1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quy định của luật tố tụng hình sự việt nam về giai đoạn điều tra vụ án hình sự

89 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 8,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chẳng hạn, tác giả Lê Cảm cho rằng: Giai đoạn điều tra VAHS là giai đoạn thứ hai mà trong đó CQĐT căn cứ vào các quy định của pháp luật TTHS và dưới sự kiểm sát của VKS tiến hành các biệ

Trang 2

B ộ T ư PHÁP B ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

T H Ư V I Ệ N

IRưÒNGĐAIHOClŨÂTHA N Ò I

LÊ TH Ị T H A N H H Ằ N G

QUY ĐỊNH CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÌNH s ự VIỆT NAM v * • • • •

VÈ GIAI ĐOẠN ĐIÈU TRA v ụ ÁN HÌNH s ự• • •

Trang 3

NHỮNG TỪ VIÉT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Tố tụng hình sự

Vụ án hình sự Viện kiểm sátViện kiểm sát nhân dân tối cao

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ Đ Ầ U .1

CHƯƠNG I: NHẬN THỨC CHUNG VỀ GIAI ĐOẠN ĐIÈƯ TRA v ụ ÁN • • • HÌNH S ự 5

1.1 Khái niệm giai đoạn điều tra vụ án hình sự 5

1.2 Vai trò và nhiệm vụ của giai đoạn điều tra vụ án hình sự 11

CHƯƠNG II: QUY ĐINH CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÌNH s ự VIỆT NAM ^ • • • • • VÈ GIAI ĐOẠN ĐIÊU TRA v ụ ÁN HÌNH s ự VÀ NHỮNG VƯỚNG • • • MẮC TRONG THựC TÉ ÁP D Ụ N G 17

2.1 Quy định chung về điều tra 17

2.1.1 Thẩm quyền điều tra 17

2.1.2 Thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam để điều tra 21

2.2 Quv định về căn cứ áp dụng, đối tượng áp dụng và thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra 29

2.3 Quy định về các biện pháp điều tra 43

2.4 Quy định về tạm đình chỉ điều tra, kết thúc điều tra, phục hồi điều tra .L53 2.5 Mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát 60

✓ 2.6 Người bào chữa trong giai đoạn điều tra 62

CHƯƠNG III: MỘT SÓ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐINH CỦA• • • m PHÁP LUẬT TÓ TỤNG HÌNH s ự VÈ GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA v ụ ÁN• • • • • HÌNH S ự 65

3.1 Hoàn thiện pháp luật 68

3.2 Các kiến nghị khác 78

KÉT LUẬN 80

Trang 5

MỎ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài.

Điều tra là khâu đột phá, là giai đoạn đầu giữ vai trò thành bại đối với cả tiến trình TTHS Những kết quả khả quan cũng như những sai lầm tư pháp nghiêm trọng như bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội thường bắt nguồn

từ giai đoạn điều tra Vị trí quan trọng của hoạt động điều tra đối với công tác xét xử không chỉ giới hạn ở số lượng và chất lượng chứng cứ mà CQĐT có thế cung cấp cho Toà án, thậm chí trong nhiều trường hợp, sự nhận định, đánh giá tội phạm của CQĐT và VKS còn quy định cả giới hạn xét xử Hoạt động điều tra trong giai đoạn này có ý nghĩa quan trọng, thiếu hoạt động điều tra VKS không có cơ sở để truy tố, Toà án không có cơ sở để xét xử vụ án

Do vậy, việc quy định đúng đắn các nội dung trong giai đoạn này là một đòi hỏi tất yếu của xã hội đối với công tác lập pháp ở nước ta hiện nay

Hiện nay, nhận thức về giai đoạn điều tra VAHS và các hoạt động tố tụng trong giai đoạn này chưa được thống nhất nên ảnh hưởng không nhỏ đến công tác điều tra tội phạm BLTTHS hiện hành mặc dù đã có quy định về giai đoạn điều tra VAHS ở giai đoạn này nhưng trong quá trình thực hiện vẫn còn gặp không ít khó khăn vướng mắc do còn một số hoạt động điều tra chưa được quy định hoặc quy định chưa cụ thể, đầy đủ; một số chế định có liên quan đến giai đoạn điều tra qui định trong BLTTHS còn có sự không thống nhất và chưa phù hợp với thực tiễn: như đối tượng và điều kiện áp dụng biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra, thời hạn điều tra và thời hạn tạm giam bị can để điều tra, Những khó khăn do quy định của BLTTHS nêu trên là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng oan sai, bỏ lọt tội phạm Do đó, trong tiến trình cải cách tư pháp hiện nay vẫn tiếp tục đòi hỏi phải nghiên cứu nhằm làm rõ hơn nội dung của giai đoạn điều tra trong TTHS

Trang 6

Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Quy định của Luật tố tụng hình sự Việt Nam về giai đoạn điều tra vụ án hình sự” trong bối cảnh hiện nay là cần

thiết, có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu đề tài.

Nghiên cứu Luật TTHS Việt Nam về các quy định trong giai đoạn điều tra VAHS trong những năm gần đây đã trở thành một trong những vấn đề được nhiều nhà khoa học luật quan tâm trước yêu cầu của cuộc cải cách tư pháp Quy định về những vấn đề thuộc giai đoạn điều tra VAHS như: Chế định về thời hạn điều tra, về các biện pháp ngăn chặn, về tạm đình chỉ vụ

á n đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, viết bài trên các tạp chí, tài liệu khoa học như: Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Điệp với đề tài

“Các biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam thực trạng, nguyên nhân và giải pháp” (năm 2005); tác giả Nguyễn Mai

Bộ với cuốn sách “Biện pháp ngăn chặn khám xét và kê biên tài sản trong Bộ luật tố tụng hình sự” (năm 2004); luận án thạc sĩ luật học của tác giả Lê Đình

Long với đề tài “Chế định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án trong tố tụng hình sự

Việt Nam”(năm 2002)

Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu về các quy định trong giai đoạn điêu tra như vậy, nhưng chưa có luận văn hoặc luận án nào nghiên cứu một cách tổng thể chuyên sâu về quy định của luật TTHS Việt Nam về giai đoạn điều tra VAHS Vì vậy, việc nghiên cứu quy định của luật TTHS Việt Nam về giai đoạn điều tra VAHS là vấn đề mang tính thời sự và cần thiết, không có sự trùng lặp với các luận văn, luận án và các công trình khác đã được công bố

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

Đối tượng nghiên cứu là quy định của BLTTHS và một số văn bản quy phạm pháp luật về giai đoạn điều tra VAHS và thực trạng nhận thức, vận dụng quy định của BLTTHS vào công tác điều tra tội phạm ở địa phương.Trên cơ sở mã số và chuyên ngành của đề tài, luận văn chủ yếu đi sâu nghiên cứu một số quy định bất cập của luật TTHS Việt Nam về giai đoạn

Trang 7

điều tra VAHS và đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của BLTTHS về điều tra VAHS Việc nghiên cứu chủ yếu dựa trên tài liệu của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Bộ công an từ năm 2004 trở lại đây và kết quả khảo sát thực tế thực hiện quy định của BLTTHS tại một số tỉnh, thành phố phía Bắc.

4 Phương pháp nghiên cứu.

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về công tác xây dựng pháp luật và công tác điều tra,

xử lý tội phạm

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài là phân tích, so sánh, tổng họp, quy nạp, khảo sát thực tế, điều tra nghiên cứu, trao đổi tọa đàm

5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài.• • • o

M ục đích: Nghiên cứu đề tài nhằm làm rõ khái niệm về giai đoạn điều

tra VAHS; xác định một số bất cập, khó khăn và vướng mắc trong quá trình

áp dụng các quy định của luật TTHS về giai đoạn điều tra trong thực tiễn

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật TTHS về giai đoạn điều tra VAHS

6 Những điểm mới của luận văn.

Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề về khái niệm giai đoạn điều tra, luận văn đi sâu nghiên cứu những nội dung vướng mắc trong quy định của luật TTHS Việt Nam về giai đoạn điều tra VAHS Từ đó đề xuất một số kiến

Trang 8

nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về giai đoạn này nhằm góp phần nâng cao hiệu quả điều tra, xử lý tội phạm trong những năm tới.

7 Cơ cấu luận văn.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được chia làm 3 chương:

Chương I: Nhận thức chung về giai đoạn điều tra vụ án hình sự.

Chương II: Quy định của luật tố tụng hình sự Việt Nam về giai đoạn

điều tra vụ án hình sự và những vướng mắc trong thực tế áp dụng

Chương III: Một số kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự về giai đoạn điều tra vụ án hình sự

Trang 9

CHƯƠNG I NHẬN THỨC CHUNG VÈ GIAI ĐOẠN ĐIÈU TRA v ụ ÁN• • •

HÌNH SỤ

1.1 Khái niệm giai đoạn điều tra vụ án hình sự.• ~ • • •

Quá trình TTHS được chia thành các giai đoạn với những hoạt động khác nhau của các cơ quan tiến hành tố tụng Ở nước ta hiện nay có nhiều quan điểm về việc phân chia các giai đoạn TTHS Có quan điểm cho rằng, quá trình TTHS gồm 5 giai đoạn: Khởi tố VAHS, điều tra VAHS, truy tố người phạm tội, xét xử và thi hành án [3, trl 1] Bên cạnh đó cũng tồn tại quan điểm quá trình TTHS gồm 7 giai đoạn: Khởi tố VAHS, điều tra VAHS, truy

tố, xét xử sơ thẩm VAHS, xét xử phúc thẩm VAHS, thi hành án và giai đoạn đặc biệt (giám đốc thẩm, tái thẩm) [32, tr.10] Như vậy, dù có nhiều quan điểm khác nhau về việc phân chia các giai đoạn TTHS, điều tra VAHS Vẫn là giai đoạn không thể thiếu, có vị trí và vai trò riêng trong quá trình TTHS Nó

là một giai đoạn độc lập sau giai đoạn khởi tố VAHS

Tuy nhiên, khi bàn về vị trí, giới hạn và nội dung của giai đoạn điều tra VAHS, đến nay đã có nhiều quan điểm Chẳng hạn, tác giả Lê Cảm cho rằng: Giai đoạn điều tra VAHS là giai đoạn thứ hai mà trong đó CQĐT căn cứ vào các quy định của pháp luật TTHS và dưới sự kiểm sát của VKS tiến hành các biện pháp điều tra cần thiết nhằm thu thập và củng cố các chứng cứ, nghiên cứu các tình tiết của vụ án, phát hiện nhanh chóng và đầy đủ tội phạm để truy cứu TNHS, đồng thời bảo đảm cho việc bồi thường thiệt hại về vật chất do tội phạm gây ra và trên cơ sở đó quyết định đình chỉ điều tra hoặc chuyển toàn bộ các tài liệu của vụ án đó cho VKS kèm theo kết luận điều tra và đề nghị truy

tố bị can [2,tr.27]

ờiai đoạn điều tra là giai đoạn tố tụng liền ngay sau giai đoạn khởi tố VAHS, nó được thực hiện bởi CQĐT, các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật TTHS Giai

Trang 10

đoạn này được bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố VAHS và kết thúc khi có kết luận điều tra, đề nghị truy tố hoặc quyết định đình chỉ vụ án [25, tr.12].Khi viết về nội dung của giai đoạn điều tra, trong giáo trình Luật tố tụng hình sự - Trường đại học Luật Hà Nội có đoạn: Điều tra là giai đoạn TTHS, trong đó cơ quan có thẩm quyền áp dụng mọi biện pháp do BLTTHS quy định

đế xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án [32, tr.265]

Trong luận văn thạc sĩ của mình, tác giả Phùng Như Thịnh đưa ra định nghĩa: Giai đoạn điều tra là một giai đoạn TTHS được bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố VAHS và kết thúc khi có bản kết luận điều tra, đề nghị truy tố hoặc quyết định đình chỉ điều tra VAHS, trong đó CQĐT, cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra áp dụng mọi biện pháp do BLTTHS quy định đê xác định tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện phạm tội, tính chất và mức độ thiệt hại do tội phạm gây ra vả những tình tiết khác làm cơ sở cho việc truy tố của VKS và việc xét xử của Toà án

sau này [25, tr 13]

Một quan điểm nữa được thể hiện trong luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thái Bình, trong luận văn này tác giả nêu kết luận: Điều tra VAHS là giai đoạn TTHS bắt đầu từ khi khởi tố vụ án và kết thúc khi có bản kết luận điều tra vụ án do các cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành bằng cách áp dụng các biện pháp điều tra theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định kết hợp với các biện pháp nghiệp vụ nhằm phát hiện, thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm và người phạm tội, đảm bảo cho việc xử lý vụ án đúng người, đúng tội và đúng pháp luật [3, tr 12]

Các quan điểm nêu trên tuy diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau, nhưng vẫn có nhiều điểm thống nhất Theo chúng tôi, để xác định đúng đắn và toàn diện về khái niệm giai đoạn điều tra VAHS cần làm rõ một số vấn đề sau:

Trang 11

Giới hạn của giai đoạn điểu tra

Lý luận và thực tiễn về giới hạn giai đoạn điều tra là vấn đề phức tạp Đen nay xung quanh vấn đề này còn nhiều ý kiến bàn luận khác nhau Có ý kiến cho rằng từ khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử đều là quá trình của giai đoạn điều tra vụ án Trong đó từ khi khởi tố vụ án đến khi truy tố bị can là quá trình điều tra sơ bộ Giai đoạn xét xử vụ án tại Tòa án mới là quá trình điều tra chính thức Quan điểm trên có nhân tố hợp lý, bởi vì theo nguyên tắc suy đoán vô tội “không ai có thể bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” (Điều 9 BLTTHS) Khi chưa có bản án kết tội của Toà án có hiệu lực pháp luật, người

bị buộc tội vẫn được coi là chưa có tội [3,tr.l0] Các kết quả điều tra, truy tố chỉ được coi là các giả định về tính có lỗi trong việc thực hiện tội phạm, không có ý nghĩa bắt buộc đối với Tòa án Quá trình xét xử phải là quá trình xem xét khách quan, toàn diện và đầy đủ tất cả các chứng cứ của vụ án đã được thu thập trong giai đoạn điều tra, truy tố cũng như được đưa ra xem xét

tại phiên tòa với quá trình tranh tụng công khai, tích cực và bình đẳng giữa

những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng Bản án chỉ căn cứ vào những bằng chứng đã được xem xét tại phiên toà Như vậy, chỉ có kết luận trong bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án mới là kết quả cuối cùng của quá trình điều tra xử lý VAHS Tuy nhiên, quan điểm trên chỉ có ý nghĩa dưới góc độ lý luận, phục vụ công tác nghiên cứu về bản chất sâu xa của vấn

đề Thực tại cần phải hiểu theo quy định hiện hành của BLTTHS, có nghĩa rằng khởi tố, điều tra, truy tố xét xử và thi hành án là các giai đoạn độc lập trong quá trình TTHS [3, tr.l 1]

Mặc dù trong Lời nói đầu của BLTTHS nêu rõ Bộ luật này quy định về trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, có nghĩa là quá trình tiến hành TTHS được trải qua 5 giai đoạn Thế nhưng trên thực tế, vẫn còn có quan điểm hiểu chưa đúng về giới hạn của giai đoạn điều tra Những người có quan điểm này cho rằng: khởi tố

Trang 12

và điều tra VAHS là một giai đoạn, tức là điều tra VAHS được tiến hành từ khi có tin báo tố giác về tội phạm Đại diện cho quan điếm này là nội dung nêu trong luận văn thạc sỹ luật học của Nguyễn Thanh Hoè về đề tài quá trình chứng minh trong giai đoạn điều tra VAHS Quan điểm này là không hợp lý,

vì đã nhập giai đoạn khởi tố vào giai đoạn điều tra VAHS Trong khi đó giai đoạn khởi tố VAHS là giai đoạn độc lập, là giai đoạn đầu tiên của quá trình TTHS và đứng trước giai đoạn điều tra VAHS Giai đoạn này bắt đầu từ khi

có tin báo, tố giác về tội phạm và kết thúc sau khi CQĐT tiến hành các hoạt động kiểm tra, xác minh và kết luận bằng việc ra quyết định khởi tố VAHS hoặc quyết định không khởi tố VAHS Do vậy có thể có trường họp có giai đoạn khởi tố VAHS nhưng không có giai đoạn điều tra VAHS vì CQĐT kết luận không có vụ án xảy ra

Như đã nêu ở trên, các khái niệm về giai đoạn điều tra mặc dù còn có nhiều cách hiểu khác nhau, nhưng đa số các quan điểm đều cho ràng giới hạn của giai đoạn này cần phải được hiểu thống nhất là bắt đầu từ khi có quyết

định khởi tố VAHS và kết thúc khi có bản kết luận điều tra, đề nghị truy tố

hoặc quyết định đình chỉ điều tra VAHS

Chúng tôi cũng đồng ý với quan điểm trên, có nghĩa điều tra VAHS là giai đoạn TTHS độc lập với các giai đoạn khác, nó bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án và kết thúc khi có bản kết luận điều tra, đề nghị truy tổ hoặc quyết định đình chỉ điều tra VAHS

Chủ thể giai đoạn điều tra

Chủ thể của giai đoạn điều tra được hiểu là những cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành các hoạt động tố tụng, ra các quyết định tố tụng trong giai đoạn điều tra theo quy định của BLTTHS và Pháp lệnh TCĐTHS Theo

đó chủ thể tiến hành trong giai đoạn này trước hết là Thủ trưởng hoặc Phó thủ trưởng CQĐT và Điều tra viên được Thủ trưởng CQĐT phân công điều tra vụ

án Ngoài những người có chức danh như trên trong CQĐT chuyên trách được tổ chức trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, VKSNDTC, pháp

Trang 13

luật TTHS hiện hành còn trao quyền hạn tiến hành một số hoạt động điều tra cho Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các

cơ quan khác trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân trong những trường hợp nhất định đối với các loại tội phạm cụ thể (Điều 111 BLTTHS, Điều 19-

25 Pháp lệnh TCĐTHS)

Khi thực hiện việc điều tra VAHS, Thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQĐT

có nhiệm vụ và quyền hạn được quy định tại khoản 2 Điều 34 BLTTHS Sau khi có quyết định phân công điều tra VAHS, Điều tra viên có những nhiệm

vụ, quyền hạn được quy định tại Điều 35 BLTTHS

Mọi hoạt động điều tra trong giai đoạn điều tra VAHS đều phải chịu sự kiểm sát của VKS Đồng thời với chức năng kiểm sát điều tra, VKS còn có chức năng thực hành quyền công tố, trong đó có chức năng trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo BLTTHS Nhiệm vụ quyền hạn của VKS khi thực hành quyền công tổ và kiểm sát điều tra trong giai đoạn điều tra VAHS được quy định tại Điều 112, Điều 113 BLTTHS Như vậy, Viện trưởng, Phó

viện trưởng VKS và kiểm sát viên cũng là những người có chức năng, thẩm

quyền và nhiệm vụ trong giai đoạn điều tra VAHS

Mặc dù cơ quan Hải quan, Kiểm lâm, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát nhân dân và các cơ quan khác trong Quân đội nhân dân và Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra không phải là cơ quan điều tra, không phải là cơ quan tiến hành tố tụng nhưng do yêu cầu của công tác điều tra tội phạm và xuất phát từ tính đặc thù của địa bàn hoạt động và tính chât của công việc của các lực lượng nối trên, pháp luật TTHS quy định cho phép các cơ quan này được ra quyết định khởi tố vụ án và tiến hành một số hoạt động điều tra ban đầu trong thời hạn nhất định đối với một số loại tội phạm cụ thể trong từng trường hợp có đủ điều kiện mà BLTTHS đã quy định Riêng đối với lực lượng Kiểm lâm, Hải quan, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, pháp luật quy định được kết thúc điều tra và chuyển hồ sơ vụ án sang VKS cung cấp để đề nghị truy tố bị can trước pháp luật trong một thời gian

Trang 14

nhât định kế từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án Do vậy, các cơ quan này cũng là các cơ quan có những thẩm quyền nhất định trong giai đoạn điều tra khi chính các cơ quan này đã ra quyết định khởi tố VAHS đối với một số loại tội phạm cụ thể theo quy định của BLTTHS.

Những hoạt động tố tụng được tiến hành trong giai đoạn điều tra VAHS

th e o quy định của BLTTHS, sau khi vụ án đã được khởi tố, CQĐT được phép áp dụng các biện pháp điều tra để phát hiện, thu thập chứng cứ, chứng minh làm rõ các vấn đề cần phải chứng minh đối với VAHS theo nội dung Điều 63 BLTTHS Những hoạt động điều tra đó là: hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, người bị hại hoặc những người tham gia tố tụng khác, khám xét, khám nghiện hiện trường, khám nghiệm tử thi, đối chất, nhận dạng, xem xét dấu vết trên thi thể, trưng cầu giám định./Để đảm bảo cho việc điều tra được tiến hành khách quan, kịp thời, đảm bảo thời hạn và hiệu quả, BLTTHS còn cho phép CQĐT được phép áp dụng một số biện pháp ngăn

chặn đối với m ột số đối tượng trong những trường hợp cụ thể khi đảm bảo

điều kiện và căn cú áp dụng; được tiến hành một số hoạt động tố tụng khác hoặc ra các quyết định tố tụng có tính chất cưỡng chế như triệu tập bị can, triệu tập người làm chứng hoặc những người tham gia tố tụng khác đến CQĐT để lấy lời khai, quyết định dẫn giải người làm chứng, quyết định áp giải bị can

Đối với các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động được giao thì sau khi ra quyết định khởi tố vụ án chỉ được tiến hành một

số hoạt động điều tra ban đầu trong một khoảng thời gian nhất định chứ không có thẩm quyền tiến hành tất cả các hoạt động tố tụng nêu trên

Các hoạt động tố tụng và các hoạt động điều tra nói trên tạo điều kiện cho CQĐT hoàn thành nhiệm vụ xác định sự thật của vụ án đã được quy định tại Điều 10 BLTTHS

Trang 15

Từ những phân tích trên, chúng tôi đưa ra khái niệm về giai đoạn điều tra như sau: Điều tra VAHS là một giai đoạn trong quá trình tiến hành TTHS, được bắt đầu từ khi có Quyết định khởi tố VAHS và kết thúc khi có bản kết luận điều tra, đề nghị truy tố hoặc quyết định đình chỉ vụ án; do những người

có thẩm quyền tiến hành bằng việc áp dụng các biện pháp điều tra và hoạt động tổ tụng mà BLTTHS đã quy định để phát hiện, củng cố các chứng cứ chứng minh tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội, bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được khách quan, đúng đắn, đúng quy định của pháp luật

1.2 Vai trò và nhiệm vụ của giai đoạn điều tra vụ án hình sự.• • o • • •

Điều tra VAHS là giai đoạn không thể thiếu, có vị trí và vai trò rất quan trọng trong quá trình TTHS Hoạt động điều tra là cần thiết đối với tất cả các VAHS, thiếu hoạt động điều tra, VKS không có cơ sở để truy tố, Tòa án không có cơ sở để xét xử vụ án Để VKS có thể ra bản cáo trạng, truy tố đúng người phạm tội, Tòa án có thể xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật thì trước đó, giai đoạn điều tra phải thu thập được đầy đủ chứng cứ của vụ án, bao gồm cả chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội, chứng cứ xác định tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ TNHS của bị can, cũng như chứng cứ xác định các tình tiết khác của vụ án Nếu giai đoạn điều tra không thu thập được đầy đủ chứng cứ hoặc việc thu thập chứng cứ có những vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng thì VKS hoặc Tòa án sẽ trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung CQĐT có trách nhiệm điều tra bổ sung đáp ứng yêu cầu của VKS hoặc Toà

án Ngược lại, giai đoạn điều tra có vi phạm thủ tục TTHS hoặc thu thập chứng cứ không khách quan nhưng VKS và Toà án không phát hiện ra thì vụ

án sẽ bị oan, sai theo kết quả điều tra Điển hình là vụ án Bùi Minh Hải bị điều tra, truy tố, xét xử oan về tội giết người, cướp tài sản Sau này phát hiện

ra oan thì Toà án đổ lỗi cho VKS, VKS đổ lỗi cho CQĐT vì khi đó chưa có quy định về trách nhiệm VKS đối với các trường hợp khởi tố, bắt tạm giam không đúng và cũng chưa có Nghị quyết 388 của UBTVQH nên chưa có

Trang 16

quyết định xác định trách nhiệm bồi thường Điều đó cũng nói lên ảnh hưởng của giai đoạn điều tra đối với kết quả xử lý vụ án sau này.

Giai đoạn điều tra có các nhiệm vụ sau:

- Xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội: Tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội là những vấn đề cơ bản cần phải làm rõ trong VAHS Khi ra quyết định khởi tố vụ án, cơ quan có thẩm quyền khởi tố dựa trên cơ sở nguồn tin ban đầu về tội phạm được gửi tới nên mới có điều kiện xác định có dấu hiệu của tội phạm, còn cụ thể diễn biến của tội phạm ra sao, người nào thực hiện hành vi phạm tội, có đủ yếu tố cấu thành tội phạm hay không vẫn chưa được làm rõ Tất cả những vấn đề này thuộc về nhiệm vụ của giai đoạn điều tra Trong giai đoạn điều tra, CQĐT phải thu thập đầy đủ chứng cứ để xác định có hay không có việc phạm tội, đối chiếu với BLHS xem hành vi phạm tội thuộc vào điều khoản nào; phải xác định tất cả tội phạm

đê không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội Khi xác định có tội phạm xảy ra, CQĐT phải làm rõ ai là người thực hiện hành vi phạm tội; lỗi

của họ trong việc thực hiện tội phạm; động cơ, mục đích phạm tội; nếu là vụ

án đồng phạm, phải xác định rõ hành vi, vai trò từng người để làm cơ sở cho Tòa án xét xử được chính xác

- Xác định thiệt hại do tội phạm gây ra, tạo điều kiện cần thiết cho việc giải quyết vụ án: Mỗi tội phạm xảy ra đều để lại một hậu quả nguy hại nhất định cho xã hội Trong giai đoạn điều tra phải xác định đúng những thiệt hại

do tội phạm gây ra để đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội Những thiệt hại cần xác định bao gồm thiệt hại về vật chất, tinh thần và tài sản Đối với một số tội phạm cụ thể, hậu quả thiệt hại là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành cơ bản thì việc chứng minh làm rõ mức độ thiệt hại

là yêu cầu tất yếu Đối với những tội phạm không quy định mức độ hậu quả thiệt hại trong cấu thành cơ bản thì quá trình điều tra cũng vẫn phải chứng minh làm rõ Yêu cầu này đã được quy định trong Điều 63 BLTTHS

Trang 17

- Lập hồ sơ, đề nghị truy tố bị can: Đe ra quyết định truy tố và tiến hành xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, VKS và Tòa án phải dựa vào hồ

sơ vụ án Hồ sơ VAHS là tập hợp có hệ thống các văn bản, tài liệu được thu thập hoặc lập trong quá trình khởi tố, điều tra, được sắp xếp theo một trình tự nhất định, phục vụ cho việc giải quyết vụ án là lưu trữ lâu dài Nếu hồ sơ điều tra hình sự không đầy đủ, VKS sẽ gặp khó khăn trong việc đưa ra các quyết định và yêu cầu tố tụng trong và sau quá trình điều tra như khởi tố bổ sung, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn, thay đổi ĐTV, ra bản cáo trạng truy tố

bị can Hồ sơ VAHS có những vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng sẽ làm cho kết quả của hoạt động điều tra không chính xác, Tòa án không có cơ sở để xem xét ra bản án hoặc quyết định cần thiết

CQĐT phải lập hồ sơ ngay sau khi có quyết định khởi tố vụ án và thường xuyên củng cố hồ sơ để các tài liệu thu thập được hoặc các văn bản tố tụng được lập ra bảo đảm đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định Khi đã

có đầy đủ chứng cứ để xác định có tội phạm và bị can thì CQĐT có nhiệm vụ

làm bản kết luận điều tra trình bày diễn biến hành vi phạm tội, nêu rõ các

chứng cứ chứng minh tội phạm, những lý do và căn cứ đề nghị truy tố Bản kết luận điều tra đề nghị truy tố là cơ sở pháp lý xác định tội phạm và bị can

đề nghị truy tổ đã được điều tra và có đầy đủ chứng cứ để chứng minh Căn

cứ bản kết luận điều tra, VKS chỉ ra bản cáo trạng truy tố những bị can về các tội phạm đã được điều tra có đủ chứng cứ chứng minh Những tội phạm và bị can chưa được điều tra làm rõ sẽ không bị truy tố

- Xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa: Trong giai đoạn điều tra, một trong những nhiệm vụ không kém phần quan trọng là xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội để phòng ngừa tội phạm Thực hiện nhiệm vụ này, trong quá trình điều tra tội phạm, CQĐT phải tìm ra được nguyên nhân và điều kiện thúc đẩy việc thực hiện tội phạm Nếu tội phạm

Trang 18

phát sinh do thiếu sót của cơ quan, tổ chức thì yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa.

Điều tra là giai đoạn thu thập chứng cứ để chứng minh tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội, xác định tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra Khi tội phạm xảy ra, do mới có một số tài liệu xác định dấu hiệu của tội phạm nên quyết định khởi tố vụ án của cơ quan có thẩm quyền mới chỉ sơ bộ xác định đuợc tội danh qua biểu hiện ở mặt khách quan của tội phạm mà phần lớn chưa xác định ngay được người phạm tội Sau khi khởi tố

vụ án, CQĐT được áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng theo quy định của BLTTHS để thu thập tài liệu, chứng cứ Bằng việc áp dụng các biện pháp cưõng chế tố tụng và tiến hành các hoạt động điều tra, CQĐT thu thập được đầy đủ các tài liệu, chứng cứ để xác định có tội phạm xảy ra hay không, nếu

có thì đó là tội gì, thời gian, địa điểm và các tình tiết khác của hành vi phạm tội Trong trường họp xác định được tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội xảy ra hoặc còn có thêm tội phạm khác thì CQĐT ra quyết

định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố YAHS Cũng bằng hệ thống tài

liệu, chứng cứ đã thu thập được, chẳng những CQĐT xác định đúng tội phạm

đã xảy ra mà còn làm rõ người phạm tội đã thực hiện hành vi như thế nào, có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực TNHS hay không, mục đích, động cơ phạm tội Cũng qua việc tiến hành điều tra, CQĐT còn có điều kiện làm rõ mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra để xác định tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội và làm cơ sở cho việc giải quyết bồi thường thiệt hại

Kết quả điều tra là cơ sở để VKS quyết định truy tố bị can trước Tòa án hoặc quyết định đình chỉ vụ án Kết thúc điều tra, nếu có căn cứ xác định tội phạm và bị can, CQĐT làm bản kết luận điều tra đề nghị truy tố VKS chỉ có thể quyết định việc truy tố bị can khi vụ án đã được điều tra, có bản kết luận điều tra cùng quyết định đề nghị truy tố của CQĐT Qua nghiên cứu hồ sơ vụ

án nếu xét thấy vụ án chưa được điều tra hoặc điều tra không đầy đủ mà VKS

Trang 19

tự mình không có khả năng bổ sung được thì không thể quyết định truy tố bị can và hồ sơ phải được trả lại để điều tra bổ sung.

Kết quả điều tra là cơ sở để Tòa án xét xử đúng người, đúng tội Tòa án chỉ có thể xét xử vụ án trên cơ sở vụ án đã được điều tra, lập hồ sơ và có quyết định truy tố bằng bản cáo trạng của VKS Thiếu hoạt động điều tra, không có hồ sơ vụ án, Tòa án không có cơ sở xét xử Kết quả hoạt động điều tra càng cụ thể, chính xác, càng thu thập được đầy đủ các chứng cứ xác định tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ TNHS của bị can, cũng như chứng cứ xác định các tình tiết khác của vụ án thì càng tạo điều kiện cho Tòa án xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Nếu điều tra chưa thu thập được đầy đủ chứng cứ hoặc việc thu thập chứng cứ có những vi phạm nghiêm trọng thủ tục

tổ tụng thì Tòa án không thể đưa ra xét xử mà phải trả lại hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung

Điều tra VAHS là chức năng quan trọng trong hoạt động tư pháp hình sự của cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền đối với mỗi hành vi phạm tội

nhằm trực tiếp chứng minh hành vi phạm tội và người có lỗi trong việc thực

hiện tội phạm thông qua các chứng cứ đã thu thập được, đồng thời cũng là một trong những phương tiện cơ bản để thực hiện tốt nguyên tắc không tránh khỏi trách nhiệm trong thực tiễn áp dụng pháp luật TTHS, tránh bỏ lọt tội phạm Điều tra VAHS đạt hiệu quả, đảm bảo khách quan sẽ góp phần ngăn chặn những tiêu cực có thể xảy ra trong các giai đoạn TTHS tiếp theo và hồ

sơ VAHS là tài liệu làm cơ sở để giải quyết những trường hợp khiếu nại, tố cáo về tiêu cực, gây oan, sai, bỏ lọt tội phạm ở các giai đoạn truy tố và xét xử

vụ án (như truy tố của VKS sai hoặc xét xử của Toà án không khách quan, vô căn cứ, trái pháp luật, làm oan người vô tội) Điều tra VAHS còn là một giai đoạn TTHS quan trọng góp phần tăng cường pháp chế XHCN, bảo vệ quyền

và lợi ích cơ bản của công dân, cùng với các giai đoạn TTHS khác góp phần

có hiệu quả vào cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm trong toàn xã hội!

Trang 20

KÉT LUẬN CHƯƠNG I

Trên cơ sở nghiên cứu những quy định của BLTTHS và lý luận chuyên ngành về các nội dung của giai đoạn điều tra VAHS như chủ thể, giới hạn, mục đích cho phép đưa ra một số nhận thức chung về giai đoạn điều tra VAHS như sau: Điều tra VAHS là giai đoạn độc lập bên cạnh các giai đoạn khác trong quá trình tiến hành TTHS, nó được bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án và kết thúc khi có bản kết luận điều tra, đề nghị truy tố hoặc quyết định đình chỉ vụ án Trong giai đoạn này CQĐT căn cứ vào các quy định của pháp luật TTHS và dưới sự kiểm sát của VKS tiến hành các biện pháp (điều tra, ngăn chặn) cần thiết nhằm thu thập và củng cố các chứng cứ chứng minh tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội và bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được khách quan, đúng đắn Điều tra VAHS là một trong những giai đoạn quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án, nó có nhiệm vụ xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội; xác định thiệt hại do tội phạm gây ra, tạo điều kiện cần thiết cho việc giải quyết các vấn đề về dân

sự đối với vụ án; lập hồ sơ, đề nghị truy tố bị can; xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa Kết quả điều tra là cơ sở để VKS quyết định truy tố bị can trước Tòa án hoặc quyết định đinh chỉ vụ án; để Tòa án xét xử đúng người, đúng tội Điều tra VAHS là chức năng quan trọng trong hoạt động tư pháp hình sự, cùng với các giai đoạn TTHS khác góp phần vào công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm

Trang 21

CHƯƠNG II

QUY ĐỊNH CỦA LUẬT TÓ TỤNG HÌNH s ự• • • •

VIỆT NAM VÈ GIAĨ ĐOẠN ĐIÈU TRA v ụ ÁN HÌNH s ự• • •

VÀ NHỮNG VƯỚNG MẮC TRONG THựC TÉ ẢP DỤNG

BLTTHS và Pháp lệnh TCĐTHS quy định nhiều nội dung có liên quanđến giai đoạn điều tra VAHS Trong phạm vi chương này, chúng tôi chỉ nghiên cứu những quy định có liên quan đến việc tiến hành những hoạt động điều tra mà trong thực tế có những khó khăn vướng mắc để làm cơ sở cho việc đưa ra một số kiến nghị khi hoàn thiện quy định của pháp luật TTHS

Pháp luật TTHS phân chia thẩm quyền điều tra theo cơ quan chức năng

và thẩm quyền điều tra theo lãnh thổ Điều 110 BLTTHS quy định về thẩm

quyền điều tra như sau:

Thẩm quyền điều tra theo cơ quan chức năng: CQĐT trong Công an nhân dân điều tra tất cả các tội phạm, trừ những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của CQĐT trong Quân đội nhân dân và CQĐT của VKSNDTC CQĐT trong Quân đội nhân dân điều tra các tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự CQĐT của VKSNDTC điều tra một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp

CQĐT cấp huyện, CQĐT quân sự khu vực điều tra những VAHS về những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp huyện, Toà quân sự khu vực; CQĐT cấp tỉnh, CQĐT quân sự cấp quân khu điều tra những VAHS về những tội phạm thuộc thẩm quyền x ố t xử của Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án quân sự cấp quân khu hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền điều tra của CQĐT cấp dưới nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra CQĐT cấp trung ương điều tra nhữrig VAHS về những tội phạm đặc biệt

2.1 Quy định chung về điều tra

Trang 22

nghiêm trọng, phức tạp thuộc thẩm quyền điều tra của CQĐT cấp tỉnh, CQĐT quân sự cấp quân khu nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra.

Thẩm quyền điều tra theo lãnh thổ: CQĐT có thẩm quyền điều tra những VAHS mà tội phạm xảy ra trên địa phận của mình Trong trường hợp không xác định được địa điểm xảy ra tội phạm thì việc điều tra thuộc thẩm quyền của CQĐT nơi phát hiện tội phạm, nơi bị can cư trú hoặc bị bắt

Bên cạnh các cơ quan trên, Điều 111 BLTTHS cũng quy định quyền hạn điều tra của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển

và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Khi phát hiện những hành vi phạm tội đến mức phải truy cứu TNHS trong lĩnh vực quản lý của mình thì

Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển có thẩm quyền: Đối với tội phạm ít nghiêm trọng trong trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ và lai lịch người phạm tội rõ ràng, thì ra quyết định khởi tố VAHS, khởi tố bị can, tiến hành điều tra và chuyển hồ sơ cho VKS có thẩm quyền

trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án Đối với

tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm ít nghiêm trọng nhưng phức tạp thì ra quyết định khởi tố vụ án, tiến hành những hoạt động điều tra ban đầu và chuyển hồ sơ cho CQĐT có thẩm quyền trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án

Trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, ngoài các CQĐT quy định tại Điều 110 của BLTTHS, các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong khi làm nhiệm vụ của mình, nếu phát hiện sự việc có dấu hiệu tội phạm, thì có quyền khởi tố vụ án, tiến hành những hoạt động điều tra ban đầu và chuyển hồ sơ cho CQĐT có thẩm quyền trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án

Khi tiến hành hoạt động điều tra, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra

Trang 23

trong phạm vi thẩm quyền tố tụng của mình phải thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự, thủ tục tố tụng đổi với hoạt động điều tra theo quy định của BLTTHS VKS có trách nhiệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điêu tra của các cơ quan này Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể trong hoạt động điều tra của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biên và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cũng đã được quy định cụ thể trong Pháp lệnh TCĐTHS.

Theo chúng tôi, tính họp lí của việc trao cho các cơ quan trển quyền hạn điều tra như hiện nay cần phải xem xét lại vì một số lí do sau: Thứ nhất, lực lượng, phương tiện phục vụ công tác điều tra hiện có của các cơ quan này chưa thể đáp ứng yêu cầu thực tiễn điều tra; Thứ hai, các hành vi phạm tội thuộc thẩm quyền điều tra của các cơ quan trên dù thuộc loại ít nghiêm trọng nhưng không thể nói là luôn đơn giản; Thứ ba, xét dưới góc độ tổ chức lao động thì việc giao cho một cơ quan không phải là chuyên trách thực hiện một

công việc có tính phức tạp và hệ trọng cao là hoàn toàn không khoa học, thậm

chí khá mạo hiểm; Thứ tư, quy định như trên là trái với tinh thần “cơ quan điều tra tiến hành điều tra tất cả các tội phạm” đã được thừa nhận như một lẽ đương nhiên, tất yếu

Quy định của BLTTHS về thẩm quyền điều tra cũng gặp một số khó khăn vướng mắc trong quá trình áp dụng như trường hợp bị can phạm tội ở các địa phương khác nhau, CQĐT địa phương nào phát hiện thì chỉ khởi tố bị can về hành vi phạm tội ở địa phương mình, chứ không chuyển hồ sơ cho các địa phương khác Trường hợp nhiều địa phương cùng điều tra một thời điểm thì sẽ gặp khó khăn, nhất là trường hợp bị can đang bị tạm giam ở địa phương này nhưng cũng bị CQĐT của địa phương khác điều tra

Giữa cơ quan Cảnh sát điều tra và CQĐT trong Quân đội nhân dân cũng gặp khó khăn trong việc xác định thẩm quyền điều tra khi vụ án có nhiều bị

Trang 24

can phạm tội có tổ chức trong đó có một số bị can là người do quân đội quản

lý và một số bị can là công dân hoặc cán bộ trong cơ quan Nhà nước

Giữa CQĐT cấp trên và CQĐT cấp dưới cũng có vướng mắc, trong một

số trường hợp khi bước đầu điều tra thì vụ án thuộc thẩm quyền điều tra của CQĐT cấp dưới, nhưng sau một thời gian điều tra mở rộng thấy vụ án phức tạp nên muốn chuyển lên CQĐT cấp trên điều tra để đảm bảo hiệu quả Nhưng vì hiện nay đã mở rộng thẩm quyền điều tra nên vẫn thuộc thẩm quyền điều tra của CQĐT cấp dưới, do đó CQĐT cấp trên không nhận Lý do là mặc

dù luật quy định CQĐT cấp trên có thẩm quyền điều tra các VAHS thuộc thẩm quyền điều tra của CQĐT cấp dưới khi xét thấy cần thiết phải lấy lên để điều tra, nhưng việc chuyển vụ án lại phải do VKS quyết định, CQĐT cấp trên không tự mình quyết định được, hơn nữa như thế nào là trường hợp xét thấy cần thiết CQĐT cấp trên phải trực tiếp điều tra thì đến nay vẫn chưa có hướng dẫn hoặc giải thích

Trên thực tế giữa các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt

động điều tra với CQĐT chuyên trách cũng có một số vướng mắc về thẩm

quyền Trong trường hợp khi cơ quan khác xác định có dấu hiệu tội phạm mặc dù có thẩm quyền khởi tố nhưng vì CQĐT chuyên trách ở gần đó nên đề nghị CQĐT chuyên trách khởi tố điều tra, nhưng CQĐT chuyên trách không tiếp nhận mà yêu cầu cơ quan khác cứ khởi tố, điều tra ban đầu theo thẩm quyền

Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền điều tra.

Mặc dù BLTTHS đã có quy định cụ thể về giải quyết tranh chấp thẩm quyền điều tra, đó là:

Khi có tranh chấp về thẩm quyền điều tra giữa các CQĐT thì Viện trưởng VKSND cùng cấp nơi tội phạm xảy ra hoặc nơi phát hiện tội phạm quyết định Các CQĐT phải thực hiện quyết định của VKS về xác định thẩm quyền điều tra

Khi có tranh chấp về thâm quyền điểu tra giữa các đơn vị trong cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ công an thì Thủ trưởng cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ

Trang 25

công an quyết định; khi có tranh chấp về thẩm quyền điều tra giữa các đơn vị trong cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh thì Thủ trưởng cơ quan Cảnh sát điều tra cấp tỉnh quyết định; khi có tranh chấp về thẩm quyền điều tra giữa các đơn vị trong cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện thì Thủ trưởng cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện quyết định.

Khi có tranh chấp về thẩm quyền điều tra giữa Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển thì Viện trưởng VKS có thẩm quyền nơi xảy ra vụ án quyết định

Quy định trên nói đến thẩm quyền giải quyết tranh chấp, còn cách giải quyết như thế nào cho đúng thì vẫn chưa có quy định Cụ thể là khi gặp những trường hợp vướng mắc về thẩm quyền điều tra như trên, thì người có thẩm quyền giải quyết cũng khó giải quyết vì luật chưa quy định cụ thể Lúc

đó, người có thẩm quyền chỉ dùng quyền của mình để quyết định chứ không

có tiêu chí nào để đưa ra làm căn cứ quyết định Do vậy, tình trạng trên cần phải được quy định cụ thể trong luật

2.1,2 Thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam để điều tra.

Thời hạn điều tra.

Thời hạn điều tra là thời gian do pháp luật quy định để CQĐT tiến hành điều tra vụ án nhằm xác định tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội và các tình tiết khác của vụ án Thời hạn điều tra được tính từ khi khởi tố vụ án cho đến ngày kết thúc điều tra Trong trường hợp CQĐT tiếp nhận vụ án từ CQĐT khác hoặc đơn vị Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan, cơ quan Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển thì thời hạn điều tra cũng được tính từ ngày cơ quan đó ra quyết định khởi tố VAHS

Đe việc điều tra được tiến hành khẩn trương, nhanh chóng cũng như để bảo đảm lợi ích hợp pháp của bị can và những người tham gia tố tụng, tại Điều 119 BLTTHS quy định thời hạn điều tra VAHS không được quá hai tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá ba tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá bốn tháng đổi với tội phạm rất nghiêm trọng và tội

Trang 26

phạm đặc biệt nghiêm trọng Nếu do tính chất phức tạp của vụ án cần phải có thêm thời gian để điều tra thì trong thời hạn mười ngày trước khi hết thời hạn điều tra, CQĐT phải làm văn bản đề nghị Viện trưởng VKS gia hạn điều tra Việc gia hạn được quy định như sau: Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể

được gia hạn điều tra một lần không quá hai tháng; đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, lần thứ nhất không quá ba tháng và lần thứ hai không quá hai tháng; đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, mỗi lần không quá bốn tháng; đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra ba lần, mồi lần không quá

bôn tháng Thẩm quyền gia hạn điều tra của VKS được quy định cụ thể tại khoản 3 Điều 119 BLTTHS

Như vậy, thời hạn điều tra tối đa (kể cả gia hạn) đối với tội phạm ít nghiêm trọng là không quá bốn tháng, tội phạm nghiêm trọng là không quá tám tháng, tội phạm rất nghiêm trọng là không quá mười hai tháng và tội

phạm đặc biệt nghiêm trọng là không quá mười sáu tháng Quy định này đòi

hỏi CQĐT phải nâng cao chất lượng công tác điều tra, nâng cao trình độ

nghiệp vụ, pháp luật cho cán bộ điều tra, sử dụng đồng bộ các biện pháp điều tra do BLTTHS quy định để bảo đảm việc kết thúc điều tra đúng thời hạn.Mặc dù luật TTHS quy định về thời hạn điều tra cụ thể như vậy, nhưng trên thực tế vẫn có CQĐT và VKS thực hiện không nghiêm túc, dẫn đến vi phạm thời hạn điều tra Quy định trên đây phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 104 BLTTHS là quyết định khởi tố VAHS phải ghi rõ điều, khoản của BLHS được áp dụng, bởi vì trong cùng một điều luật quy định về tội phạm nào đó nhưng mỗi khoản là một loại tội phạm tương ứng với dấu hiệu về mặt khách quan và mức độ hình phạt đã được quỵ định Thế nhưng trên thực tế, nhiều trường họp trong quyết định khởi tố không ghi rõ khởi tố theo khoản nào của điều luật, điều đó đồng nghĩa với việc không xác định được vụ án đã khởi tố thuộc loại tội phạm nào, thậm chí có người còn đề nghị sửa đổi quy định của BLTTHS là không cần quy định ghi điều, khoản của BLHS mà chỉ

Trang 27

cần ghi điều của BLHS được áp dụng là đủ Mặc khác, vì luật quy định VKS chỉ kiếm sát việc khởi tố, tức là thấy khởi tố vụ án là đúng trên cơ sở có dấu hiệu của tội phạm thì đồng ý và không có ý kiến gì Trong khi đó quyết định khởi tố không ghi rõ là loại tội phạm nào (ít nghiêm trọng hay nghiêm trọng ) để xác định thời hạn điều tra thì luật chưa quy định VKS phải có trách nhiệm xác định thời hạn điều tra cho CQĐT Điều đó dẫn đến tình trạng

vụ án về một tội và trong quá trình điều tra sẽ khởi tố thêm các tội phạm khác (khởi tố bổ sung hoặc khởi tố vụ án mới và nhập vào) hoặc 2- Khởi tố cùng một lúc tất cả các tội phạm đã phát hiện được, v ấn đề đặt ra là thời hạn điều

tra đối với các vụ án được khởi tố trong hai tình huống trên được xác định

như thế nào?

v ề thời hạn điều tra chung của vụ án trong tình huống thứ nhất, đã được điều chỉnh bởi quy định tại mục 18.2 Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT- VKSTC-BCA-BQP ngày 07/09/2005 của VKSNDTC, Bộ Công an và Bộ quốc phòng như sau: Trường hợp đang điều tra vụ án mà lại khởi tố điều tra

bổ sung về một tội phạm khác thì việc điều tra đối với các hành vi phạm tội trong vụ án được thực hiện đồng thời và thời hạn điều tra được tính tiếp kể từ khi ra quyết định khởi tố đối với hành vi phạm tội sau cho đến khi kết thúc điều tra với tất cả các hành vi phạm tội theo quy định tại Điều 119 BLTTHS Minh họa về quy định này Thông tư đã nêu ví dụ: Đang điều tra vụ án trộm cắp thuộc loại tội ít nghiêm trọng được hai tháng, sau đó khởi tố bổ sung để điều tra bị can này về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng thuộc loại tội ít nghiêm trọng thì thời hạn điều tra chung của vụ án được tính tiếp, kể từ khi ra

Trang 28

quyết định khởi tố vụ án về tội lừa đảo Quy định trên chứng tỏ trong tình huống khởi tố bổ sung, thời hạn điều tra chung của vụ án sẽ là thời gian mà CQĐT đã dùng để tiến hành điều tra đổi với hành vi phạm tội đã khởi tố cộng với thời hạn điều tra của hành vi phạm tội mới được khởi tố thêm.

Trong trường hợp CQĐT khởi tố VAHS nhiều hành vi phạm tội cùng một thời điểm thì thời hạn điều tra chung của vụ án được xác định như thế nào? Trong thực tiễn, ở tình huống này, thời hạn điều tra chung của vụ án được xác định là thời hạn điều tra theo quy định tại khoản 1 Điều 1 ỉ 9 BLTTHS của tội phạm nặng nhất trong vụ án đó Các yếu tố của vụ án “có nhiều bị can” hay bị can “phạm nhiều tội” đều được coi là “tính chất phức tạp” và chỉ được dùng làm căn cứ để CQĐT đề nghị cũng như căn cứ để VKS quyết định gia hạn điều tra khi cần thiết Yếu tố “tính chất phức tạp” của vụ

án (là căn cứ để gia hạn được quy định tại khoản 2 Điều 119 BLTTHS), bản thân nó có thể xuất hiện ở bất kỳ vụ án nào, kể cả những vụ án chỉ có một tội phạm Vì vậy không nên đồng nghĩa “tính chất phức tạp” với nội dung “nhiều

bị cạn” hay bị can “phạm nhiều tộ i” như cách hiểu hiện nay Hơn nữa trong

quá trình điều tra nếu CQĐT chỉ khởi tố một tội phạm để tiến hành điều tra và khi hết (hoặc gần hết) thời hạn điều tra, sẽ khởi tố bổ sung thì lại được tính tiếp thời hạn điều tra đối với tội phạm mới khởi tố, ngược lại nếu khởi tố cùng một lúc tất cả các tội phạm thì thời hạn điều tra lại chỉ được tính theo tội phạm nặng nhất Đó là những bất cập trong quy định của BLTTHS và hướng dẫn của liên ngành

Cách xác định thời hạn điều tra như trên bộc lộ nhiều bất cập về lý luận cũng như thực tiễn Quy định tại khoản 1 Điều 119 BLTTHS chỉ mang tính nguyên tắc và quy định cho vụ án đối với từng tội phạm chứ không phải là đối với vụ án nói chung Do vậy, nếu lấy thời hạn điều tra tối đa của tội phạm nặng nhất làm thời hạn điều tra chung của vụ án có nhiều hành vi phạm tội khác nhau là không đúng tinh thần của điều luật Mặc khác, đối với vụ án có nhiều tội phạm thì CQĐT cần phải có một khoảng thời gian dài hơn, so với vụ

Trang 29

án chỉ có một tội phạm cùng loại để hoàn thành điều tra Như vậy, phải chăng thời hạn điều tra của VAHS có nhiều tội phạm phải được xác định là không quá tổng thời hạn điều tra của tất cả các tội phạm đã khởi tố theo quy định tại khoản 1 Điều 119 BLTTHS?

Thời hạn tạm giam để điều tra

Thời hạn tạm giam để điều tra là thời hạn do pháp luật quy định được tạm giam bị can để phục vụ cho việc điều tra vụ án Vì biện pháp tạm giam là biện pháp ngăn chặn rất nghiêm khắc, cách ly người bị tạm giam với xã hội bên ngoài, hạn chế quyền tự do thân thể và các quyền cơ bản khác của công dân nên thời hạn tạm giam được pháp luật quy định rất rõ ràng Theo quy định tại Điều 120 BLTTHS thì thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá hai tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá ba tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá bốn tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Trong trường họp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, cần phải có thời gian dài hơn cho việc điều tra và không có

căn cứ thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp tạm giam thì chậm nhất là mười ngày

trước khi hết hạn tạm giam, CQĐT phải có văn bản đề nghị VKS gia hạn tạm giam Thời hạn gia hạn tạm giam đối YỚi từng loại tội phạm cụ thể như sau: đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá một tháng; đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, lần thứ nhất không quá hai tháng và lần thứ hai không quá một tháng; đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, lần thứ nhất không quá ba tháng, lần thứ hai không quá hai tháng; đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam ba lần mỗi lần không quá bốn tháng Việc gia hạn tạm giam thuộc thẩm quyền của VKS các cấp và được quy định cụ thể tại Điều 120 BLTTHS

Như vậy, thời hạn tạm giam để điều tra tối đa (kể cả gia hạn) đối với tội phạm ít nghiêm trọng là ba tháng, đối với tội phạm nghiêm trọng là sáu tháng, đối với tội phạm rất nghiêm trọng là chín tháng, đối với tội phạm đặc biệt

Trang 30

nghiêm trọng là mười sáu tháng Riêng đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia

có thể đến hai mươi tháng Khi áp dụng biện pháp tạm giam, CQĐT phải thường xuyên kiểm tra các điều kiện, căn cứ tạm giam, nếu xét thấy không cần thiết phải tiếp tục tạm giam thì CQĐT phải kịp thời đề nghị VKS huỷ bỏ việc tạm giam để trả tự do cho người bị tạm giam hoặc xét cần thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác Khi đã hết thời hạn tạm giam thì người ra lệnh tạm giam phải trả tự do cho người bị tạm giam hoặc xét cần thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác

Thời hạn tạm giam được pháp luật quy định rõ ràng như thế nhưng đối với những trường hợp án bị điều tra kéo dài vi phạm thời hạn điều tra thì thời hạn tạm giam hầu như không còn ý nghĩa Có nghĩa là thời hạn tạm giam cũng sẽ bị vi phạm kéo dài theo Trên thực tế đã có trường hợp bị can của vụ

án bị điều tra kéo dài, vi phạm thời hạn điều tra đã phải bị tạm giam quá hạn hết năm này qua năm khác để chờ kết quả xử lý của các cơ quan tiến hành tố tụng Rõ ràng biện pháp tạm giam trong những trường hợp nói trên thực tế

không còn là tạm nữa mà gần như trở nên vô thời hạn, vi phạm nghiêm trọng

quy định của BLTTHS Một người phạm tội sau năm năm (đối với tội ít nghiêm trọng), mười năm (tội nghiêm trọng) hay mười lăm năm (tội rất nghiêm trọng) nếu không bị phát hiện thì được miễn truy cứu TNHS, nghĩa là pháp luật còn dành cho họ điểm dừng nhất định Vậy thì không lý gì mà những bị can trong trường họp chứng cứ chưa vững chắc lại có thể bị tạm giam kéo dài, thậm chí tạm giam vô thời hạn

Thời hạn tạm giam, gia hạn tạm giam được chia nhỏ theo tính chất tội phạm như trong luật là không phù hợp với địa phương có nhiều phức tạp Trong một vụ án có nhiều bị can (có thể đồng phạm hoặc không có đồng phạm), thời hạn điều tra chung cho vụ án thì được xác định theo loại tội phạm nghiêm trọng nhất (thường là của bị can đầu vụ) nhưng thời hạn tạm giam thì được xác định theo loại tội phạm mà mỗi bị can phạm phải, như vậy sẽ có trường hợp thời hạn điều tra chung chưa kết thúc nhưng thời hạn tạm giam

Trang 31

đối với một số bị can đã hết nên phải trả tự do cho họ hoặc áp dụng biện pháp ngăn chặn khác thay thế, nếu bị can được trả tự do mà bỏ trốn thì sẽ gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án Ngược lại, có trường hợp chưa hết thời hạn tạm giam bị can nhưng thời hạn điều tra vụ án đã hết cho nên CQĐT phải kết thúc điều tra để chuyển hồ sơ vụ án và bị can sang VKS để xử lý tiếp.

Theo mục 10 của Thông tư 05 của liên ngành Tư pháp TW có hướng dẫn

về cách tính thời hạn điều tra trong trường hợp chuyển vụ án Tuy nhiên, Thông tư này lại không hướng dẫn về thời hạn tạm giam trong trường họp chuyển vụ án? Hơn nữa thời hạn điều tra trong trường hợp nhập hoặc tách vụ

án cũng chưa có hướng dẫn nên việc tạm giam trong các trường họp này cũng gặp khó khăn khi áp dụng

Điều 94 BLTTHS quy định: “Đối với những biện pháp ngăn chặn do Viện kiểm sát phê chuẩn thì việc huỷ bỏ hoặc thay thế phải do Viện kiểm sát quyết định” Ngoài ra Điều 120 BLTTHS nêu cụ thể là trong khi tạm giam, nếu xét thấy không cần thiết phải tiếp tục tạm giam thì CQĐT phải kịp thời đề nghị VKS huỷ bỏ việc tạm giam để trả tự do cho người bị tạm giam hoặc xét cần thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác Khi đã hết thời hạn tạm giam thì người ra lệnh tạm giam phải trả tự do cho người bị tạm giam hoặc xét thấy cần thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác Theo nội dung của hai điều luật trên, hiện nay trên thực tế có hai cách hiểu khác nhau: Ý kiến thứ nhất cho rằng mọi trường hợp tạm giam, gia hạn đều được VKS phê chuẩn mới có hiệu lực thi hành đương nhiên khi huỷ bỏ, thay thế, chấm dứt cũng phải để VKS quyết định Ý kiến thứ hai cho rằng VKS chỉ có quyền quyết định khi thời hạn tạm giam chưa hết; còn khi đã hết hạn theo phê chuẩn thì CQĐT tự quyền quyết định, chỉ cần trao đổi trước với VKS Việc hiểu như trên có nguy cơ dẫn đến tranh chấp “quyền anh, quyền tôi”, ngược lại khi có sai phạm trong

áp dụng, chấm dứt biện pháp ngăn chặn dẫn tới bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan người vô tội sẽ khó xác định được trách nhiệm cụ thể của từng cơ quan tố tụng Để khắc phục, các chuyên gia pháp luật của VKSNDTC và Bộ Công an cho rằng nên thống nhất áp dụng theo quan điểm thứ hai Tuy nhiên trên thực

Trang 32

tế vẫn còn có VKS địa phương ra văn bản đề nghị CQĐT phải xin ý kiến VKS trước khi trả tự do hoặc áp dụng biện pháp ngăn chặn khác đối với bị can đã hết thời hạn tạm giam Vì vướng mắc trong thực tiễn này có liên quan đến thâm quyền giải thích luật, cho nên thời gian tới liên ngành các cơ quan tiến hành tố tụng ở TW phải ra văn bản chung hướng dẫn hoặc kiến nghị Ưỷ ban Thường vụ Quốc hội giải thích chính thức.

Có một vấn đề đặt ra ở đây, Điều 120 BLTTHS quy định về thời hạn tạm giam để điều tra (kể cả đã gia hạn) đối với tội phạm ít nghiêm trọng tối đa không quá ba tháng; đối với tội phạm nghiêm trọng tối đa không quá sáu tháng; đối với tội phạm rất nghiêm trọng tối đa không quá chín tháng; đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng tối đa không quá mười sáu tháng Theo như quy định trên thì chỉ có trường hợp tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì thời hạn điều tra bằng thời hạn tạm giam, còn lại các loại tội phạm khác thời hạn tạm giam bị can ngắn hơn thời hạn điều tra Tạm giam là biện pháp ngăn chặn

để giúp CQĐT ngăn chặn người phạm tội bỏ trốn hoặc gây khó khán cho việc điều tra VAHS Chính vì vậy, thời hạn tạm giam để điều tra phải phù hợp với thời hạn điều tra Thời hạn điều tra VAHS ít hơn thời hạn tạm giam bị can sẽ dẫn đến tình trạng vụ án chưa điều tra xong, nhưng đã phải trả tự do cho bị cáo bởi hết thời hạn tạm giam Điều này dễ dẫn đến tình trạng bị can được trả

tự do hoặc được áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác không phải là tạm giam sẽ có điều kiện bỏ trốn, tiêu huỷ tài liệu chứng cứ liên quan đến vụ án

mà bị cáo cất g iữ và gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án Nhưng nếu hết thời hạn tạm giam mà CQĐT không trả tự do cho bị can là vi phạm pháp luật Hạn chế này của pháp luật TTHS làm cho CQĐT muốn không vi phạm pháp luật thì khi sắp hết thời hạn tạm giam, CQĐT dù chưa hoàn tất công việc điều tra nhưng cũng đưa ra kết luận và chuyển hồ sơ sang VKS, sau đó do hồ

sơ chưa hoàn chỉnh VKS trả lại hồ sơ và yêu cầu điều tra bổ sung Như vậy, thời hạn điều tra VAHS phải kéo dài chỉ vì thời hạn điều tra và thời hạn tạm giam bị can đề điều tra không phù hợp với nhau Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trả hồ sơ giữa các cơ quan tố tụng còn cao

Trang 33

2.2 Quy định về căn cứ áp dụng, đối tượng áp dụng và thẩm quyền

áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra.

Những biện pháp ngăn chặn là một trong những nhóm của biện pháp cưỡng chế, những biện pháp ngăn chặn mang tính cưỡng chế nghiêm khắc để kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội, ngăn ngừa người phạm tội, bị can tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc gây khó khăn cho việc điều tra Những biện pháp ngăn chặn khi được áp dụng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác

Vì áp dụng biện pháp ngăn chặn có ý nghĩa to lớn, ảnh hưởng đến quyền

cơ bản của công dân nên các biện pháp ngăn chặn được quy định rất cụ thể Pháp luật TTHS quy định nhiều biện pháp ngăn chặn khác nhau, bao gồm: Bắt người, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh và đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm Nhưng trong mục này, chúng tôi không đi sâu nghiên cứu tất cả các biện pháp ngăn chặn mà chỉ nghiên cứu những biện pháp ngăn chặn mà trong thực tế áp dụng gặp nhiều vướng mắc Đó là các

biện pháp: Bắt người, tạm giữ, tạm giam

B ắt người.

Bắt người là biện pháp ngăn chặn tạm thời hạn chế quyền bất khả xâm phạm về thân thể - một trong những quyền tự do cá nhân rất quan trọng của con người, được Hiến pháp quy định và bảo đảm thực hiện Vì vậy, cần phải hết sức thận trọng khi quyết định việc bắt Việc bắt người đúng pháp luật sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, ngăn chặn kịp thời những hành vi trốn tránh pháp luật, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án của người phạm tội, bảo đảm cho việc điều tra được thuận lợi Ngược lại việc bắt người không đúng pháp luật sẽ gây tác hại nhiều mặt như xâm phạm quyền tự do thân thể của công dân, làm giảm uy tín của CQĐT, gây hoang mang trong dư luận

Trang 34

Trong giai đoạn điều tra VAHS có các trường hợp bắt người sau: 1- Bắt

bị can để tạm giam; 2- Bắt người trong trường hợp khẩn cấp; 3- Bắt người đang bị truy nã

- Đối với biện pháp bắt bị can để tạm giam: BLTTHS chưa quy định trực tiếp căn cứ áp dụng biện pháp này, nhưng có quy định căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam tại Điều 88 BLTTHS Tuy nhiên, biện pháp bắt bị can để tạm giam có môi quan hệ chặt chẽ với biện pháp tạm giam và thường được áp dụng liền trước biện pháp này; bắt bị can trong trường họp này phải thỏa mãn căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam Vì vậy, theo quy định tại Điều 80, Điều

88 BLTTHS, thì căn cứ áp dụng biện pháp bắt bị can để tạm giam trong giai đoạn điều tra phải thoả mãn những điều kiện sau: 1- Biện pháp này chỉ được

áp dụng đối với bị can; 2- Không phải đối với tất cả các bị can đều bị áp dụng biện pháp ngăn chặn này Bắt bị can để tạm giam có thể được áp dụng trong những trường hợp sau: Bị can phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; phạm tội rất nghiêm trọng; bị can phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà

thể trốn hoặc cản trở việc điều tra hoặc có thể tiếp tục phạm tội; 3- Đối với bị can là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà nơi cư trú rõ ràng thì không bắt để tạm giam, trừ trường hợp bị can được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng tiếp tục phạm tội hoặc cố ý cản trở nghiêm trọng đến việc điều tra; bị can phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ cho rằng nếu không bắt để tạm giam đổi với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia

Thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn này được quy định tại khoản

1 Điều 80 BLTTHS Trong giai đoạn điều tra, khi áp dụng biện pháp bắt bị can đê tạm giam phải tuân theo các trình tự, thủ tục theo luật định, cụ thể là khoản 2, khoản 3 Điều 80 BLTTHS Các quy định về trình tự, thủ tục tố tụng rất chặt chẽ đối với việc bắt bị can để tạm giam là nhằm bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thế của con người, đề cao trách nhiệm cá nhân của

Trang 35

người ra lệnh bắt, người thi hành lệnh bắt, ngăn ngừa kẻ xấu giả danh nhà chức trách xâm phạm các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Tuy nhiên BLTTHS quy định nếu bắt bị can ở nơi khác, ngoài nơi cư trú và nơi làm việc thì phải có đại diện chính quyền địa phương nơi tiến hành việc bắt chứng kiến Vận dụng quy định này, thực tế có một số trường hợp CQĐT dùng giấy triệu tập bị can đến trụ sở CQĐT hoặc đến trụ sở chính quyền địa phương, sau

đó tuyên bố bắt bị can, việc bắt bị can có đại diện chính quyền địa phương chứng kiến Theo chúng tôi làm như vậy là không được vì triệu tập đến để bắt

là vi phạm, nhưng đối chiếu quy định trên thì vẫn không có gì là sai Một vướng mắc nữa thường gặp là nếu không bắt được bị can thì lệnh bắt hiệu lực đến bao giờ vẫn chưa được luật quy định và chưa có hướng dẫn

- Bắt người trong trường hợp khẩn cấp Để bảo đảm cho việc bắt người trong trường họp khẩn cấp chỉ được áp dụng trong những trường hợp mang tính cấp bách, nhằm ngăn chặn tội phạm và hành vi trốn tránh pháp luật, tiêu huỷ chứng cứ của người thực hiện tội phạm, đồng thời bảo đảm các quyền tự

do cá nhân của con người, khoản 1 Điều 81 BLTTHS quy định một cách cụ

thể, rõ ràng các trường hợp bắt khẩn cấp, nhưng trong giai đoạn điều tra VAHS thì việc bắt khẩn cấp được áp dụng đối với trường hợp:

+ Khi thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ Dấu vết của tội phạm được hiếu là sự phản ánh vật chất của việc phạm tội, cho nên những công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết của tội phạm, tiền bạc, tài sản có được do việc thực hiện tội phạm, các vết cào, cấu, cắn, dấu vết máu ở người hoặc tại chỗ ở của người

bị nghi thực hiện tội phạm, đều được coi là dấu vết của tội phạm Ngoài việc phát hiện dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm, nếu cơ quan, người có thẩm quvền thấy cần ngăn chặn người

đó trốn hoặc tiêu huỷ chứng cứ thì có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn này Mục đích của việc ra quyết định bắt khẩn cấp nhằm ngăn chặn ngay việc

Trang 36

người bị nghi thực hiện tội phạm trốn hoặc tiêu huỷ chứng cứ Khó khăn thường gặp khi thực hiện quy định này là chưa có quy định hoặc hướng dẫn như thế nào là dấu vết của tội phạm và trường họp nào là “xét thấy cần ngăn chặn”, do đó sẽ dẫn đến tình trạng áp dụng tuỳ tiện, có trường hợp dần đến bắt oan, sai

Những người có thẩm quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp được quy định tại khoản 2 Điều 81 BLTTHS Trên thực tế rất ít trường hợp bắt khẩn cấp người trên máy bay vì còn liên quan đến việc tạm giữ và phê chuẩn của VKS

Thực tiễn áp dụng biện pháp này cho thấy, còn xảy ra tình trạng lạm dụng bắt khẩn cấp, nhiều trường hợp bắt khẩn cấp không được báo ngay cho VKS để xét phê chuẩn; việc xét phê chuẩn bắt khẩn cấp của VKS trong một

số trường hợp còn thụ động, hình thức, vì Thông tư liên tịch số 05 năm 2005 của liên ngành Tư pháp TW cho phép CQĐT ra lệnh tạm giữ sau khi bắt khẩn cấp chưa được VKS phê chuẩn

Theo quan điểm của chúng tôi, bắt luôn gắn liền với giữ hoặc giam,

nghĩa là bắt giữ hoặc bắt giam Trên thực tế, phần lớn các trường hợp bắt khẩn cấp đã hoàn thành, CQĐT đã giữ người bị bắt, sau đó mới gửi lệnh bắt

đề nghị VKS phê chuẩn Cho nên, thực chất việc phê chuẩn bắt khẩn cấp của VKS chỉ là phê chuẩn lệnh tạm giữ Theo chúng tôi, để phù hợp với thực tiễn

áp dụng pháp luật hình sự nước ta, BLTTHS không nên quy định việc phê chuẩn bắt khẩn cấp mà quy định việc VKS phê chuẩn tạm giữ thay cho việc phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp như quy định của BLTTHS

- Bắt người đang bị truy nã

Tương tự như bắt người phạm tội quả tang, Điều 82 BLTTHS quy định: người đang bị truy nã thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt Các Điều 83, Điều 84, Điều 85 BLTTHS quy định về những việc cần làm ngay sau khi bắt hoặc nhận người bị bắt Đây là những quy định chung cho việc bắt người trong tất cả các trường hợp ở giai đoạn điều tra VAHS: Bắt bị can để

Trang 37

tạm giam, bắt người trong trường hợp khấn cấp, bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã.

Theo quy định của pháp luật TTHS hiện hành thì chỉ có CQĐT mới được ra quyết định truy nã Các cơ quan khác khi cần truy nã thì làm đề nghị gửi CQĐT ra quyết định truy nã Tương tự như bắt người phạm tội quả tang, Điều 82 BLTTHS quy định: người đang bị truy nã thì bất kỳ người nào cũng có quyền b ắt Các Điều 83, Điều 84, Điều 85 BLTTHS quy định về những việc cần làm ngay sau khi bắt hoặc nhận người bị bắt Đây là những quy định chung cho việc bắt người trong tất cả các trường họp ở giai đoạn điều tra VAHS: bắt bi can để tạm giam, bắt người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã

Khoản 2 Điều 83 BLTTHS quy định: Đối với người bị truy nã thì sau khi lấy lời khai, CQĐT nhận người bị bắt phải thông báo ngay cho cơ quan đã ra quyết định truy nã để đến nhận người bị bắt Sau khi nhận người bị bắt, cơ quan đã ra quyết định truy nã phải ra ngay quyết định đình nã Trong trường

hợp xét thấy cơ quan đã ra quyết định truy nã không thể đến tiếp nhận ngay

người bị bắt thì sau khi lấy lời khai, CQĐT nhận người bị bắt phải ra ngay quyết định tạm giữ và thông báo ngay cho cơ quan đã ra quyết định truy nã biết Theo quy định này thì người bị bắt theo quyết định truy nã có thể bị áp dụng hai biện pháp ngăn chặn, đó là biện pháp tạm giữ (do CQĐT nhận người

bị bắt áp dụng) và biện pháp tạm giam (do cơ quan đã ra quyết định truy nã áp dụng) Theo chúng tôi đối với người bị bắt trong trường hợp đang bị truy nã, không nên tạm giữ đối với họ, vì thời hạn tạm giữ quá ngắn, trường hợp nơi

họ bị bắt quá xa nơi ra lệnh truy nã họ, có thể không đủ thời gian để CQĐT nhận người bị bắt thông báo cho cơ quan ra lệnh truy nã về việc bắt và cơ quan đã ra lệnh truy nã tiếp nhận người bị bắt Vì vậy, chúng tôi cho rằng cần phải áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can, đồng thời quy định rõ thời hạn tạm giam đổi với họ trong trường hợp này Vì họ là bị can đang bị truy nã chứng tỏ có căn cứ cho rằng cần phải cách ly họ ra khỏi xã hội trong một thời

Trang 38

gian nhất định Việc họ trốn, dẫn đến phải truy nã đã thể hiện căn cú tạm giam đối với họ.

Theo Điều 161 BLTTHS thì chỉ có CQĐT có thẩm quyền ra quyết định truy nã, các cơ quan khác khi cần truy nã thì làm đề nghị gửi CQĐT ra quyết định truy nã Nhưng với quy định của Điều 83: CQĐT nhận người bị bắt phải ra ngay quyết định tạm giữ và thông báo ngay cho cơ quan đã ra quyết định truy nã biết Đối chiếu hai điều luật trên, phải chăng ngoài CQĐT có quyền ra quyết định truy nã còn có cơ quan khác?

Một vấn đề nữa là trong thực tiễn hiện nay, khi bắt được các đối tượng truy nã, cơ quan tiến hành tố tụng có thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam Điều 12 BLHS quy định, người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng Người từ đủ 16 tuổi trở lên, phải chịu TNHS

về mọi tội phạm, nhưng chỉ có thể bị bắt, tạm giữ, tạm giam, nếu có đủ căn cứ quy định tại BLTTHS và chỉ trong những trường hợp phạm tội nghiêm trọng

do cố ý, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng

Nhưng bất cứ bị can nào mà bỏ trốn hoặc không biết họ đang ở đâu thì CQĐT

ra lệnh truy nã, khi có quyết định truy nã, thì ai cũng có quyền bắt và giải ngay đến cơ quan công an nơi gần nhất Tại đây, cơ quan đã ra quyết định truy nã phải xem xét, dẫn chiếu các quy định của pháp luật, để xem có căn cứ

và cần thiết phải tạm giữ, tạm giam họ không Nhất là các đối tượng có độ tuổi từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi; người từ 16 tuổi trở lên, là

bị can bị truy nã Khi có đủ căn cứ xác định, người từ đủ 14 tuối trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng và thỏa mãn các quy định khác tại các Điều 80, Điều 81, Điều

86, Điều 88 và Điều 120 BLTTHS, thì đối tượng có thể bị tạm giam Khi có

đủ căn cứ xác định, người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội nghiêm trọng do cố ý, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng và thỏa mãn các quy định khác tại các Điều 80, Điều 81, Điều 82, Điều 86, Điều 88

Trang 39

và Điều 120 BLTTHS, thì CQĐT có thể áp dụng biện pháp tạm giam đối với

họ Do vậy, người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng do vô ý, phải chịu TNHS về các tội đã gây ra và nếu bị truy nã thì khi bắt được họ không bị tạm giữ, tạm giam Đây là chính sách nhân đạo của N hà nước ta đối với người chưa thành niên phạm tội, nó được quy định trong BLHS và BLTTHS Trong thực tiễn đấu tranh chống tội phạm, việc làm nhân đạo này vẫn bộc lộ một số cản trở cho hoạt động điều tra xử lý tội phạm Đó là, các đối tượng này theo quy định của pháp luật họ không bị tạm giữ, tạm giam, được tại ngoại, mà lại có hành vi vi phạm tội mới, cản trở hoạt động điều tra, tiếp tục bỏ trốn khỏi nơi cư trú, vi phạm cam kết cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh thì chúng ta lại ra quyết định truy nã tiếp, lại bắt và lại không thể tạm giữ, tạm giam theo quy định tại Điều 303 BLTTHS Điều

161 BLTTHS và Quy chế công tác truy nã quy định những ai phạm tội, đã bị khởi tố bị can m à bỏ trốn hoặc không biết họ đang ở đâu thì CQĐT ra quyết định truy nã Nhưng bắt được đối tượng truy nã rồi thì không phải ai cũng bị

tạm giữ, tạm giam , đây là bất cập của pháp luật TTHS cần được sửa đổi cho

phù hợp

Tạm giữ.

Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn được quy định trong BLTTHS do người

có thẩm quyền áp dụng đối với những người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã nhằm ngăn chặn người bị bắt trốn việc điều tra, xác minh và để quyết định việc khởi tố bị can, tạm giam hoặc trả tự do cho người bị bắt Không phải là đối với mọi người bị bắt trong các trường hợp nói trên đều phải áp dụng biện pháp tạm giữ mà chỉ cần áp dụng trong những trường hợp cần thiết Các trường hợp đó là: c ầ n có thời gian để lấy lời khai

và xác minh những tình tiết cần làm rõ hành vi phạm tội, căn cước, lý lịch, nhân thân của người bị bắt; người bị bắt có khả năng trốn, tiếp tục phạm tội hoặc tiêu huỷ chứng cứ

Trang 40

BLTTHS không quy định căn cứ để áp dụng biện pháp tạm giữ Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1 Điều 86 BLTTHS có thể hiểu những căn cứ được áp dụng để bắt người trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã, cũng chính là căn cứ để áp dụng biện pháp tạm giữ Đối với những người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã mà không có căn cứ thì không được áp dụng biện pháp tạm giữ; đối với những trường hợp người phạm tội ra tự thú, đầu thú mà tội phạm

do họ thực hiện rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, tính chất phức tạp, liên quan đến nhiều người, nhiều địa phương thì phải áp dụng biện pháp tạm giữ; trường hợp tội phạm do họ thực hiện ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng nhưng sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng, người phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng thì không nhất thiết phải áp dụng biện pháp này Những người có quyền ra quyết định tạm giữ và trình tự thủ tục tạm giữ được quy định tại khoản 2, 3 Điều 86 BLTTHS

Theo quy định tại khoản 1 Điều 87 BLTTHS, thời hạn tạm giữ không

quá ba ngày, kể từ khi C Q Đ T nhận người bị bắt, chứ không phải tính từ khi

có quyết định tạm giữ Như vậy, đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, thời hạn tạm giữ được tính từ khi người bị bắt được giải đến CQĐT, điều này được thể hiện trong biên bản giao và nhận người bị bắt; đối với người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã, thời gian từ khi người dân bắt và giải đến cơ quan Công an, VKS hoặc Ưỷ ban nhân dân nơi gần nhất, thời gian các cơ quan này lập biên bản và dẫn giải người bị bắt đến CQĐT có thẩm quyền không được tính vào thời hạn tạm giữ, vì khi CQĐT nhận người bị bắt, biện pháp bắt người với tính chất là một biện pháp ngăn chặn độc lập mới kết thúc Từ thời điểm CQĐT nhận người bị bắt, nếu không tính vào thời hạn tạm giữ, sẽ dẫn đến tình trạng cố tình không ra quyết định tạm giữ để kéo dài thời hạn tạm giữ

BLTTHS quy định thời hạn tạm giữ là số ngày cụ thể (không quá ba ngày), theo chúng tôi là chưa chính xác vì không phải mọi trường hợp người

Ngày đăng: 24/01/2021, 22:21

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w