Trải qua gần 50 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành, BĐBP đã đạt được những thành tựu quan trọng trong tổ chức THPL về quản lý, bảo vệ BGQG; giữ vững được ổn định chính trị, chủ quyề
Trang 1rí> -v>- r j Ị
\ M TIẠ THẠNH HU
Trang 2PHẠM THỊ THANH HUÊ
VAI TRỒ CỦA Bộ DỘI BIÊN PHỒNG VIỆT NAM TRONG TỔ CHÚ1C THỤC HIỆN PHÁP LUẬT VÊ QUẢN LÝ
VÀ BẢO VỆ BIÊN GIỚI QUỐC GIA TRÊN TUYẾN
BIÊN Glứl BẤT LIÊN VIỆT - TRUNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS TS CHU HồNG THANH
THƯ VIỆ N ì
TRUÔNG ĐAI HỌ C LUẬT HÀ NOI ị
HÀ NỘI 2008
Trang 3Luận văn được hoàn thành với sự giúp đỡ của các cơ quan, đơn vị, nhà khoa học, các Thầy Cô giáo và các bạn đồng nghiệp.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các Thầy, Cô giáo trường Đại học Luật Hà Nội, Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng, Ban Giám đốc Học viện Biên phòng, Chỉ huy và toàn thể giáo viên khoa Pháp luật - Học viện Biên phòng đã trang bị kiến thức, tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành khoá học và hoàn thành luận vãn
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với PGS.TS Chu Hồng Thanh, Vụ trưởng Vụ Pháp chế - Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 24 tháng 12 năm 2007
HỌC VIÊN
Phạm Thị Thanh H uê
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Chương 1 Cơ sở lý luận về vai trò của Bộ đội biên phòng Việt
Nam trong tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý
và bảo vệ biên giới quốc gia trên tuyến biên giới đất liền Việt-Trung
1.1 Cơ sở chính trị - pháp lý về tổ chức thực hiện pháp luật
về quản lý và bảo vệ biên giới quốc gia1.2 Cơ sở chính trị - pháp lý về vai trò của Bộ đội biên phòng Việt Nam trong tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý và bảo vệ biên giới quốc gia trên tuyến biên giới đất liền Việt-Trung
1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý và bảo vệ biên giới quốc gia trên tuyến biên giới đất liền Việt - Trung của Bộ đội biên phòng
Chương 2 Thực trạng và giải pháp phát huy vai trò của Bộ đội
biên phòng Việt Nam trong tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý và bảo vệ biên giới quốc gia trên tuyến biên giới đất liền Việt - Trung
2.1 Thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý và bảo vệ biên giới quốc gia trên tuyến biên giới đất liền Việt - Trung của Bộ đội biên phòng
2.2 Giải pháp phát huy vai trò của Bộ đội biên phòng trong
tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý và bảo vệ biên giới quốc gia trên tuyến biên giới đất liền Việt - Trung
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5Bộ đội biên phòng BĐBP
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
Biên giới quốc gia giới hạn lãnh thổ, chủ quyền quốc gia, là "tuyến đầu" của Tổ quốc Việc xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới nhằm giữ gìn toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền quốc gia, bảo đảm ổn định chính trị, phát triển kinh tế, xã hội, tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh của đất nước.Quản lý, bảo vệ BGQG là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài và có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng của Nhà nước Hoạt động quản lý, bảo vệ BGQG phải tuân theo pháp luật, đảm bảo "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa " [10] Trong tình hình hiện nay, biên giới, lãnh thổ là vấn đề hết sức nhạy cảm và tiềm ẩn nhiều khó khăn, phức tạp, đặc biệt là trong quan hệ đối với các quốc gia liền
kề Việc tăng cường QLNN về BGQG thông qua hệ thống pháp luật để điều phối các hoạt động giữ ổn định BGQG - nội dung cơ bản và là tâm điểm của các hoạt động quản lý, bảo vệ BGQG - là rất cần thiết và cấp bách Để đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao, không để xảy ra sai sót gây tác hai cho lợi ích quốc gia và quan hệ quốc tế thì điều tất yếu là vấn đề tổ chức THPL về quản lý, bảo vệ BGQG phải được coi trọng
Tổ chức THPL về quản lý, bảo vệ BGQG là tiến hành THPL về quản lý, bảo vệ BGQG theo cách thức, trình tự do pháp luật quy định Trên cơ sở hệ thống văn bản quy định về quản lý, bảo vệ BGQG, các chủ thể THPL cần phải nhanh chóng đưa các quy định đó vào cuộc sống, để chúng phát huy tác dụng, nhằm góp phần quan trọng trong việc bảo vệ chủ quyền an ninh BGQG của Tổ quốc, xây dựng, củng cố, phát triển các mối quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước trong khu vực và trên toàn thế giới Tầm quan trọng đặc biệt của công tác tổ chức THPL về quản lý, bảo vệ BGQG xuất phát từ vị trí, đặc điểm của BGQG, yêu cầu, nhiệm vụ quản lý, bảo vệ BGQG
và đó cũng là hoạt động không thể thiếu trong điều chỉnh pháp luật và là căn
cứ quan trọng trong đánh giá hiệu quả pháp luật
Trang 7Quản lý, bảo vệ BGQG là sự nghiệp của toàn dân, của các lực lượng vũ trang nhân dân nhưng đòi hỏi phải có một lực lượng nòng cốt, chuyên trách đảm nhiệm Tổ chức lực lượng chuyên trách làm nhiệm vụ quản lý, bảo vệ BGQG là quy luật phổ biến của các nước trên thế giới Điều này xuất phát từ đặc điểm, yêu cầu khách quan của nhiệm vụ quản lý, bảo vệ BGQG là phải tập trung, thống nhất, không thể chia cắt, phân tán Đối với Việt Nam, Đảng
và Nhà nước ta xác định: " Bộ đội biên phòng làm nòng cốt, chuyên trách quản lý, bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh, trật tự biên giới quốc gia trên đất liền, " [17] Vai trò quan trọng đó của BĐBP thể hiện qua việc tổ chức THPL về quản lý, bảo vệ BGQG nói chung và trên tuyến biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc nói riêng
Trải qua gần 50 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành, BĐBP đã đạt được những thành tựu quan trọng trong tổ chức THPL về quản lý, bảo vệ BGQG; giữ vững được ổn định chính trị, chủ quyền biên giới; xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác với các nước láng giềng; thúc đẩy quan hệ
"láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai" giữa Việt Nam và Trung Quốc; phục vụ tích cực cho công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế và thực hiện các chính sách hợp tác mở rộng giao lưu quốc tế trên các lĩnh vực Tuy nhiên, trong quá trình BĐBP tổ chức THPL về quản lý, bảo
vệ BGQG trên tuyến biên giới đất liền Việt - Trung còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập cần phải được đi sâu nghiên cứu, làm rõ; trên cơ sở đó tìm ra nguyên nhân, đưa ra các giải pháp phát huy vai trò nòng cốt, chuyên trách của BĐBP trong quản lý, bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh, trật tự BGQG trên
đất liền Do vậy, đề tài: "Vai trò của Bộ đội biên phòng Việt Nam trong tổ
chức thực hiện pháp luật về quản lý và bảo vệ biên giới quốc gia trên tuyến biên giới đất liền Việt - Trung" có tính cấp thiết về lý luận và thực tiễn.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu về biên giới, lãnh thổ luôn là vấn đề thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học và nhà quản lý Trong đó, các công trình nghiên cứu ở các mức độ khác nhau có đề cập đến vai trò của BĐBP Tiêu biểu như:
Trang 8- "Bộ đội biên phòng với việc giáo dục pháp luật trong đổng bào khu
vực biên giới" (Luận văn thạc sĩ luật học của Phạm Văn Trưởng) đã khẳng
định vai trò của BĐBP trong giáo dục pháp luật;
- "Hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đối với biên giới quốc gia"
(Luận văn thạc sĩ luật học của Trịnh Như Ý), tác giả đã trình bày cơ bản về vai trò nòng cốt của BĐBP trong bảo vệ biên giới;
- "Hoàn thiện pháp luật vê xử lý vi phạm hành chính trong các lĩnh vực
thuộc thẩm quyền của Bộ đội biên phòng" (Luận văn thạc sĩ luật học của
Vương Trường Nam) trong đó tác giả có nghiên cứu về thực trạng THPL về
xử lý VPHC trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của BĐBP;
- "Tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với biên giới trên
đất liền Việt Nam và Lào" (Luận văn thạc sĩ luật học của Trần Thị Diệu
Oanh) trong đó có nêu sơ lược về chức năng, nhiệm vụ của BĐBP trong QLNN trên tuyến biên giới Việt - Lào;
- "Quản lý nhà nước của Bộ đội biên phòng Việt Nam trên tuyến biên
giới đất liền" (Luận văn thạc sĩ luật học của Hoàng Hữu Chiến), tác giả đã
nghiên cứu một cách toàn diện và ở tầm khái quát về hoạt động QLNN của BĐBP trên tuyến biên giới đất liền
Nhìn chung các đề tài nói trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau, với các mức độ, phạm vi khác nhau về vai trò của BĐBP Tuy nhiên, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách sâu sắc và toàn diện về vai trò của BĐBP trong tổ chức THPL về quản lý, bảo vệ BGQG trên tuyến biên giới đất liền Việt-Trung
Để BGQG thực sự phát huy chức năng là hàng rào pháp lý và không gian hợp tác, thực hiện tốt chủ trương của Đảng và Nhà nước ta là giữ ổn định BGQG về mọi mặt, tạo môi trường hòa bình, hữu nghị, phục vụ đắc lực cho chính sách đối ngoại rộng mở, nhằm thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì cần phải phát huy vai trò của BĐBP trong tổ chức THPL về quản lý, bảo vệ BGQG Vì thế, kết quả của
Trang 9việc nghiên cứu đề tài này sẽ có ý nghĩa rất quan trọng cả về lý luận và thực tiễn đối với công tác của BĐBP trong tình hình hiện nay.
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Luận văn chỉ nghiên cứu về vai trò của một chủ thể nòng cốt, chuyên trách trong tổ chức THPL về quản lý, bảo vệ BGQG là BĐBP; đối với địa bàn tuyến biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin về nhà nước và pháp luật; quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh
và Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật, về công tác biên phòng Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng một số phương pháp cụ thể như điều tra, khảo sát thực tế, thống kê, phân tích, tổng hợp
5 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu để tài
a- M ục đích
Việc nghiên cứu đề tài góp phần làm sáng tỏ lý luận và thực tiễn về vai trò của BĐBP Việt Nam trong tổ chức THPL về quản lý, bảo vệ BGQG trên tuyến biên giới đất liền Việt - Trung; đưa ra các giải pháp phát huy vai trò của BĐBP trong tình hình mới
6 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, bảng chữ viết tắt, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục kèm theo, luận văn chia làm 2 chương
Trang 10Chương 1
C ơ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG VIỆT NAM TRONG
TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ VÀ BẢO VỆ BIÊN GIỚI QUỐC GIA TRÊN TUYẾN BIÊN GIỚI ĐÂT LlỂN v i ệ t - TRUNG
1.1 Co sở chính trị- pháp lý về tổ chức thực hiện pháp luật về quản
lý và bảo vệ biên giới quốc gia
1.1.1 M ột sô khái niệm cơ bản
- Khái niệm quản lý và bảo vệ biên giới quốc gia
Quốc gia là một thực thể pháp lý-chính trị được cấu thành bởi ba yếu tố
là lãnh thổ, dân cư và chính quyền Trong đó, lãnh thổ quốc gia được hiểu là một phần của trái đất, thuộc chủ quyền hoàn toàn, đầy đủ và tuyệt đối của một quốc gia Xét về mặt địa lý và pháp lý, lãnh thổ quốc gia gồm có bốn
bộ phận cấu thành là vùng đất, vùng nước, vùng trời, lòng đất và nằm dưới chủ quyền của quốc gia Vì thế, tương ứng với các bộ phận cấu thành của lãnh thổ quốc gia có các bộ phận của BGQG, đó là BGQG trên đất liền, BGQG trên biển, BGQG trên không và BGQG trong lòng đất
Theo các quy định của pháp luật Việt Nam về BGQG: BGQG của nước
ta là đường và mặt thẳng đứng theo đường đó để xác định giới hạn lãnh thổ đất liền, các đảo, các quần đảo, vùng biển, lòng đất và vùng trời của nướcCộng hoà XHCN Việt Nam ở đây, BGQG thể hiện thành đường biên giới (đối với BGQG trên đất liền và BGQG trên biển) và mặt thẳng đứng (đối với BGQG trên không và BGQG trong lòng đất) BGQG trên đất liền bao gồm biên giới trên vùng đất (đồi núi, đồng bằng ), trên đảo, trên hồ, trên sông
và trên biển nội địa; được xác định bằng hệ thống mốc quốc giới theo hiệp ước về hoạch định biên giới giữa Việt Nam với các nước láng giềng cùng bản đồ, nghị định thư kèm theo các hiệp ước đó BGQG trên biển là ranh giới phía ngoài lãnh hải của đất liền, lãnh hải của đảo, lãnh hải của các quần đảo Việt Nam Đối với những nơi mà lãnh hải, nội thuỷ hoặc vùng nước lịch sử
Trang 11của Việt Nam tiếp giáp với lãnh hải, nội thuỷ hoặc vùng nước lịch sử của nước láng giềng, BGQG trên biển được xác định theo ĐƯQT mà Việt Nam
ký kết với các nước láng giềng BGQG trên biển được xác định và đánh dấu bằng các toạ độ trên hải đồ BGQG trên không là mặt thẳng đứng từ BGQG trên đất liền và BGQG trên biển lên vùng trời Biên giới trên không bao gồm biên giới xung quanh (biên giới sườn) và biên giới trên cao Biên giới sườn là mặt phẳng vuông góc với mặt đất, mặt nước và đi qua đường biên giới trên đất liền và trên biển Biên giới trên cao là khoảng không gian vũ trụ bao trùm
ở phía trên lãnh thổ quốc gia Hiện nay, chưa có quy định nào của luật quốc
tế xác định chiều cao vùng trời quốc gia Vì vậy, thực tế việc sử dụng khoảng không gian này chủ yếu phụ thuộc vào khả năng của từng quốc gia BGQG trong lòng đất là mặt thẳng đứng từ BGQG trên đất liền và BGQG trên biển xuống lòng đất Ranh giới trong lòng đất thuộc vùng biển là mặt thẳng đứng từ các đường ranh giới phía ngoài của vùng đặc quyền về kinh tế, thềm lục địa xuống lòng đất xác định quyền chủ quyền, quyền tài phán của Cộng hoà XHCN Việt Nam theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 và các ĐƯQT mà Việt Nam ký kết với các quốc gia hữu quan Theo thực tiễn pháp lý quốc tế, chiều sâu của BGQG trong lòng đất kéo dài đến tận tâm trái đất
Như vậy: Xét về không gian hình học thì BGQG là sự liên kết của nhiều mặt để tạo nên một hình khối, trong đó chứa đựng vùng đất, vùng nước, vùng trời và vùng lòng đất thuộc phạm vi lãnh thổ quốc gia Xét về mặt chính trị - pháp lý thì BGQG là căn cứ để xác định giới hạn lãnh thổ quốc gia và thực hiện chủ quyền quốc gia một cách đầy đủ, toàn vẹn và tuyệt đối Nói một cách khái quát thì BGQG là "ranh giới xác định lãnh thổ quốc gia” [18, tr 61 ].Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, BGQG là một phạm trù lịch sử BGQG gắn liền với sự tồn tại của xã hội có giai cấp và Nhà nước, chừng nào xã hội loài người còn tồn tại giai cấp là còn tồn tại Nhà nước; còn
Trang 12Nhà nước là còn BGQG Nhà nước có trách nhiệm ban hành những văn bản pháp luật quy định về việc quản lý và bảo vệ BGQG Hai thuật ngữ "quản lý" và
"bảo vệ" được đề cập ở nhiều tài liệu khác nhau: "Quản lý là tổ chức, điều khiển hoạt động của một số đơn vị, một cơ quan"[14, tr 1363]; "Quản lý là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý" [16, tr.95];
"Quán lý là sự tác động của chủ thể lên đối tượng theo mục tiêu nhất định" [18, tr.633] Như vậy, dù cách diễn đạt có đa dạng song quản lý, theo nghĩa chung nhất, đều được hiểu là tổ chức, điều khiển, tác động của chủ thể quản
lý lên đối tượng quản lý theo những mục tiêu, mục đích nhất định Khi sự quản lý được thực hiện bởi chủ thể là các cơ quan Nhà nước và nhân viên Nhà nước trên cơ sở pháp luật thì đó là QLNN BĐBP là một cơ quan Nhà nước trong Bộ máy Nhà nước Việt Nam, do đó chúng tôi đề cập tới quản lý ở đây chính là QLNN
Quản lý Nhà nước về BGQG là tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình kinh tế - xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì các mối quan hệ chính trị, kinh tế - xã hội và trật tự pháp luật, nhằm bảo vệ chủ quyền Nhà nước, an ninh, trật tự an toàn xã hội ở KVBG, thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc bảo vệ và phát triển kinh tế ở KVBG [15, tr.822]
Thuật ngữ "bảo vệ" là "giữ gìn, chống sự xâm phạm, để khỏi bị hư hỏng, mất mát" [14, tr ll] "Bảo vệ là chống lại mọi sự xâm phạm để giữ cho luôn luôn được nguyên vẹn" [19, tr.55] Như vậy, thuật ngữ "bảo vệ" cũng được hiểu một cách thống nhất Theo đó, bảo vệ BGQG là "toàn bộ các biện pháp giữ gìn BGQG nhằm bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ tài nguyên, môi sinh, môi trường, lợi ích quốc gia trên KVBG; giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội ở KVBG" [15, tr.61]
Trang 13Trên cơ sở nhận thức về BGQG, quản lý BGQG và bảo vệ BGQG, có thể hiểu: Quản lý và bảo vệ BGQG:
+ Bao gồm toàn bộ sự tác động có tổ chức, sự điều chính bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình kinh tế - xã hội, hành vi hoạt động của con người và toàn bộ các biện pháp giữ gìn BGQG
+ Chủ thể thực hiện QLNN về BGQG là Nhà nước, thông qua các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Chủ thể thực hiện bảo vệ BGQG là tất cả các cá nhàn,
tổ chức, trước hết là lực lượng vũ trang, chính quyền và nhân dân ở KVBG
+ Mục đích của quản lý, bảo vệ BGQG: Nhằm duy trì các mối quan hệ kinh tế, xã hội, trật tự pháp luật; bảo vệ chủ quyền Nhà nước, các lợi ích quốc gia, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở KVBG
Tóm lại, quản lý và bảo vệ BGQG là toàn bộ sự tác động có tổ chức, sự điều chính bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình kinh tế - xã hội, hành vi hoạt động của con người và các biện pháp giữ gìn BGQG được thực hiện bởi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và các cá nhân, tổ chức có liên quan nhằm duy trì các mối quan hệ kinh tế, xã hội, trật tự pháp luật, bảo vệ chủ quyền Nhà nước, các lợi ích quốc gia, an ninh chính trị, trật tự an toàn
áp dụng pháp luật; trong đó áp dụng pháp luật là hình thức đòi hỏi phải được thực hiện bởi chủ thể là cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc cá nhân, tổ chức được Nhà nước trao quyền Đối với thuật ngữ "tổ chức THPL" mặc dù được sử dụng tương đối rộng rãi trong khoa học cũng như trong thực tiễn
Trang 14pháp lý nhưng hầu như chưa có công trình khoa học nào giải thích triệt đế nội hàm thuật ngữ này Chúng ta nên bắt đầu từ chính những bộ phận cấu thành nên thuật ngữ đó Thuật ngữ "tổ chức" được xem xét ở cả hai dạng là danh từ và động từ, tuy nhiên trong trường hợp sử dụng thuật ngữ "tổ chức THPL" chúng tôi cho rằng chỉ nên xem xét thuật ngữ "tổ chức" dưới dạng động từ Theo đó, "tổ chức" được hiểu là "tiến hành một công việc theo cách thức, trình tự nào đó" [14, tr 1662] Do đó, tổ chức THPL chính là tiến hành THPL theo cách thức, trình tự do pháp luật quy định, nói cách khác, đó là tiến hành thực hiện hành vi của con người hoặc hoạt động của tổ chức phù hợp với quy định, yêu cầu của pháp luật và theo cách thức, trình tự do pháp luật quy định.
Tổ chức THPL có gì khác với THPL khi mà bản thân thuật ngữ "THPL"
đã bao hàm trong đó cách thức, trình tự THPL phải do pháp luật quy định? Chúng tôi cho rằng, điểm khác biệt rõ nhất là "tổ chức THPL" được dùng khi nhấn mạnh vai trò của chủ thể THPL, đặc biệt là thể hiện tính chủ động của chủ thể Chủ thể ở đây có thể là cá nhân hoặc tổ chức (trong đổ có cơ quan Nhà nước có thẩm quyền) Ngoài ra, có quan điểm cho rằng "tuân thủ pháp luật là hình thức THPL một cách thụ động, thể hiện ở sự kiềm chế của chủ thể để không vi phạm các quy định cấm đoán của pháp luật" [18, tr.758] Chúng tôi không đồng ý với quan điểm trên khi khẳng định nội dung "tuân thủ pháp luật là hình thức THPL một cách thụ động", bởi lẽ, hành vi của con người dù được thể hiện dưới hình thức hành động hay không hành động đều
là kết quả của sự nhận thức, vì thế hành vi đó phải có tính chủ động Điều
lý giải này sẽ thống nhất với cách hiểu của chúng tôi về tổ chức THPL mang tính chủ động của chủ thể THPL Tính chủ động càng rõ rệt đối với chủ thể là cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong áp dụng pháp luật, bởi lẽ,
áp dụng pháp luật là hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền dựa trên các quy định của pháp luật để giải quyết, xử lý những vấn đề cụ thể
Trang 15thuộc trách nhiệm của mình, hoạt động đó nhằm cá biệt hoá QPPL vào các trường hợp cụ thể đối với cá nhân, tổ chức cụ thể; trong đó chính cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải chủ động, tích cực trong tổ chức cho các chủ thể khác thực hiện những quy định của pháp luật trong các trường hợp áp dụng pháp luật.
Trên cơ sở phân tích trên, có thể khẳng định: Tổ chức THPL về quản lý, bảo vệ BGQG là tiến hành THPL về quản lý, bảo vệ BGQG theo cách thức, trình tự do pháp luật quy định
1.1.2 Tầm quan trọng của việc tổ chức thực hiện pháp luật vê quản
lý và bảo vệ biên giới quốc gia
Tổ chức THPL về quản lý, bảo vệ BGQG có tầm quan trọng đặc biệt đối với mọi thời kỳ, mọi giai đoạn Xuất phát từ các lý do cơ bản sau:
- Vị trí, đặc điểm của BGQG
* Biên giới quốc gia có vị trí đặc biệt quan trọng:
Thứ nhất: BGQG luôn được khẳng định là tuyến đầu, phên dậu, cửa
ngỏ, cỗ họng của đất nước Trong lịch sử giữ nước hàng mấy nghìn năm qua
cho thấy, BGQG là nơi đầu tiên quân xâm lược đặt chân đến Giữ vững được
sự bình yên của các miền biên giới mới giữ vững được chủ quyền lãnh thổ quốc gia, bảo vệ được độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc Vì thế, ông cha
ta luôn coi việc bảo vệ biên giới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, quyết định tính chất sống còn của đất nước, bảo vệ BGQG là bộ phận thiêng liêng của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trong điều kiện hội nhập, mở cửa, giao lun và hợp tác quốc tế hiện nay, BGQG là nơi giao tiếp đầu tiên giữa nước ta với các nước và người nước ngoài khi đến Việt Nam; nơi thường xuyên diễn ra các hoạt động giao lưu, thương mại, hợp tác đầu tư, xây dựng
cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội; nơi có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và là nơi trực tiếp phản ánh việc hiện thực hoá đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta Do đó, KVBG đất liền, biển đảo là nơi có ý nghĩa rất
Trang 16quan trọng đối với phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước và quảng
bá hình ảnh, tiềm năng đất nước, con người Việt Nam, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước tới bạn bè khu vực và quốc tế Đồng thời đây cũng là nơi tình hình buôn lậu, gian lận thương mại, vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới, hoạt động của các loại tội phạm xuyên quốc gia diễn biến phức tạp và có chiều hướng ngày càng tăng với thủ đoạn ngày càng tinh
vi, xảo quyệt và là địa bàn luôn được các thế lực thù địch lợi dụng tăng cường hoạt động xâm nhập biên giới để hoạt động tình báo, gián điệp, thực hiện "diễn biến hoà bình", gây bạo loạn, lật đổ, chống phá ta trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh
Thứ hai: BGQG rất nhạy cảm và phức tạp, bất cứ vấn đề nào liên quan đến BGQG, xảy ra ở KVBG đều tiềm ẩn trong đó lợi ích cộng đồng người, lợi ích dân tộc, lợi ích quốc gia Việc giải quyết các vấn đề đó đòi hỏi vừa đúng chính sách, pháp luật, vừa phải khôn khéo, mềm dẻo phù hợp tình hình thực tiễn, nếu không rất dễ dẫn đến mâu thuẫn giữa các cộng đồng người, mâu Ihuẫn dân tộc, mâu thuẫn tôn giáo và mâu thuẫn quốc gia KVBG cũng là nơi tập trung phần lớn các dân tộc ít người sinh sống với phong tục tập quán đa dạng Đây là lực lượng đông đảo, có đóng góp quan trọng trong sự nghiệp bảo
vệ chủ quyền an ninh BGQG nhưng cũng là bộ phận dễ bị lôi kéo, kích động gây mất trật tự an toàn xã hội Bên cạnh đó, các thế lực thù địch thường lợi dụng những mâu thuẫn nhỏ, bất đồng nhỏ để tạo nên cái cớ, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, thậm chí làm rùm beng, bôi nhọ chế độ, Nhà nước Việt Nam, phá hoại mối quan hệ hữu nghị, hoà bình giữa các quốc gia liền kề Vì vậy, công tác quản lý, bảo vệ BGQG trong thời kỳ mới rất toàn diện, không chỉ đơn thuần về hoạt động quân sự mà còn có nhiều hoạt động khác trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, ngoại giao, quốc phòng, an ninh, môi trường Điều đó càng khẳng định tầm quan trọng của BGQG và việc quản lý, bảo vệ BGQG trong tình hình hiện nay
Trang 17* Đặc điểm chung của BGQG
Việt Nam nằm ở trung tâm Đông Nam châu Á với "diện tích đất liền khoáng 331.113,6 km2 , có đường biên giới đất liền dài 4510 km, bò' biển dài 3260km và có vùng biển, đảo rộng khoảng trên 1 triệu km 2" [2, tr.4] Biên giới nước ta với các nước láng giềng là do lịch sử để lại, trải qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước cùng với những biến đổi của thiên nhiên, những biến cố của lịch sử và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch nên tình hình trên các tuyến biên giới nhìn chung rất phức tạp, có lúc tại những tuyến biên giới tình hình khá căng thẳng, quyết liệt và thực tế đã xảy
ra chiến tranh biên giới như với Trung Quốc (1979) Tại các tuyến biên giới đất liền, tình hình xâm phạm chủ quyền, an ninh trật tự rất phức tạp, địa hình khó khăn, hầu hết là rừng núi, đường xá và cơ sở hạ tầng kém phát triển; khí hậu khắc nghiệt, dân cư ở KVBG tập trung chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu số với quan hệ thân tộc lâu đời hai bên biên giới Đối với tuyến biên giới trên biển, còn nhiều vùng biển đang tranh chấp, đặc biệt là tranh chấp trên biển thuộc khu vực quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa Vùng biển nước ta có nhiều đảo, quần đảo, có nhiều đoạn rừng kéo sát bờ biển, nhiều sông rạch lớn thông liền với nội địa; dọc bờ biển có nhiều đường quốc lộ, đường sắt, sân bay, cơ sở kinh tế - quốc phòng, điểm tham quan,
du lịch; mật độ dân cư đông, có nhiều tôn giáo nhất là Thiên chúa giáo Đối với biên giới trên không và trong lòng đất, Việt Nam đã khẳng định chủ quyền của mình và tiến hành thực hiện quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam theo các văn bản pháp luật quốc gia và các ĐƯQT mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập
Tóm lại, trên cơ sở phân tích làm rõ vị trí, đặc điểm của BGQG với nội dung cụ thể về tình hình biên giới, địa hình, dân cư nêu trên cho thấy vị trí đặc biệt quan trọng của BGQG, sự đa dạng, tính đặc thù của từng tuyến biên giới
Trang 18- Yêu cầu, nhiệm vụ quản lý, bảo vệ BGQG
Xuất phát từ vị trí, đặc điểm của BGQG nên yêu cầu, nhiệm vụ quản lý, bảo vệ BGQG, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay hết sức nặng nề, phức tạp
* Về yêu cầu:
Yêu cầu về chính trị: Đảm bảo đúng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; sự chỉ đạo của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; chỉ đạo, chỉ huy của cấp trên; sự phối hợp, hiệp đồng với các lực lượng, các ngành hữu quan Trong quá trình thực hiện việc quản lý, bảo vệ BGQG, mọi cấp, mọi ngành, mọi lực lượng cần đẩy mạnh mọi nỗ lực xây dựng KVBG, bờ biển, hải đảo vững mạnh toàn diện về chính trị, tư tưởng, tổ chức; phát huy sức mạnh tổng hựp của toàn dân, của hệ thống chính trị để quản lý, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh BGQG trong mọi tình huống
Yêu cầu về nghiệp vụ (đối với các lực lượng chức năng): Đúng quy định của pháp luật, hướng dẫn nghiệp vụ của cấp trên, đảm bảo nhuần nhuyễn các biện pháp nghiệp vụ Đặc biệt về biện pháp đấu tranh với các hành vi vi phạm chủ quyền, an ninh BGQG, vi phạm quy chế biên giới cần hết sức kiềm chế, mưu trí, khôn khéo thực hiện phương châm “vừa hợp tác, vừa đấu tranh”, “mở cửa đi đôi với gác cửa”, “hội nhập nhưng phải giữ vững chủ quyền, bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc”, tạo môi trường biên giới ổn định, hoà bình, hữu nghị Tăng cường đấu tranh chống các loại tội phạm nhất
là bọn tội phạm có tổ chức, có vũ trang, giữ gìn an ninh trật tự an toàn xã hội
ở KVBG, chủ động tham gia phòng thủ trong khu vực, sẵn sàng đối phó với mọi tình huống kể cả xung đột và chiến tranh biên giới
Yêu cầu về công tác đối ngoại: Thực hiện đúng chủ trương của Đảng đề
ra trong văn kiện Đại hội X: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc t ế ’ Tuỳ thuộc vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn mà trong quan hệ đối ngoại có biện pháp cụ thể tranh
THƯ Vi ẺN
T n 1 r y |\ I ^
I KUUNtì
Trang 19thủ sự đồng tình ủng hộ của nhân dân, các lực lượng tiến bộ của nước láng giềng, kiên trì đàm phán giải quyết các vấn đề biên giới, vùng biển - đảo cho phù hợp với lợi ích của các bên và pháp luật, tập quán quốc tế.
Yêu cầu về phát triển kinh tế - văn hoá: Muốn ổn định lâu dài BGQG thì cần thiết phải đảm bảo “quốc thái, dân an” Do đó, trong quản lý, bảo vệ BGQG cần gắn chặt với phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân ở KVBG, các lực lượng coi đây là nhiệm vụ tất yếu, thường xuyên đồng thời nhân dân ở KVBG cần tích cực, chủ động xây dựng và củng cố đời sống vật chất, tinh thần của chính mình, tạo thế và lực vững chắc trong quản lý, bảo vệ BGQG
* Về nhiệm vụ: Nhiệm vụ quản lý, bảo vệ BGQG rất toàn diện:
Quản lý, bảo vệ an toàn đường BGQG về mặt địa lý đồng thời phải bảo
vệ chủ quyền an ninh BGQG; xây dựng, củng cố, bảo vệ cơ sở chính trị xã hội vững mạnh ở KVBG; thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo: Đảm bảo sự bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; đảm bảo mọi công dân đéu có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào; cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho nhân
dân các dân tộc ở biên giới, bờ biển, hải đảo; gắn chặt công tác bảo vệ biên
giới, vùng biển - đảo với xây dựng biên giới, vùng biển vững mạnh toàn diện; bảo vệ và giữ gìn các quan hệ hữu nghị thân thiện giữa chính quyền và nhân dân hai bên biên giới, góp phần tạo ra môi trường hoà bình ổn định cho đất nước để xây dựng và phát triển
- Vị trí của tổ chức THPL trong điều chỉnh pháp luật và trong hiệu quả pháp luật.
Theo tiến sĩ Nguyễn Quốc Hoàn, trường Đại học Luật Hà Nội, thì
"Điều chỉnh pháp luật là quá trình tác động có tổ chức, mang tính quy phạm của Nhà nước đối với các quan hệ xã hội thông qua hành vi của các chủ thể nhằm đạt được những mục đích nhất định" Trong đó, chủ thể của điều chỉnh
Trang 20pháp luật là Nhà nước Chỉ có Nhà nước (thông qua các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc nhà chức trách) mới có quyền ban hành pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội Để thực hiện sự điều chỉnh pháp luật, Nhà nước phải tiến hành nhiều hoạt động khác nhau như xác định mục đích, nhiệm vụ, phạm vi, đối tượng, phương pháp điều chỉnh pháp luật Có thể khái quát các hoạt động cụ thể của Nhà nước nhằm điều chỉnh pháp luật dưới ba hình thức
cơ bản là: xây dựng pháp luật, tổ chức THPL và bảo vệ pháp luật Các hoạt động này được tiến hành bởi các cơ quan Nhà nước tuỳ thuộc chức năng, nhiệm vụ cụ thể mà tiến hành phối hợp với nhau để thực hiện sự điều chỉnh pháp luật Như vậy, tổ chức THPL là một hình thức cơ bản để Nhà nước thực hiện sự điều chỉnh pháp luật, thiếu nó thì không thể tiến hành điều chỉnh pháp luật được, bởi suy cho cùng, chính tổ chức THPL sẽ quyết định các quan hệ xã hội có thực sự bị điều chỉnh bằng pháp luật hay không và những mục đích của Nhà nước có đạt được hay không Tổ chức THPL là khâu trung tâm trong các hoạt động của Nhà nước trong điều chỉnh pháp luật, bơi lẽ, trên cơ sở hoạt động xây dựng pháp luật mà kết quả của hoạt động này là cho ra đời một hệ thống pháp luật thì mới có thể tổ chức THPL được, đồng thời đây lại là cơ sở để Nhà nước tiến hành hoạt động bảo vệ pháp luật
Tổ chức THPL về quản lý, bảo vệ BGQG là hoạt động rất quan trọng Trên cơ sở hệ thống văn bản quy định về quản lý, bảo vệ BGQG, cần phải nhanh chóng đưa các quy định đó vào cuộc sống, để chúng phát huy tác dụng, nhằm góp phần quan trọng trong việc bảo vệ chủ quyền an ninh BGQG của Tổ quốc cũng như trong việc xây dựng, củng cố, phát triển các mối quan hệ hữu nghị hợp tác với các nước có chung biên giới và các nước khác trong khu vực và toàn thế giới "Hiệu quả pháp luật là kết quả đạt được trên thực tế do sự tác động pháp luật mang lại, phản ánh đúng những mục đích, yêu cầu và định hướng mà pháp luật quy định với những chi phí thấp và mang lại nhiều lợi ích xã hội" [11, tr.49] Đây là khái niệm chung nhất làm
Trang 21cơ sở xem xét hiệu quả của pháp luật ở các bình diện và cấp độ khác nhau,
trong đó có vấn đề hiệu quả của tổ chức THPL Rõ ràng, tổ chức THPL là
con đường không thể thiếu để góp phần làm nên hiệu quả pháp luật, vì
không thể khẳng định hiệu quả pháp luật cao hay thấp nếu như pháp luật vẫn
chỉ là các quy định trên giấy tờ mà không phát huy tác dụng trên thực tế, tức
là chưa tổ chức THPL Kết quả của tổ chức THPL về quản lý, bảo vệ BGQG
là cơ sở để khẳng định hiệu quả pháp luật trong lĩnh vực an ninh quốc phòng
nói chung và quản lý, bảo vệ chủ quyền an ninh BGQG nói riêng Trong đó,
vấn đề quan trọng nhất là giữ vững sự toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền, an ninh
trật tự BGQG trên đất liền, hải đảo và các vùng biển của Tổ quốc Trong điều
kiện hiện nay thì ngoài vấn đề trên, tổ chức THPL về quản lý, bảo vệ BGQG
còn là sự hiện thực hoá đường lối đối ngoại rộng mở của Việt Nam, đảm bảo thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam khi chính thức là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế và khu vực
Như vậy, tổ chức THPL về quản lý, bảo vệ BGQG có tầm quan trọng
đặc biệt, xuất phái từ vị trí, đặc điểm của BGQG, yêu cầu nhiệm vụ quản lý, bảo vệ BGQG, là hoạt động không thể thiếu trong điều chỉnh pháp luật và là căn cứ quan trọng trong đánh giá hiệu quả pháp luật
1.1.3 Cơ sở pháp lý của tổ chức thực hiện pháp luật vê quản lý và bảo vệ biên giới quốc gia
Những quy định pháp luật về quản lý, bảo vệ BGQG là cơ sở pháp lý để
tổ chức THPL về quản lý, bảo vệ BGQG Các văn bản pháp luật quy định về vấn đề này bao gồm các văn bản QPPL trong nước và các ĐƯQT mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định về quản lý, bảo vệ BGQG Nội dung các văn bản xác định:
- Mục đích của quản lý, bảo vệ BGQG là nhằm đảm bảo sự bất khả xâm phạm BGQG, giữ vững chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, giữ gìn an ninh, trật tự,
an toàn xã hội ở KVBG; xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị, ổn định lâu dài với các nước láng giềng
Trang 22- Trách nhiệm quản lý, bảo vệ BGQG thuộc về Nhà nước, các cơ quan, tổ chức, lực lượng vũ trang, chính quyền các cấp và toàn dân mà trực tiếp và thường xuyên là chính quyền, nhân dân KVBG và các lực lượngvũ írang nhân dân.
- Nội dung quản lý, bảo vệ BGQG được xác định:
Nội dung QLNN về BGQG: Nhà nước xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách về BGQG; ban hành, tổ chức thực hiện các chính sách, văn bản QPPL về BGQG; đàm phán, ký kết và tổ chức thực hiện ĐUQT về BGQG; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về BGQG; xây dựng các công trình biên giới, công trình kinh tế-xã hội ở KVBG; nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ phục vụ việc xây dựng, quản lý, bảo
vệ BGQG; xây dựng lực lượng nòng cốt, chuyên trách về quản lý, bảo vệ BGQG; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về BGQG; hợp tác quốc tế trong xây dựng, quản lý, bảo vệ BGQG.Nội dung bảo vệ BGQG: Các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và cá nhân tiến hành các hoạt động giữ gìn BGQG nhằm bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ tài nguyên, môi sinh, môi trường, lợi ích quốc gia trên KVBG; giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội ở KVBG Đối với từng loại chủ thể, nội dung bảo vệ BGQG được xác định khác nhau theo quy định của pháp luật
Như vậy, tuỳ thuộc vào vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan Nhà nước cũng như vai trò của các tổ chức, cá nhân khác nhau trong xã hội mà sự tham gia vào quản lý, bảo vệ BGQG của các chủ thể này cũng khác nhau Nhìn chung, các cơ quan có thẩm quyền có quyền ban hành văn bản pháp luật về BGQG thì tiến hành ban hành văn bản quy định về vấn
đề này Các cơ quan khác và tất cả các tổ chức và cá nhân thì tổ chức THPL
về quản lý, bảo vệ BGQG trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình đồng thời thực hiện giám sát việc THPL về quản lý, bảo vệ BGQG của các
cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và cá nhân Hoạt động của các chủ thể này
Trang 23đều phái được thực hiện một cách thống nhất, trên cơ sở quy định của pháp luật và nội dung của các ĐƯQT được ký kết nhằm hướng tới mục đích của quản lý, bảo vệ BGQG nói chung và mục đích của tổ chức THPL về quản lý, bảo vệ BGQG nói riêng.
Trên cơ sở những quy định trên của pháp luật về quản lý, bảo vệ BGQG, có thể thấy chủ thể, mục đích, nội dung, hình thức, phương pháp của
-Về mục đích: Mục đích của quản lý, bảo vệ BGQG là cơ sơ xác định mục đích của tổ chức THPL về quản lý, bảo vệ BGQG Tất cả các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và công dân khi thực hiện các hoạt động của mình
có liên quan đến BGQG đều phải đảm bảo mục đích trên Ngoài ra, tổ chức THPL còn có những mục đích cụ thể được quy định bởi chính hoạt động này, đó là: Qua tổ chức THPL nhằm tìm ra những ưu điểm để phát huy mặt mạnh, tìm ra những khuyết điểm để khắc phục, bao gồm cả những ưu điểm
và khuyết điểm trong hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp được bộc lộ ra trong tổ chức THPL
- Về nội dung: Tuỳ thuộc vào từng loại chủ thể mà pháp luật quy định
tổ chức THPL về quản lý, bảo vệ BGQG là tiến hành những hoạt động gì Theo sự phân tích ở trên thì tất cả các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và mọi cá nhân đều phải thi hành, tuân thủ các quy định của pháp luật về quản
lý, bảo vệ BGQG, có quyền sử dụng pháp luật trong phạm vi quy định; đặc
Trang 24biệt đối với cơ quan Nhà nước và nhà chức trách thì có quyền áp dụng pháp luật trong những trường hợp pháp luật quy định.
Biểu hiện cụ thể của nội dung tổ chức THPL về quản lý, bảo vệ BGQG của các chủ thể như sau:
Đối với cá nhân, tổ chức thì tổ chức THPL về quản lý, bảo vệ BGQG thể hiện ở việc công dân nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của pháp luật
về BGQG Trong đó, mọi cá nhân, tổ chức có trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ BGQG, xây dựng, giữ gìn an ninh, trật tự an toàn xã hội ở KVBG như không thực hiện các hành vi bị nghiêm cấm trong luật BGQG và các văn bản pháp luật khác có liên quan đến quản lý, bảo vệ BGQG; chấp hành các quy định
về việc xuất cảnh, nhập cảnh, qua lại biên giới, cư trú tại KVBG
Đối với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền: Theo phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được pháp luật xác định, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện quản lý, bảo vệ BGQG Đây là loại chủ thể có quyền áp dụng pháp luật, do đó trong tổ chức THPL nói chung và áp dụng pháp luật nói riêng, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật về BGQG hoạc tự mình căn cứ vào các quy định của pháp luật về BGQG để tạo ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể Các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng pháp luật về quản lý, bảo vệ BGQG trong các trường hợp:
* Khi cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế Nhà nước hoặc áp dụng các chế tài pháp luật đối với những chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật về BGQG Đây là trường hợp khi có vi phạm pháp luật xảy ra và cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể
vi phạm pháp luật Pháp luật về quản lý, bảo vệ BGQG có các quy định về xử
lý VPHC, xử lý vi phạm hình sự đối với những hành vi vi phạm nhất định
* Khi những quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể không mặc nhiên phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt nếu thiếu sự can thiệp của Nhà nước
Trang 25Trường hợp này biểu hiện rõ nét khi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành các hoạt động như cấp các loại giấy tờ phục vụ cho việc xuất cảnh, nhập cảnh, xuất khẩu, nhập khẩu, cư trú, đi lại
* Trong một số quan hệ pháp luật mà Nhà nước thấy cần thiết phải tham gia đê kiểm tra, giám sát hoạt động của các bên tham gia vào quan hệ
đó hoặc Nhà nước xác nhận sự tồn tại hay không tồn tại một số sự việc, sự kiện thực tế Biểu hiện cụ thể trong các trường hợp kiểm tra, kiểm soát tại cửa khẩu, tuần tra biên giới
* Trường hợp khác: Nhà nước khen thưởng đối với các cá nhân, tổ chức có thành tích trong hoạt động quản lý, bảo vệ BGQG
- Về hình thức: Hình thức tổ chức THPL về quản lý, bảo vệ BGQG được xem xét ở đây với tư cách là cách thức thể hiện nội dung của tổ chức THPL về quản lý, bảo vệ BGQG, là hoạt động biểu hiện ra bên ngoài của chủ thể tổ chức THPL về quản lý, bảo vệ BGQG Mặc dù đa dạng trong hình thức tổ chức THPL, song nhìn chung có các hình thức: Đối với các cơ quan Nhà nước và nhà chức trách có thẩm quyền: Ban hành văn bản áp dụng pháp luật; thực hiện những hoạt động mang tính pháp lý khác và áp dụng những biện pháp tổ chức trực tiếp Đối với các cá nhân, tổ chức xã hội: Tuân thủ, chấp hành, sử dụng pháp luật về quản lý, bảo vệ BGQG Cụ thể là không tiến hành những hành vi mà pháp luật ngăn cấm, thực hiện nghĩa vụ pháp lý bằng hành động tích cực, thực hiện quyền của mình trong phạm vi mà pháp luật cho phép
- Về phương pháp: Đây là cách thức mà các chủ thể (cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền, các tổ chức xã hội và cá nhân) tổ chức THPL về quản lý, bảo
vệ BGQG nhằm đạt được những mục đích của quản lý, bảo vệ BGQG và mục đích của tổ chức THPL về quản lý, bảo vệ BGQG Đối với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, phương pháp được sử dụng gồm phương pháp thuyết phục, phương pháp cưỡng chế, phương pháp hành chính, phương pháp kinh tế
Trang 26[7, tr.21 ] Đối với các cá nhân, tổ chức xã hội: Đó là phương pháp tuỳ nghi (trường hợp sử dụng quyền), bắt buộc phải thực hiện trên cơ sở quy định của pháp luật hoặc quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (trường hợp thực hiện nghĩa vụ với hình thức chấp hành và tuân thú pháp luật), tự nguyện,
tự giác thực hiện (thể hiện trách nhiệm trong quản lý, bảo vệ BGQG)
1.2 Cơ sở chính trị-pháp lý về vai trò của Bộ đội biên phòng Việt
Nam trong tổ chức thực hiện pháp luật về quản iý và bảo vệ biên giới quốc gia trên tuyến biên giới đất liền Việt-Trung
1.2.1 Ouan điểm của Chủ tịch H ổ C hí M inh và Đảng cộng sản Việt
N am về xây dựng lực lượng nòng cốt, chuyên trách quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia
The hiện trên những nội dung cơ bản sau:
Khẳng định biên giới là địa bàn quan trọng và cần thiết phải tổ chức lực lượng nòng cốt, chuyên trách bảo vệ Sức mạnh báo vệ biên giới chính là nhân dán mà trước hết là nhân dân biên giới Đồng thời chủ trương “tổ chức một lực lượng vũ trang thống nhất, nòng cốt chuyên trách, giỏi về chiên đâu, chuyên sâu về nghiệp vụ, tin cậy về chính trị, vững mạnh về tổ chức để làm nòng cốt cho toàn dân bảo vệ biên giới” [8, tr 104]
Bộ đội biên phòng là lực lượng nòng cốt chuyên trách trong quản lý, bảo
vệ BGQG thì phải được xây dựng vững mạnh về chính trị, tổ chức, đội ngũ cán bộ, chiến sĩ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền an ninh BGQG đồng thời phải được đảm bảo cơ sở vật chất, chăm lo đời sống chu đáo Trong đó, xác định rõ: BĐBP vững mạnh về chính trị thì cần phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp và toàn diện của Đảng cộng sản Việt Nam, cán bộ, chiến sĩ phải "Đoàn kết, cảnh giác; Liêm chính, kiệm cần; Dũng cảm trước địch; Vì nước quên thân; Trung thành với Đảng; Tận tuỵ với dân” [5, tr ll] phải được
“lựa chọn kỹ, bảo đảm tin cậy về chính trị, được huấn luyện đào tạo chu đáo,
có trình độ quân sự và trình độ nghiệp vụ về công tác biên phòng tốt, nắm
Trang 27vững pháp luật và quy chế biên giới, biết làm công tác vận động quần chúng
để đám đương vai trò nòng cốt trong nền biên phòng toàn d â n ” Ị8, tr.l 16] BĐBP vững mạnh về tổ chức thì phái được tổ chức thống nhất, thông suốt, kịp thời, đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ với cả ba tính chất an ninh, quốc phòng, đối ngoại BĐBP cần phải được quan tám chăm lo chu đáo đời sống vật chất, tinh thần và đảm bảo cơ sở vật chất cho hoạt động
Như vậy: Tổ chức lực lượng chuyên trách quản lý, bảo vệ BGQG là quy luật phổ biến của các nước trên thế giới Bất kỳ một quốc gia nào cũng đều
tổ chức lực lượng với vai trò nòng cốt, chuyên trách làm nhiệm vụ quản lý, bảo vệ BGQG, đảm bảo chủ quyền an ninh BGQG Thực hiện nhiệm vụ đó là một tổ chức đặc biệt của Nhà nước Tên gọi, hình thức tổ chức, co' chê quản
lý, chỉ huy lực lượng chuyên trách bảo vệ BGQG do Nhà nước xác định bằng các văn bản pháp luật dựa trên cơ sở truyền thống, tính chất, đặc điểm, yêu cẩu nhiệm vụ bảo vệ BGQG và trạng thái đất nước (trong thời bình hay thời chiến) Ví dụ: Lực lượng chuyên trách báo vệ BGQG ở Cộng hoà liên bang
Đức, các nước Đông Âu, Cu Ba là BĐBP; ờ Pháp, Malaixia, Phần Lan và
một số nước khác là Cảnh sát biên phòng; ở Trung Quốc gồm BĐBP, cảnh sát biên phòng, công an biên phòng Hiện nay, lực lượng chuyên trách quản
lý, bảo vệ BGQG của Việt Nam là BĐBP - lực lượng vũ trang nhân dân, một thành phần của Quân đội nhân dân được thành lập ngày 3/3/1959 theo Nghị định 100/TTg của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà, thống nhất các đơn vị bộ đội quốc phòng đang làm công tác bảo vệ nội địa, bảo vệ hiên giới, giới tuyến và các đơn vị công an biên phòng, cảnh sát vũ trang thành một lực lượng vũ trang chuyên trách công tác biên phòng và bảo vệ nội địa, lấy tên là Công an nhân dân vũ trang, đặt dưới sự lãnh đạo của Bộ Công an Ngày 19/12/1979, lực lượng này trực thuộc Bộ Quốc phòng theo Nghị quyết 22/NQ-TW, chính thức mang tên BĐBP Sau đó BĐBP được chuyên giao từ trực thuộc Bộ quốc phòng sang Bộ Nội vụ theo Nghị quyết
Trang 2807/NQ-TW ngày 8/8/1988 và Quyết định 104/HĐBT ngày 11/6/1988 của Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hoà XHCN Việt Nam Từ 12/1995 đến nay BĐBP trực thuộc Bộ Quốc phòng theo Nghị quyết 11/NQ-TW.
Bộ đội biên phòng được tổ chức theo hệ thống dọc đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Bộ Quốc phòng, theo ba cấp cơ bản (cấp Bộ Tư lệnh BĐBP; cấp
Bộ chỉ huy biên phòng tỉnh, thành; cấp đồn, trạm biên phòng) Mặc dù qua nhiều lần chuyển giao giữa các Bộ song nhiệm vụ của BĐBP là thống nhất, đều được xác định trọng trách là lực lượng chuyên trách công tác biên phòng
Công tác biên phòng là tổng thể các biện pháp được tiến hành để bảo vệ chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và an ninh BGQG Gồm: đánh trả kẻ địch xâm phạm lãnh thổ quốc gia; phòng ngừa, ngăn chặn mọi sự xâm phạm BGQG hoặc vi phạm quy chế BGQG (vượt biên, xâm canh, xâm cư, xê dịch mốc quốc giới ); giữ gìn an ninh, trật tự KVBG và phòng thủ BGQG [15, tr.78]
Vai trò nòng cốt, chuyên trách trong quản lý, bảo vệ BGQG của BĐBP Việt Nam xuất phát từ các lý do cơ bản sau:
* Từ vị trí, tính chất, đặc điểm riêng hết sức hệ trọng của BGQG; từ đặc điểm, yêu cầu khách quan của nhiệm vụ quản lý, bảo vệ BGQG là phải tập trung, thống nhất, không thể chia cắt, phân tán; từ ý nghĩa của việc bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh BGQG là quyết định sự sống còn của quốc gia, của Nhà nước, của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nên nhiệm vụ quản lý, bảo vệ BGQG nhất thiết phải đặt dưới sự lãnh đạo tập trung, thống nhất, trực tiếp của Đảng và Nhà nước; giải quyết mọi vấn đề về BGQG phải
do Bộ Chính trị, Chính phủ quyết định và phải được một lực lượng chuyên trách đảm nhiệm thực hiện Lực lượng nòng cốt, chuyên trách trong quản lý, bảo vệ BGQG sẽ đảm bảo tính thống nhất, tính thông suốt, kịp thời trong lãnh đạo, chỉ đạo; tính nhanh nhạy, chính xác và hiệu quả trong giải quyết các vấn đề về biên giới đồng thời cũng đảm bảo tính chịu trách nhiệm cao trước các vấn đề hệ trọng, nhạy cảm và phức tạp về biên giới, lãnh thổ
Trang 29* Xuất phát từ truyền thống, kinh nghiệm bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của cha ông ta trong hàng ngàn năm lịch sử: Dù ở thời kỳ nào, cha ông ta đều rất chú trọng công tác quản lý, bảo vệ BGQG Thời phong kiến, các triều đại phong kiến tiến bộ đã tổ chức lực lượng “dân binh” mang tính nhà nghề làm nòng cốt cho nhân dân tại chỗ kết hợp với việc điều động và tăng cường lực lượng chính quy, quân tinh nhuệ của triều đình đến đóng đồn, trạm bảo vệ các vùng biên ải trọng yếu Trong nhiều trường hợp khi có biến cố xảy ra nơi biên giới, đích thân vua đã dẫn quân đi chiến đấu, bảo vệ bờ cõi Kinh nghiêm bảo vệ biên giới, đặc biệt là tuyến biên giới phía Bắc, khẳng định cần thiết phải duy trì, củng cố và phát triển lực lượng chuyên trách về công tác biên phòng.
* Xuất phát từ trạng thái đất nước, trên cơ sở phân tích tình hình thế giới, khu vực, tình hình thời chiến cũng như thời bình, bất kỳ một quốc gia nào cũng phải có một lực lượng chính quy, hiện đại đảm nhiệm vai trò chuyên trách trong quản lý, bảo vệ BGQG Trong thời bình, lực lượng ấy chú trọng về hoạt động quản lý, xây dựng BGQG, phòng thủ đất nước; trong thời chiến lực lượng ấy thực hiện tiên quyết việc bảo vệ vững chắc Tổ quốc Hiện nay, quá trình quản lý và bảo vệ BGQG gắn kết chặt chẽ với nhau; muốn bảo
vệ thì phải quản lý tốt, quản lý tốt là cơ sở để bảo vệ BGQG vững chắc; trong quá trình quản lý, bảo vệ BGQG luôn luôn gắn liền với việc phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật và đương nhiên việc phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật đó chỉ có hiệu quả nếu lực lượng chuyên trách đó được trao quyền xử lý vi phạm trong một phạm vi nhất định
* Xuất phát từ tính chất toàn diện của công tác biên phòng Công tác biên phòng có tính chất toàn diện, gồm tính chất quốc phòng, an ninh, đối ngoại, từ đó quy định một cách khách quan những nhiệm vụ cơ bản, toàn diện của lực lượng nòng cốt, chuyên trách Những nhiệm vụ đó có mối quan
hệ hữu cơ với nhau nên cần phải giao cho một lực lượng chủ trì tổ chức thực
Trang 30hiện để tránh chồng chéo, sơ hở, đảm bảo chặt chẽ Đặc biệt là lực lượng chuyên trách sẽ có khả năng nắm vững các vấn đề biên giới để phát huy tốt việc tham mưu cho các cấp có thẩm quyền về vấn đề biên giới, lãnh thổ và tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước trong quan hệ biên giới, giải quyết tốt các vấn đề về BGQG.
Tất cả các lý do trên cho thấy việc tổ chức, duy trì một lực lượng chuyên trách trong quản lý, bảo vệ BGQG là cần thiết, cấp bách, có ý nghĩa
lý luận và thực tiễn BĐBP có khả năng đảm nhiệm tốt chức năng quản lý, bảo vệ BGQG và thực tế từ khi thành lập đến nay BĐBP đã hoàn thành trọng trách này
1.2.2 N hữ ng nội dung chủ yếu của các văn bản quy phạm pháp luật quy định thẩm quyền của Bộ đội biên phòng trong tổ chức thực hiện pháp luật vê quản lý và bảo vệ biên giói quốc gia trên tuyến biên giói đất liền Việt-Trung
Để thực hiện chức năng quản lý, bảo vệ BGQG và phát huy vai trò lực lượng nòng cốt, chuyên trách trong quản lý, bảo vệ BCtQG, BĐBP phải dựa vào quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và đặc biệt là các quy định của pháp luật để đảm bảo tính chất pháp lý trong các hoạt động của mình Hệ thống văn bản pháp luật quy định thẩm quyền của BĐBP trong quản lý, bảo vệ BGQG hợp thành cơ sở pháp lý cho hoạt động của BĐBP, bao gồm các ĐƯQT mà Việt Nam ký kết với Trung Quốc và các văn bản QPPL trong nước Các văn bản đó khẳng định: BĐBP là một lực lượng vũ trang cách mạng của Đảng, Nhà nước, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam mà trực tiếp là Quân uỷ trung ương, sự thống lĩnh của Chủ tịch nước, là một thành phần của Quân đội nhân dân Việt Nam, có chức năng: Nòng cốt, chuyên trách quản lý, bảo vệ chủ quyền, sự toàn vẹn lãnh thổ, an ninh, trật tự BGQG trên tuyến biên giới đất liền Việt-Trung; phòng thủ đất nước, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc khi có chiến tranh; tham gia quản lý trên một số lĩnh vực được giao
Trang 31Để thực hiện chức năng trên, BĐBP được trao những nhiệm vụ và quyền hạn sau:
* Về nhiệm vụ:
- Bộ đội biên phòng có nhiệm vụ quản lý, bảo vệ đường BGQG, hệ thống dấu hiệu mốc quốc giới, chủ quyền, an ninh trật tự, an toàn xã hội ở KVBG Đây là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, khẳng định vị trí, vai trò của lực lượng, phù hợp với chức năng của Bộ Quốc phòng trong công tác biên phòng Thực hiện nhiệm vụ này, BĐBP được tiến hành nhiều hoạt động
cụ thể như tuần tra, kiểm soát, giữ gìn đường BGQG, các công trình biên giới, hệ thống mốc quốc giới, KVBG; kiểm soát, bảo vệ an ninh trật tự trong khu vực cửa khẩu và các nơi mở ra cho qua lại biên giới
- Bộ đội biên phòng có nhiệm vụ đấu tranh ngăn chặn và xử lý theo thẩm quyền các hành vi vi phạm pháp luật về BGQG; đấu tranh chống âm mưu và hành động của các thế lực thù địch, bọn phản cách mạng, gián điệp, thổ phí, biệt kích, các tội phạm khác xâm phạm an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở KVBG đất liền Việt-Trung Các hành vi vi phạm pháp luật về BGQG rất đa dạng như “hành vi xâm phạm lãnh thổ, biên giới, vượt biên, vượt biển, nhập
cư, cư trú trái phép, khai thác trộm tài nguyên và những hành vi khác xâm phạm đến chủ quyền, lợi ích quốc gia, an ninh, trật tự, gây hại đến môi trường
ở KVBG” (Điều 5 Pháp lệnh BĐBPÌ Tùy thuộc vào mức độ vi phạm mà hành
vi đó có thể bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, do đó BĐBP được pháp luật trao thẩm quyền trong xử lý VPHC và điều tra tội phạm với những hành vi nhất định Để công tác đấu tranh ngăn chặn các hành vi vi phạm có hiệu quả thì vấn đề phòng ngừa được đặc biệt chú trọng do đó BĐBP còn có nhiệm vụ tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, các quy định của pháp luật nhất là chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo đồng thời “tham gia xây dựng cơ sở chính trị, phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục, xây dựng nền biên phòng toàn
Trang 32dân, thế trận biên phòng toàn dân vững mạnh trong thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân ở KVBG” (Điều 10 Pháp lệnh BĐBP).
- Bộ đội biên phòng có nhiệm vụ chủ trì phối hợp với các ngành, địa phương trong quản lý, bảo vệ BGQG, duy trì an ninh trật tự, an toàn xã hội ở KVBG đất liền Việt-Trung Thực hiện việc quản lý, bảo vệ BGQG là nhiệm
vụ chung của toàn Đảng, toàn dân, với sự tham gia của nhiều ngành, nhiều lực lượng Trong đó, BĐBP được xác định là lực lượng nòng cốt, chuyên trách trong quản lý, bảo vệ BGQG trên đất liền, các hải đảo, vùng biển và tại các cửa khẩu theo phạm vi pháp luật quy định Do đó, công tác phối hợp thực hiện nhiệm vụ giữa các lực lượng tất yếu được đặt ra và tổ chức thực hiện nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp trong quản lý, bảo vệ BGQG
- Bộ đội biên phòng có nhiệm vụ tổ chức kiểm tra, giám sát việc THPL
về BGQG của các tổ chức, cá nhân để phát hiện những sơ hở, thiếu sót trong quy định của pháp luật nhằm hoàn thiện pháp luật về BGQG; đồng thời đây cũng là cơ sở để xử lý nghiêm những hành vi vi phạm; khẳng định, củng cố, nhân rộng những hành vi tích cực trong quản lý, bảo vệ BGQG
* Về quyền hạn:
- Quyền bố trí và cơ động lực lượng: BĐBP được bố trí, cơ động lực lượng trong KVBG trên đất liền Việt-Trung; được trang bị và sử dụng các biện pháp nghiệp vụ an ninh, các loại phương tiện, vũ khí, khí tài, kỹ thuật quân sự, công cụ hỗ trợ; được xây dựng các công trình bảo vệ BGQG theo yêu cầu nhiệm vụ (Điều 11 Pháp lệnh BĐBP)
- Quyền quan hệ trao đổi, phối hợp để giải quyết công tác có liên quan đến quản lý, bảo vệ BGQG: Tư lệnh BĐBP được quan hệ trực tiếp với Bộ Nội
vụ, Bộ Ngoại giao, Uỷ ban BGQG trực thuộc Bộ Ngoại giao và các Bộ, ngành liên quan đến công tác biên phòng, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để trao đổi, giải quyết đồng thời báo cáo với Bộ Quốc phòng về những vấn đề liên quan đến việc quản lý, bảo vệ an ninh, trật tự
Trang 33BGQG, xây dựng cơ sở chính trị, văn hoá, xã hội, quy hoạch và xây dựng cửa khẩu, xây dựng các cụm dân cư KVBG trên đất liền, cửa khẩu và những vấn đề liên quan đến xây dựng và hoạt động của BĐBP (Điều 10 Nghị định
số 02/1998/NĐ-CP ngày 06/01/1998 của Chính phủ qui định chi tiết thi hành mộl số điều của Pháp lệnh BĐBP) Bộ Tư lệnh BĐBP được quan hệ với các
Bộ, ngành liên quan để tham mưu cho Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chỉ đạo, hướng dẫn công tác biên phòng như được quan hệ với các cơ quan chức năng thuộc Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Uỷ ban nhân dân các cấp đồng thời chịu
sự hướng dẫn nghiệp vụ của các cơ quan chức năng thuộc Bộ Quốc phòng, chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (Thông tư số 2866/1998/TT-BQP của Bộ Quốc phòng ngàyl2/9/1998 hướng dẫn thi hành Nghị định số 02/1998/NĐ-CP ngày 06/ 01/1998 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh BĐBP)
- Quyền hạn chế, tạm dừng các hoạt động ở KVBG, việc qua lại biên giới: Người chỉ huy BĐBP có quyền hạn chế, tạm dừng các hoạt động ở KVBG củng như việc qua lại biên giới ở những khu vực nhất định (trừ trường hợp luật có quy định khác) để đảm bảo an ninh quốc gia, an toàn tính mạng của nhân dân, ngăn chặn dịch bệnh lan truyền
- Quyền kiểm soát vành đai biên giới, KVBG: BĐBP được tổ chức các trạm kiểm soát cố định để kiểm tra việc ra, vào vành đai biên giới; khi cần thiết được tổ chức các đội tuần tra, kiểm soát lưu động để kiểm soát việc ra vào KVBG (Điều 18 Nghị định 34/2000/NĐ-CP của Chính phủ về quy chế KVBG đất liền nước Cộng hoà XHCN Việt Nam)
- Quyền quan hệ đối ngoại: BĐBP được quyền quan hệ, phối hợp với các lực lượng bảo vệ biên giới, chính quyền địa phương Trung Quốc để thi hành các ĐƯQT đã ký kết nhằm xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị, đấu tranh ngăn chặn những hành động làm phương hại đến quan hệ hai nước Thẩm quyền quan hệ đối ngoại cụ thể được xác định đối với Đồn trưởng đồn biên
Trang 34phòng, Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy BĐBP cấp tỉnh, Tư lệnh BĐBP (Điều 6 Nghị định số 02/1998/NĐ-CP ngày 06/ 01/1998 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh BĐBP).
- Quyền truy đuổi trong khi làm nhiệm vụ: Trong khi thi hành nhiệm
vụ, theo quy định của pháp luật, BĐBP có quyền trực tiếp truy đuổi, bắt giữ người, phương tiện vi phạm pháp luật từ biên giới vào nội địa, phối hợp với các lực lượng truy tìm, bắt giữ người có hành vi vi phạm pháp luật trốn chạy sâu vào nội địa (Điều 15 Pháp lệnh BĐBP)
- Quyền sử dụng phương tiện và người điều khiển phương tiện khi thi hành nhiệm vụ: Trong trường hợp chiến đấu, truy lùng, đuổi bắt người phạm tội quả tang, người đang có lệnh truy nã, ngăn chặn hành vi phạm tội, cấp cứu người bị nạn thì cán bộ, chiến sĩ BĐBP được phép sử dụng các loại phương tiện thông tin liên lạc, phương tiện giao thông, kể cả người điều khiển phương tiện (trừ phương tiện của cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ theo quy định của pháp luật Việt Nam) (Điều 13 Pháp lệnh BĐBP)
- Quyền được nổ súng trong khi thi hành nhiệm vụ: Trong trường hợp bắt giữ người có hành vi phạm tội mà chạy trốn, người có hành vi phạm tội đang bị dẫn giải, bị giữ, bị giam mà chạy trốn hoặc để bảo vệ cán bộ, chiến
sĩ BĐBP và công dân bị người khác dùng vũ khí, các hung khí khác uy hiếp trực tiếp đến tính mạng thì cán bộ, chiến sĩ BĐBP khi đang thi hành nhiệm
vụ (ngoài trường hợp chiến đấu bảo vệ biên giới) có quyền nổ súng Cán bộ, chiến sĩ BĐBP chỉ được nổ súng trực tiếp vào đối tượng sau khi đã bắn cảnh cáo hoặc sử dụng công cụ hỗ trợ nhằm ngăn chặn nhưng không có kết quả Trường hợp có người bị thương thì phải tổ chức cấp cứu, có người chết thì cùng chính quyền địa phương lập biên bản (Điều 17 Pháp lệnh BĐBP)
- Quyền trong hoạt động tố tụng hình sự: BĐBP có quyền tiến hành một
số hoạt động điều tra tội phạm theo quy định của Bộ luật hình sự, Bộ luật tố
Trang 35tụng hình sự và Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự (Điều 12 Pháp lệnh BĐBP) BĐBP khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý của mình mà phát hiện những hành vi phạm tội đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì tiến hành các hoạt động điều tra theo quy định tại Điều 19 Pháp lệnh tổ chức điều tra hlnh sự Các tội phạm được phát hiện là những tội phạm quy định tại Chương XI và các điều 119, 120, 153, 154, 172, 180, 181, 188, 192,
193, 194, 195, 196, 230, 232, 236, 263, 264, 273, 274 và 275 của Bộ luật hình sự xảy ra trong KVBG trên đất liền, bờ biển, hải đảo và trên các vùng biển do BĐBP quản lý Đối với tuyến biên giới đất liền Việt Trung, BĐBP có quyền tiến hành một số hoạt động điều tra đối với tất cả những tội phạm quy định tại các điều luật trên (trừ tội phạm quy định tại điều 188) Pháp luật quy định cụ thể thẩm quyền trong điều tra tội phạm đối với Cục trưởng Cục trinh sát biên phòng, Chỉ huy trưởng BĐBP tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Trưởng đồn biên phòng (hoặc uỷ nhiệm cho một cấp phó thực hiện)
- Quyền trong xử phạt VPHC: Pháp luật quy định rõ về thẩm quyền áp dụng các hình thức xử phạt VPHC và các biện pháp khấc phục hậu quả của BĐBP (Điều 32 Pháp lệnh x ử lý VPHC năm 2002); thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn VPHC và bảo đảm việc xử lý VPHC (Điều 44 đến Điều
49 Pháp lệnh Xử lý VPHC năm 2002) và thẩm quyền xử phạt VPHC của BĐBP trên các lĩnh vực QLNN (căn cứ vào các Nghị định của Chính phủ về
xử phạt VPHC, BĐBP có thẩm quyền xử phạt đối với các VPHC trên các lĩnh vực QLNN an ninh trật tự, quốc phòng, hải quan, thuỷ sản, thương mại .)
- Quyền trong công tác hải quan: Tại nơi không có cơ quan hải quan thì việc mua bán, trao đổi hàng hoá của cư dân biên giới của Việt Nam với cư dân biên giới của nước có chung đường BGQG với Việt Nam phải chịu sự kiểm tra, giám sát của BĐBP theo quy định của pháp luật (Điều 36 Luật hải quan năm 2001) Trường hợp người cư trú trong KVBG mang hàng hoá qua lại biên giới vượt mức quy định thì phải khai hải quan và thực hiện các quy
Trang 36định của pháp luật về thuế, chính sách quản lý hàng hoá xuất khẩu, nhập kháu; ở những nơi không có cơ quan hải quan thì BĐBP thực hiện việc quản
lý hàng hoá đó (Điều 34 Nghị định số 154/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15/12/2005 quy định chi tiết một số điều của Luật hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan)
Những quy định của pháp luật về thẩm quyền của BĐBP trong quản lý, báo vệ BGQG là cơ sở pháp lý quan trọng để BĐBP tiến hành các hoạt động
cụ thể của mình và là căn cứ để đánh giá thực trạng tổ chức THPL về quản
lý, báo vệ BGQG của BĐBP Việt Nam
Trên cơ sở phân tích các nội dung của phần 1.1 và 1.2, có thể khẳng định: Tổ chức THPL về quản lý, bảo vệ BGQG của BĐBP là tiến hành THPL
về quản lý, bảo vệ BGQG thông qua các hình thức, biện pháp công tác biên phòng phù hợp với các quy định của pháp luật
1.3 Những yếu tô ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý và bảo vệ biên giới quốc gia trên tuyến biên giới đất liền Việt- Trung của Bộ đội biên phòng
1.3.1 Đặc điểm về kinh tế - x ã hội.
-V ề địa lý, dân cư, dân tộc trên các tuyến biên giới
Đường biên giới trên bộ Việt Nam-Trung Quốc dài khoảng 1.406 km, trong đó có khoảng 1.037km đường biên giới đi trên đất liền và 369km đường biên giới đi trên sông suối Việt Nam có bảy tỉnh tiếp giáp biên giới là Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên giáp với hai tỉnh Quảng Tây và Vân Nam (Trung Quốc)
KVBG có 32 huyện biên giới bao gồm 159 xã, 6 phường, 3 thị trấn, với 75.817 hộ bằng 389.807 khẩu, chiếm 10-12% dân số của các tỉnh biên giới Mật độ dân cư khá cao, tập trung dọc hai phía đường biên giới Có 20 dân tộc anh em sinh sống, trong đó có 19 dân tộc thiểu số [9, tr.2 1 ]
Trang 37Các dân tộc ở KVBG sống đoàn kết, gắn bó giữa các thành viên trong cộng đồng, với vai trò quan trọng thuộc về các già làng, trưởng bản Nhìn chung, trình độ dân trí của nhân dân còn thấp, ý thức quốc gia, quốc giới chưa cao, đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn, còn tồn tại nhiều tập quán lạc hậu nên dễ bị bọn xấu lợi dụng để tuyên truyền phát triển đạo trái phép, kích động chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, chia rẽ quần chúng, lấn chiếm biên giới Tuy vậy, nếu BĐBP thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo, phát huy những yếu tố tích cực từ đặc điểm trên thì sẽ là yếu tố quan trọng để phát huy tinh thần đoàn kết, ý thức quốc gia, quốc giới, tự tôn dân tộc.
- Về địa hình, tài nguyên, khí hậu thời tiết KVBG
Biên giới đất liền Việt -Trung là biên giới mở, núi liền núi, sông liền sông Địa hình biên giới đa dạng, phức tạp, chủ yếu là núi non và sông suối (có 369 km biên giới chạy theo các sông suối, trong đó có sông Hồng, sông Quy Sơn, sông Bắc Vọng, sông Ca Long, sông Đồng Mô và sông Bắc Luân),
có nhiều khe vực hiểm trở, địa hình chia cắt, giao thông khó khăn, đường xá
và cơ sở hạ tầng kém phát triển Mặc dù dã có nhiều tuyến đường quốc lộ, tỉnh lộ được nâng cấp thuận lợi cho việc đi lại, song đường qua lại biên giới chủ yếu là đường mòn, đường tiểu mạch, thường phải vượt qua nhiều điểm cao, dốc đứng Đặc điểm địa hình đó có nơi thuận lợi, có nơi khó khăn cho việc lưu thông, qua lại hai bên biên giới nhưng lại là điều kiện thuận lợi cho các đối tượng xâm nhập hoạt động vi phạm chủ quyền lãnh thổ BGQG
ở đây, tài nguyên thiên nhiên phong phú, có nhiều loại quý hiếm: khoáng sản (quặng sắt, măng gan ), lâm sản, cây dược liệu quý (gỗ, hồi, quế )- Đây là điều kiện quan trọng để xây dựng, phát triển kinh tế-xã hội vùng biên song cũng là nguyên nhân khiến cho các thế lực luôn tìm cách để lấn chiếm, thôn tính
Khu vực biên giới đất liền Việt-Trung nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, phân chia hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ khoảng tháng 4 đến tháng 9 và
Trang 38mùa khô từ khoáng tháng 10 đến tháng 3 năm sau Vào mùa mưa thường có mưa lũ thất thường, mưa lớn kéo dài, nước từ các sông suối biên giới dâng cao, cháy xiết gây lũ lụt và sạt lở đường xá, cầu cống làm ách tắc giao thông, ánh hưởng đến việc đi lại của nhân dân cũng như công tác kiểm tra, kiểm soát, cơ động lực lượng của BĐBP khi có tình huống xảy ra Vào mùa khô, sông suối cạn kiệt, rét đậm kéo dài, sương mù dày đặc vào buổi sáng và chiều tối, gây khó khăn cho công tác tuần tra, quan sát, phát hiện các loại đối tượng vi phạm pháp luật Vì thế, mùa khô thường là thời điểm các hoạt động vi phạm pháp luật ở KVBG diễn ra nhiều như xâm nhập, xâm canh, xâm cư, xâm táng, lấn chiếm biên giới
1.3.2 Đặc điểm về chính trị - x ã hội
- Tinh hình chính trị, xã hội ở KVBG
Các tỉnh biên giới Việt-Trung đều là những tỉnh có truyền thống cách mạng, là căn cứ kháng chiến xưa của Việt Nam, góp phần quan trọng trong công cuộc kháng chiến cứu quốc và ngày nay là địa bàn trọng yếu, rào chắn vững chắc giữ gìn, báo vệ Tổ quốc, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng
Tổ quốc và thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở của Đảng và Nhà nước ta
Hệ thống chính trị ở cơ sở được củng cố và phát triển, khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của mình trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền, an ninh BGQG Tuy
nhiên, ở một vài nơi, chất lượng của các tổ chức trong hệ thống chính trị còn
có những hạn chế nhất định, công tác lãnh đạo, chỉ đạo còn yếu, cán bộ chưa thực sự gương mẫu trong THPL, còn có nhiều hiện tượng vi phạm pháp luật Nhìn một cách khái quát thi tình hình chính trị ở KVBG cơ bản ổn định song tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp Vì thế, việc tham gia xây dựng cơ sở chính trị, củng cố sự vững mạnh của chính quyền nhân dân đòi hỏi sự quyết tâm rất cao đối với BĐBP-lực lượng gắn bó mật thiết với nhân dân
- Tinh hình hoạt động của các thế lực thù địch, các lực lượng chống đối trên tuyến biên giới Việt-Trung
Trang 39Địa bàn KVBG là nơi thường xuyên diễn ra các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và các lực lượng chống đối, khi ngấm ngầm, lúc công khai Đồng thời, dưới tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường, một bộ phận nhân dân bị kẻ xấu lợi dụng nên đã tuyên truyền, vu cáo, nói xấu chế độ, Đảng, chính quyền sở tại gây nên sự mất ổn định chính trị, gây tư tưởng hoài nghi trong nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, đặc biệt là trong giải quyết các vấn đề biên giới, lãnh thổ với Trung Quốc, gây khó khăn cho công tác tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ BGQG Tinh hình đó càng đòi hỏi BĐBP phải tăng cường công tác tổ chức THPL về quản lý, bảo vệ BGQG.
Kết luận chương 1:
Trong nội dung chương 1, tác giả đã phân tích cơ sở chính trị- pháp lý
về tổ chức THPL về quản lý, bảo vệ BGQG và vai trò của BĐBP Việt Nam trong tổ chức THPL về quản lý, bảo vệ BGQG trên tuyến biên giới đất liền Việt-Trung Trong đó, tác giả bước đầu đưa ra hoặc khẳng định lại một số khái niệm cơ bản về quản lý, bảo vệ BGQG và tổ chức THPL về quản lý, bảo
vệ BGQG, khẳng định tầm quan trọng của việc tổ chức THPL về quản lý, bảo vệ BGQG, nội dung cơ bản của các văn bản QPPL về quản lý, bảo vệ BGQG và những yếu tố ảnh hưởng tới quá trình tổ chức THPL về quản lý, bảo vệ BGQG trên tuyến biên giới đất liền Việt-Trung, khái quát quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam về xây dựng lực lượng nòng cốt, chuyên trách quản lý, bảo vệ BGQG trên cơ sở đó lý giải một cách khoa học vai trò của BĐBP trong quản lý, bảo vệ BGQG làm cơ sở cho việc nghiên cứu, đánh giá về thực trạng tổ chức THPL về quản lý, bảo vệ BGQG của BĐBP ở chương 2
Trang 40Chương 2
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG VIỆT NAM TRONG T ổ CHỨC T H ự C HIỆN PHÁP LUẬT VỂ Q U Ả N LÝ VÀ BẢO
VỆ BIÊN GIỚI QUỐC GIA TRÊN TUYÊN BIÊN GIỚI ĐÂT L lỂ N VIỆT-TRUNG
2.1 Thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý và bảo vệ
biên giói quốc gia trên tuyến biên giới đất liền Việt-Trung của Bộ đội biên phòng
2.1.1 Quá trình tổ chức thực hiện pháp luật vê quản lý và bảo vệ biên giới quốc gia trên tuyến biên giới đất liền Việt-Trung của Bộ đội biên phòng
Trên tuyến biên giới đất liền Việt - Trung, BĐBP đã phát huy vai trò nòng cốt, chuyên trách của mình qua các giai đoạn, cả trong thời kỳ xảy ra chiến tranh biên giới và thời bình Giai đoạn 1959-1975, biên giới Việt - Trung từ tính chất hữu nghị chuyển sang căng thẳng và ngày càng phức tạp với việc Trung Quốc tăng cường hoạt động lấn chiếm lãnh thổ, "số điểm và diện tích xâm canh, xâm cư mỗi năm ngày một tăng, năm 1965 là 22 điểm 400ha, đến năm 1975 là 80 điểm trên 500ha (trọng điểm là biên giới các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Quảng Ninh) và xê dịch 39 cột mốc" [4, tr.72] Giai đoạn 1975-1985 là giai đoạn tổ chức THPL về quản lý, bảo vệ BGQG gặp rất nhiều khó khăn Hàng loạt hoạt động chống phá Việt Nam xảy ra như nhiều gián điệp, biệt kích, thám báo được tung vào Việt Nam, hoạt động gây rối của người Hoa, hoạt động lấn chiếm biên giới, tiến hành khiêu khích vũ trang mà đỉnh cao là tháng 2/1979 Trung Quốc đưa 60 vạn quân mở cuộc chiến tranh xâm lược trên toàn tuyến biên giới Giai đoạn 1986 đến nay, có nhiều thời điểm khác nhau và tình hình trên tuyến biên giới đất liền Việt - Trung cũng diễn biến phức tạp Từ năm 1986 đến năm 1988 diễn ra nhiều hoạt động phá hoại nhiều mặt nhằm làm Việt Nam suy yếu Năm 1991 đánh dấu sự kiện quan trọng trong quan hệ hai nước, Hiệp định tạm thời về việc giải quyết công việc trên vùng biên giới giữa hai nước được ký kết, là cơ sở giải quyết những vấn đề xảy ra trên biên giới đồng thời đánh dấu việc bình thường hoá