Mặc dù đã được sự quan tâm của Đảng, Chính phủ về mọi mặt nhưng trên thực tế, thương mại điện tử ở Việt Nam còn rất nhiều khó khăn cả về cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, nguồn nhân lực
Trang 1DƯƠNG TH Ị M AI NGỌC
Ở VIÊT NAM - THỰC TRANG
VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIÊN
LUẶN VĂN THẠC SỸ LUẶT HỌC
002985
Trang 2VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN
C huyên ngành: Luật kinh tế
M ã số: 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC• • • •
NGƯỜI HƯỚNG DẢN: TS Bùi N gọc Cường
HÀ NỘI - 2009
Trang 3Lòi nói đầu
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thương mại điện tử và pháp
luật điều chinh hoạt động thương mại điện tử
1.1 Khái quát về thương mại điện tứ
1.2 Pháp luật điều chỉnh thương mại điện tử
Chương 2: Những nội dung cơ bản của pháp luật điều chinh hoạt
động thương mại điện tử ở Việt Nam
2.1 Quy định về thông điệp dừ liệu
2.2 Quy định về gửi, nhận thông điệp dữ liệu
2.3 Quy định về chừ ký điện tử và chứng thực chữ ký điện tử2.4 Quy định về giao kết hợp đồng điện tử
2.5 Quy định về thanh toán
2.6 Quy định về bảo đảm an toàn, bảo mật, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động thương mại điện tử
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật thương mại điện tử và
những biện pháp đảm bảo cho phát triển thương mại
3.1 Căn cứ cho việc đề ra các giải pháp hoàn thiện
3.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật thương mại điện tử
3.3 Giải pháp về đảm bảo thực hiện thương mại điện tử
Kết Luân
Trang 4Chúng ta đang sống trong thời đại của sự toàn cầu hóa, công nghệ thông tin đang phát triển vô cùng mạnh mẽ trong mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội, nhất là trong lĩnh vực kinh tế Máy tính đã trở thành một công cụ không thề thiếu trong các hoạt động của đời sống như học tập, giải trí, kinh doanh
Trong bối cảnh của sự phát triển như hiện nay, công nghệ thông tin đóng vai trò vô cùng quan trọng, nó được ứng dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đã đem lại những hiệu quả to lớn, thiết thực; nó giúp cho bất
cứ ai dù ở vị trí địa lý nào cũng có thể giao lưu, liên lạc với nhau Những tiện ích mà nó mang lại đã vượt ra ngoài giới hạn ban đầu chỉ là để trao đổi thông tin đơn thuần Giờ đây, các doanh nghiệp đã sử dụng công nghệ thông tin vào trong hoạt động kinh doanh của mình như một phương tiện không thể thiếu Qua đó họ có thể trao đổi thông tin, giao kết hợp đồng, thực hiện mọi hoạt động kinh doanh mà lại giảm được chi phí giao dịch, đi lại; từ đây đã xuất hiện một phương thức kinh doanh mới là thương mại điện tử Với phương thức kinh doanh này, người mua không cần đến cửa hàng để mua hàng hóa
mà chỉ cần ở tại một địa điểm với một máy vi tính nối mạng vẫn có thể mua hàng hóa, dịch vụ trên rất nhiều thị trường
Trong quá trình hội nhập kinh tế, Việt Nam đã có những cam kết ứng dụng và phát triển thương mại điện tử do chúng ta đã nhận thúc được tầm quan trọng của thương mại điện tử, cũng như những đòi hỏi của quá trình hội nhập Đặc biệt, khi Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 150 của WTO - chúng ta phải tuân theo những “luật chơi” chung Trong khuôn khổ ASEAN, Việt Nam đã ký hiệp địiih khung ASEAN về thương mại điện tử (E-ASEAN)
Trang 5ngày 24.11.2000; Trong khuôn khổ APEC, Việt Nam tích cực tham gia và ủng hộ “Chương trình hành động chung” của APEC về thực hiện cơ chế
“Thương mại phi giấy tờ” ; Trong khuôn khố diễn đàn hợp tác kinh tế á - Âu (ASEM), chúng ta đã cam kết tham gia chương trình hành động thuận lợi hóa thương m ại
Không chỉ dừng lại ở cam kết, Đảng và Chính phủ đã có những biện pháp, hành động cụ thể nhằm thúc đẩy thương mại điện tử phát triển Chúng
ta tích cực xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia, phát triển hạ tầng viễn thông, đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là việc đẩy nhanh tiến độ để xây dựng một môi trường pháp lý thuận lợi cho thương mại điện tử phát triển
Phải kể đến sự ra đời của Luật giao dịch điện tử được Quốc hội thông qua ngày 29.11.2005, có hiệu lực từ ngày 01.3.2006 đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển của các giao dịch điện tử, thương mại điện tử tại Việt Nam
Mặc dù đã được sự quan tâm của Đảng, Chính phủ về mọi mặt nhưng trên thực tế, thương mại điện tử ở Việt Nam còn rất nhiều khó khăn (cả về cơ
sở hạ tầng công nghệ thông tin, nguồn nhân lực, hệ thống pháp lý )- Chẳng hạn: hệ thống pháp lý về thương mại điện tử hiện nay vẫn còn nhiều bất cập, các văn bản pháp luật còn chồng chéo, thiếu tính đồng bộ; Luật giao dịch điện
tử chỉ mới mang tính chất là luật khung, điều chỉnh tất cả các giao dịch điện
tử nói chung, các văn bản dưới luật chậm được ban hành và hiệu lực pháp lý không cao
Đứng trước bối cảnh như vậy, việc nghiên cứu đề tài “Pháp luật về thương mại điện tử ở Việt Nam - Thực trạng và phương hướng hoàn thiện” là việc làm cần thiết, có ý nghĩa trong việc hoàn thiện pháp luật thương mại điện
Trang 62 Tình hình nghiên cứu đề tài.
Ở phạm vi quốc tế, đặc biệt đổi với nhũng nước phát triển, thì thương mại điện tử không còn là vấn đề mới mẻ, đã có rất nhiều văn bản pháp lý được xây dựng để điều chỉnh lĩnh vực này như: Đạo luật mẫu về thương mại điện tử năm 1996; Luật mẫu về chừ ký điện tử năm 2006 của ủy ban Liên hợp quốc về luật thương mại (UNCITRAL); Luật thống nhất về giao dịch điện tử của Hoa Kỳ năm 1999; Luật thực tiễn thương mại của Australia năm 1974; Luật giao dịch điện tử của Singapore năm 1998 Ngoài ra còn có “Tài liệu tham khảo về khuôn khổ pháp lý về thương mại điện tử” của Ban thư ký ASEAN
Tại Việt Nam, thương mại điện tử tuy cũng đã có những cơ sở pháp lý nhất định, tuy nhiên thực sự đây vẫn còn là một vấn đề khá mới mẻ, thực tiễn còn nhiều bất cập Hiện nay cũng chỉ có một số ít các đề tài nghiên cứu về thương mại điện tử nói chung, những vấn đề pháp lý về thương mại điện tử nói riêng, v ề vấn đề pháp lý của thương mại điện tử có một số luận văn, bài viết đề cập đến: Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Vũ Hải Anh “Một số khía cạnh pháp lý về thương mại điện tử” năm 1999; Luận văn thạc sỹ luật học “Xây dựng khung pháp luật nhằm phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam” của tác giả Lê Hà Vũ năm 2006; Chuyên đề “Bàn về cơ sở pháp lý của thương mại điện tử ở Việt Nam” của tập thể tác giả Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp; một số bài viết trong các tạp chí: “Một số vấn đề pháp lý của thương mại điện
tử và việc áp dụng chúng ở Việt Nam” của tác giả Mai Hồng Quỳ trong tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 02/2000, “Những vấn đề pháp lý về thương mại điện
tử ở Việt Nam” tháng 6/2000 trong tạp chí Luật học của tác giả Bùi Bích Liên,
“Giao kết họp đồng điện tử và giao kết hợp đồng truyền thống - những vấn đề khác biệt” của thạc sỳ Nguyễn Thị Minh Hằng, “Thương mại điện tử trong mối quan hệ với WTO và giải pháp đôt phá với Việt Nam”
Trang 7Khác với những công trình nghiên cứu, bài viết trên, đề tài “Pháp luật
về thương mại điện tử ớ Việt Nam - Thực trạng và phương hướng hoàn thiện” không tham vọng đi sâu nghiên cứu vào một khía cạnh pháp lý cụ thể nào cua thương mại điện tử, cũng không nặng về yếu tố kỹ thuật, mà nghiên cứu những vấn đề pháp lý của thương mại điện tử nói chung, đánh giá thực
trạng pháp luật thương mại điện tử ở Việt Nam, những phương hướng và giải
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài.
Luận văn không nhằm mục đích phân tích tất cả các vấn đề pháp lý liên quan đến thương mại điện tử mà chỉ phân tích những nội dung quan trọng nhất của thương mại điện tử, đánh giá thực trạng của pháp luật thương mại điện tử ở nước ta bởi thương mại điện tử là một vấn đề rất rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều nội dung khác nhau
Ngoài việc đánh giá thực trạng pháp luật thương mại điện tử, luận văn còn đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật về thương mại điện tử ở Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài.
Phương pháp luận của luận văn được thực hiện dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta
Phương pháp luận mà tác giả luận văn sử dụng là chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử
Trang 8Ngoài ra đê làm sáng tỏ các nội dung cần nghiên cứu của đề tài, luận văn còn sử dụng phương pháp nghiên cứu sau:
5 M ụ c đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài.
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là hoàn thiện pháp luật về thương mại điện tử ở Việt Nam
Với mục đích được đặt ra như vậy, luận văn phải thực hiện những nhiệm vụ nhằm thực hiện những mục đích ấy:
- Nghiên cứu những nội dung lý luận cơ bản về thương mại điện tử;
- Phân tích những nội dung pháp luật về thương mại điện tử;
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật thương mại điện tử ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay;
- Xây dựng giải pháp hoàn thiện pháp luật về thương mại điện tử ở Việt Nam, qua đó nhằm thúc đẩy thương mại điện tử phát triển, đóng góp một phần quan trọng cho nền kinh tế năng động trong thời kỳ mới
6 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn.
Đây là luận văn thạc sỹ luật học nghiên cứu một cách có hệ thống, đánh giá tương đối toàn diện, đầy đủ nội dung pháp luật về thương mại điện tử - thực trạng và phương hướng hoàn thiện
Luận văn có những đóng góp mới sau:
- Phân tích, đánh giá toàn diện, có hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về thương mại điện tử, pháp luật về thương mại điện tử ở Việt Nam;
Trang 9- Đánh giá thực trạng pháp luật về thương mại điện tử ở nước ta trên cơ
sở nhận thức đúng đắn quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước về hội nhập kinh tế quốc tế;
- Đưa ra những giải pháp, kiến nghị hoàn thiện có tính khoa học, hệ thống về pháp luật thương mại điện tử ở Việt Nam và những đảm bảo cho phát triên thương mại điện tử
7 Co’ cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một sổ vấn đề lý luận về thương mại điện tử và pháp luật điều chỉnh hoạt động thương mại điện tử
Chương 2: Những nội dung cơ bản của pháp luật điều chỉnh hoạt động thương mại điện tử ở Việt Nam
Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật thương mại điện tử và những biện pháp đảm bảo cho phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam
Kết Luân
Trang 10CHƯƠNG 1
PHÁPLƯẬT ĐIÊU CHỈNH HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
1.1 Khái quát về thưong mại điện tử
1.1.1 Khái niệm, đặc điếm của thương mại điện tử
Thương mại điện tử đã dần được hình thành và ứng dụng phổ biến trong những năm gần đây Thương mại điện tử (tiếng Anh là electronic Commerce, viết tắt là E-commerce) được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau như: thương mại trực tuyến (online trade), thương mại phi giấy tờ (paperless commerce), nền kinh tế ảo, nền kinh tế “.com” Đồng thời, cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về thương mại điện tử
Theo Đại hội đồng WTO “Thương mại điện tử được hiểu là việc sản xuất (production), phân phối (distribution), marketing, bán (sale) hoặc chuyển giao (delivery) hàng hoá và dịch vụ bằng phương tiện điện tử” Còn phương tiện điện
tử được quy định là các phương tiện truyền tin như điện thoại, fax, telex, điện tín, truyền hình, thư điện tử và các phương tiện điện tử khác [32,tr 1]
Theo Uỷ ban châu Âu: “Thương mại điện tử được hiểu là việc thực hiện hoạt động kinh doanh qua các phương tiện điện tử Nó dựa trên việc xử
lý và truyền số liệu điện tử dưới dạng chữ, âm thanh và hình ảnh Thương mại điện tử gồm nhiều hành vi trong đó có hoạt động mua bán hàng hoá qua phương tiện điện tử, giao nhận các nội dung kỹ thuật số trên mạng, chuyển tiền điện tử, mua bán cổ phiếu điện tử, vận đơn điện tử, đấu giá thương mại, hợp tác thiết kế, tài nguyên mạng, mua sắm công cộng, tiếp thị trực tiếp với người tiêu dùng và các dịch vụ sau bán hàng (hậu mãi) Thương mại điện tử được thực hiện đối với cả thương mại hàng hoá (ví dụ như hàng tiêu dùng, các
Trang 11thông tin, dịch vụ pháp lý, tài chính), các hoạt động truyền thống (như chăm sóc sức khỏe, giáo dục) và các hoạt động mới (như siêu thị ảo)”.
Theo Luật mầu cua UNCITRAL về thương mại điện tử năm 1996: Thương mại điện tử được hiếu là việc sử dụng “thông tin dưới dạng một thông điệp dữ liệu trong khuôn khổ các hoạt động thương mại” (Điều 1) còn
“Thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo ra, gửi đi, tiếp nhận hoặc lưu trừ bằng phương tiện điện tử, quang học và các phương tiện tương tự, bao gồm, nhưng không hạn chế ở, trao đối dữ liệu điện tử (EDI), thư điện tử, điện tín, điện báo hoặc fax” (điều 2)
Theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD): “Thương mại điện
tử được định nghĩa là toàn bộ các giao dịch thương mại dựa trên truyền dữ liệu qua các mạng truyền thông như Internet”
Như vậy, có thể thấy rằng khái niệm thương mại điện tử được định nghĩa theo nhiều nghĩa khác nhau, nhưng chung quy lại có hai cách hiểu về thương mại điện tử là cách hiểu theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp
Với cách hiểu theo nghĩa rộng, tạo cho thương mại điện tử khả năng áp dụng rất rộng và có thể được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực của nền kinh tế
Và theo cách hiểu này thì trên thực tế, thương mại điện tử đã được ứng dụng
từ lâu qua các phương tiện điện tử như điện thoại, fax, telex
Theo nghĩa hẹp, thương mại điện tử được hiểu là những hoạt động gắn liền với Internet Tuy nhiên, ngày nay do Internet được sử dụng phổ biến trong thương mại điện tử nên nói đến thương mại điện tử người ta thường nói đến hoạt động thương mại qua mạng Internet [21]
Luật giao dịch điện tử năm 2005 của Việt Nam không đưa ra khái niệm thương mại điện tử, mà chỉ quy định khái niệm về giao dịch điện tử
Điều 4 khoản 6 Luật giao dịch điện tử quy định: giao dịch điện tử là
“giao dịch được thực hiện bàng phương tiện điện tử”, còn Điều 4 khoản 10
Trang 12quy định: “phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỳ thuật số, từ tính, truyền dần không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự”
Qua khái niệm này cỏ thế thấy, phạm vi điều chỉnh của Luật giao dịch điện tử là rất rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực, không chỉ trong lĩnh vực thương mại mà cả trong lĩnh vực dân sự, hoạt động quản lý của các cơ quan nhà nước Luật có cách tiếp cận theo nghĩa rộng, điều đó tạo cho thương mại điện
tử khả năng áp dụng rất lớn, nhất là trong bối cảnh công nghệ thông tin phát triển như hiện nay sẽ có nhiều phương tiện hiện đại mới ra đời
Tuy nhiên, việc hiểu thương mại điện tử theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp chỉ mang tính tương đối vì thực tế cho thấy chính Internet mới là động lực quan trọng nhất thúc đẩy sự phát triển của loại hình thương mại mới mẻ này
*Đặc điếm của thương mại điện tử:
+ Thứ nhất, thương mại điện tử mang tính phi biên giới: Thương mại điện tử được thực hiện ở phạm vi quốc tế, các bên thực hiện việc trao đổi thông tin thông qua mạng máy tính toàn cầu Do vậy, khái niệm biên giới đã không còn Mặc dù, đây là điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện hoạt động kinh doanh vì một thương nhân dù ở vị trí địa lý nào nhưng chỉ cần một máy tính nối mạng là có thể giao dịch với đối tác của mình; hay những nhà đầu tư mới có thể tiếp cận thị trường mới một cách dễ dàng hơn, thông qua hệ thống máy tính nối mạng thì người tiêu dùng, đối tác có thể tiếp cận với doanh nghiệp nhanh chóng, thuận tiện Tuy nhiên, có một khó khăn là việc xác định địa điểm kinh doanh - nơi thương nhân này giao dịch trở nên khó khăn hơn so với việc thực hiện hoạt động thương mại theo cách truyền thống
+ Thứ hai, với thương mại điện tử các bên trong giao dịch không cần phải trực tiếp tiếp xúc với nhau đế tiến hành hoạt động kinh doanh như hoạt động thương mại truyền thống Những người tham gia giao dịch thương mại
Trang 13điện tử có thế đã biết nhau nhưng cùng có thể không biết nhau, chưa gặp gỡ, tiêp xúc với nhau bao giờ Các giao dịch được thực hiện trong môi trường điện tử như ký hợp đồng, chuyến tiền, hóa đơn, gứi báo cáo, vận đơn Từ khi xuất hiện mạng máy tính toàn cầu Internet thì việc trao đổi thông tin trong các hoạt động thương mại đa dạng đã mở rộng nhanh chóng trên phạm vi toàn thế giới.
+ Thứ ba, đổi với thương mại truyền thống thì mạng lưới thông tin chỉ
là phương tiện để trao đổi dừ liệu, còn đổi với thương mại điện tử thì mạng lưới thông tin chính là thị trường Các trang web nổi tiếng như Yahoo; America Online; Google hay Alta Vista đóng vai trò như các website gốc đưa khách hàng truy cập vào nhiều trang web với vô số thông tin Các trang web này đã trở thành những “khu chợ” khổng lồ trên Internet [19, tr 14] Với mỗi lần nhấp chuột khách hàng có khả năng tìm được vô số các cửa hàng điện
tử khác nhau Các chủ cửa hàng, các doanh nghiệp ngày càng tích cực đưa thông tin về doanh nghiệp của mình lên web để khai thác thị trường rộng lớn trên Internet, ở nước ta, theo thống kê chưa đầy đủ hiện có khoảng gần 30.000 doanh nghiệp có website riêng
+ Thứ tư, thương mại điện tử mang tính rủi ro cao hơn so với thương mại truyền thống bởi trong một môi trường “ảo” nên rất khó khăn cho việc xác định những yếu tố liên quan đến thương mại điện tử như địa điểm giao kết hợp đồng
+ Thứ năm, luật điều chỉnh hoạt động thương mại điện tử cũng mang những đặc điểm khác biệt so với hoạt động thương mại truyền thống Pháp luật về thương mại truyền thống chưa điều chỉnh những vấn đề như thông điệp dữ liệu, chữ ký điện tử, chứng thực chữ ký điện tử, do đó chưa giải quyết được những vấn đề phát sinh từ việc thực hiện hoạt động thương mại điện tử
phong phú, gồm:
Trang 14- Giao dịch giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp - B2B
- Giao dịch giữa doanh nghiệp với khách hàng - B2C
- Giao dịch giữa doanh nghiệp với cơ quan Nhà nước - B2G
- Giao dịch trực tiếp giữa các cá nhân với nhau - C2C
- Giao dịch giữa cơ quan Nhà nước với cá nhân - G2C
+ Thứ bảy, ngoài các chủ thể trực tiếp tham gia quan hệ giao dịch thương mại truyền thống, trong thương mại điện tử xuất hiện thêm một bên thứ ba là các nhà cung cấp dịch vụ mạng, các cơ quan chứng thực Đây là những người tạo môi trường cho các giao dịch thương mại điện tử được thực hiện Nhà cung cấp dịch vụ mạng, cơ quan chứng thực có nhiệm vụ chuyển
đi, lưu giữ các thông tin giữa các bên tham gia giao dịch thương mại điện tử, đồng thời họ cũng là người xác nhận tính xác thực của các thông tin trong giao dịch thương mại điện tử
1.1.2 Vai trò của thương mại điện tử
Ngày nay, thương mại điện tử đã dần được khẳng định vai trò to lớn của mình trong quá trình phát triển của nền kinh tế mỗi quốc gia cũng như nền kinh tế toàn cầu
+ Trước tiên, thương mại điện tử giúp cho doanh nghiệp nắm bắt được thông tin một cách phong phú về thị trường và đối tác Với một máy tính nối mạng, bất cứ thương nhân nào cũng có thể tìm hiểu về đối tác của mình, tìm hiêu được năng lực cạnh tranh, giúp các doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh một cách thuận lợi, xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp
+ Thứ hai, thương mại điện tử giúp doanh nghiệp giảm được chi phí sản xuất, kinh doanh Trong hoạt động thương mại điện tử người mua, người bán không cần trực tiếp tiếp xúc với nhau, do đó tiết kiệm được thời gian giao dịch, đi lại
Theo thống kê, khi sử dụng thương mại điện tử, doanh nghiệp có thể tiết kiệm 30% chi phí văn phòng (truy cập ADSL) Ngoài ra, có một thực tế
Trang 15dễ dàng nhận thấy là khi sử dụng các catalo điện tử thì có thế thay đôi thường xuyên; đông thời các catalo điện tử cũng mang giao diện hình ảnh đẹp, sắc nét, phong phú hơn nhiều các catalo in ấn.
Thương mại điện tử làm giảm được chi phí giấy tờ do các thông tin giữa các bên đối tác đều được nhận và gửi trực tiếp mà không cần thể hiện bằng bất cứ hình thúc giấy tờ nào của tất cả các công đoạn của quá trình kinh doanh
+ Thứ ba, thương mại điện tử giúp doanh nghiệp giảm được chi phí bán hàng và tiếp thị Người tiêu dùng không cần trực tiếp đến cửa hàng để tìm hiểu về mặt hàng mình muốn mua, khi đã lựa chọn được mặt hàng cần thiết thì người tiêu dùng sẽ đặt lệnh mua qua trang web của người bán và thanh toán qua mạng mà không cần tốn thời gian đến cửa hàng
+ Thứ tư, thương mại điện tử giúp doanh nghiệp và khách hàng giảm được chi phí giao dịch cũng như thời gian giao dịch
+ Thứ năm, thương mại điện tử giúp thiết lập, củng cố các mối quan hệ giữa các thành phần tham gia vào quá trình thương mại Thương mại điện tử tạo cơ hội kinh doanh mới cho các doanh nghiệp
+ Cuối cùng, thương mại điện tử tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận với nền kinh tế số hoá, thúc đẩy sự phát triển của thương mại quốc tế
Tuỳ từng ngành nghề mà hiện nay người ta ước tính có thể tiết kiệm chi phí khi sử dụng thương mại điện tử so với việc sử dụng thương mại theo cách truyền thống từ 2% - 39% Theo thống kê cho thấy, chi phí tiết kiệm được khi áp dụng Thương mại điện tử trong một số ngành công nghiệp [38]:
Trang 16Bảng: Chi p hỉ tiết kiệm được khi úp dụng Thương mại điện tử trong
một sổ ngành công nghiệp
Trang 17- Nhăm thực thi các cam k ê t qu ô c tê củ a Việt Nam
Ngày 07/11/2006, Việt Nam đã chính thức được kết nạp thành thành viên thứ 150 của Tô chức thương mại thế giới (WTO) sau hơn 10 năm đàm phán Điều này cũng đồng nghĩa với việc, theo lộ trình cụ thể, Việt Nam sẽ phải thực thi tất cả các cam kết, các quy định của WTO trong đó có vấn đề thương mại điện tử
Tháng 5/1998, tại Geneva (Thuỵ Sĩ) đã tổ chức Hội nghị Bộ trưởng của
Tổ chức thương mại thế giới (WTO) lần thứ 2 Các nước thành viên WTO đã
ra tuyên bố về thương mại điện tử toàn cầu, theo đó yêu cầu Hội đồng chung của WTO đưa ra một chương trình hành động cụ thể để xem xét các vấn đề liên quan đến các hoạt động thương mại phát sinh từ thương mại điện tử Tháng 9/1998, Hội đồng chung đã đưa ra Chương trình hành động về thương mại điện tử yêu cầu các cơ quan thành viên của Hội đồng chung (là Hội đồng thương mại hàng hoá, Hội đồng thương mại dịch vụ, Hội đồng thương mại liên quan đến lĩnh vực Sở hữu trí tuệ, Uỷ ban thương mại và phát triển) xem xét các mổi liên hệ giữa thương mại điện tử với các hiệp định đa biên của WTO Thực hiện chương trình này, các Hội đồng thành viên, theo định kỳ báo cáo lên Hội đồng chung các kết quả đạt được và những vấn đề tiếp tục thảo luận tại các Hội nghị Bộ trưởng tiếp theo
Các nước thành viên WTO đã thoả thuận được các nội dung của thương mại điện tử là: Những nguyên tắc cơ bản cũng như các Hiệp định đa biên của WTO đều có thể áp dụng cho thương mại điện tử Đối với một hàng hoá hay lĩnh vực nhất định, các quy tắc đó cần được quy định cụ thể hơn theo hướng tạo thuận lợi cho sự phát triển của thương mại điện tử Trước mắt, sẽ không
áp thuế quan đối với hàng hoá được chuyến tải thông qua phương tiện điện tử
Tiếp đó, ngày 24/11/2000, Việt Nam đà tham gia vào Hiệp định khung ASEAN về thương mại điện tử (E-ASEAN), qua đó các quốc gia thành viên
Trang 18của ASEAN nhận thức được những lợi ích, cơ hội mà thương mại điện tử
mang lại, sẽ có những chính sách cụ thế quy định trong pháp luật quốc gia
nhằm tạo thuận lợi cho sự phát triển của thương mại điện tử Cụ thể:
+ Nhanh chóng đưa vào luật và các chính sách quốc gia các vấn để liên
quan đến các giao dịch điện tử dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế;
+ Tạo điều kiện thuận lợi cho sự công nhận lẫn nhau về khuôn khổ chữ
ký điện tử;
+ Tạo thuận lợi đảm bảo an toàn cho các thanh toán và chuyển tiền điện
tử thông qua các cơ chế cụ thể;
+ Áp dụng các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ phát sinh từ
thương mại điện tử Các nước thành viên cần xem xét việc chấp thuận các
Hiệp ước của tổ chức WIPO - Tổ chức quốc tế về quyền sở hữu trí mà chủ
yếu là “hiệp ước bản quyền WIPO 1996”;
+ Thực hiện các biện pháp bảo vệ dữ liệu cá nhân và bí mật riêng tư
của người tiêu dùng;
+ Khuyến khích sử dụng các cơ chế giải quyết tranh chấp thay thế
(ADR) cho các giao dịch trực tuyến
thương mại điện tử mang lại
Thương mại điện tử mang lại cho các chủ thể tham gia giao dịch rất
nhiều cơ hội mới Điều đó không những được thể hiện rõ nét ở những quốc
gia trên thế giới có thương mại điện tử phát triển từ lâu mà còn được nhận
thấy, thể hiện ở nước ta - một nước đang phát triển Theo thống kê ở một số
nước có thương mại điện tử phát triển thì thương mại điện tử đã tăng một
cách nhanh chóng, ví dụ: ở Pháp, doanh thu từ thương mại điện tử của năm
2003 đạt 2,39 tỷ euro (tăng 65% so với năm 2001), năm 2003 đạt 3,5 tỷ euro
theo đánh giá của hãng Benchmark Group Còn doanh thu từ hoạt động
thương mại điện tử của Mỳ, theo hiệp hội các nhà bán hàng trực tuyến của
Trang 19Mỹ (hãng Forrester Research và Shop.org) năm 2002 đạt 48%, bằng 76 ty
USD, chiếm 3,6% thương mại bán le của Mỹ Năm 2003, doanh thu từ
thương mại điện tử tăng nhanh chóng đạt 100 tỷ USD, chiếm 4,5 tồng so
thương mại bán lẻ [39]
- Đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp trong việc mớ rộng thị trường,
nam băt các cơ hội kinh doanh mới và nâng cao sức cạnh tranh của doanh
nghiệp trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
- Hệ quả của sự phát triển ngày càng nhanh của công nghệ thông tin
hiện nay
1.2 Pháp luật điều chỉnh thương mại điện tử
điên tử
Sự ra đời và phát triển của công nghệ thông tin gắn với nó là các giao
dịch thương mại điện tử cũng đuợc hình thành và phát triến Thương mại điện
tử phát triển đòi hỏi nhu cầu điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động này v ề
cơ bản thương mại điện tử cũng giống như thương mại truyền thống về bản
chất, thương mại điện tử chỉ khác thương mại truyền thống ở cách thức thực
hiện là nó được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử Vì vậy, pháp
luật điều chỉnh hoạt động thương mại điện tử cũng phải tuân thủ các quy định
của pháp luật thương mại truyền thống được quy định trong Bộ luật Dân sự
năm 2005; Luật Thương mại năm 2005 ở những vấn đề cơ bản như: nguyên
tắc hoạt động thương mại, chủ thể, hợp đồng, quyền nghĩa vụ của các tổ chức,
cá nhân trong hoạt động thương m ại
Tuy nhiên, do đặc điêm của hoạt động thương mại điện tử nên pháp luật
điều chỉnh hoạt động thương mại điện tử cũng có một số đặc điểm nhất định
Có thể hiểu pháp luật điều chỉnh hoạt động thương mại điện tử là hệ
thống các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận điều
chỉnh những quan hệ phát sinh trong hoạt động thương mại điện tử
Trang 20+ Thứ nhất, hoạt động thương mại điện tử ngoài sự điều chỉnh chung của pháp luật thương mại truyền thống còn chịu sự điều chỉnh của lĩnh vực pháp luật đặc thù dành riêng cho giao dịch điện tử như: Luật giao dịch điện tử 2005; nghị định về thương mại điện tử (nghị định số 57/NĐ-CP ngày 09/6/2006); nghị định quy định chi tiết thi hành luật giao dịch điện tử về chữ
ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số (nghị định số 26/NĐ-CP ngày 23/02/2007) Thương mại điện tử gắn liền với các phương tiện điện tử vì vậy đòi hỏi phải có những quy định riêng mà Bộ luật Dân sự 2005, Luật Thương mại 2005 chưa đề cập tới như: quy định về thông điệp dữ liệu; quy định về trao đổi dữ liệu điện tử; quy định về chữ ký điện tử; quy định về chứng thực chữ ký điện tử
+ Thứ hai, pháp luật điều chỉnh hoạt động thương mại điện tử gắn liền với pháp luật về khoa học công nghệ Vì vậy các quy phạm điều chỉnh hoạt động thương mại điện tử phần lớn là các quy phạm kỹ thuật, các khái niệm cỏ nội dung kỹ thuật của công nghệ thông tin như: chữ ký điện tử, thông điệp dữ liệu
+ Thứ ba, nguyên tắc của pháp luật thương mại điện tử Ngoài những nguyên tắc chung của pháp luật thương mại truyền thống, pháp luật điều chỉnh hoạt động thương mại điện tử còn có những nguyên tắc riêng Theo điều 5 của Luật giao dịch điện tử 2005 có các nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc tự nguyện lựa chọn sử dụng phương tiện điện tử để thực hiện giao dịch
- Nguyên tắc tự thoả thuận về việc lựa chọn loại công nghệ để thực hiện giao dịch
- Nguyên tắc không một loại công nghệ nào được xem là duy nhất trong giao dịch điện tử
- Nguyên tăc bảo vệ quvên và lợi ích hợp pháp của cơ quan to chức cá nhân, lợi ích của Nhà nước, lọi ' h công cộng
T HƯVỉ ệ N
ÍRƯỜNG ĐẠI HOC l ÙẬĨHÀ NỘI PHÒNG DỌC
Trang 21- Nguyên tắc bao vệ quyên và lợi ích hợp pháp của cơ quan tô chức cá nhân, lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng.
+ Thứ tư, pháp luật điều chinh hoạt động thương mại điện tử đang được quốc tế hoá nhanh chóng
Đặc điểm này xuất phát từ tính phi biên giới của thuơng mại điện tử Vì vậy, những quy định về thương mại điện tử không chỉ là lĩnh vực riêng biệt của pháp luật quốc gia mà ngay từ khi mới hình thành nó đã mang tính quốc tế
Luật giao dịch điện tử năm 2005 của Việt Nam cũng được soạn thảo theo chuẩn mực của Luật mẫu về thương mại điện tử của Uỷ ban Liên hợp quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) thông qua ngày 12.12.1996
Như vậy, có thể kết luận rằng pháp luật điều chỉnh hoạt động thương mại điện tử là bộ phận của pháp luật thương mại truyền thống, đồng thời nó
có những quy định riêng gắn liền với các phương tiện điện tử mà các hoạt động thương mại điện tử thực hiện Điều đó đặt ra vấn đề áp dụng pháp luật trong hoạt động thương mại điện tử Hoạt động thương mại điện tử ngoài việc phải tuân thủ những quy định chung của pháp luật thương mại truyền thống (những quy định trong Bộ luật dân sự; Luật thương mại) thì trong trường hợp
có sự khác nhau giữa quy định của Luật giao dịch điện tử với quy định của luật khác về cùng một vấn đề liên quan đến giao dịch điện tử thì áp dụng chung quy định của Luật giao dịch điện tử
1.2.2 Khung pháp luật điều chỉnh hoạt động thương mại điện tử của
Trong những năm gần đây, Nhà nước Việt Nam đã tích cực xây dụng khung pháp lý cho các giao dịch điện tử trong đó có hoạt động thương mại điện tử, bước đầu xây dựng nền táng pháp lý cho thương mại điện tử hình thành và phát triển Cụ thể là:
- Bộ luật dân sự 2005
- Luật thương mại 2005
Trang 22quy định riêng cho giao dịch điện tư trong đó có hoạt động thương mại điện
tử, cụ thê là:
- Luật giao dịch điện tử được Quốc hội thông qua ngày 29.11.2005 và
có hiệu lực từ ngày 1.3.2006
- Nghị định số 57/2007/NĐ - CP của Chính phủ về thương mại điện tử
- Nghị định số 26/2007/NĐ - CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chừ ký số
- Nghị định số 27/2007/NĐ - CP của Chính phủ về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính
- Quyết định số 27/2007/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
đề án phát triển thương mại điện tử trong nước đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
- Luật công nghệ thông tin ngày 26.06.2006
Những văn bản pháp luật kể trên đã trực tiếp quy định về hoạt động thương mại điện tử ở Việt Nam Khái quát những quy định trong các văn bản pháp luật kể trên có thể rút ra những nội dung cơ bản của pháp luật điều chỉnh hoạt động thương mại điện tử, bao gồm những vẩn đề cơ bản sau:
+ Quy định về đảm bảo giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu
+ Quy định về gửi, nhận thông điệp giữ liệu
+ Quy định về chữ ký điện tử và chứng thực chữ ký điện tử
+ Quy định về giao kết và thực hiện họp đồng điện tử
+ Quy định về bảo đảm an toàn tránh rủi ro trong hoạt động thương mại điện tử (bảo vệ bí mật cá nhân, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ)
+ Quy định về thanh toán điện tử
Đó là những nội dung rất căn bản của hoạt động thương mại điện tử mà pháp luật của các quốc gia cũng như pháp luật quốc tế phải quy định cụ thể nhằm khuyến khích phát triển thương mại điện tử cũng như đảm bảo an toàn cho các hoạt động thương mại điện tử
Trang 23nhàm khuyến khích phát triển thương mại điện tử cũng như đảm bảo an toàn
cho các hoạt động thương mại điện tử
Hiện nay, các quốc gia trên thế giới đều ban hành văn bản pháp luật
quy định cụ thể về thương mại điện tử với tên gọi khác nhau nhàm tạo khung
pháp lý cho thương mại điện tử phát triến Năm 1996 uỷ ban Luật thương mại
quốc tế của Liên hợp quốc (UNCITRAL) đã soạn thảo luật mẫu về thương
mại điện tử Luật mầu được coi là tài liệu tham khảo để các quốc gia xây
dựng pháp luật thương mại điện tử của mình
tử trong khuôn khố Liên hợp quốc và pháp luật thương mại điện tử của
các nước
& Luật mẫu ƯNCITRAL về thương mại điện tử:
Luật mẫu về thương mại điện tử (Model Law on Electronic Commerce)
được Uỷ ban của Liên hiệp quổc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL)
thông qua ngày 12/6/1996 và được chính thức công bố trong báo cáo của Hội
nghị lần thứ 6 Đại hội đồng Liên hiệp quốc ngày 12/12/1996 Mục tiêu của
Luật mẫu là đưa ra một hệ thống các quy tắc được thừa nhận trên phạm vi
quốc tế về việc loại bỏ các trở ngại trong việc công nhận giá trị pháp lý của
thông điệp được lưu chuyển bằng phương tiện điện tử Hiệu lực của đạo luật
này được áp dụng với mọi loại thông tin dưới dạng một thông điệp dữ liệu
trong khuôn khổ các hoạt động thương mại Phạm vi áp dụng của Luật mẫu
được áp dụng đế điều chỉnh những mối quan hệ phát sinh khi áp dụng phương
thức kinh doanh thương mại điện tử
Luật mẫu cũng có thể được sử dụng để giải thích bổ sung cho một số
công ước quốc tế trong lĩnh vực thương mại và các công cụ pháp lý quốc tế
khác nêu các công cụ này còn có các quy định gây cản trỏ' cho thương mại
điện tử [17]
Trang 24Luật mầu là cơ sở định hướng giúp các nước thành viên của Liên hiệp quốc tham khảo khi xây dựng một đạo luật của mình với ý nghĩa là khung pháp lý cơ bản cho thương mại điện tử.
Mục tiêu của Luật mẫu là tạo sự bình đẳng giữa những người sử dụng tài liệu trên cơ sở giấy tờ và những người sử dụng thông tin trên cơ sở các dữ liệu điện tử ở phạm vi quốc tế
Kết cấu của Luật mẫu được chia làm hai phần với 17 điều khoản:
- Phần I: Chương I đề cập đến các quy định chung bao gồm 14 điều khoản về phạm vi điều chỉnh, giải thích luật và các trường hợp ngoại lệ theo thoả thuận giữa các bên Chương II quy định các điều kiện luật định đối với các thông tin số hoá, gồm 6 điều khoản (Điều 5 đến Điều 10) công nhận giá trị pháp lý của các thông tin số hoá, về văn bản viết, chữ ký, bản gốc, tính xác thực và khả năng được chấp nhận của thông tin số, việc lưu giữ thông tin số Chương III quy định thông tin liên lạc bằng số hoá, bao gồm 5 điều khoản (Điều 11 đến Điều 15) quy định về hình thức của hợp đồng điện tử và giá trị pháp lý của họp đồng điện tử, các bên giao kết hợp đồng điện tử phải công nhận giá trị pháp lý của các thông tin số hoá, xuất xứ của thông tin số hoá, việc xác nhận đã nhận được thông tin, thời gian, địa điểm gửi và nhận thông tin số hoá
- Phần II quy định các giao dịch thương mại điện tử trong một số lĩnh vực hoạt động cụ thể gồm 2 điều khoản liên quan đến vận tải hàng hóa Điều
16 quy định hành vi liên quan đến hợp đồng vận tải hàng hoá, Điều 17 quy định về chứng từ vận tải hàng hoá
Một trong sổ các nội dung quan trọng của Luật mẫu là:
- Khẳng định giá trị pháp lý của các giao dịch điện tử (Điều 5) và nhờ
đó có thể loại bỏ được những quy định không giống nhau, thường tồn tại trong nhiều hệ thống pháp luật quốc gia, xuất trình bản gốc hay các quy định
về thoả thuận bằng văn bản viết
Trang 25- Khẳng định thông tin điện tử đáp ứng đòi hỏi của một văn bản viết (Điều 6)
- v ề chữ ký điện tử (Điều 7), Luật đã khẳng định giá trị tương đương của chữ ký điện tử so với chữ ký viết truyền thống nếu chừ ký điện tử thoả mãn được hai điều kiện nêu trong khoản a, b Điều 7
- Quy định sự hình thành và hiệu lực của hợp đồng thương mại điện tử Những nội dung có tính khẳng định về giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu, của hợp đồng điện tử, của chữ ký điện tử là những khẳng định ban đầu cho việc công nhận và sử dụng phương thức kinh doanh thương mại điện tử
Việc UNCITRAL thông qua đạo luật mẫu về thương mại điện tử đã tạo điều kiện cho tất cả các quốc gia trên thế giới, mà trước hết là các nước thành viên của Liên hiệp quốc có cơ sở tham khảo để xúc tiến việc hoàn thành hệ thống pháp luật nước mình về sử dụng các phương tiện truyền và lưu giữ thông tin mới thay thế cho các tài liệu bằng giấy và ban hành các văn bản pháp lý còn thiếu trong lĩnh vực thương mại điện tử Luật mẫu này chỉ có giá trị tham khảo, tuy nhiên đây là tài liệu bổ ích để mỗi quốc gia có thể dựa vào
đó nghiên cứu khi xây dựng, ban hành và hoàn thiện các văn bản pháp luật về thương mại điện tử của quốc gia mình
# Pháp luật thương mại điện tử của các nước.
Mặc dù mang tên gọi khác nhau, nhưng nhìn chung các nước đều ban hành luật điều chỉnh thương mại điện tử:
- Argentina ban hành Luật chữ ký số năm 2002
- Canada ban hành Luật giao dịch điện tử năm 2001; Luật chứng cứ điện tử thống nhất năm 1999
- Columbia ban hành Luật thương mại điện tử năm 1999
- Hoa Kỳ ban hành Luật giao dịch điện tử thống nhất năm 1999; Luật giao dịch thông tin máy tính thống nhất năm 1999; Luật chừ ký đié lử trong
Trang 26thương mại toàn cầu và quốc gia năm 2000 (ở Hoa Kỳ, mồi bang ban hành một luật riêng).
- Peru ban hành Luật chữ ký số năm 2000
- Anh ban hành Luật truyền thông điện tử năm 2000
- áo ban hành Luật chữ ký điện tử năm 2000
- Bỉ ban hành Luật chữ ký điện tử và chứng thực năm 2000
- Đan Mạch ban hành Luật chữ ký số năm 2000
- Đức ban hành Luật thương mại điện tử năm 2001
- Hà Lan ban hành Luật chữ ký điện tử năm 2001
- Pháp ban hành Luật chữ ký điện tử năm 2000
- Thụy Điển ban hành Luật chữ ký điện tử năm 2000
- ấn Độ ban hành Luật công nghệ thông tin năm 2000; Luật thương mại điện tử năm 1998
- Hàn Quốc ban hành Luật chữ ký điện tử năm 1999; Luật cơ bản thương mại điện tử năm 1999
- Malaysia ban hành Luật chữ ký số năm 1997
- Nhật Bản ban hành Luật chữ ký điện tử và dịch vụ chứng thực năm
2001
- Singapore ban hành Luật giao dịch điện tử năm 1998
- Myanmar ban hành Luật giao dịch điện tử năm 2004
- Brunei ban hành Luật giao dịch điện tử năm 2000
- Thái Lan ban hành Luật giao dịch điện tử năm 2001
- Trung Quốc dự thảo Luật về chữ ký điện tử
- Australia ban hành Luật giao dịch điện tử năm 1999
- New Zealand ban hành Luật giao dịch điện tử năm 2002
(Nguồn: ủy ban khoa học, công nghệ và môi trường của Quổc hội)
Trang 27Nhìn chung pháp luật về thương mại điện tử của các nước quy định nhũng vấn đề cơ bản sau:
+ Thứ nhất, quy định về thông điệp dữ liệu điện tử Đây là vấn đề cơ bản nhất của Luật tất cả các nước Nội dung chủ yếu của vấn đề này là công nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu Hình thức tồn tại của thông điệp
dữ liệu có thể là thư điện tử, chứng từ điện tử, điện tín Pháp luật của các nước đều quy định thông điệp dữ liệu có giá trị như văn bản, có giá trị làm bản gốc, có giá trị làm chứng cứ, quy định về lưu giữ thông điệp Quy định về trách nhiệm pháp lý của người gửi, nhận thông điệp dữ liệu Thời gian, địa điểm gửi thông điệp dữ liệu
+ Thứ hai, quy định về chữ ký điện tử và chứng thực điện tử
+ Thứ ba, quy định về hợp đồng điện điện tử
+ Thứ tư, quy định trách nhiệm của tổ chức cung cấp dịch vụ mạng và
tổ chức chứng thực điện tử
+ Thứ năm, quy định về bảo đảm an toàn, bảo mật thông tin
+ Thứ sáu, quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
+ Thứ bảy, quy định về vi phạm và xử lý vi phạm
Trang 28CHƯƠNG 2 NHỮNG NỘI DUNG c o BẢN CỦA PHÁP LUẬT
Thương mại điện tử khác thương mại truyền thống ở chồ thương mại điện tử được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử Vì vậy, hoạt động thương mại điện tử ngoài sự điều chỉnh chung của pháp luật thương mại, nó còn được điều chỉnh bởi những quy định riêng cho các giao dịch thương mại điện tử Trong chương 2, luận văn tập trung nghiên cứu, phân tích, đánh giá những quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam đối với thương mại điện tử (Luật giao dịch điện tử; Nghị định về thương mại điện tử) ở những vấn đề sau:
2.1 Quy định về thông điệp dữ liệu
Trong thương mại truyền thống văn bản giấy tờ là tài liệu pháp lý chứng minh cho các giao dịch thương mại, trong thương mại điện tử các bên không trực tiếp gặp nhau, các giao dịch thương mại được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử Vì vậy, thông điệp dữ liệu được coi là “văn bản, là tài liệu gốc” do các bên soạn thảo, gửi cho nhau thể hiện nội dung của các giao dịch thương mại Do đó, pháp luật phải quy định giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu
Theo quy định tại khoản 3 điều 5 Luật thương mại 2005; Khoản 12 điều 4 Luật giao dịch điện tử 2005 thì thông điệp dữ liệu là: “thông tin được tạo ra, được gửi đi, được nhận và được lưu trữ bằng phương tiện điện tử”
Từ khái niệm trên cho thấy dừ liệu chính là thông tin cũng giống như văn bản giấy tờ trong thương mại truyền thống cũng hàm chứa thông tin về các giao dịch thương mại, chỉ có điều khác nhau thông tin trong thương mại điện tử được thể hiện dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh
Trang 29hoặc dạng tương tự Thông tin đó do các bên tham gia giao dịch thương mại điện tử tạo ra nhằm cung cấp cho đối tác biết về các sản phẩm, hàng hóa, dịch
vụ của mình, về chất lượng, số lượng, mầu mã cũng như nhu cầu thiết lập quan hệ để ký kết hợp đồng về các diều khoản của hợp đồng
Thông tin đó được gửi cho các đối tác trong quan hệ và các thông tin
đó phải được các đổi tác nhận được, đọc được, hiểu được yêu cầu của người gửi Đồng thời thông tin đó phải được lưu trừ bằng phương tiện điện tử
Thông điệp dữ liệu là vấn đề cốt lõi của giao dịch điện tử nói chung và giao dịch thương mại điện tử nói riêng Vì vậy, pháp luật phải quy định giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu
Thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu là cơ sở để thừa nhận các giao dịch thương mại điện tử Điều đó được thể hiện ở các khía cạnh sau:
- Có thể thay thế văn bản giấy (hoặc văn bản kèm chữ ký)
- Có giá trị như bản gốc
- Có giá trị lưu trữ và chứng cứ
- Xác định trách nhiệm của các bên
- Xác định thời gian, địa điểm gửi, nhận thông điệp dữ liệu
Văn bản giấy tờ trong thương mại truyền thống cũng bao gồm các thuộc tính như:
- Khả năng có thể đọc được
- Không bị thay đôi nội dung theo thời gian
- Cho phép tái tạo một tài liệu sao cho mỗi bên đều có bản sao của tài liệu ban đầu
- Cho phép xác thực tài liệu bằng chữ ký
- Được cơ quan Nhà nước chấp thuận
Như vậy, so với văn bản giấy tờ trong thương mại truyền thống thì thông điệp dừ liệu trong thương mại điện tử cũng có những thuộc tính và
Trang 30được thừa nhận như đối với một văn bản giấy tờ trong thương mại truyền thống Nếu không quy định giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu cũng đồng nghĩa với việc không thừa nhận giá trị của thư điện tử hoặc bản ghi được lưu trữ trên phương tiện điện tử như là minh chứng thề hiện ý chí, nguyện vọng giao kết hợp đồng giữa các bên và cũng sẽ không tồn tại cái gọi là thương mại điện tử.
Ví dụ: Công ty Hoa Sữa có một trong web giới thiệu về sản phẩm của mình Công ty Hoa Lan truy cập vào trang web của công ty Hoa Sữa và muốn thiết lập quan hệ với công ty Hoa Sữa để cung cấp sản phẩm hàng hóa cho mình nên gửi một thư điện tử (e-mail) cho công ty Hoa Sữa đề nghị mua hàng Công ty Hoa Sữa trả lời bằng một e-mail chấp nhận bán hàng Hai thư điện tử trên đều sử dụng một phần mềm cho phép biết rõ địa chỉ người gửi và bảo đảm rằng nội dung thư không bị thay đổi Đúng theo thỏa thuận, công ty Hoa Sữa giao hàng cho công ty Hoa Lan và nhận tiền qua một tài khoản ngân hàng Công ty Hoa Sữa và công ty Hoa Lan không phải gặp nhau trong suốt quá trình giao dịch, hợp đồng giữa hai công ty đã được thiết lập và cả hai bên đều có bằng chứng để tòa án bảo vệ quyền lợi của mình nếu bên kia không thực hiện theo đúng thỏa thuận
Ví dụ trên minh chứng cho một giao dịch thương mại điện tử đã được diễn ra một cách nhanh chóng thông qua việc tạo lập, gửi, nhận thông điệp dữ liệu bởi các phương tiện điện tử
Hình thức thể hiện thông điệp dừ liệu cũng được thể hiện dưới hình thức trao đổi dừ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác, vấn đề quan trọng và sống còn đối với thương mại điện tử là bảo đảm giá trị của thông điệp dữ liệu
Điều 11 Luật giao dịch điện tử quy định: “Thông tin trong thông điệp
dữ liệu không bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì thông tin đó được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu.”
Trang 31Đông thời, Luật giao dịch điện tử cũng quy định thông điệp dữ liệu có giá trị như văn bản, thông điệp dừ liệu có giá trị như bản gốc khi thông điệp
dữ liệu đáp ứng được các điều kiện:
- Nội dung thông điệp dữ liệu được bảo đảm toàn vẹn kê từ khi được khởi tạo lần đầu tiên dưới dạng một thông điệp dữ liệu hoàn chỉnh Nội dung thông điệp được xem là toàn vẹn khi nội dung đó chưa bị thay đổi, trừ những thay đổi về hình thức phát sinh trong quá trình gửi, lưu trữ hoặc hiển thị thông điệp dừ liệu
- Nội dung của thông điệp dữ liệu có thể được truy cập và sử dụng dưới dạng hoàn chỉnh khi cần thiết
Thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu còn thế hiện ở chỗ thông điệp dữ liệu có giá trị làm chứng cứ Thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo ra, gửi, nhận, lưu trữ bằng phương tiện điện tử, vì vậy các thông tin
đó rất dễ bị thay đổi hoặc bị hủy bỏ bằng một vài thao tác kỹ thuật đơn giản, điều đó dẫn đến làm sai lệch thông tin trong giao dịch thương mại, gây rủi ro cho các bên khi tham gia giao dịch Vì vậy, để làm căn cứ chứng minh cho các giao dịch (thế hiện qua các dữ liệu) của các bên đã được thiết lập, pháp luật quy định giá trị chứng cứ của các thông điệp dữ liệu Chứng cứ đó chứng minh cho các hành vi thương mại của các bên cũng như là cơ sở để tòa án, trọng tài căn cứ vào đó để tiến hành hoạt động giải quyết tranh chấp (nếu có) khách quan, đúng pháp luật
Điều 14 Luật giao dịch điện tử quy định: “Thông điệp dữ liệu không bị phủ nhận giá trị dùng làm chứng cứ chỉ vì đó là một thông điệp dữ liệu Giá trị chứng cứ của thông điệp dữ liệu được xác định căn cứ vào độ tin cậy của cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi thông điệp dữ liệu; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của thông điệp dừ liệu; cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố phù họp khác”
Trang 32Đê đảm bảo giá trị chứng cứ của thông điệp dữ liệu, pháp luật quy định về việc lưu trữ thông điệp dữ liệu Trong thương mại truyền thống, các văn bản giấy tờ được lưu trừ do các bên tham gia giao dịch cất giữ (chăng hạn khi ký hợp đồng, văn bản hợp đồng được lập có chữ ký của các bên, văn bản hợp đồng do các bên cất giữ) Trong thương mại điện tử, thông điệp dừ liệu (văn bản) được gửi, nhận bằng phương tiện điện tử vì vậy rất dễ bị hủy bỏ nếu một bên muốn chấm dứt hoặc thay đổi giao dịch
Vì vậy, pháp luật đã quy định về việc lưu trữ thông điệp dữ liệu (xem điều
15 Luật giao dịch điện tử) Việc lưu trữ thông điệp dừ liệu do các tổ chức cung cấp dịch vụ điện tử thực hiện, cách thức lưu trữ, thời gian lưu trừ thực hiện theo quy định của pháp luật về lưu trừ
2.2 Quy định về gửi, nhận thông điệp dữ liệu
Nếu như trong hoạt động thương mại truyền thống, các bên tham gia quan hệ trực tiếp gặp nhau, cùng đàm phán và sau khi đã thống nhất thì lập thành văn bản, cùng kỷ vào văn bản (hợp đồng), tại một thời điểm cụ thể docác bên lựa chọn (có thể là trụ sở chính của công ty) xác định rõ ngày, tháng,năm ký kết Trong thương mại điện tử, các bên không trực tiếp gặp nhau, các bên soạn thảo văn bản (thông điệp dừ liệu) gửi cho nhau qua các phương tiện điện tử, vì vậy việc xác định ai là người soạn thảo văn bản (thông điệp dữ liệu, thời gian, địa điểm gửi, nhận thông diệp dừ liệu) có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động thương mại Đe đảm bảo an toàn cho các giao dịch thương mại điện tử, pháp luật đã quy định cụ thể về vấn đề này:
+ Thứ nhất, xác định người khởi tạo thông điệp dừ liệu
Người khởi tạo thông điệp dừ liệu là cơ quan, tố chức, cá nhân tạo hoặc gửi một thông điệp dữ liệu trước khi thông điệp đó được lưu trừ nhưng không bao hàm người trung chuvên thông điệp dừ liệu Đối với hoạt động thương
Trang 33tiêu dùng Trong trường hợp các bên tham gia giao dịch không có thỏa thuận khác thì việc xác định người khởi tạo một thông điệp dữ liệu được quy định như sau:
- Một thông điệp dừ liệu được xem là của người khởi tạo nếu thông điệp dữ liệu đó được người khởi tạo gửi hoặc được gửi bởi một hệ thống thông tin được thiết lập để hoạt động tự động do người khởi tạo chỉ định
- Người nhận có thế coi là thông điệp dữ liệu là của người khởi tạo nếu
đã áp dụng các phương pháp xác minh, được người khởi tạo chấp thuận và cho kết quả thông điệp dữ liệu đó là của người khởi tạo
- Ke từ thời điểm người nhận biết có lỗi kỹ thuật trong việc truyền gửi thông điệp dữ liệu hoặc đã sử dụng các phương pháp xác minh lỗi được người khởi tạo chấp thuận thì không áp dụng đối với hai trường hợp kể trên
Nội dung thông điệp dữ liệu phải đảm bảo thông tin đầy đủ, chính xác
về các vấn đề liên quan đến giao dịch thương mại định thiết lập để tránh hiểu sai, hiểu không đầy đủ gây rủi ro cho đối tác Đẻ đảm bảo quyền cũng như lợi ích của đối tác trong giao dịch thương mại pháp luật quy định người khởi tạo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông điệp dữ liệu do mình khởi tạo
+ Thứ hai, quy định về thời điểm, địa điểm gửi thông điệp dữ liệu
Vấn đề xác định thời điểm, địa điểm gửi thông điệp dữ liệu có ý nghĩa quan trọng trong giao dịch thương mại điện tử Bởi lẽ nó liên quan đến thời điểm xác định hiệu lực của giao dịch, v ấ n đề xác định thời điểm, địa điểm gửi thông điệp dừ liệu trong môi trường điện tử là không dễ, vì vậy pháp luật đã đưa ra phương pháp giả định Theo đó, thời gian gửi thông điệp dữ liệu phụ thuộc việc người nhận có thông báo với người gửi về hệ thống thông tin được chỉ định trước hay không Nếu có chỉ định trước, thông điệp dữ liệu sẽ được truyền theo thỏa thuận đó Trong các trường hợp khác, thông điệp dữ liệu sẽ
Trang 34được nhận khi nó lọt vào phạm vi kiêm soát của người nhận Địa điêm gửi thông điệp dữ liệu được xác định là trụ sở kinh doanh của người khởi tạo (hoặc nơi cư trú trong trường hợp không có trụ sở kinh doanh).
Điều 17 Luật giao dịch điện tử quy định: “Trong trường hợp các bên tham gia giao dịch không có thỏa thuận khác thì thời điểm gửi thông điệp dữ liệu là thời điểm thông điệp dữ liệu này nhập vào hệ thống thông tin nằm ngoài sự kiêm soát của người khởi tạo”
+ Thứ ba, quy định về nhận thông điệp dữ liệu
Người nhận thông điệp dữ liệu (là một bên trong giao dịch thương mại)
là người được chỉ định nhận thông điệp dữ liệu từ người khởi tạo thông điệp
dữ liệu (không bao gồm người trung gian chuyển thông điệp dữ liệu đó)
Việc nhận thông điệp dữ liệu được xem là (người) đã nhận được khi thông điệp dữ liệu được nhập vào hệ thống thông tin do người đó chỉ định
và có thể truy cập được (trừ trường hợp các bên tham gia giao dịch có thỏa thuận khác)
Người nhận thông điệp dữ liệu có quyền coi mỗi thông điệp dữ liệu nhận được là một thông điệp dữ liệu độc lập, trừ trường hợp thông điệp dữ liệu đó là bản sao của một thông điệp dừ liệu khác mà người nhận biết hoặc phải biết thông điệp dữ liệu đó là bản sao
Vấn đề xác nhận đã nhận được thông điệp dữ liệu được pháp luật quy định như sau:
- Nếu trước hoặc trong khi gửi thông điệp dữ liệu các bên có yêu cầu hoặc thỏa thuận ràng người nhận phải gửi thông báo cho người gửi là mình đã nhận được thông điệp dữ liệu thì người nhận phải thực hiện đúng yêu cầu này
- Trường hợp trước hoặc trong khi gửi thông điệp dữ liệu, người khởi tạo nói rõ thông điệp dữ liệu đó chỉ có giá trị khi có thông báo xác nhận thì