Xác định được các đặc điểm và mục đích ý nghĩa của TNVC với tích cách là một dạng trách nhiệm bồi thường thiệt hại đặc biệt, áp dụng đối với công chức vi phạm pháp luật gây thiệt hại tro
Trang 2TRẨN THỊ HIỂN
TRÁCH NHIỆM VẬT CHẤT ĐỐI VỚI CÔNG CHỨC
■ ■THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAYm m ■
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
M ã sô : 62 38 01 01
LUẬN ÁN TIẾN S ĩ LUẬT HỌC
Ngưòỉ hưóng dẫn khoa học: PGS.TS Thái Vĩnh Thắng
Ị U a i O N G Đ A i H O C ' Ù A Ụ I A n ỏ !
HÀ NÔI - 2008
Trang 3T ô i xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sô liệu nêu trong luận án là trung thực N hữ ng kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công b ố trong bất kỳ cônq trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Trần Thị Hiền
Trang 4MỞ ĐẨU 1
Chưong 1: LÝ LUẬN VỂ TRÁCH NHIỆM VẬT CHẤT ĐỐI VỚI 9
CÔNG CHỨC
1.2 Các yếu tố pháp lý cần thiết cho sự hình thành trách nhiệm vật 38
chất đối với công chức
1.3 Cơ sở thực tế làm phát sinh trách nhiệm vật chất đối với công chức 551.4 Mối liên hệ giữa trách nhiệm bồi thường nhà nước và trách nhiệm 76
vật chất đối với công chức
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỂ TRÁCH 8 4
NHIỆM VẬT CHẤT Đ ố i VỚI CÔNG CHỨC VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
2.1 Sự hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam về trách 84
nhiệm vật chất đối với công chức
2.2 Thực trạng pháp luật về trách nhiệm vật chất đối với công chức 932.3 Thực trạng nhận thức và áp dụng pháp luật trách nhiệm vật chất 132
đối với công chức
2.4 Đánh giá chung về pháp luật trách nhiệm vật chất đối với công 147
chức và thực tiễn tổ chức thực hiện
Chưong 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỂ TRÁCH NHIỆM 1 6 0
VẬT CHẤT ĐỐI VỚI CÔNG CHỨC
3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm vật chất 160
đối với công chức
3.2 Quan điểm hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm vật chất đối với 164
công chức
3.3 Giải pháp hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật 172
về trách nhiệm vật chất đối với công chức
n h ữ n g c ô n g t r ì n h l iê n q u a n đ ế n l u ậ n á n đ ã đ ư ợ c c ô n g b ố 2 0 8
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Duy trì công bằng xã hội là điều nên làm và buộc phải làm của một nhà nước dân chủ, chân chính Người gây ra thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại, điều đó phù hợp với đạo lý, với phong tục tập quán của người Việt Đương nhiên, công chức không nằm ngoài quỹ đạo đó, nhưng tìm
ra phương thức xử lý đối với công chức gây thiệt hại trong khi thi hành cổng
vụ sao cho phù hợp, vừa thể hiện công bằng, vừa thể hiện chính sách bảo hộ chế độ cốne vụ, giúp công chức yên tâm, chủ động, mạnh dạn trong thực thi công vụ là điều cần thiết Xã hội muốn phát triển bền vững, phải được tạo dựng bởi những con người hết lòng trung thành, có trí tuệ và năng lực Pháp luật trách nhiệm vật chất (TNVC) đối với công chức là một trong những yếu
tố góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm của công chức
Tuy nhiên, hiện nay vấn đề TNVC đối với công chức gây thiệt hại trong khi thi hành công vu chưa đươc đánh giá đúng mức Quan niệm về TNVC đối với công chức tương đối mờ nhạt, chưa phân biệt rõ trách nhiệm bồi thường thiệt hại (BTTH) dân sự với TNVC đối với công chức Vấn đề TNVC đối với công chức
ít được quan tâm, nghiên cứu Pháp luật thực định về TNVC đối với công chức lại chủ yếu xuất phát từ những nguyên lý của luật Dân sự, chưa tính đến các yếu tố ảnh hưởng của nền công vụ Điều này thể hiện rõ nét trong pháp luật,
đó là sự thiếu rành mạch trong các quy định của pháp luật và còn thiếu quá nhiều quy định cụ thể làm cơ sỏ' pháp lý cho việc truy cứu TNVC Vì vậy, pháp luật TNVC mang tính hình thức, hầu như không được áp dụng trong thực tế
Hoàn thiện pháp luật về TNVC đối với cồng chức đang là vấn đề có tính cấp thiết Trên cơ sở nhận thức, một hệ thống pháp luật hoàn thiện phải được ban hành trên nền tri thức khoa học pháp lý phát triển và mong muốn làm sáng tỏ các vấn đề lý luận, tìm hiểu pháp luật hiện hành về TNVC đối với
Trang 7c ông c.iức, đánh giá được những điểm tích cực, điểm hạn chế nhằm hoàn thiện piháp liật về TNVC đối với công chức, góp phần xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh đáp ứng yêu cầu cơ bản của sự nghiệp đổi mới của Nhà
nước ti, tôi chọn vấn đề: "Trách nhiệm vật đôi vói công chức theo pháp luật
V iệtĩỳim hiện nay" làm đề tài nghiên cứu.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trách nhiệm vật chất đối với công chức là một nội dung của pháp luật
về cổng chức Khi nghiên cứu về TNVC đối với công chức cần đặt nó trong mối liến hệ với tổng thể các quy định pháp luật về cán bộ, công chức, đặc biệt là đặt troig mối liên hệ với vấn đề trách nhiệm bồi thường của nhà nước Vấn đề TNVCđối với công chức đã được nhiều tác giả nước ngoài quan tâm nghiên cứu như: Renneth F Warren - Proíessor of political Science and Public Policy St
Louis Jniversity, tác giả cuốn Administrative Law in the political system (Luật
Hành (hình trong hệ thống chính trị)', Sir William Wade và Christopher Forsyth
là hai ác giả cuốn Administrative Law (Luật Hành chính) giảng dạy tại Trường
Đại h(c Cambridge và Trường Đại học Oxíbord của Anh; Jean - Michel De
Forges - Giáo sư Trường Đại học Tổng hợp nước Pháp tác giả cuốn Luật hành
chính Luật sư Nguyễn Diệu Cơ biên dịch); Alekhin A.p (AlexuH A.P) và
Karmđisky A.A hai tác giả cuốn giáo trình Luật Hành chính được giảng dạy
tại Tnờng Đại học Tổng họp Lô-mô-nô-xốp Những công trình khoa học của CỂC tác giả này đã đề cập đến nhiều vấn đề của nền hành chính công, trong (ó có vấn đề trách nhiệm bồi thường của công chức gây thiệt hại khi thi hành ô n g vụ Vấn đề trách nhiệm bồi thường của công chức được nghiên cứu
từ gócđộ thực tiễn thông qua các án lệ và hiện nay là kết hợp với sự thừa nhận của ngiị viện thông qua các qui định của pháp luật Trách nhiệm vật chất đối với côig chức được xem xét có sự phân biệt giữa lỗi công vụ và lỗi cá nhân Tuy miên, trong các công trình khoa học này, vấn đề trách nhiệm BTTH đối với côig chức gây thiệt hại trong khi thi hành công vụ, mới chỉ được nghiên cứu ở nức độ tổng quát trong rất nhiều nội dung của nền hành chính công
Trang 8Pháp luật Việt Nam về cán bộ, công chức được nhiều tác giả trong nước nghiên cứu ở các mức độ và phạm vi khác nhau, trong lĩnh vực này có thể kể đến
một số tác giả cùng với công trình khoa học của họ như: Tô Tử Hạ: Công chức và
vấn đê xây dựng đội ngũ cán bộ công chức trong giai đoạn hiện nay, Nxb Chính
trị quốc gia, 1998 Đây là cuốn sách giới thiệu tổng quan về pháp luật công chức Việt Nam trong đổi mới, đổng thời có so sánh phạm vi khái niệm công chức ở Việt Nam và một số nước khác trên thế giới Đặc biệt mảng pháp luật về nehĩa
vụ, quyền lợi của công chức và tuyển dụng đào tạo công chức được tắc giả nghiên cứu đưa ra những nhận xét cụ thể, xác đáng Có thể nói, đây là cuốn sách chứa đựng nhiều thông tin tư liệu về kinh nghiệm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức của một số nước trên thế gới và quá trinh hình thành, phát triển đội ngũ cán
bộ, công chức Việt Nam từ sau Cách mạng Tháng tám đến những năm 1990;
Cuốn sách thứ hai phải kể đến là cuốn Công vụ, công chức nhà nước, Nxb Tư
pháp, Hà Nội, 2004 của PGS.TS Phạm Hồng Thái đã tập trung nghiên cứu về phạm vi khái niệm hoạt động công vụ và phân tích, đánh giá về pháp luật công chức ở nước ta Trong tác phẩm này, còn tìm thấy các quan niệm về công chức ở nước ta trong các giai đoạn, được phân chia theo mốc thời gian ban hành các văn bản pháp luật cơ bản về công chức Qua đó, tác giả đưa ra cách nhìn nhận của cá nhân về nền công vụ kiểu mới Đặc biệt, phải kể đến Luận án tiến sĩ luật học của
Ngô Hải Phan: Trách nhiệm pháp lý của công chức trong điều kiện xây dựng Nhà
nước pháp quyền Việt Nam, Học viện Chính trị Quốc gia Hổ Chí Minh Luận án
đã phản ánh trung thực về thực trạng pháp luật điều chỉnh về trách nhiệm pháp lý (TNPL) đối với công chức (đến năm 2004) đồng thời so sánh phân tích mối tương quan giữa các dạng TNPL được áp dụng đối với công chức vi phạm pháp luật Gần đây, phải kể đến để tài nghiên cứu khoa học cấp trường - Trường Đại học
Luật Hà Nội, 2006: Trách nhiệm pháp lý - những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt
Nam do TS Lê Văn Long, chủ nhiệm đề tài Các tác giả tham gia nghiên cứu đã
phân tích khái niệm TNPL từ góc độ lý luận và thực tiễn Trong đó, có chuyên đề
Trách nhiệm vất chất đối với công chức của Thạc sĩ Trần Thị Hiền đã nghiên cứu
Trang 9và chỉ ra bản chất của trách nhiệm vật chất là dạng trách nhiệm bồi thường thiệt hai đặc biệt Ngoài ra, còn có một số tác phẩm nghiên cứu pháp luật công
chức của Việt Nam và các nước như: cuốn C hế độ công chức và luật công
chức của các nước trên th ế giới, Nxb Chính trị quốc gia, 1993 của Trung tâm
Nghiên cứu Khoa học và Thông tin Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ; cuốn
Tìm hiểu về tuyển dụng, thử việc, trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm vật chất của cấn bộ công chức và người lao động, Nxb Lao động, 1999 của các tác giả
Đào Tianh Hải, Mai Chúc Anh, Trần Văn Sơn Giáo trình giảng dạy môn Luật Hành chính của các cơ sở đào tạo luật trong nước, cũng đề cập đến nội dung pháp luật về TNVC đối với cán bộ, cống chức, song mới chỉ dừng ở mức
độ giớ thiệu chung về dạng TNPL này Bên cạnh đó, cũng có một số bài viết
về phá:> luật công chức nói chung, đăng trên các tạp chí Luật học, tạp chí Nhà nước và Pháp luật, tạp chí Dân chủ
Các công trình khoa học kể trên, chủ yếu xoay quanh vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức với tính cách là một nội dung của chương trình lổng thể cải cách hành chính Vấn đề TNVC đối với công chức, được bàn đến trong các công trình này với đung lượng không đáng kể và chưa toàn diện
Hiện nay, chưa có công trình nào nghiên cứu cơ bản, toàn diện và có tính hè thống về vấn đề TNVC đối với công chức theo pháp luật Việt Nam
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu pháp luật thực định, phân tích, đánh giá các quan điểm, quan niệm trong khoa học pháp lý hiện nay về TNPL, về trách nhiệm vật chất đối với công chức, luận án làm sáng tỏ vấn đề TNVC đối với công chức (ưới góc độ lý luận, lịch sử nhà nước và pháp luật Từ đó, xây dựng cơ sở khoa lọc cho việc đánh giá thực trạng pháp luật về TNVC đối với công chức,
đề xuít phương hướng và giải pháp để hoàn thiện pháp luật Việt Nam về TNV7C đối với công chức trong giai đoạn hiện nay
Trang 10* Nhiệm vụ của luận án
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về TNPL nói chung và TNVC nói riêng, nhằm xây dựng được khái niệm mang tính khoa học về TNVC đối với công chức Xác định được các đặc điểm và mục đích ý nghĩa của TNVC với tích cách là một dạng trách nhiệm bồi thường thiệt hại đặc biệt, áp dụng đối với công chức vi phạm pháp luật gây thiệt hại trong khi thi hành công vụ
Xác định được các yếu tố cần thiết cho sự hình thành TNVC, phân tích vai trò của các yếu tố đó làm cơ sở đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật
về TNVC, từ đó xác định pháp luật TNVC đối với công chức cần phải được dây dựng trên những nguyên tắc khác biệt với pháp luật về bổi thường thiệt hại dân sự
Khẳng định vi phạm pháp luật gây thiệt hại trong khi thi hành công vụ; thiệt hại Ihực tế; lỗi của công chức; mối quan hệ nhân quả là cơ sở thực tế làm phát sinh TNVC đối với công chức
Phân tích một số quan niệm cơ bản về trách nhiệm bồi thường nhà nước, chỉ ra mối liên hệ giữa trách nhiệm bồi thường nhà nước hay trách nhiệm của nền công vụ khi có thiệt hại xảy ra với TNVC đối với công chức Từ đó, rút
ra những điểm hợp lý, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về TNVC
Khái quát được quá trình hình thành và phát triển của pháp luật Việt nam về TNVC đối với công chức; phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật TNVC đối với công chức, đưa ra nhận xét cá nhân
về những điểm tích cực, những điểm hạn chế của pháp ]uật Việt Nam hiện nay
về TNVC đối với công chức và thực tiễn tổ chức thực hiện, dựa trên cơ sở nghiên cứu pháp luật và số liệu khảo sát thực tế đảm bảo độ tin cậy cao
Phân tích để thấy rõ sự cần thiết khách quan phải hoàn thiện pháp luật
về TNVC đối với công chức; đưa ra quan điểm hoàn thiện pháp luật về TNVC;
đề xuất giải pháp có tính khả thi cho việc hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về TNVC đối với công chức
Trang 11* Phạm vi nghiên cứu của luận án
Luận án tập trunR nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về TNVC đối với công chức, đặt nó trong mối liên hệ với TNPL nói chung và trách nhiệm bồi thường nhà nước, nhằm tìm ra những đặc trưng cơ bản của dạng TNPL này;
Nghiên cứu sự hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam về TNVC đối với công chức từ năm 1945 đến nay có liên hệ với trách nhiệm bồi thường của quan lại trong nhà nước phong kiến Việt Nam; phân tích, đánh giá toàn diện về pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật Việt Nam hiện hành về TNVC đối với công chức;
Đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu cho việc hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật Việt Nam về TNVC đối với công chức
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết những nhiệm vụ đặt ra, luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong đó có sự vận dụng tổng hợp các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử để thấy được tiến trình hình thành và phát triển của pháp luật TNVC đối với công chức ở Việt Nam
Các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, lôgíc được sử dụng để
lý giải các vấn đề về lý luận, giúp cho mỗi vấn đề nghiên cứu được nhìn nhận
từ nhiều góc độ Do đó, có thể thấy được những điểm hợp lý, không hợp lý của mỗi quan điểm, quan niệm mà luận án đã dẫn chứng phục vụ mục đích nghiên cứu, nhằm đưa ra những kết luận có tính khoa học
Đặc biệt, phương pháp tổng kết thực tiễn, phương pháp thống kê và phương pháp điều tra xã hội học được sử dụng tích cực đã thu được kết quả tốt trong việc nghiên cứu thực hiện nhiệm vụ của luận án Với số liệu điều tra trung thực được tổng hợp, thống kê, phân tích đã cho thấy một bức tranh toàn diện về thực trạng pháp luật và thực tế áp dụng pháp luật TNVC đối với công chức ở Việt Nam Kết quả này, là cơ sở cho việc đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật TNVC có tính thực tiễn và khả thi
Trang 125 Những đóng góp khoa học của luận án
Luận án là công trình đầu tiên, nghiên cứu một cách hệ thống và tương đối toài diện ở góc độ lý luận và thực tiễn về vấn đề TNVC đối với công chức theo pháp luật Việt Nam hiện nay
Trên cơ sở những triết lý khoa học về TNVC đối với cán bộ, cồng chức được piân tích, đánh giá một cách hợp lý, luận án đã đưa ra góc nhìn mới về TNPL,về TNPL của công chức và xây dựng hoàn chỉnh khái niệm TNVC đối với côrg chức
Luận án đã khắc họa rõ nét những đặc trưng cơ bản của dạng TNVC đối với công chức, nhằm chứng minh đây là một dạng trách nhiệm BTTH đặc biệt Ctc yếu tố: Vi phạm pháp luật trong khi thi hành công vụ; thiệt hại thực tế; lỗi của công chức; mối quan hệ nhân quả được phân tích kỹ lưỡng với tính cách là cơ sở thực tế làm phát sinh TNVC đối với công chức
Xác định được những tiêu chí để đánh giá tính phù hợp của pháp luật
về TN7C đối với công chức, trên cơ sở phân tích vai trò của các yếu tố pháp lí cần thiít cho sư hình thành TNVC
Đánh giá khách quan về thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật vểTNVC đối với công chức, trên cơ sở nghiên cứu pháp luật thực định và phân tch số liệu khảo sát trung thực đối với 777 cán bộ, công chức Việt Nam đương ihiệm
Lý giải có căn cứ về tình trạng pháp luật TNVC không được áp dụng trong tiực tiễn, đề xuất được các giải pháp có tính khả thi, nhằm hoàn thiện pháp liật và tổ chức thực hiện pháp luật về TNVC đối với cống chức
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Kẽt quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung, phát triển lý luận về TNVCđối với công chức, giúp các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhìn nhận một cách toàn diện về chế độ TNVC đối với công chức Việt Nam Đặc biệt là các
Trang 13kiến nghị có tính khả thi của luận án, sẽ góp phần vào việc hoàn thiện pháp luật
về TNVC đối với công chức, nâng cao trách nhiệm của công chức trong việc bảo vệ tài sản nhà nước và tài sản của các chủ sở hữu hợp pháp khác
Các kết luận dựa trên số liệu khảo sát trung thực về thực trạng pháp luật, thực tiễn tổ chức thực hiện pháp luật TNVC, giúp ích cho các nhà quản ]ý trong công tác tuyên truyền, chỉ đạo thực hiện pháp luật TNVC
Luận án là tài liệu tham khảo, phục vụ cồng tác nghiên cứu, giảng dạy những vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật công chức
7 K ết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án gồm 3 chương, 11 tiết
Trang 14Chương 1
LÝ LUẬN VỂ TRÁCH NHIỆM VẬT CHÂT Đ ố i VỚI CÔNG CHỨC
1.1 Q UAN NIỆM VỂ TRÁCH NH IỆM VẬT C H Ấ T ĐỐI VỚ I CÔNG CHỨC
1.1.1 Trách nhiệm vật chất đối với cống chức - một dạng trách nhiệm pháp lý
Xã hội chỉ có thể tồn tại và phát triển trên cơ sở có sự ổn định về trật tự
xã hội Trật tự đó được tạo lập bởi hệ thống các loại qui phạm rất phong phú,
đa dạng điều chỉnh các quan hệ xã hội hết sức phức tạp, đan xen và luôn ở trạng thái vận động Trong các mối quan hệ xã hội đó, bất kì chủ thể nào cũng
bị chi phối bởi nhiều loại qui phạm và đều phải gánh chịu những trách nhiệm nhất định Có rất nhiều dạng trách nhiệm xã hội khác nhau, tương ứng với mỗi loại quan hệ xã hội được điều chỉnh bởi một loại qui phạm sẽ có một loại trách nhiệm xã hội nhất định như trách nhiệm đạo đức, trách nhiệm chính trị, trách nhiệm pháp lý (TNPL) Giữa các dạng trách nhiệm xã hội có mối liên hệ tác động qua lại Vì vậy, khi nghiên cứu về trách nhiệm vật chất đối với công chức (trách nhiệm vật chất) cần đặt TNVC trong mối liên hệ đó, nhằm có được tính toàn diện trong việc nghiên cứu Điều đó, cho phép tìm ra sự hợp lý trong cơ chế điểu chỉnh của mỗi loại qui phạm nhằm "kết hợp những khả năng của pháp luật với khả năng của các qui phạm xã hội khác, hạn chế được những chỗ yếu của pháp luật" [67, tr 28]
Trong tiếng Việt, thuật ngữ "trách nhiệm" rất gần nghĩa với thuật ngữ
"nghĩa vụ", Trách nhiệm, đó là "điều phải làm, phải gánh vác hoặc phải nhận
lấy về mình" [73, tr 1678] Nghĩa vụ được hiểu ]à "bổn phận phải làm đối với xã hội hoặc với người khác" [73, tr 1196] Một người làm tròn bổn phận của mình,
thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình trong các mối liên hệ với người khác và xã hội thì được coi là người có trách nhiệm Thực tế rất nhiều trường hợp hai thuật ngữ này được sử dụng với nghĩa tương đồng và có thể thay thế cho nhau Nghĩa
Trang 15vụ và trách nhiệm đều là những quan hệ xã hội được thiết lập giữa các cá nhân hoặc tổ chức mà nội dung được xác định là cách xử sự của chủ thể này buộc phải thực hiện đối với chủ thể kia Ở góc độ chung nhất, có thể hiểu trách nhiệm ]à sự ràng buộc trong các mối liên kết của con người, trong đó cá nhân hoặc tổ chức phải thực hiện các nghĩa vụ vì người khác hoặc vì cộng đồng Như vậy, trách nhiệm luôn gắn liền với những nghĩa vụ có tính bắt buộc phải thực hiện.
V ề phương diện đạo đức x ã hội, trách nhiệm là sự ràng buộc cá nhân,
tổ chức phải thực hiện những nghĩa vụ nghiêng về bổn phận mang tính luân lí đạo đức Ở phương diện này, trách nhiệm của con người được bảo đảm thực hiện bằng các qui phạm đạo đức Trách nhiệm gắn liền với lương tâm, đạo đức, trình độ văn hóa nếu không làm đúng trách nhiệm sẽ bị cộng đồng lên
án Các quan hệ xã hội giữa con người có sự ràng buộc bởi các trách nhiệm, nghĩa vụ đối với nhau, đòi hỏi mỗi cá nhân phải biết lựa chọn cách xử sự sao cho phù hợp Những cách xử sự được cộng đồng chấp nhận là cách xử sự phù họp với quan niệm đạo đức hiện hành của cộng đồng
Ó phương diện đạo đức, trách nhiệm của công chức là khái niệm nằm trong phạm trù đạo đức công vụ Tất nhiên, phạm trù đạo đức công vụ ở Việt Nam được quan niệm trên nền tảng triết lí: Nhà nước là của dân, do dân, vì dân; nhân dân là chủ, cán bộ, công chức là công bộc của dân, vì vậy giá trị cao nhất của đạo đức công vụ là phục vụ nhân dân Trách nhiệm công chức ở đây được hiểu là bổn phận, nghĩa vụ của công chức phải có ý thức về vị trí của mình trong bộ máy nhà nước, có thái độ tinh thần làm việc tận tụy, quán triệt tinh thần lấy nhân dân làm mục đích phục vụ Từ đó, công chức có cách xử sự phù hợp với vị trí, chức năng, nhiệm vụ của mình không tham nhũng, tham ô tài sả.n của nhà nước và của nhân dân, thực hiện công vụ với thái độ không đòi hỏi, sách nhiễu, gây khó khăn cho tổ chức và nhân dân Trách nhiệm của công chức thể hiện ở tinh thần hợp tác, phối hợp với đồng nghiệp cùng thực hiện công vụ, biết tập hợp và phát huy trí tuệ, sức mạnh tập thể Người côns chức có trách nhiệm là biết nhận việc khó về mình, không công thần, luôn cố gắng để hoàn
Trang 16thành tốt nhất công vụ được giao Trách nhiệm của công chức xét ở góc độ đạo đức, suy cho cùng đó là sự kết hợp của hai yếu tố có tính bắt buộc đối với công chức là kỷ luật công vụ và tinh thần phục vụ nhân dân Đương nhiên, trong khái niệm trách nhiệm của công chức ở góc độ này, kỷ luật công vụ và tinh thần phục
vụ nhân dân không phải được công chức thực hiện một cách thụ động, máy móc
mà đòi hỏi phải có tính sáng tạo trong tư duy, phong cách và phương pháp thi hành công vụ của mỗi công chức
V ề phương diện pháp lý, trách nhiệm của cá nhân, tổ chức phát sinh
trên cơ sở pháp luật, được bảo đảm thực hiện bằng pháp luật và được gọi là
Trong xã hội hiện đại, pháp luật không chỉ có vai trò bảo vệ các quan
hệ xã hội mà còn có vai trò điều chỉnh tích cực, tác động đến các quan hệ kinh tế, văn hóa, chính trị - xã hội thúc đẩy các quan hệ xã hội phát triển theo hướng phù hợp với lợi ích chung của cộng đồng Bên cạnh việc qui định các chế tài, tức
là dự liệu các biện pháp cưỡng chế có tính chất trừng phạt những đối tượng vi phạm pháp luật, pháp luật còn điều chỉnh các quan hệ xã hội bằng cách xác định các quyền và nghĩa vụ có mối quan hệ tương hỗ với nhau cho các chủ thể quan hệ pháp luật Ví dụ, quy phạm pháp luật quy định: "Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức có quyền biệt phái cán bộ, công chức đến làm việc có thời hạn ở một cơ quan, tổ chức khác theo yêu cầu nhiệm vụ, công vụ" [70, Điều 29], hoặc "cán bộ, công chức có nghĩa vụ tận tụy phục vụ nhân dân, tôn trọng nhân dân; có nếp sống lành mạnh, trung thực, cần kiệm, liêm chính chí công vô tư, không được quan liêu, hách dịch cửa quyền, tham nhũng" [70, Điều 6]
Trang 17Với cách thức tiếp cận này, một số nhà khoa học cho rằne, TNPL được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa tích cực, TNPL là nghĩa vụ thực hiện những điều pháp luật yêu cầu phải làm trong hiện tại và tương lai Theo nghĩa tiêu cực, TNPL là sự trừng phạt, là sự phản ứng tiêu cực của nhà nước đối với các chủ thể vi phạm pháp luật [62, tr 489-490].
Ngược lại, cũng có tác giả cho rằng, không nên quan niệm những nghĩa
vụ gắn liền với bổn phận cùng với thái độ tích cực thực hiện những quyền, nghĩa vụ pháp lý bắt buộc là TNPL, và đề nghị "nên thay khái niệm trách nhiệm bằng khái niệm nghĩa vụ trong văn bản qui phạm pháp luật khi qui định
về bổn phận, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, công dân trong việc thực hiện pháp luật" [21, tr 208]
Theo chúng tôi, nếu dựa vào mục đích và cơ sở phát sinh nghĩa vụ pháp
lý đối với các chủ thể, thì khái niệm TNPL có thể được nhìn nhận theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp
Theo nghĩa rộng: TNPL là nghĩa vụ thực hiện tất cả các yêu cầu của
pháp luật, bao gồm nghĩa vụ thực hiện các yêu cầu gắn liền với bổn phận tích cực thực hiện quyền, nghĩa vụ pháp ]ý bắt buộc nhằm duy trì sự tồn tại, phát triển của xã hội và nghĩa vụ gánh chịu hậu quả bất lợi, khi cá nhân hoặc tổ chức thực hiện hành vi vi phạm pháp luật xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ Theo đó, TNPL được xác định trong cả hai trường hợp: có vi phạm pháp luật và không có vi phạm pháp luật Mọi cá nhân, tổ chức đều có trách nhiệm tích cực thực hiện những hành vi được pháp luật cho phép thực hiện, khuyên khích thực hiện hoặc buộc phải thực hiện, tránh không thực hiện những hành vi bị pháp luật ngăn cấm, đồng thời phải gánh chịu hậu quả bất lợi, nếu thực hiện vi phạm pháp luật
Theo nghĩa rộng này, khái niệm TNPL của công chức được hiểu trùng
với khái niệm trách nhiệm công vụ được định nghĩa trong Từ điển giải thích
thuật ngữ luật học Theo đó, TNPL của côns chức là "nghĩa vụ của cán bộ,
Trang 18cồng chức hành động phù hợp với qui định của pháp luật, lựa chọn phương án hành động tối ưu và hợp lý nhất, báo cáo về kết quả hoạt động và gánh chịu những hậu quả của việc không thực hiện hay thực hiện không đúng các nghĩa
vụ của mình" [59, tr 122] Trách nhiệm này có nguồn gốc phát sinh từ quan
hệ lao động giữa công chức và nhà nước, đồng thời nằm trong mối liên hệ chặt chẽ với trật tự quản lý nhà nước và đạo đức cồng vụ Do đó, TNPL của công chức
là mối quan hệ pháp luật không hoàn toàn được quyết định bởi sự thỏa thuận của các bên mà bị chi phối mạnh bởi ý chí của nhà nước TNPL của công chức cũng
là bổn phận, nghĩa vụ của công chức tạo nên mối liên hệ ràng buộc giữa công chức
và nhà nước nhưng chỉ là những nghĩa vụ, bổn phận do pháp luật qui định và bảo đảm thực hiện Chính sự qui định của pháp luật đã tạo nên sự khác biệt giữa bổn phận, nghĩa vụ về đạo đức với bổn phận, nghĩa vụ là TNPL của công chức
Theo nghĩa hẹp, TNPL được hiểu là sự gánh chịu hậu quả pháp lý bất
lợi, phát sinh trên cơ sở có vi phạm pháp luật, đồng thời có hoạt động áp dụng các biện pháp cưỡng chế được xác định trong chế tài pháp luật, thể hiện sự phản ứng của nhà nước đối với những đối tượng đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật Hiện nay, quan niệm về khái niệm TNPL theo nghĩa này còn được gọi là TNPL tiêu cực hay thụ động, ở đây, TNPL cũng là nghĩa vụ của cá nhân hoặc tổ chức, nhưng chỉ giới hạn là nghĩa vụ buộc phải thực hiện những điểm hạn chế nhất định về vật chất hoặc tinh thần do pháp luật xác định khi cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật, xâm hại đến các quan hệ xã hội
được pháp luật bảo vệ Ở góc độ này, giáo trình Lý luận nhà nước và pháp
luật Trường Đại học Luật Hà Nội đưa ra khái niệm:
Trách nhiệm pháp lý là trừng phạt đối với chủ thể vi phạm pháp luật, thể hiện mối quan hệ đặc biệt giữa nhà nước với chủ thể
vi phạm pháp luật, được pháp luật xác lập và điều chỉnh, trong đó chủ thể vi phạm pháp luật phải gánh chịu những hậu quả bất lợi, những biện pháp cưỡng chế được qui định ở chế tài các qui phạm pháp luật [62, tr 492]
Trang 19ủ n g hộ quan điểm nhìn nhận khái niệm TNPL theo nghĩa này, cũng có tác giả đưa ra định nghĩa về TNPL như sau:
Trách nhiệm pháp lý là một loại quan hệ pháp luật đặc biệt giữa nhà nước (thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền) và chủ thể vi phạm pháp luật, trong đó nhà nước có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế có tính trừng phạt được qui định ở các chế tài của qui phạm pháp luật đối với chủ thể vi phạm pháp luật và các chủ thể vi phạm pháp luật có nghĩa vụ phải gánh hậu quả bất lợi do hành
vi của mình gây ra [40]
Tuy nhiên, theo nghĩa hẹp đã đề cập, thì các khái niệm TNPL trên đây chưa bao quát hết các dạng TNPL được nhìn nhận với ý nghĩa là sự gánh chịu hậu quả bất lợi Khái niệm này, chỉ đúng trong trường hợp chủ thể vi phạm pháp luật phải gánh chịu TNPL trước nhà nước Tức là, trong trường hợp quan hệ TNPL có một bên chủ thể bắt buộc là nhà nước, có quyền sử dụng sức mạnh quyền lực nhà nước để áp đặt ý chí đơn phương buộc các chủ thể vi phạm pháp luật phải gánh chịu hậu quả bất lợi Các chủ thể vi phạm pháp luật buộc phải gánh chịu hậu quả bất lợi đó, mà không thể có lưa chon nào khác Đối chiếu với pháp luật hiện hành, khái niệm TNPL trên đây chỉ đúng với các dạng trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm kỷ luật
Ở khía cạnh nhất định, khái niệm TNPL theo nghĩa hẹp với ý nghĩa là
sự eánh chịu hậu quả bất lợi mà chủ thể vi phạm pháp luật phải gánh chịu, cần được mở rộng bao hàm cả những trường hợp mà chủ thể vi phạm không chịu trách nhiệm trước nhà nước và việc truy cứu trách nhiệm được áp dụng bởi những biện pháp do các bên thỏa thuận, lựa chọn nhưng không trái với pháp luật Đó là dạng trách nhiệm BTTH đặt ra khi chủ thể vi phạm pháp luật, gây thiệt hại cho các chủ thể không phải là nhà nước hoặc trách nhiệm BTTH đặt
ra trong trường hợp vì không thực hiện hay thực hiện không đúng, không đầy
đủ nghĩa vụ theo thỏa thuận của hợp đồng, nên đã sây thiệt hại cho phía bên kia Trong những trường hợp này, pháp luật cho phép các chủ thể tự thỏa
Trang 20thuận về sự gánh chịu hậu quả bất lợi và tự thỏa thuận lựa chọn chủ thể có thẩm quyền giải quyết, cơ quan được lựa chọn để giải quyết có thể không phải
là cơ quan nhà nước, nhưng quyết định giải quyết của các cơ quan này được nhà nước bảo đảm thực hiện
Nhà nước càng dân chủ, càng quan tâm đến việc bảo đảm cho công dân thực hiện các quyền của mình, trong đó có các quyền dân sự Hiện nay, pháp luật của bất kì quốc gia nào trên thế giới cũng qui định và thừa nhận các quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các chủ thể pháp luật Quyền và nghĩa vụ dân
sự được xác lập trên cơ sở qui định của pháp luật, hoặc theo sự thỏa thuận của các bên, không trái với pháp luật, được pháp luật thừa nhận Khi nghĩa vụ dân
sự đã được xác lập, các bên phải thực đúng nội dung của nghĩa vụ đó Nếu bên nào không thực hiện, tức là đã vi phạm pháp luật về nghĩa vụ và phải gánh chịu những hậu quả bất lợi do pháp luật dự liệu hoặc được các chủ thể thỏa thuận trước (không trái pháp luật) Như vậy, trong xã hội dân sự, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể được phát sinh kể từ khi quan hệ pháp luật về nghĩa
vụ được xác lập, nhưng TNPL sẽ xuất hiện khi có hành vi vi phạm pháp luật
Hiện nay, trong các văn bản pháp luật của Việt Nam, chưa có qui định
cụ thể giải thích thuật ngữ TNPL, nhưng thuật ngữ này vẫn được sử dụng Thực tế, khái niệm TNPL trong vãn bản pháp luật đã được sử dụng theo cả hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp Tùy từng trường hợp cụ thể, thuật ngữ "trách nhiệm" có thể được sử dụng trong trường hợp qui định về quyền, nghĩa vụ của các chủ ihể trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật hoặc được sử dụng trong trường hợp qui định về nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức buộc phải gánh chịu những điểm hạn chế nhất định khi thực hiện vi phạm pháp luật Ví dụ:
"Thủ trưởng các cơ quan nhà nước có trách nhiệm trực tiếp tiếp công dân và tổ chức việc tiếp công dân đến trình bày khiếu nại, tố cáo" [44, Điều 74] hoặc
"Sau khi chấp hành quyết định xử phạt, tổ chức bị xử phạt xác định cá nhân có lỗi gây ra vi phạm hành chính để xác định trách nhiệm pháp lý của người đó theo qui định của pháp luật" [69, Điều 6]
Trang 21Ngoài quan niệm trên còn có quan niệm cho rằng, "trách nhiệm pháp
lý là sự áp dụng và thực hiện chế tài pháp luật, bao gồm các biện pháp phạt và các biện pháp khác" [54] Ở đây, khái niệm TNPL có liên quan đến quan niệm thế nào là chế tài pháp luật Theo quan niệm này, chế tài pháp luật gồm các biện pháp phạt và các biện pháp cưỡng chế khác Chúng tôi cho rằng, nên phấn biệt chế tài pháp luật với các biện pháp cưỡng chế khác, v ề hình thức, chế tài là một bộ phận cấu thành qui phạm pháp luật, v ề nội dung, chế tài là những biện pháp cưỡng chế nhà nước phần lớn mang tính trừng phạt, được dự liệu để áp dụng đối với những chủ thể thực hiện vi phạm pháp luật, thể hiện sự phản ứng của nhà nước Các biện pháp cưỡng chế nhà nước không phải là chế tài thì không được áp dụng trên cơ sở có vi phạm pháp luật, không mang tính trừng phạt, chúng được áp dụng trong những trường hợp pháp luật qui định, nhằm các mục đích khác nhau như: ngăn chặn, phòng ngừa Mặt khác, nếu cho rằng TNPL là sự áp dụng và thực hiện chế tài pháp luật thì đã đồng nhất TNPL với hoạt động truy cứu TNPL Theo chúng tôi, bản thân TNPL không phải là hoạt động áp dụng pháp luật của nhà nước mà là sự gánh chịu những hậu quả do pháp luật qui định trong trường hợp vi phạm pháp luật Tuy nhiên, truy cứu TNPL có mối liên hệ với TNPL Trong mối liên hệ đó, truy cứu TNPL
là việc xác định ai là chủ thể bị chịu TNPL và buộc họ phải có nghĩa vụ gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi vì đã thực hiện vi phạm pháp luật
Một quan niệm khác có nhiều nét tương đồng với quan niệm trên, đó
là quan niệm cho rằng, TNPL là nghĩa vụ phải gánh chịu các biện pháp cưỡng chế nhà nước Như vậy theo quan niệm này, những nghĩa vụ pháp lý đặt ra cho các chủ thể mà không do việc áp dụng cưỡng chế nhà nước thì không được gọi
là TNPL Ở góc độ nhất định, không thể phủ nhận điểm hợp lý của khái niệm TNPL theo quan điểm này, bởi lẽ khi bị áp dụne các biện pháp cưỡng chế nhà nước thì đã làm phát sinh những nghĩa vụ ngoài ý muốn của chủ thể, các chủ thể bị áp dụng cưỡng chế phải gánh chịu và bị buộc phải thực hiện những nghĩa vụ đó SonR, chúne; tôi nghiêng về quan điểm nhìn nhận cưỡng chế nhà
Trang 22nước là phương tiện tác động xã hội nghiêm khắc, được dựa trên sức mạnh có tổ chức, tạo khả năng bảo đảm sự xác định vô điều kiện ý chí của nhà nước [52] Như vậy, cưỡng chế nhà nước là bạo lực có tổ chức, là phương tiện đảm bảo thực hiện quyền lực nhà nước nhằm duy trì trật tự xã hội vì lợi ích chung của
cả cộng đồng, chống lại tình trạng vi phạm pháp luật Trong những trường hợp cần thiết, cưỡng chế nhà nước được áp dụng không trên cơ sở vi phạm pháp luật, nhằm bảo đảm lợi ích chung của cộng đồng hoặc vì lý do an ninh quốc gia,
Do đó, cưỡng chế nhà nước là một khái niệm rộng, gồm nhiều nhóm biện pháp cưỡng chế khác nhau, như: Nhóm biện pháp cưỡng chế nhà nước mang tính trừng phạt được áp dụng khi có vi phạm pháp luật, thể hiện sự phản ứng của nhà nước đối với chủ thể vi phạm pháp luật và được qui định trong chế tài pháp luật; nhóm biện pháp cưỡng chế nhằm ngăn chặn vi phạm pháp luật và bảo đảm việc áp dụng chế tài pháp luật; nhóm các biện pháp cưỡng chế nhà nước được áp dụng vì mục đích đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng hoặc vì lý do an ninh quốc gia Khi áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước mang tính trừng phạt do chế tài xác định, sẽ đặt ra TNPL theo nghĩa hẹp
Đố là dặt ra các nghĩa vụ pháp lý, bắt buộc chủ thể vi phạm pháp luật phải gánh chịu hậu quả bất lợi về vật chất hoặc tinh thần
Từ những phân tích trên đây, có thể rút ra nhận xét:
ở bình diện chung, về phương diện đạo đức xã hội hay phương diện pháp lý thì thuật ngữ trách nhiệm đều được hiểu là sự gánh vác những nghĩa
vụ nhất định, mà bản chất là các quan hệ xã hội có nội dung xác định chủ thể này phải thực hiện những hành vi nhất định đối với chủ thể phía bên kia Chủ thể của TNPL phải gánh chịu trách nhiệm trước nhà nước hoặc trước chủ thể
có quyền theo qui định của pháp luật TNPL có thể phát sinh do hai nguồn gố-c: Phát sinh ngoài ý chí của chủ thể, trên cơ sở qui định của pháp luật hoặc phát sinh theo sự thỏa thuận ý chí của các bên trong quan hệ pháp luật về TNPL nhưng không trái với pháp luật và được nhà nước bảo đảm thực hiện
T H Ư V Í Ẹ N
Trang 23Xét về phương diện pháp lý, Theo nghĩa hẹp với ý nghĩa là sự gánh chịu hậu quả bất lợi do vi phạm pháp luật và bị áp dụng các biện pháp chế tài thì trách nhiệm pháp lý được chia thành hai loại là trách nhiệm vật chất và trách nhiệm tinh thần Trong đó, trách nhiệm tinh thẩn được hiểu là loại trách nhiệm
mà chủ thể gánh chịu trách nhiệm pháp lý phải thực hiện những hành vi nhằm đáp ứng nhu cầu phi vật chất của chủ thể phía bên kia, hoặc phải bị hạn chế về quyền tự do cá nhân Trách nhiệm vật chất là mối quan hệ tài sản mà chủ thể này buộc phải dùng tài sản (hoặc được qui thành tài sản) của mình, làm phương tiện để thực hiện nghĩa vụ đối với chủ thể phía bên kia
Như vậy, về phương diện pháp lý và theo nghĩa hẹp thì TNPL được định nghĩa như sau:
Trách nhiệm pháp lý là sự gánh chịu hậu quả bất lợi do vi phạm pháp luật, thể hiện mối quan hệ được pháp luật xác lập và điều chỉnh Trong đó, chủ thể vi phạm pháp luật bị hạn c h ế về vật chất hay tinh thần do bị áp dụng các biện pháp cưỡng c h ế được dự liệu trong c h ế tài pháp luật hoặc cấc biện pháp do các bên thỏa thuận nhưng không trái với pháp luật và được nhà nước bảo đảm thực hiện.
Ở góc độ này, TNPL của công chức được hiểu như sau:
Trách nhiệm pháp lý của công chức là hậu quả pháp lý bất lợi về vật chất hoặc tinh thần mà công chức phải gánh chịu trước nhà nước, do thực hiện vi phạm pháp luật có liên quan đến công vụ, bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước được xác định trong c h ế tài pháp luật.
Tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm pháp luật do công chức thực hiện mà công chức đó sẽ bị gánh chịu các dạng TNPL khác nhau Cần xác định, công chức là chức danh của nhữne người lao động phục vụ nhà nước Ở Nhà nước Việt Nam, công chức có thể làm việc trong các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, nhưne lao động của họ vẫn là phục vụ nhà nước thông qua các tổ chức mà họ trực tiếp làm việc Quan hệ lao
Trang 24đông của công chức có đậc điểm là bao giờ một bén chủ thể cũng là nhà nước Nếu công chức vi phạm pháp luật thì luôn luôn phải chịu trách nhiệm trước nhà nước và hậu quả bất lợi mà công chức phải gánh chịu bao giờ cũne là những hạn chế về vật chất hoặc tinh thần được dự liệu trong chế tài pháp luật Nói cách khác, TNPL của công chức luôn gắn liền với những biện pháp cưỡng chế được qui định trong chế tài pháp luật Từ điển "giải thích thuật ngữ luật học" đã định nghĩa TNPL của cồng chức là "nghĩa vụ của công chức gánh chịu những hậu quả của việc không thực hiện hay thực hiện không đúng những yêu cầu của pháp luật và đền bù (trong khả năng có thể) thiệt hại gây ra" [59, tr 124].
Luận án đề cập đến TNVC đối với công chức là loại TNPL theo cách nhìn nhận ở nghĩa hẹp đã phân tích trên đây và thuộc loại TNPL mà chủ thể là công chức, phải dùng tài sản của mình để thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước do
vi phạm pháp luật trong khi thi hành công vụ, gây thiệt hại tài sản của nhà nước hoặc của các chủ sở hữu hợp pháp khác Đây là loại trách nhiệm BTTH đặc biệt, phát sinh trên cơ sở hành vi trái pháp luật, có lỗi của công chức trong khi thi hành công vụ Ở góc độ này, TNVC đối với công chức được đinh nghĩa như sau:
TNVC đối với công chức là hậu quả pháp lý bất lợi về tài sản, mà công chức phải gánh chịu trước nhà nước do thực hiện vi phạm pháp luật trong khi thi hành công vụ, gây thiệt hại tài sản của nhà nước hoặc của người khác nhưng chưa đến mức bị coi là tội phạm.
TNVC đối với công chức là một dạng TNPL đặc biệt về BTTH TNVC đối với cóng chức chỉ được xác định khi có thiệt hại xảy ra, tài sản bị thiệt hại
do hành vi trái pháp luật của công chức gây ra trong khi thi hành công vụ có thể là tài sản của nhà nước hoặc tài sản của bất kì chủ sở hữu hợp pháp nào khác được pháp luật bảo vệ Có thiệt hại xảy ra là một trong những yếu tố quan trọng để xác định có TNVC đối với công chức hay không, nếu không có thiệt hại xảy ra sẽ không có TNVC đối với công chức Song, chỉ khi nào giữa việc thi hành công vụ và thiệt hại xảy ra có mối liên hệ nhất định với nhau mới
Trang 25xác định trách nhiệm BTTH đó là dạng TNVC đối với công chức Nếu công chức gây thiệt hại về tài sản mà thiệt hại đó không liên quan đến việc thi hành công vụ thì trách nhiệm BTTH trong trường hợp này không được xác định là dạng TNVC đối với công chức, mà sẽ là trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng theo qui định của pháp luật dân sự Pháp luật về TNVC đối với công chức ]à
cơ sở pháp lý để bảo vệ tài sản của nhà nước và tài sản của các chủ sở hữu hợp pháp khác Khẳng đinh quan điểm của nhà nước không phân biệt thành phần, đẳng cấp trong xã hội, bất kì ai vi phạm pháp luật đều phải gánh chịu TNPL tương xứng với tính chất hành vi vi phạm của mình
Bản chất là BTTH, nhưng TNVC có sự khác biệt cơ bản với trách nhiệm BTTH dân sự Đặc trưng trong quan hệ BTTH dân sự là tính bình đẳng, thỏa thuận giữa người bị thiệt hại và người gây thiệt hại Chủ thể gây thiệt hại và chủ thể bị thiệt hại hoàn toàn có ihể thỏa thuận để xác lập phương thức BTTH theo ý chí của họ Ngược lại, quan hệ bồi thường tài sản trong TNVC đối với công chức phải được đặc trưng bởi tính hành chính, chế độ bồi thường trong TNVC đối với công chức phải thể hiện được đặc tính bảo vệ công vụ Tuy nhiên, công bằng là một giá trị xã hội quan trọng được pháp luật ghi nhận và bảo vệ, pháp luật hành chính không nằm neoài nguyên tắc đó Khi quy định
về TNVC, công bằng xã hội là một trong những mục đích mà pháp luật hành chính hướng tới Mặc dù quan hệ BTTH giữa nhà nước và công chức gấy thiệt hại trong TNVC được đặc trưng bởi tính hành chính, nhưng việc quyết định mức bổi thường hoàn toàn không thể theo ý chí chủ quan của cơ quan quản lý,
sừ dụng công chức mà phải dựa vào thiệt hại thực tế, mức bồi thường không thể lớn hơn thiệt hại thực tế
Một câu hỏi được đặt ra là vì sao chế độ TNVC đối với công chức chỉ được áp dụng trong trường hợp công chức vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức bị coi là tội phạm Câu trả lời chỉ có thể xuất phát từ chính sách đối với vấn đề bảo vệ chế độ cồng vụ Do tính chất của vi phạm pháp luật dẫn đến công chức phải gánh chịu TNVC có liên quan đến việc thi hành công vụ, nên
Trang 26pháp luật về TNVC đối với công chức phải có những qui định riêng, khác biệt với pháp luật BTTH thông thường về căn cứ xác định mức bồi thường và căn cứ miễn, giảm bồi thường mới đảm bảo sự công bằng cần thiết Chính điều này làm cho pháp luật về TNVC đối với công chức thể hiện mục đích bảo vệ công vụ Trường hợp hành vi của công chức nguy hiểm đến mức bị coi là tội phạm thì pháp luật cần phải thể hiện rõ sự phản ứng nghiêm khắc của nhà nước, tính trừng phạt phải ở mức độ cao, công chức phải bồi thường toàn bộ theo nguyên tắc của trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng.
Mặt khác, chúng tôi cũng cho rằng, khi pháp luật thừa nhận TNVC đối
với công chức, thì trách nhiệm đó luôn là dạng trách nhiệm pháp lý trước nhà
nước Vấn đề này được lý giải như sau:
Công chức thi hành công vụ, vi phạm pháp luật gây ra thiệt hại có thể xảy ra hai trường hợp là: gây thiệt hại tài sản của nhà nước hoặc gây thiệt hại tài sản của các chủ sở hữu hợp pháp khác Đối với trường hợp tài sản bị thiệt hại là tài sản nhà nước thì đương nhiên công chức phải gánh chịu TNVC trước nhà nước Vấn đề còn lại chỉ là trường hợp tài sản bị thiệt hại ]à tài sản của các chủ sở hữu hợp pháp khác, do công chức gây ra trong khi thi hành công vụ
Trường hợp công chức thi hành công vụ, vi phạm pháp luật gây thiệt hại tài sản của các chủ sở hữu hợp pháp khác, về quan hệ BTTH cho người bị thiệt hại có thể đặt ra hai khả năng
Thứ nhất: Công chức trực tiếp bồi thường cho người bị thiệt hại.
Thứ hai: Nhà nước có trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại và
công chức phải chịu trách nhiệm trước nhà nước về phần lỗi của mình trong việc đã gây ra thiệt hại cho người khác
Quan điểm ủng hộ khả năng thứ nhất cho rằng, bản thân công chức là những người có đủ năng lực hành vi dân sự hơn nữa họ còn có thể đảm nhiệm những chức vụ nhất định trong bộ máy nhà nước, được nhà nước trao quyền để thực hiện chức năng nhiệm vụ, được nhà nước trả lươns cho hoạt động cồng
Trang 27vụ nên hơn ai hết họ phải là những người hiểu biết pháp luật, có tinh thần kỷ luật lao động và phải gánh chịu trách nhiệm cá nhân cho nhữne hành vi của mình, Khi gây thiệt hại, dù là trong khi thi hành công vụ họ cũng phải chịu trách nhiệm cá nhân và BTTH theo quy định chung giống như các công dân khác Chúng tôi cho rằng quan điểm này không hợp lý bởi lẽ:
- Nếu công chức trực tiếp đứng ra để thực hiện nghĩa vụ BTTH cho người bị thiệt hại thì quan hệ BTTH này hoàn toàn là một quan hệ BTTH ngoài hợp đồng theo pháp luật dân sự Theo đó, công chức gây thiệt hại và người bị thiệt hại sẽ bình đẳng, thỏa thuận về mức bồi thường, phương thức thực hiện nghĩa vụ bồi thường Trong quan hệ BTTH này không cần có vai trò của cơ quan quản lý, sử dụng công chức Cơ quan quản lý, sử dụng công chức sẽ là người đứng ngoài cuộc Cách giải quyết bồi thường này không phản ánh được bản chất pháp lý của hành vi thi hành công vụ của công chức Khi công chức thi hành công vụ là họ đang đại diện cho nhà nước để thực hiện các chức trách nhiệm vụ do nhà nước giao phó Quan hệ giữa công chức đang thi hành công
vụ với cá nhân, tổ chức khác không còn là các quan hệ mang tính cá nhân công chức với tư cách công dân nữa
- Nếu công chức trực tiếp đứng ra thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho người bị thiệt hại theo nguyên tắc của chế độ BTTH ngoài hợp đồng do Bộ luật Dân sự (BLDS) qui định, thì sẽ không đảm bảo công bằng trong việc truy cứu trách nhiệm BTTH đối với công chức đang thi hành công vụ, gây ra thiệt hại cho người khác Bởi lẽ, khi đó sự ảnh hưởng của việc thi hành công vụ đến hành vi gây thiệt hại sẽ không được nhìn nhận một cách toàn diện Trong khi thực tế, có những trường hợp, việc thi hành công vụ có ảnh hưởng trực tiếp
đến hành vi gây ra thiệt hại Ví dụ, để phòng chống lây lan dịch bệnh cúm gà
(H5N1), Chủ tịch ủ y ban nhân dân cấp tỉnh đã giao cho Sở Nông nghiệp và Phát triển nôns thôn của tỉnh chủ trì, thực hiện quyết định cưỡng chế hành
chính có nội dung "buộc tiêu hủy gia cầm trong vùng dịch, gây hại cho sức
khỏe con người" Công chức nhận nhiệm vụ, do trình độ yếu, xác định không
Trang 28chính xác vùng lân cận ảnh hưởng, đã chỉ đạo tiêu hủy số gia cầm nhiều hơn
số lượng cần thiết phải tiêu hủy, gây thiệt hại cho nône dân Tronẹ trường hợp này, nếu không xem xét một cách toàn diện tính chất ảnh hưởng của việc thi hành công vụ đến hành vi gây thiệt hại, buộc công chức đang thi hành công vụ phải trực tiếp bồi thường cho người bị thiệt hại theo nguyên tắc BTTH ngoài hợp đồng thông thường mà không áp dụng dạng TNVC của công chức (trách nhiệm BTTH đặc biệt đối với công chức đang thi hành công vụ) thì sẽ là không công bằng đối với cổng chức đang thi hành công vụ Vì lẽ đó, không thể đổng nhất TNVC của công chức với trách nhiệm BTTH dân sự Không thể không có những quy định về dạng TNVC đối với công chức trong pháp luật hành chính
Sẽ hợp lý, nếu áp dụng khả năng thứ hai, tức là nhà nước có trách nhiệm đứng ra bồi thường cho người bị thiệt hại và tùy từng trường hợp có thể xác định công chức phải chịu trách nhiệm trước nhà nước về phần lỗi của mình trong việc đã gây thiệt hại cho các chủ sở hữu hợp pháp khác Như vậy sẽ khắc phục những điểm bất hợp lý của trường hợp áp dụng khả năng thứ nhất như đã phân tích trên đây Mật khác, công chức là cầu nối trong quan hệ giữa nhà nước và cổng dân, cồng dan thống qua các cán bô, công chức đang thi hành công vu để tham gia vào quan hệ pháp luật với nhà nước Trong các quan hệ pháp luật đó, chủ thể được xác định một bên là nhà nước, bên kia là công dân hoặc tổ chức Công chức chỉ là người đại diện cho nhà nước để thực thi quyền lực nhà nước
Từ góc độ cơ cấu tổ chức, công chức là một bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước, là nhân tố quyết định mọi hoạt động của nhà nước Hoạt động công
vụ của công chức đảm bảo sự vận hành của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc thống nhất quyền lực, cấp dưới phải phục tùng mệnh lệnh của cấp trên Vì vậy hành vi thi hành công vụ của công chức phải được coi là hành vi của nhà nước, các quyết định của công chức thi hành công vụ là quyết định của nhà nước Trone trường hợp các hành vi hay các quyết định của công chức khi thi hành côns vụ có tính trái pháp luật hay không hợp lý dẫn đến gây thiệt hại cho công dân hoặc tổ chức khác, thì các sai phạm đó cũng phải được coi là sai
Trang 29phạm của nhà nước và nhà nước phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình trước người bị thiệt hại.
Hơn nữa, "việc nhà nước qui định trách nhiệm pháp lý của mình hoàn toàn không phải là hạn chế quyền lực hay chủ quyền trong mối quan hệ với công dân, mà chính việc nâng cao trách nhiệm của nhà nước, là biện pháp bảo đảm cho các quyền tự do của công dân, bảo đảm thực thi những chủ trương, chính sách pháp luật mang tính cải cách trong xã hội, góp phần nâng cao uy tín, vị thế của nhà nước, làm tăng sự tin tưởng của công dân vào bộ máy nhà nước" [2, tr 53]
Nhà nước với tư cách là một tổ chức quyền lực công, đứng ra thực hiện hoạt động quản lý xã hội bằng pháp luật, có quyền yêu cầu công dân phải thực hiện các nghĩa vụ nhằm duy trì sự tồn tại của bộ máy nhà nước, đồng thời nhà nước cũng phải thực hiện các nghĩa vụ của mình đối với công dân, bảo đảm và tạo điều kiện để công dân thực hiện các quyền và hưởng các lợi ích hợp pháp của công dân Ngoài ra, nhà nước còn phải chịu trách nhiệm trước công dân về những hành vi của mình, mà cụ thể là chịu trách nhiệm về hành vi thi hành công vụ của công chức Theo đó, nhà nước phải chịu trách nhiệm BTTH cho công dârụ tổ chức nếu công chức đại diện cho nhà nước thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại về tài sản của họ Các chủ thể kể cả nhà nước, khi tham gia vào quan hệ pháp luật, nhằm đáp ứng các nhu cầu của mình đều phải tuân thủ pháp luật, tôn trọng và không làm tổn hại đến các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường Điều đó phù hợp với quan niệm đạo đức và nguyên tắc chung của pháp luật bồi thường thiệt hại
Mặt khác, nhà nước trực tiếp bồi thường trong trường hợp công chức thi hành công vụ gây thiệt hại tài sản của các chủ sở hữu hợp pháp khác ]à hợp
lý Bởi lẽ, xét về khả năng tài chính của công chức và nhà nước thì nhà nước mới là chủ thể có khả năng thực hiện nshĩa vụ bồi thường toàn bộ thiệt hại, nhanh chóng, kịp thời nhằm giảm tối đa những trở ngại do có thiệt hại đã xảy
ra, ổn định cuộc sống của người bị thiệt hại, không phụ thuộc vào mức độ bồi thường là bao nhiêu Hiện nay, quan điểm nhà nước phải chịu trách nhiệm bồi
Trang 30thường cho người bị thiệt hại trong trường hợp công chức gây thiệl hại cho neười khác trong khi thi hành công vụ cũng được chấp nhận ở rất nhiều nước trên thế giới, như: Mỹ, Pháp, Đức, N hật Tuy nhiên, ở những quốc gia này việc chấp nhận trách nhiệm bồi thường của nhà nước dã chải qua một quá trình tiến triển từ việc hoàn toàn không chấp nhận trách nhiệm của nhà nước theo thuyết "Miễn trừ quốc gia" đến việc chấp nhận trách nhiệm của nhà nước theo thuyết " Miễn trừ hạn chế" Đến nay, vấn đề trách nhiệm bổi thường của nhà nước đã được thừa nhận rộng rãi Ví dụ, Tại pháp, trường hợp thiệt hại xảy
ra do lỗi công vụ thì người bị kiện bồi thường là nhà nước và được giải quyết tại Tòa Hành chính Trách nhiệm của nhà nước được xác định ngay cả trong trường hợp thiệt hại xảy ra trong khi thi hành công vụ ỉà do lỗi cá nhân Việc phân bổ trách nhiệm bổi thường giữa nhà nước và công chức trong trường hợp thiệt hại xảy ra trong khi thi hành công vụ là rất hạn chế Một trong những lý
do để xác định trách nhiệm của nhà nước phải bồi thường, đó là đảm bảo lợi ích được chi trả của các nạn nhân [30, tr 374-377]
Tuy nhiên, xem xét tính hợp lý của việc xác định trách nhiệm bồi thường của nhà nước, trong trường hợp công chức gây thiệt hại tài sản cho công dân hoặc tổ chức khác trong khi thi hành công vụ, không có nghĩa công chức không phải gánh chịu bất kì trách nhiệm gì trong việc đã gây ra thiệt hại Nếu chỉ xác định trách nhiệm của nhà nước đối với người bị thiệt hại mà không xác định TNVC của công chức trước nhà nước trong trường hợp công chức thi hành công vụ gây thiệt hại cho người khác, thì rất có thể sẽ là tạo điều kiện để công chức thực hiện những hành vi sách nhiễu, tư lợi làm mất uy tín của nhà nước Hiện nay, pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới có quy định về trách nhiệm BTTH của công chức đối với trường hợp gây thiệt hại trong khi thi hành công vụ Tuy nhiên, các quốc gia qui định về vấn đề này có sự khác nhau
Việc xác định công chức gánh chịu TNVC trước nhà nước hay trước người bị thiệt hại là một vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn Đây là cơ sở để ban hành những quy định cụ thể, rõ ràng về trình tự, thủ tục truy cứu TNVC đối
Trang 31với công chức, đồng thời xác định những biện pháp bảo đảm thi hành quyết định BTTH khi áp dụng chế độ TNVC đối với công chức.
1.1.2 Đặc điểm trách nhiệm vật chất đối với công chức
TNVC đối với công chức là một dạng TNPL, giữa TNVC và TNPL nói chung có mối liên hệ giữa cái chung và cái riêng Việc nghiên cứu, đánh giá
về TNVC đối với công chức cần thiết phải đặt trong mối liên hệ đó để thấy được điểm chung và điểm khác biệt giữa TNVC với TNPL nói chung và với các dạng trách nhiệm BTTH khác
* TN V C đối với công chức cố cấc đặc điểm chung của TNPL như:
- TNVC đối với công chức do pháp luật qui định và bảo đảm thực hiện
Đây là đặc điểm mang lại sự khác biệt căn bản giữa TNPL với các dạng trách nhiệm xã hội khác Là một dạng TNPL cụ thể, do đó cơ sở pháp lý làm phát sinh TNVC đối với cồng chức là các qui phạm pháp luật quy định về hành vi vi phạm pháp luật trong khi thi hành công vụ, quy định về các biện pháp chế tài, về thẩm quyền áp dụng các chế tài pháp luật Các quy phạm pháp luật là cơ sở để ban hành các văn bản áp dụng pháp luật nhăm truy cứu TNVC đối với những công chức đã thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật trong khi thi hành công vụ Nói một cách khái quát, các quy phạm pháp luật đóng vai trò định dạng loại TNPL được áp dụng trong trường hợp cụ thể, các quyết định áp dụng pháp luật có vai trò là một trong những điều kiện trực tiếp làm phát sinh, thay đổi các TNPL đã được quy phạm pháp luật định dạng
- TNVC đối với công chức phát sinh trên cơ sở có vi phạm pháp luật
Đặc điểm này xác định căn cứ thực tế làm phát sinh TNVC của công chức là hành vi vi phạm pháp luật Nếu TNPL được nhìn nhận từ góc độ là hậu quả pháp lý bất lợi thì chỉ phát sinh khi đã có hành vi vi phạm pháp luật xảy
ra Tức là đã có hành vi được thực hiện bằng hành động hay không hành động trái với các yêu cầu của pháp luật, xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp
Trang 32luật bảo vệ, do các chủ thể có năng lực chịu TNPL thực hiện Khi pháp luật quy định những hành vi bị coi là vi phạm pháp luật và dự liệu những biện pháp cưỡng chế sẽ áp dụng đối với đối tượng thực hiện hành vi vi phạm pháp luật có nghĩa là đã quy định về TNPL Song, TNPL đó mới chỉ được xác định chung trong các quy phạm pháp luật TNPL cũng như TNVC đối với công chức sẽ được xác định cụ thể nếu vi phạm pháp luật đã xảy ra trong thực tế.
- TNVC đối với công chức chỉ được đặt ra khi có lỗi
Công chức thực hiện hành vi trái pháp luật bị coi là có lỗi nếu tại thời điểm thực hiện hành vi, công chức thực hiện hành vi có khả nãng nhận thức được hoặc pháp luật buộc phải nhận thức được tính trái pháp luật của hành vi, nhận thức được hậu quả do hành vi gây ra hoặc có thể gây ra, đồng thời có khả năng lựa chọn cách xử sự đúng pháp luật nhưng công chức đã lựa chọn cách
xử sự trái pháp luật Trong trường hợp công chức thực hiện hành vi được xác định là không có lỗi thì sẽ không bị truy cứu trách nhiệm, điều đó cũng có nghĩa là TNVC đối với công chức không được đặt ra
- TNVC đối với công chức là sự gánh chịu hậu quả bất lợi do pháp luật xác định
Công chức thực hiện hành vi phạm pháp luật trong khi thi hành công
vụ bị gánh chịu TNVC thực chất là họ bị buộc phải chịu hậu quả bất lợi về tài sản, Việc truy cứu TNVC đối với công chức do các chủ thể có thẩm quyền áp dung Các chủ thể có thẩm quyền ở đây phải được trao quyền lực nhà nước, nhân danh nhà nước để thực hiện việc áp dụng dạng TNVC đối với công chức, Quyết định áp dụng chế tài pháp luật nhằm truy cứu TNVC đối với công chức được ban hành đơn phương, nhưng có tính bắt buộc thi hành đối với công chức
bị truy cứu TNVC và được nhà nước bảo đảm thi hành
* TNVC đối với công chức có những đặc điểm riêng như sau:
Thứ nhất: Chủ thể gánh chịu TN VC là công chức gây thiệt hại trong
khi thi hành công vụ
Trang 33TNVC đối với công chức là dạng trách nhiệm được xác định riêne cho trường hợp công chức gây thiệt hại về tài sản trong khi thi hành công vụ Người công chức trong quan hệ lao động với nhà nước, được nhà nước trao cho những quyền hạn nhất định để thực hiện công vụ phục vụ nhân dân Thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn được nhà nước giao phó là bổn phận, nghĩa vụ mang tính pháp lý của công chức Công chức không thực hiện đúng bổn phận, nghĩa vụ pháp lý của mình, vi phạm những điều pháp luật ngăn cấm trong hoạt động công vụ thì tùy theo tính chất, mức độ của hành vi vi phạm sẽ bị truy cứu các dạng TNPL nhất định Nếu trong khi thi hành công vụ, công chức thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại về tài sản của nhà nước hoặc của người khác, sẽ bị gánh chịu TNVC nhằm khắc phục, bù đắp thiệt hại đã xảy
ra, tạo sự ổn định và đảm bảo sự phát triển bình thường cho các quan hệ xã hội
đã bị xâm hại
Chỉ công chức mới là đối tượng chịu TNVC đối với công chức, điều đó không có nghĩa dấu hiệu "công chức" là một dấu hiệu ưu đãi hay giảm nhẹ trong việc truy cứu TNVC và cũng không phải là dấu hiệu để tăng nặng hình thức, mức độ BTTH Do đặc tính riêng của việc thi hành công vụ, pháp luật có thể quy định miễn, giảm mức độ BTTH trong TNVC đối với công chức, nhưng việc miễn, giảm mức BTTH này không phải vì lý do công chức là chủ thể bị truy cứu trách nhiệm mà do tính chất của công vụ, nhiệm vụ Hơn nữa trong từng trường hợp cụ thể, việc miễn, giảm mức BTTH phải căn cứ vào hình thức, mức độ lỗi của chủ thể khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật
Thứ hai: TNVC đối với công chức phát sinh trên cơ sở vi phạm pháp
luật, gây thiệt hại về tài sản được thực hiện trong khi thi hành công vụ
Đây là dấu hiệu đặc trưng có vai trò quyết định tính chất của việc BTTH sẽ là TNVC đối với công chức hay việc BTTH theo các dạng TNPL khác Hành vi vi phạm pháp luật của công chức trong hoạt động công vụ rất đa dạng
về hình thức biểu hiện Nó có thể là các hành vi vi phạm nghĩa vụ công chức,
vi phạm các điều pháp luật cấm, vi phạm do kéo dài việc giải quyết các vấn đề
Trang 34đã chín muồi hoặc có đủ khả năng, cơ sở pháp lý để giải quyết nhung không chịu giải quyết, hay ra những quyết định không có căn cứ dẫn đến hậu quả gây thiệt hại về tài sản cho nhà nước và các cơ quan, tổ chức, cá nhân Việc xác định thế nào là "trong khi thi hành công vụ" cần được pháp luật qui định
rõ ràng mới có cơ sở để xác định việc BTTH là TNVC của công chức hay là các dạng trách nhiệm BTTH khác
Thứ ba: TNVC đối với cône chức là loại TNPL trước nhà nước.
Nếu càn cứ vào chủ thể trong mối quan hệ TNPL thì có TNPL trước nhà nước và TNPL trước chủ thể khác có quyền hoặc lợi ích hợp pháp bị hành vi vi phạm pháp luật xâm hại TNVC đối với công chức là loại TNPL trước nhà nước Công chức gánh chịu TNVC phải chịu trách nhiệm trước nhà nước cho dù tài sản
bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của công chức gây ra trong khi thi hành công
vụ là tài sản của nhà nước hoặc tài sản của người khác Điều này xuất phát từ nguyên tắc: công chức phải chịu trách nhiệm về hành vi công vụ của mình trước nhà nước Công chức được giao những quyền hạn nhất định để hoàn thành chức trách nhiệm vụ của mình, phải có nghĩa vụ hoàn thành một cách tốt nhất công vụ dược giao Nếu trong khi thi hành công vụ, công chức đã thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại về tài sản mà hành vi đó được thực hiện do lỗi của công chức thì công chức đã có lỗi trong quan hệ lao động đối với nhà nước, do đó công chức phải gánh chịu trách nhiệm trước nhà nước Mặt khác, khi công chức thi hành cồng vụ là công chức đang đại diện cho nhà nước để thực hiện những hoạt động vì mục đích chung của cộng đồng, của xã hội Nếu trong khi thi hành công
vụ, công chức gây thiệt hại về tài sản của người khác, nhà nước sẽ đứng ra bồi thường cho người bị thiệt hại Do đó, khồng còn quan hệ bồi thường trực tiếp giữa công chức với người bị thiệt hại, mà công chức sẽ phải chịu TNVC về phần lỗi của mình trước nhà nước
TNVC đối với công chức là loại trách nhiệm trước nhà nước, do đó hậu quả bất lợi mà công chức bị gánh chịu trước nhà nước không thể là những biện pháp do công chức và chủ thể có thẩm quyền truy cứu TNVC tự thỏa
Trang 35thuận, mà phải là những biện pháp cưỡng chế được dự liệu trong chế tài pháp luật Mức BTTH phải được quyết định bởi quyết định áp dung pháp luật mang tính nhà nước do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định trên cơ sở pháp luật Điều đó cũng có nghĩa là nguyên tắc BTTH trong TNVC đối với công chức không thể ]à nguyên tắc thỏa thuận, tự định đoạt như nguyên tắc BTTH trong giao dịch dân sự, mà phải là nguyên tắc quyết định hành chính dựa trên
cơ sở thiệt hại thực tế, kết hợp xem xét các yếu tố nhân thân công chức Sở dĩ phải áp dụng nguyên tắc đó vì công chức với nghĩa là người hoạt động phục
vụ công quyền, nhà nước là thiết chế chính trị đại diện cho dân chúng, tài sản nhà nước là tài sản của toàn dân Nếu áp dụng nguyên tắc thỏa thuận, tự định đoạt mức BTTH trong TNVC đối với công chức sẽ không đảm bảo tính khách quan, không đặc quyền đặc lợi của công chức Mạt khác, nếu áp dụng nguyên tắc thỏa thuận, tự định đoạt mức BTTH trong TN VC đối với công chức còn có thể tạo điều kiện cho việc lạm dụng quyền lực nhà nước để trục lợi cá nhân
Thứ tw TNVC đối với công chức thường được áp dụng đồng thời với
trách nhiệm kỷ luật
Môt hành vi vi pham pháp luật cổ thể đồng thời xâm hai đến nhiều khách thể khác nhau, có nghĩa là đồng thời xâm hại đến nhiều quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ Trong những trường hợp như vậy, người thực hiện hành
vi vi phạm pháp luật, sẽ có thể đồng thời phải gánh chịu nhiều dạng TNPL khác nhau có tính trừng phạt của nhà nước Hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại tài sản do công chức thực hiện trong khi thi hành công vụ luôn đồng thời xâm hại đến quan hộ sở hữu và quan hệ kỷ luật công vụ, do đó công chức thường đổng thời bị truy cứu TNVC và trách nhiệm kỷ luậl Tuy nhiên, công chức không thể đổng thời phải gánh chịu TNVC và trách nhiệm BTTH dân sự
vì bản chất của hai dạng TNPL này đều là BTTH Công chức không thể đồng thời gánh chịu hai lần bồi thường cho một vi phạm pháp luật gây thiệt hại
Do hành vi trái pháp luật thực hiện khi công chức thi hành công vụ gây thiệt hại về tài sản luôn đồng thời xâm hại đến quan hệ sở hữu và trật tự công
Trang 36vụ, nên TNVC đối với công chức có đặc điểm thường áp dụng đổng thời với trách nhiệm kỷ luật Do đó có quan điểm cho rằng, TNVC đối với công chức là một biện pháp cưỡng chế nằm trong trách nhiệm kỷ luật đối với công chức Theo chúng tôi, không nên coi chế tài buộc công chức phải BTTH là một biện pháp cưỡng chế nằm trong trách nhiệm kỷ luật, mà nó là hậu quả pháp lý bất lợi có đủ các yếu tố cấu thành một loại TNPL độc lập với các đặc điểm chung, riêng Trong những trường hợp nhất định, nếu hành vi gây thiệt hại không xâm hại trật tự công vụ đến mức bị truy cứu trách nhiệm kỷ luật thì TNVC có thể được
áp dụng độc lập không đi cùng với trách nhiệm kỷ luật
Thứ năm : TNVC đối với công chức được xem xét trên cơ sở thiệt hại
thực tế, lỗi và các yếu tố miễn, giảm bồi thường
Xét về khía cạnh công bằng xã hội thì người thực hiện hành vi có lỗi, gây ra thiệt hại, phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường một khoản tiền bằng giá trị thiệt hại đã xảy ra, nhằm khắc phục thiệt hại được xem là công bằng Tuy nhiên, công bằng không có nghĩa là bằng nhau trong mọi trường hợp Trong nhiều trường hợp, yếu tố công bằng lại được đảm bảo bởi sự không "bằng nhau" TNVC đối với công chức gây thiệt hại trong khi thi hành công vu là một trường hợp cụ thể mà yếu tố công bằng cần được bảo đảm bởi sự không bằng nhau giữa thiệt hại và mức bồi thường Tuy nhiên, mức độ không "bằng nhau" đó phải được xem xét trên các yếu tố thiệt hại thực tế, tính chất của hành vi sây thiệt hại và lỗi Chính điều này đã cho phép có được sự công bằng phù hợp với dạng trách nhiệm BTTH đặc biệt - TNVC đối với công chức
Đối với TNVC, việc quyết định mức bổi thường ngoài việc cãn cứ vào thiệt hại thực tế, cần căn cứ vào các yếu tố lỗi, tính chất của hành vi gây thiệt hại là điều cần thiết, nhằm đạt được các mục đích của TNVC đối với công chức, Không phải bao giờ công chức gây thiệt hại cũng phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, Trường hợp công chức thi hành công vụ vi phạm pháp luật với lỗi cố ý gây thiệt hại, hoặc nhằm mục đích vụ lợi thì việc bồi thường đối với công chức được quyết định trên nguyên tắc buộc bồi thường toàn bộ, trường hợp công chức gây
Trang 37thiệt hại do vô ý trong khi thi hành công vụ cần có sự cân nhắc, xem xét đến các yếu tố là căn cứ giảm mức bổi thường Đặc điểm này xuất phát từ vấn đề hành vi gây thiệt hại của cồng chức gắn liền với việc thi hành công vụ Tuy nhiên, cần phân biệt các yếu tố là căn cứ lượng mức bồi thường khác với các yếu
tố là căn cứ để xét giảm mức bồi thường trong chế độ TNVC đối với công chức
Chính việc quyết định mức BTTH có dựa trên các yếu tố trên đây góp phần đảm bảo truy cứu TNVC đối với công chức được khách quan, công bằng, hạn chế tối đa những ảnh hưởng tiêu cực đến tính chủ động của công chức trong thi hành công vụ Xác định đặc điểm này của TNVC đối với công chức rất có ý nghĩa trong hoạt động xây dựng pháp luật, tránh hiện tượng xây dựng pháp luật về TNVC đối với công chức quá thiên về khía cạnh bổi thường tài sản ngang bằng, dẫn đến tình trạng vì quá e ngại phải chịu TNVC mà công chức nảy sinh tư tưởng thụ động đối với việc thi hành công vụ
Xác định các đặc điểm của TNVC đối với công chức có tác độne, tích cực đến việc ban hành pháp luật về TNVC, giúp cho pháp luật phù hợp với thực tiễn, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật
1.1.3 Mục đích của trách nhiệm vật chất đối với công chức
Xác định mục đích của một loại TNPL cần xuất phát từ chính vai trò của nó đối với xã hội, đồng thời căn cứ vào đối tượng áp dụng của loại TNPL
đó TNVC đối với công chức là loại TNPL áp dụng trong hoạt động công vụ của nhà nước với vai trò chính là nhằm nâng cao trách nhiệm và kỷ luật công vụ, hoàn thiện đội ngũ công chức Hành vi công vụ của công chức nhằm thiết lập, duy trì trật tự xã hội Khi thi hành công vụ, công chức với danh nghĩa đại diện cho nhà nước để thi hành quyền lực công Trong quá trình đó, không thể loại trừ tuyệt đối khả năng xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác một cách vô tình hay hữu ý Vấn đề quan trọng là nhà nước phải có phương thức
để khắc phục, sửa chữa, ngăn chặn việc lợi dụng quyền lực nhà nước để thực hiện những hoạt động vì mục đích cá nhân Pháp luật về TNVC đạt ra nghĩa
Trang 38vụ đối với công chức phải BTTH, trong tường hợp thi hành côns, vụ gây thiệt hại tài sản của nhà nước hoặc tài sản của các chủ sở hữu hợp pháp khác là một cách thức hữu hiệu cho việc tự hoàn thiện đội ngũ công chức nhà nước TNVC đối với công chức được đặt ra nhằm hướng đến những mục đích sau:
Thứ nhất: TNVC đối với công chức có mục đích giáo dục nhằm nâng
cao đạo đức công vụ
TNVC đối với công chức hướng vào mục đích chính là nhằm giáo dục
ý thức bảo vệ tài sản nhà nước, tài sản của các chủ sở hữu hợp pháp khác và nâng cao đạo đức công vụ của công chức Đây là mục đích có tính chất xác định đặc tính riêng của TNVC đối với công chức về phương thức bổi thường
và mức BTTH Mục đích giáo dục của TNVC phụ thuộc rất lớn vào mục đích trừng phạt có phù hợp hay không Cả hai thái cực của sự trừng phạt là quá nhiều hoặc quá ít đều dẫn đến triệt tiêu tính giáo dục của TNVC Với mức độ trừng phạt hợp lý, TNVC đối với công chức sẽ tác động đến nhận thức của công chức, lạo ra sự thay đổi về thói quen tâm lý trong thi hành công vụ, công chức sẽ thận trọng hơn, có ý thức tôn trong hơn đối với tài sản nhà nước và tài sản của các chủ sở hữu hợp pháp khác trong hành vi thi hành công vụ TNVC
có tính giáo dục đối với chính công chức đã vi phạm pháp luật đồng thời có tính giáo dục, phòns, ngừa chung đối với công chức thi hành cône vụ,
Thứ hai: TNVC đối với công chức nhằm mục đích khắc phục thiệt hại
bảo vệ tài sản nhà nước
Mặc dù mục đích khắc phục thiệt hại của TNVC đối với công chức trong nhiều trường hợp thể hiện không rõ nét, do mục đích giáo dục thể hiện nổi trội Sons, với bản chất là dạng trách nhiệm BTTH thì TNVC đối với công chức không thể không có mục đích tự thân là nhằm khắc phục thiệt hại Việc bảo vệ tài sản nhà nước trong quá trình thực thi công vụ là nguyên tắc bắt buộc đối với công chức
Do đó, mục đích khắc phục thiệt hại của TNVC không thể khône đặt ra Tuy nhiên, tính chất yêu cầu khắc phục thiệt hại có sự ảnh hưởng khác nhau đến việc giải
Trang 39quyết bồi thường trons; từng trường hợp cụ thể và phụ thuộc vào tính chất mức độ gây thiệt hại của hành vi vi phạm pháp luật, mức độ lỗi của công chức gây thiệt hại.
Thứ ba: TNVC đối với côns chức có mục đích bảo vệ công vụ.
"Công vụ là hoạt động mang tính nhà nước, nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước vì lợi ích xã hội, lợi ích nhà nước, lợi ích chính đáng của các
tổ chức và cá nhân" [63, tr 198] Hoạt động công vụ chủ yếu được thực hiện bởi đội ngũ công chức Đội ngũ công chức là một trong những nhân tố đảm bảo sự tồn tại và phát triển của nhà nước Hoạt động của bộ máy nhà nước có hiệu quả hay không, phần lớn phụ thuộc vào đội ngũ cán bộ, công chức Một đội ngũ cán
bộ, công chức có trình độ chuyên môn cao, có năng lực, đạo đức tốt, có ý thức kỷ luật và lòng nhiệt tình, trung thành với chính quyền sẽ là cơ sở vững chắc quyết định mọi sự thắng lợi trong hoạt động của nhà nước Chính vì lẽ đó, hơn bao giờ hết pháp luật về TNVC đối với công chức cần chú ý đúng mức đến sự ảnh hưởng của hoạt động công vụ đối với công chức trong trường hợp gây thiệt hại trong khi thi hành công vụ, nhằm đảm bảo công bằng, khách quan khi áp dụng chế độ TNVC Yếu tố tâm lý của công chức, tin tưởng vào sự bảo vệ của pháp luật đối với người thi hành công vụ là một động lực thúc đẩy lòng nhiệt tình, củng cố ý chí và sự trung thành với chế độ, với nhà nước
Suy đến cùng, việc áp dụng TNVC đối với công chức là nhằm mục đích bảo vệ công vụ, bảo vệ trật tự công vụ tránh khỏi sự xâm hại của vi phạm pháp luật Chính điều đó đòi hỏi pháp luật về TNVC đối với công chức phải đảm bảo tính hợp lý để có thể đồng thời đảm bảo tính răn đe, giáo dục nhưng không gây ra ảnh hưởng xấu đến tính chủ động, tích cực của công chức khi thi hành công vụ Pháp luật về TNVC đối với công chức không nên mang nặng tính truy phạt, mà cần xác định mức bồi thường trên cơ sở kết hợp đánh giá thiệt hại thực tế, tính chất mức độ lỗi và yếu tố nhân thân công chức gây thiệt hại
Pháp luật TNVC đối với công chức cần cân nhắc để xác định cụ thể những yếu tố là điều kiện áp dụng TNVC khi công chức gây thiệt hại Đặc biệt yếu tố "công vụ" phải được quy định cụ thể Pháp luật phải xác định được
Trang 40những tiêu chí để đánh giá hành vi gây thiệt hại của công chức như thế nào là thực hiện trong khi đang thi hành công vụ Trên cơ sở quy định của pháp luật, chủ thể có thẩm quyền truy cứu TNVC sẽ đánh giá mức độ ảnh hưởng của việc thi hành công vụ đến hành vi gây thiệt hại, đánh giá mức độ lỗi của công chức để quyết định mức bồi thường, bồi hoàn thiệt hại Nếu tính chất công vụ ảnh hưởng quá lớn đến hành vi gây thiệt hại hoặc vì lý do thi hành công vụ mà công chức không thể có sự lựa chọn nào khác thì công chức không phải chịu trách nhiệm đối với thiệt hại xảy ra Nếu vi phạm pháp luật, gây thiệt hại chưa đến mức bị coi là tội phạm thì công chức phải bồi thường theo chế độ TNVC Ngược lại, nếu công chức lợi dụng tính chất thi hành cổng vụ để thực hiện hành vi trái pháp luật, mưu cầu lợi ích cá nhân, bất chấp thiệt hại xảy ra thì cần phải xử lý nghiêm khắc Trong trường hợp đó, ngoài việc chịu trách nhiệm bồi thường toàn
bộ thiệt hại, tùy theo mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm pháp luật, công chức sẽ bị truy cứu các dạng TNPL có tính trừng phạt nghiêm khắc
Muốn đạt được mục đích của TNVC đối với công chức đòi hỏi pháp luật phải đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, nhưng không làm ảnh hưởng đến tính chủ động của công chức trong khi thi hành công vụ Việc giảm mức BTTH so với thiệt hại thực tế trong TNVC đối với công chức phải đảm bảo một lỷ lệ hợp lý, tùy thuộc vào tính chất từng vụ việc Nếu mức bồi thường giảm quá nhiều, TNVC đối với công chức sẽ mất đi thuộc tính vốn có của một dạng TNPL đó là tính trừng phạt, pháp luật sẽ bị coi thường và chế định TNVC đối với cồng chức sẽ trở thành hình thức Ngược lại, nếu luôn luôn áp dụng nguyên tắc bồi thường toàn bộ thì TNVC sẽ không còn mang tính đặc thù của dạng TNPL được áp dụng đối với công chức gây thiệt hại trong khi thi hành công vụ Pháp luật TNVC đối với công chức sẽ có những ảnh hưởng tiêu cực nhất định đến tính chủ động trong việc thực thi công vụ của công chức
Để ngăn ngừa lợi dụng tính chất đặc thù của chế định TNVC đối với công chức, pháp luật cần quy định cụ thể điều kiện để áp dụng TNVC đối với công chức Theo chúne tôi các điều kiện cần được xác định là: