhượng quyền thương mại ở Châu Âu và đưa ra những hướng dẫn
về yêu cầu, những vấn đề có thể được chấp nhận và những vấn đề bị cấm trong các điều khoản của hợp đồng nhượng quyền thưong mại Chỉ thị này được ra đời trên cơ sở của Hiệp ước thành lập Cộng đồng chung Châu Âu, do vậy nó được
áp dụng trong toàn bộ Liên minh, và các nước thành viên của Liên minh
Ngày 01 tháng 6 năm 2000, một văn bản khác ra đời thay thế Chỉ thị 4087/88, đó là Chỉ thị số 2790/1999 về ngoại lệ đối với thoả thuận hạn chế cạnh tranh theo chiều dọc (Vertical Restraints Block Exemption)41 có hiệu lực (Sau đây gọi tắt là chỉ thị 2790/1999) Chỉ thị này đã thay thế Chỉ thị số 4087/88 về ngoại lệ đối vơi họp đồng nhượng quyền thương mại và thay thế tập hợp các bộ ngoại lệ khác áp dụng đối với các thoả thuận hạn chế cạnh tranh như những thoả thuận độc quyền trong phân phối, mua bán hàng hoá Đối với hợp đồng nhượng quyền thương mại đã tồn tại trước ngày 01 tháng 6 năm 2000 vẫn do Chỉ thị số 4087/88 điều chỉnh cho đến ngày 31 tháng 12 năm 2001, sau thời điểm này tất cả các họp đồng nhượng quyền thương mại sẽ chịu sự điều chỉnh của Chỉ thị 2790/1999 Trong khi Chỉ thị 4087/88 khá máy móc trong việc áp dụng pháp luật cạnh tranh của Liên minh Châu Âu, thì Chỉ thị 2790/1999 đã dựa trên góc độ kinh tế để điều chỉnh, giống như nguyên tắc “suy luận họp lý” trong pháp luật chống độc quyền của Mỹ Nhìn chung, mặc dù những hạn chế cố định (như áp đặt giá bán) bị cấm không phụ thuộc vào thị phần, nhưng bên nhượng quyền có thị phần dưới 30% có thể giành được thuận lợi theo quy định của Chỉ thị 2790/99
41 Bộ ngoại lệ về thoả thuận dọc- Vertical Restraints Block Exemption- là tên viết tắt của Chi thị số
2790/1999 ngày 22 tháng 12 năm 1999 về việc áp dụng Điều 81(3) cùa Hiêp ước EC
Trang 30Như đã đề cập ở trên, khái niệm hợp đồng nhượng quyền thương mại lần đầu tiên được định nghĩa trong phán quyết của Toà án Tư pháp Châu Âu là:
“Sự thoả thuận hơp tác thương mại giữa các chủ thể độc lập, theo đó, một bên gọi là bên nhượng quyền cấp cho một hoặc nhiều chủ thể khác, gọi là bên nhận quyền, quyền sử dụng nhãn hiệu, biển hiệu và bất cứ một dấu hiệu phân biệt nào khác của bên nhượng quyền nhàm cung ứng hàng hoá, dịch vụ Việc cung ứng hàng hoá, dịch vụ được thực hiện trên cơ sở độc quyền (phương pháp hoặc cách thức), phát triển bởi bên nhượng quyền Đáp lại, bên nhận quyền phải trả phí nhượng quyền Trong quá trình thực hiện kinh doanh, bên nhận quyền sẽ chịu sự kiểm tra giám sát của bên nhượng quyền để đảm bảo tình đồng bộ về chất lượng cũng như hình thức của hàng hoá và dịch vụ trước cộng đồng.”42
Tiếp đó, Mục 2.5, đoạn 199 của Bản Hướng dẫn Chỉ thị số 2790/1999 về Hạn chế cạnh tranh theo chiều dọc của Hội đồng Châu Âu đã quy định:
“Hợp đồng nhượng quyền thương mại là họp đồng chứa đựng sự cấp quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến nhãn hiệu hoặc dấu hiệu và bí quyết kỹ thuật
để cung ứng và phân phối hàng hoá, dịch vụ Bên cạnh việc cấp quyền sỏ' hữu trí tuệ, bên nhượng quyền phải tiếp tục trợ giúp kỹ thuật hoặc trợ giúp thương mại đối vớí bên nhận quyền ữong suốt quá trình có hiệu lực của họp đồng Việc cấp quyền và trợ giúp là các yếu tố mang tính bản chất của phương thức nhượng quyền Bên nhận quyền phải trả phí nhượng quyền cho bên nhượng quyền để được sử dụng phương pháp kinh doanh của bên nhượng quyền”.43
Theo quy định này, họp đồng nhượng quyền thương mại có cũng một số đặc điểm giống như khái niệm của Anh và khái niệm “nhượng quyền thương mại” của Việt Nam như đã đề cập ở trên Thêm vào đó, Bản Hướng dẫn đã nhấn mạnh việc cấp quyền sử dụng các quvền sỏ' hữu trí tuệ và việc trợ giúp kỹ thuật
42 Vụ án 161/84, Pronuptia
43 Mục 2.5, đoạn 199, Bản hướng dẫn về thoả thuận dọc (2000/C 291/01) của Hội đồng Châu Âu
25
Trang 31của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền là hai yếu tố bắt buộc, bản chất của họp đồng nhượng quyền thương mại Bên cạnh đó, việc trả phí nhượng quyền của bên nhận quyền đối với bên nhượng quyền cũng được coi là yếu tố cần thiết Quy định về phí nhượng quyền như trên đã cho thấy mục đích cuối cùng của các bên trong họp đồng nhượng quyền thương mại là thu được lợi nhuận từ việc khai thác quyền thương mại, cụ thể là các quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến nhãn hiệu, dấu hiệu và bí quyết kỹ thuật nhằm mục đích cung ứng và phân phối hàng ho á dịch vụ.
Tóm lại:
Dưới góc độ kinh tế, nhượng quyền thương mại là phương pháp kinh doanh, theo đó bên nhượng quyền phát triển hàng hoá, dịch vụ mở rộng thị trưòng sản phẩm của mìrủi thông qua việc sử dụng tiền và lao động của chủ thể khác bằng cách cấp cho họ (bên nhận quyền) quyền độc quyền để kinh doanh sản phẩm, dịch vụ của mình trong một khu vực địa lý nhất định trong một thời gian, dưới nhãn hiệu, kế hoạch kinh doanh của bên nhượng quyền Hoạt động này có một số khác biệt so với việc cấp quyền độc quyền bán sản phẩm, dịch vụ Ở đây, bên nhượng quyền và bên nhận quyền vẫn duy trì mối quan hệ hợp tác chặt chẽ trong suốt quá trình có hiệu lực của họp đồng Việc họp tác trong hệ thống được thiết lập nhằm mục đích hướng người tiêu dùng nhận biết sản phẩm, dịch vụ của bên nhượng quyền và bên nhận quyền như là một phần của hệ thống mà không giống như người bán lẻ độc lập Bằng cách này, bên nhượng quyền sẽ mở rộng được hệ thống kinh doanh của mình thông qua chủ thể đầu tư khác, về phía bên nhận quyền, thông qua việc kinh doanh dưới hình thức nhưcmg quyền thương mại sẽ hạn chế được rủi ro bởi có sự trợ giúp kỹ thuật và trợ giúp về phương pháp quản lý của bên nhượng quyền
Dưới góc độ pháp lý: nhượng quyền thưcmg mại là một gói quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến nhãn hiệu, tên thương mại, dấu hiệu cửa hàng, thiết kế,
Trang 32quyền tác giả, bí quyết kỹ thuật hoặc sáng chế của bên nhượng quyền, được bên nhận quyền khai thác, sử dụng nhằm cung ứng hàng hoá, dịch vụ nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận.
Khái niệm “nhượng quyền thương mại” trong Luật Thương mại Việt Nam khá giống với khái niệm “hợp đồng nhượng quyền thương mại” ở UK và Liên minh Châu Âu, với hai đặc trưng chính sau đây:
Một là, họp đồng nhượng quyền thương mại là hợp đồng giữa hai bên,
bên nhượng quyền và bên nhận quyền
Bên nhượng quyền là bên đã xây dựng được một thương hiệu mạnh, đã được kiểm nghiệm trên thị trường Pháp luật các nước thường quy định bên nhượng quyền phải kinh doanh trong một khoảng thời gian nhất định trước khi tiến hành nhượng quyền nhằm đảm bảo hoạt động nhượng quyền thương mại có khả năng thành công cao Thông thường các nước yêu cầu bên nhượng quyền phái là thương nhân, đã có thời gian hoạt động trong lĩnh vực dự định kinh doanh nhượng quyền trong một thời gian nhất định, thời gian cụ thể bao nhiêu tùy theo điều kiện, mục tiêu cũng như chính sách của mỗi nước sẽ quyết định (Ví dụ: Việt Nam quy định thời gian kinh doanh tối thiểu là một năm),44 một số nước khác quy định khoảng thời gian là ba hoặc năm năm
Bên nhận quyền là bên sử dụng quyền thương mại của bên nhượng quyền
để kinh doanh và phải trả một khoản phí nhất định cho việc sử dụng quyền thương mại này Điều kiện đặt ra đối với bên nhận quyền đơn giản hơn rất nhiều
so với bên nhượng quyền Hầu hết các nước đều quy định bên nhận quyền phải tồn tại dưới một tên thương mại riêng, có tư cách pháp lý độc lập Chẳng hạn, Việt Nam quy định bên nhận quyền phải là thương nhân, và chỉ được phép kinh doanh dưới hình thức nhượng quyền thương mại khi có đăng ký kinh doanh phù
44 Điều 5 Nghị định 35/NĐ-CP.
27
Trang 33hợp vói đối tượng của quyền thương mại được chuyển nhượng theo hợp đồng nhượng quyền thương mại.45
Hai là, nội dung của họp đồng nhượng quyền thương mại phải chứa đựng
ít nhất 3 yếu tố sau đây:
1 Sự chuyển giao quyền thương mại, bao gồm các yếu tố của quyền
sở hữu công nghiệp, sở hữu trí tuệ từ bên nhượng quyền sang bên nhận quyền nhằm khai thác thu lợi nhuận;
2 Sự hỗ trợ về kỹ thuật của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền trong suốt quá trình thực hiện họp đồng;
3 Để được khai thác quyền thương mại, bên nhận quyền phải có nghĩa
vụ tài chính của đối vói bên nhượng quyền (trả phí nhượng quyền)
Từ sự phân tích như trên, chúng ta có thể thấy nhượng quyền thương mại
là một hoạt động thương mại đặc trưng Nó có một số điểm tương tự như một số hoạt động, thương mại khác như đại lý thương mại, li xăng, chuyển giao công nghệ Tuy vậy, chúng ta có thể phân biệt được hoạt động nhượng quyền thương mại dưới các đặc trưng sau đây:
Một là, trong mối quan hệ với đại lý thương mại, quan hệ đại lý là quan
hệ giữa hai chủ thể kinh doanh độc lập, được thiết lập nhằm xúc tiến việc bán hàng cho nhà sản xuất (bên giao đại lý) dưới tư cách của bên giao đại lý trong một khu vực địa lý nhất định Thông thường mối quan hệ giữa đại lý và bên giao đại lý sẽ trên cơ sở một sự độc quyền bán sản phẩm, theo đó bên đại lý cam kết không bày bán các sản phẩm cạnh tranh Tiền hoa hồng của bên đại lý thường dựa trên phần trăm doanh số bán hàng của mình
Nhượng quyền thương mại giống với quan hệ đại lý ở chỗ cả hai đều dẫn tới sự phân phối hàng hóa dịch vụ, đều là những bên hợp đồng độc lập, đều
45 Điều 6 Nghị đinh 35/2006/NĐ-CP.
Trang 34thường yêu cầu không bày bán hoặc thực hiện những hành vi cạnh tranh với hàng hóa, sản phẩm được đề cập trong họp đồng Sự khác biệt giữa hai hành vi
này thể hiện ở các khía cạnh sau đây: Thứ nhất, trong quan hệ đại lý, không có
sự kiểm soát chặt chẽ cũng như sự trợ giúp đáng kể của bên giao đại lý đối với bên đại lý, trong khi trong quan hệ nhượng quyền thương mại, bên nhận quyền chịu sự kiểm tra giám sát rất lớn từ phía bên nhượng quyền cũng như được bên nhượng quyền tiếp tục trợ giúp đáng kể về mặt kỹ thuật trong suốt quá trình có
hiệu lực của họp đồng; Thứ hai, trong quan hệ đại lý, bên đại lý không những
không phải trả phí đại lý mà ngược lại, được hưởng tiền hoa hồng từ bên giao đại
lý Trong khi đó, trong quan hệ nhượng quyền thương mại bên nhận quyền phải
trả phí nhượng quyền cho bên nhượng quyền; Ba là, về trách nhiệm đối với các
rủi ro trong kinh doanh, trong quan hệ đại lý, bên giao đại lý chỉ thực hiện việc giao hàng cho bên đại lý mà không chuyển giao cho bên đại lý quyền sở hữu đối với hàng hoá đó, vì vậy, khi không bán được hàng hoá hoặc có rủi ro xảy ra với hàng hoá, người phải gánh vác nghĩa vụ đối với rủi ro đó một cách đầu tiên và trực tiếp chính là bên giao đại lý - chủ sở hữu hàng hoá Trong khi đó, trong quan hệ nhượng quyền thương mại, việc bên nhận quyền hoặc bên nhượng quyền kinh doanh thua lỗ, không có khách hàng hoặc có rủi ro xảy ra với hàng hoá của mỗi bên không liên quan trực tiếp tới bên kia nếu những sự kiện đó không bắt nguồn từ một sự vi phạm nghĩa vụ hợp đồng nhượng quyền Sở dĩ như vậy là do bên nhận quyền và bên nhượng quyền không những có sự độc lập
về mặt pháp lý giữa mà còn có sự độc lập về tài chính trong hoạt động kinh doanh của các bên Trong khi đó, sự độc lập trong quan hệ đại lý chỉ là sự độc lập về tư cách chủ thể, bên đại lý chỉ là cầu nối giữa bên giao đại lý và người tiêu dùng nhằm hưởng hoa hồng
Hai là, với quan hệ li xăng và chuyển giao công nghệ, nhượng quyền
thương mại cũng có những điểm khác biệt quan trọng Li xăng là việc chủ sở hữu chuyển giao quyền sử dụng đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ như nhãn
29
Trang 35hiệu hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp bí quyết kinh doanh, sáng chế cho một chủ thể khác nhằm thu phí Sau khi ký hợp đồng li xăng, bên nhận có quyền sử dụng các đối tượng được li xăng vào hoạt động kinh doanh của mình Tuỳ thuộc vào đối tượng của họp đồng li xăng, bên nhận có thể gắn nhãn hiệu hàng hoá của bên li xăng vào hàng hoá do mình sản xuất hoặc dùng kiểu dáng mà bên li xăng thiết kế ra đối với sản phẩm cửa mình.
Chuyển giao công nghệ là cách thức mà thông qua đó, bên nhận chuyển giao có thể sử dụng công nghệ của bên chuyển giao để sản xuất ra hàng hoá của mình, tuy nhiên, việc hàng hoá đó gắn nhãn hiệu hàng hoá nào, được bán ra với tên thương mại nào còn phụ thuộc vào việc giữa hai bên có thêm hợp đồng li xăng hay không Sau khi nhận chuyển giao công nghệ, bên nhận chuyển giao có thể lựa chọn giữ nguyên công nghệ để áp dụng hoặc phát triển công nghệ đó theo hướng tích cực
Như vậy, li xăng và chuyển giao công nghệ là hai hoạt động thương mại tương đối giống với nhượng quyền thương mại Sự giống nhau này ở chỗ, cả li xăng, chuyển giao công nghệ và nhượng quyền thương mại đều liên quan đến việc chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ hoặc sở hữu công nghiệp; bên được li xăng, được chuyển giao công nghệ hay bên nhận quyền đều phải trả một khoản phí nhất định cho bên kia của hợp đồng- là người đã cấp quyền sở hữu trí tuệ hoặc sở hữu công nghiệp cho họ Sự khác biệt giữa nhượng quyền thương mại và
li xăng, chuyển giao công nghệ thể hiện ở các góc độ sau đây: Thứ nhất, trong
quan hệ nhượng quyền thương mại, bên nhượng quyền cấp quyền sử dụng toàn
bộ phương thức kinh doanh của mình, hay còn gọi là “quyền thương mại” bao gồm sự kết hợp chặt chẽ tất cả các yếu tố của quyền sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu công nghiệp nhằm đạt đến sự phân phối hàng hóa, dịch vụ dưới nhãn hiệu và
bí quyết kỹ thuật, phương thức kinh doanh của bên nhượng quyền Trong khi đó
li xăng và chuyển giao công nghệ chỉ đề cập tới các đối tượng của quyền sở hữu
ứí tuệ một cách tách biệt và không bắt buộc phải kết họp cũng như không có
Trang 36nhiều điều kiện cho sản phẩm được tạo ra Thứ hai, nhượns quyền thương mại
quan tâm tói sự tương đồng về chất lượng, hình thức và giá cả của sản phẩm nhằm giúp khách hàng có thể nhận ra đúng các sản phẩm thuộc về một mạng lưới nhượng quyền thương mại nhất định Trong khi đó, vấn đề tương đồng về chất lượng, hình thức, giá cả của sản phẩm được li xăng và chuyển giao công nghệ không phải là vấn đề đặc thù của quan hệ này
3 Thực trạng pháp luật Việt Nam, Anh, Pháp và Liên
minh Châu Âu về việc bảo vệ quyền lọi cho bên nhận quyền
Vấn đề bảo vệ bên nhận quyền được thể hiện dưới nhiều khía cạnh trong
đó thể hiện rất rõ trong các quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng, v ề nguyên tắc, quyền và nghĩa vụ của các bên sẽ do các bên thoả thuận và ghi nhận trong họp đồng Tuy nhiên để bảo vệ quyền và lọi ích chính đáng của các bên, pháp luật của Việt Nam, Anh, Pháp và Liên minh Châu Âu đã đưa ra những quy định khung mang tính chất định hướng nhằm đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của các bên trong họp đồng
Tuy nhiên, căn cứ vào phạm vi và mục đích của đề tài, Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu so sánh việc bảo vệ quyền lợi của bên nhận quyền liên quan đến bốn vấn đề cơ bản trong quan hệ nhượng quyền thương mại, đó là: (1) v ấn
đề cung cấp thông tin trước khi ký kết hợp đồng; (2) v ấn đề về trợ giúp kỹ thuật;(3) Vấn đề về nguồn cung cấp nguyên vật liệu/hàng hóa cho bên nhận quyền, và(4) Vấn đề về ấn định giá bán lẻ đối với hàng hóa/dịch vụ của bên nhận quyền
3.1 Vấn đề cung cấp thông tin trước khi ký kết hợp đồng nhượng
quyền thương mại
Việc cung cấp thông tin trước khi ký kết họp đồng sẽ giúp bên nhận quyền
31
Trang 37có quyết định đúng đắn trong việc ký hay không ký hợp đồng nhượng quyền thương mại Các bên phải thực hiện nghĩa vụ này trên CO' sở nguyên tắc “thiện chí và trung thực” Đề tài này chỉ đề cập đến nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền trước khi ký kết họp đồng thương mại Lý
do của sự giới hạn này là ở chỗ thực tiễn cho thấy, trong quan hệ này, bên nhận quyền thường có vị trí yếu thế hơn so với bên nhượng quyền do bên nhượng quyền là chủ sở hữu của quyền thương mại đã khẳng định được uy tín trên thực
tế, có kinh nghiệm và quy mô lợi thế hơn rất nhiều so với bên nhận quyền, trong khi đó bên nhận quyền thường là thương nhân ít tên tuổi, chưa xây dựng được thưcmg hiệu riêng của mình thậm chí họ vừa mới được thành lập Để gia nhập hệ thống nhượng quyền, bên nhận quyền phải ừả một khoản phí nhượng quyền rất lớn, do vậy cần thiết phải tìm hiểu kỹ thông tin về bên nhượng quyền cũng như
hệ thống nhượng quyền trước khi quyết định có ký kết hơp đồng hay không Tuy nhiên, thực tế cho thấy, bên nhận quyền rất khó có khả năng tìm kiếm những thông tin này vì nhiều thông tin bí mật chỉ có thể được biết bởỉ bên nhượng quyền, điều này đã tạo ra sự bất bình đằng giữa các bên trong việc tiếp cận thông tin Thêm vào đỏ, để đảm bảo tính đồng bộ trong toàn bộ hệ thống nhượng quyền, bên nhượng quyền thường chuẩn bị sẵn hợp đồng nhượng quyền thương mại mẫu áp dụng chung cho tất cả các bên nhận quyền trong hệ thống Trong quá trình đàm phán giao kết họp đồng, bên nhượng quyền thường đưa ra thông tin, yêu cầu và bên nhận quyền hầu như chi có thể lựa chọn hoặc “gia nhập” hoặc
“không gia nhập” hệ thống nhượng quyền (chính vì vậy, hợp đồng nhượng quyền thương mại còn được xem như một loại “hợp đồng gia nhập” Sự thoả thuận lại về một số điều khoản trong họp đồng đã soạn trước của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền rất hiếm khi được bên nhượng quyền đồng ý
Để có thể quyết định một cách sáng suốt, bên nhận quyền cần phải có đầy
đủ thông tin liên quan đến bên nhượng quyền và hệ thống nhượng quyền trước khi quyết định ký hay không ký hợp đồng Để hạn chế sự bất cân xứng về thông
Trang 38tin giữa bên nhuợng quyền và bên nhận quyền và cung cấp đầy đủ thông tin cho
bên nhận quyền nhằm giúp họ có quyết định chính xác, pháp luật Việt Nam,
Anh, Pháp và Liên minh Châu Âu đã quy định việc cung cấp thông tin cho bên
nhận quyền là nghĩa vụ bắt buộc của bên nhượng quyền Việc quy định đây là
nghĩa vụ của bên nhượng quyền và quy định trách nhiệm của bên nhượng quyền
trước những thông tin đã cung cấp có ý nghĩa quan trọng trong việc hạn chế rủi
ro cho bên nhận quyền trong quá trình khai thác tên thương mại và bí quyết kinh
doanh của bên nhượng quyền
Trách nhiệm cung cấp thông tin của Bên nhượng quyền được quy định
tại Điều 8, Nghị định 35/2006/NĐ-CP Theo đó, “Bên nhượng quyền có trách
nhiệm cung cấp bản sao họp đồng nhượng quyền thương mại mẫu và bản giới
thiệu về nhượng quyền thương mại của mình cho bên dự kiến nhận quyền ít nhất
là 15 ngày làm việc trước khi ký kết hợp đồng nhượng quyền thương mại nếu
các bên không có thỏa thuận khác”
Các nội dung bắt buộc của bản giới thiệu về nhượng quyền thương mại
được quy định tại Phụ lục III, ban hành kèm theo Thông tư số 09/2006/TT-BTM
ngày 25 tháng 5 năm 2006 của Bộ Thương mại, bao gồm một số thông tin cần
thiết để bên dự kiến nhận quyền thương nghiên cứu kỹ lưỡng trước khi ký hợp
đồng Theo đó, bên nhượng quyền phải cung cấp các thông tin sau:
bên nhượng quyền; Địa chỉ trụ sở chính của bên nhượng quyền; Điện thoại, fax
(nếu có); Ngày thành lập của bên nhượng quyền; Thông tin về việc bên nhượng
quyền là bên nhượng quyền ban đầu hay bên nhượng quyền thứ cấp; Loại hình
kinh doanh của bên nhượng quyền; Lĩnh vực nhượng quyền; Thông tin về việc
đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại tại cơ quan có thẩm quyền
33
Trang 39Những thông tin này có ý nghĩa trong việc giúp bên dự kiến nhận quyền
có thể đánh giá được năng lực pháp lý của bên nhượng quyền khi kinh doanh hoạt động nhượng quyền thương mại
Quyềrl sử dụng nhãn hiệu hàng hóa/dịch vụ và bất cứ đối tượng sở hữu trí tuệ nào của bên nhượng quyền; Chi tiết về nhãn hiệu hàng hóa/dịch vụ và quyền đối với đối tượng sở hữu trí tuệ được đăng ký theo pháp luật
Việc cung cấp thông tin này là rất quan trọng đối với bên dự kiến nhận quyền, bởi lẽ như chúng ta đã thấy, nhãn hiệu hàng hóa và các đối tượng sở hữu trí tuệ khác là các yếu tố thuộc quyền thương mại mà bên nhượng quyền chuyển giao cho bên nhận quyền Những thông tin về sự bảo vệ các quyền sở hữu trí tuệ này trước pháp luật sẽ giúp bên nhận quyền yên tâm hơn khi gia nhập hệ thống nhượng quyền, tránh rủi ro về khả năng xảy ra tranh chấp từ bên thứ ba
vụ và kinh nghiệm công tác của các thành viên ban giám đốc của bên nhượng quyền; Thông tin về bộ phận phụ trách lĩnh vực nhượng quyền thương mại của bên nhượng quyền; Kinh nghiệm của bên nhượng quyền trong lĩnh vực kinh doanh nhượng quyền; Thông tin về việc kiện tụng liên quan tới hoạt động nhượng quyền thương mại của bên nhượng quyền trong vòng một (01) năm gần đây
đầu mà bên nhận quyền phải trả; Thòi điểm trả phí; Trường hợp nào phí được hoàn trả
quảng cáo; Phí đào tạo; Phí dịch vụ; Thanh toán tiền thuê; Các loại phí khác
Đối với mỗi một loại phí, cần nói rõ mức phí được ấn định, thời điểm trả phí và trường họp nào phí được hoàn trả
Trang 406 Đầu tư ban đầu của bên nhận quyền, gồm các thông tin chính sau
đây: Địa điểm kinh doanh; Trang thiết bị; Chi phí trang trí; Hàng hoá ban đầu phải mua; Chi phí an ninh; Những chi phí trả trước khác
Việc cung cấp các thông tin (4) và (5) và (6) ở trên sẽ giúp bên dự kiến nhận quyền đánh giá được năng lực tài chính của mình, chi phí đầu tư của mình khi gia nhập hệ thống nhượng quyền
để phù hợp với hệ thống kinh doanh do bên nhượng quyền qưv định' Bên nhận
quyền có phải mua những vật dụng hay mua, thuê những thiết bị, sử dụng những dịch vụ nhất định nào để phù họp vói hệ thống kinh doanh do bên nhượng quyền quy định hay không; Liệu có thể chỉnh sửa những quy định của hệ thống kinh doanh nhượng quyền thương mại không; Nếu được phép chỉnh sửa hệ thống kinh doanh nhượng quyền thương mại, thì phải nói rõ cần những thủ tục gì
trước khi ký kết hợp đồng; Nghĩa vụ của bên nhượng quyền trong suốt quá trình hoạt động; Nghĩa vụ của bên nhượng quyền trong việc quyết định lựa chọn mặt bằng kinh doanh; Đào tạo (Đào tạo ban đầu; Những khoá đào tạo bổ sung khác)
phương thức ỉĩhưọng quyền thương mại: Bản mô tả về thị trường chung của hàng
hóa/dịch vụ là đối tượng của họp đồng nhượng quyền thương mại; Bản mô tả về thị trường của hàng hóa/dịch vụ là đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thưong mại thuộc lãnh thổ được phép hoạt động của bên nhận quyền; Triển vọng cho sự phát triển của thị trường nêu trên
kinh doanh của bên nhượng quyền đang hoạt động; số lượng cơ sở kinh doanh của bên nhượng quyền đã ngừng kinh doanh; số lượng các hợp đồng nhượng quyền đã kv với các bên nhận quyền; số lượng các họp đồng nhượng quyền đã được bên nhận quyền chuyển giao cho bên thứ ba; số lượng các cơ sở kinh
35