Những giải pháp này đã làm giảm số lượng doanh nghiệp trong khu vực DNNN nhưng về cơ bản, hiệu qủa hoạt động của khu vực này vẫn còn chưa tương xứng với nguồn lực và vị trí, vai trò của
Trang 2VIỆN NGHIÊN CỨU
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Phân mỏ đâu
CHƯƠNG 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC CHUYÊN Đổ\ d o a n h n g h iệ p
NHÀ NƯỚC THÀNH CÔNG TY TRẤCH NHIỆM HỮU HẠN
1.1 Khái quát về Doanh nghiệp Nhà nước và Công
ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 1
1.1.2 Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 6
1.2 Sự cần thiết phải chuyển đổi doanh nghiệp Nhà nước thành Công ty trách nhiệm hữu hạn một
1.2.1 Vị trí, vai trò của Doanh nghiệp Nhà nước 121.2.2 Cải cách Doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam
1.3 Mục đích của việc chuyển đổi Doanh nghiệp Nhà nước thành Công ty trách nhiệm hữu hạn một
CHƯƠNG 2 Cơ SỖ PHÁP LÝ vỀ CHUYÊN Đổỉ d o a n h n g h iệ p n h à
NƯỚC THÀNH CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT
2.1 Đối tượng và trình tự, thủ tục chuyển đổi 35
2.2 Doanh nghiệp Nhà nước sau chuyển đổi 48
2.2.1 Cơ cấu tổ chức quản lý Công ty 482.2.1.1 Tổ chức quản lý theo mô hình Hội đồng Quản
2.2.1.2 Tổ chức quản lý theo mô hình Chủ tịch Công ty 57
Trang 42.2.2 Môi quan hệ giữa chủ sở hữu và Công ty 622.2.2.1 Chủ sở hữu và đại diện chủ sở hữu Công ty 622.2.2.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của chủ sở hữu Công ty 642.2.2.3 Nghĩa vụ và trách nhiệm của chủ sở hữu công
CHƯƠNG 3 QUAN ĐIEM VÀ G lẢl PHÁP NHAM XÁC LẬP VẢ HOÀN
THIỆN PHÁP LUẬT về CHUYÊN Đổ\ POANH n g h iệ p n h à NƯỚC THÀNH CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN
3.1 Quan điểm chỉ đạo 83 3.2 Một số giải pháp 85
3.2.1 Sửa đổi Luật Doanh nghiệp Nhà nước 853.2.2 Sửa đổi, bổ sung những quy định về chuyển đổi
Doanh nghiệp Nhà nước thành Công ty trách nhiệm
3.2.3 Hoàn thiện các quy định pháp luật khác có liến
Tài liệu trích dẫn
Tài liệu tham khảo
Trang 5Chủ nghĩa xã hội Trách nhiệm hữu hạn
Xã hội chủ nghĩa
Uỷ ban nhân dân
Trang 6LÒI CẢM ON
Luận văn này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn và giúp đỡ hết sức tận tình của Giáo sư Tiến sĩ Khoa học Đào Trí ú c - Viện trưởng Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, sự giúp đỡ của các thầy giáo, cô giáo của Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, trường Đại học Luật Hà Nội và sự quan tâm, tạo điều kiện của Sở Tư pháp Nghệ An, Ban Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp tỉnh Nghệ An Tác giả xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của để tài
Kinh tế Nhà nước có mặt ở hầu hết các quốc gia trên thế giới và đã trở thành một bộ phận có tác dụng thiết thực trong cơ cấu kinh tế của mỗi nước Tuỳ theo chủ trương, chính sách và điều kiện cụ thể của mỗi nước khác nhau
mà khu vực kinh tế nhà nước có phạm vi và mức độ hoạt động khác nhau Ở Việt Nam, khu vực kinh tế nhà nước được Đảng và Nhà nước xác định vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, là “lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế” DNNN, bộ phận quan trọng nhất của kinh tế nhà nước, được xác định giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế
Hiện nay, nước ta có hơn 5.000 DNNN và DNNN có mặt hầu như ở tất
cả các ngành và các lĩnh vực của nền kinh tế DNNN chiếm đến 2/3 tài sản cố định của khu vực kinh tế trong nước và đóng góp bình quân khoảng 40% GDP và từ 26-28% nguồn thu nội địa của ngân sách nhà nước hàng năm Tuy nhiên, nhìn chung hiệu quả hoạt động kinh doanh và ảnh hưởng xã hội của DNNN còn thấp DNNN bộc lộ nhiều yếu kém và tổn tại trên nhiều mặt Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước nói chung, DNNN nói riêng còn mờ nhạt Chính vì vậy, cải cách DNNN được coi là một đòi hỏi cấp thiết, trọng tâm trong chuyển đổi kinh tế ở nước ta
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều giải pháp nhằm củng cố và phát triển DNNN Tuy nhiên, cải cách DNNN vẫn tiến hành chậm chạp, các giải pháp chủ yếu như sắp xếp lại DNNN, cổ phần hoá hoặc
đa dạng hoá sở hữu tập trung vào các DNNN quy mô nhỏ và vừa, hoạt động không có hiệu quả, thua lỗ trầm trọng hoặc doanh nghiệp mà Nhà nước không
Trang 8cần phải nắm giữ sở hữu Những giải pháp này đã làm giảm số lượng doanh nghiệp trong khu vực DNNN nhưng về cơ bản, hiệu qủa hoạt động của khu vực này vẫn còn chưa tương xứng với nguồn lực và vị trí, vai trò của nó.
Chuyển đổi DNNN thành Công ty TNHH một thành viên là một chủ trương hết sức đúng đắn và cần thiết đã được Đảng đề ra trong Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII, Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX và được thể chế hoá tại Luật doanh nghiệp 1999 nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN thông qua việc thay đổi phương thức tổ chức quản lý, đảm bảo quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp chuyển đổi nhưng không thay đổi bản chất sở hữu, tạo điều kiện cho doanh nghiệp chuyển đổi hoạt động bình đẳng với các doanh nghiệp khác, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp Ngày 14/9/2001, Chính phủ đã ban hành Nghị định 63/2001/NĐ-CP quy định
về việc chuyển đổi DNNN, doanh nghiệp của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị -x ã hội thành Công ty TNHH một thành viên
Chuyển đổi DNNN thành Công ty TNHH một thành viên là một chủ trương lớn nhưng hoàn toàn mới mẻ và chúng ta lại chưa có kinh nghiệm thực tiễn Để bảo đảm bước đi vững chắc và sự thành công, chuyển đổi DNNN thành Công ty TNHH một thành viên được tiến hành theo hai giai đoạn: giai đoạn thí điểm và giai đoạn triển khai ở quy mô rộng sau thí điểm Cho đến thời điểm này, Ban Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch - Đầu tư đang chỉ đạo một số DNNN thí điểm việc chuyển đổi, qua đó đúc kết kinh nghiệm để triển khai thực hiện việc chuyển đổi một cách có hiệu quả
Như vậy, chuyển đổi DNNN thành Công ty TNHH một thành viên được coi là một bước đột phá mới trong tiến trình cải cách DNNN Chính vì vậy, nghiên cứu những vấn đề pháp lý về chuyển đổi DNNN thành Công ty
Trang 9TNHH một thành viên là vấn đề đang được quan tâm cả trên phương diện lý luận và thực tiễn.
Đề tài “Những vấn đề pháp lý về chuyển đổi Doanh nghiệp Nhà
nước thành Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên” được tác giả
chọn làm luận văn tốt nghiệp Cao học Luật xuất phát từ chính sự quan tâm của tác giả, từ yêu cầu của cải cách DNNN đòi hỏi phải có sự nghiên cứu thấu đáo về một vấn đề pháp lý hoàn toàn mới mẻ, phát hiện những điểm hợp lý và chưa hợp lý trong quy định của pháp luật, đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm xác lập và hoàn thiện cơ sở pháp lý cho việc chuyển đổi DNNN thành Công ty TNHH một thành viên
2 Tổng quan các công trình đã nghiên cứu:
- Chưa có luận án tiến sĩ nào nghiên cứu về vấn đề này
- Có một số bài viết trên các báo và tạp chí về chuyển đổi DNNN thành Công ty TNHH một thành viên
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu này đều thống nhất trong viộc đánh giá chuyển đổi DNNN thành Công ty TNHH một thành viên là giải pháp cần thiết để cải cách và nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN Tuy nhiến, phần lớn các tác giả đều xuất phát từ góc độ kinh tế để nghiên cứu về vấn đề chuyển đổi DNNN thành Công ty TNHH một thành viên Chưa có công trình nào nghiên cứu sâu, toàn diện vấn đề pháp lý
3 Tính mới của luận văn:
Luận văn đã chỉ ra được cơ sở lý luận của việc chuyển đổi DNNN thành Công ty TNHH một thành viên, khẳng định tính hợp lý của việc chuyển đổi DNNN thành Công ty TNHH một thành viên qua việc so sánh với các giải pháp cải cách DNNN khác
Trang 10Luận văn đã nghiên cứu một cách khá toàn diện các vấn đề pháp lý về chuyển đổi DNNN thành Công ty TNHH một thành viên, so sánh giữa doanh nghiệp trước chuyển đổi và sau chuyển đổi để đánh giá một cách chính xác
ưu điểm và tồn tại, thiếu sót của pháp luật hiện hành, tạo cơ sở đề xuất các giải pháp nhằm xác lập và hoàn thiện cơ sở pháp lý cho việc chuyển đổi DNNN thành Công ty TNHH một thành viên
4 Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành liên quan đến việc chuyển đổi DNNN thành Công ty TNHH một thành viên Luận văn cũng nghiên cứu các quy định của Luật Công ty Trung Quốc, thực tiễn cải cách DNNN của Trung Quốc tạo cơ sở đề xuất một số giải pháp phù hợp cho tiến trình cải cách DNNN ở Việt Nam
Luận văn chỉ đề cập đến việc chuyển đổi DNNN thành Công ty TNHH một thành viên Việc chuyển đổi doanh nghiệp của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành Công ty TNHH một thành viên không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài này
5 Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn đã sử dụng phương pháp của triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mác - xít, trong đó chủ yếu vận dụng phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp lịch sử cụ thể Ngoài ra, luận văn cũng sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác như: phương pháp kế thừa, phương pháp kinh tế - tài chính , phương pháp so sánh, đối chiếu
Trang 116 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc chuyển đổi DNNN thành Công ty TNHH một thành viên
Chương này khái quát những vấn đề lý luận chung về DNNN và Công
ty TNHH một thành viên và lý giải sự cần thiết phải chuyển đổi DNNN thành Công ty TNHH một thành viên Chương này là tiền đề để xem xét nội dung của các quy định pháp luật về chuyển đổi DNNN thành Công ty TNHH một thành viên ở Chương 2
Chương 2: Cơ sở pháp lý về chuyển đổi DNNN thành Công ty TNHH một thành viên
Chương này phân tích một cách toàn diện các vấn đề liên quan đến việc chuyển đổi, từ xác định đối tượng chuyển đổi, quy trình chuyển đổi đến những quan hệ trong doanh nghiệp sau chuyển đổi Từ đó, phát hiện những ưu điểm cũng như những hạn chế, thiếu sót của pháp luật về chuyển đổi DNNN thành Công ty TNHH một thành viên, tạo cơ sở cho việc đề xuất giải pháp ở Chương in.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp nhằm xác lập và hoàn thiện cơ
sở pháp lý về chuyển đổi DNNN thành Công ty TNHH một thành viên
Chương này đề xuất những quan điểm và giải pháp nhằm xác lập và hoàn thiện một cách cơ bản những bất cập, thiếu sót của pháp luật hiện hành
về chuyển đổi DNNN thành Công ty TNHH một thành viên, đặc biệt lưu ý đến việc hoàn thiện môi trường pháp lý cho hoạt động của các doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp sau chuyển đổi nói riêng
Trang 12tư cách là Chủ sở hữu.
Luật Doanh nghiệp Nhà nước, tại Điều 1 đã xác định:
“Doanh nghiệp Nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do Nhà nước giao.
Doanh nghiệp Nhà nước có tư cách pháp nhân, cố các quyền và nghĩa
vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi
số vốn do doanh nghiệp quản lý.
Doanh nghiệp Nhà nước có tên gọi, cố con dấu và có trụ sở chính trên lãnh thổ Việt Nam”
Trang 13Như vậy có thể nhận thấy tư tưởng nhất quán về bản chất DNNN ở Việt Nam, đó là vai trò sở hữu và quản lý của Nhà nước đối với doanh nghiệp Tuy nhiên, điều 1 Luật DNNN đã phát triển hơn khái niệm DNNN Khái niệm này được đánh giá là: “không bị giới hạn bởi việc quản lý của Nhà nước với tư cách Chủ sở hữu mà còn thể hiện mối quan hệ logic giữa đầu tư, thành lập, tổ chức quản lý và thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của DNNN do Nhà nước giao Mối quan hệ logic này cho phép mở rộng đến mức tối đa có thể có diện đối tượng điều chỉnh của Luật DNNN, bao gồm không chỉ các doanh nghiệp Nhà nước nắm giữ 100% vốn mà còn cả những doanh nghiệp ở đó Nhà nước chỉ nắm thiểu số cổ phần có hình thức tổ chức quản lý là Công ty Do đó khái niệm này thực sự trở thành công cụ chứa đựng tiềm năng to lớn, tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước có quyền chi phối về tổ chức và hoạt động một khối lượng lớn các doanh nghiệp trong nền kinh tế cả trước mắt cũng như trong tương lai” [16.Tr 45-46].
Các nước khác nhau có khái niệm về DNNN và giói hạn của các DNNN không giống nhau Thế nhưng, khái niộm về DNNN của Việt Nam theo quy định tại Điều 1 Luật DNNN khá tương thích với các nước trong việc mở rộng đối tượng xác định Các nước như Thuỵ Điển, Phần Lan, Brasil, Mexico đều xác định DNNN là các doanh nghiệp trong đó Nhà nước chiếm trên 50% vốn,
ở Ý tỷ lệ này là 25%, ở Hàn Quốc là 10% Ở Pháp, DNNN là doanh nghiệp thoả mãn 3 điều kiện: (ỉ) Tính công hữu của quyền sở hữu doanh nghiệp, nhờ
đó Chính phủ xác lập được địa vị lãnh đạo đối với doanh nghiệp; (2) Cố địa
vị pháp nhân độc lập như các doanh nghiệp khác; (3) Thực hiện các hoạt động kinh doanh độc lập, là tổ chức kinh tế cố hạch toán lỗ lãi u ỷ ban Công
đổng Châu Âu cho rằng: tất cả các doanh nghiệp mà nhà cầm quyền có thể dựa vào quyền sở hữu, quyền khống chế Chính phủ và các điều lệ quản lý dịch
vụ doanh nghiệp để gây ảnh hưởng có tính chi phối trực tiếp hoặc gián tiếp đối với chúng là DNNN [l.T r 22]
Trang 14Tuy nhiên, trên thực tế ở Việt Nam, khái niệm DNNN không được hiểu hoàn toàn đúng như tinh thần của Điều 1 Luật DNNN Doanh nghiệp mà ở đó Nhà nước sở hữu 100% vốn mới được coi là DNNN Các doanh nghiệp có hình thức sở hữu hỗn hợp, vừa có vốn góp cả Nhà nước, vừa có vốn của các thành phần kinh tế khác không được công nhận là DNNN, do đó cách thức tổ chức và hoạt động của các doanh nghiệp này không chịu sự điều chỉnh của Luật DNNN mà bằng các văn bản pháp luật riêng Phải chăng, nguyên nhân của vấn đề này là do chúng ta đã sử dụng tiêu chí Chủ sở hữu để định ra các chế định pháp lý khác nhau đối với các doanh nghiệp và phải chăng chính điều này đã tạo nên sự bất bình đẳng trong quy chế pháp lý giữa các doanh nghiệp.
1.1.1.2 Đặc điểm
DNNN có các đặc trưng pháp lý chủ yếu sau:
Thứ nhất, về sở hữu vốn của DNNN
Dưới góc độ là một phạm trù kinh tế, vốn là điều kiện tiên quyết của bất
cứ doanh nghiệp nào trong nền kinh tế Dưới góc độ là một phạm trù pháp lý, vốn là cãn cứ đầu tiên để xác lập địa vị pháp lý của một doanh nghiệp và cũng là một trong những cơ sở quan trọng nhất để đảm bảo sự tồn tại tư cách pháp lý của một doanh nghiệp trước pháp luật [6 Tr 5]
Vốn trong DNNN là vốn do Nhà nước đầu tư và Nhà nước là nhà đầu tư ban đầu duy nhất để thành lập doanh nghiệp, và dĩ nhiên Nhà nước sẽ là Chủ
sở hữu duy nhất của doanh nghiệp Tuy nhiên, Nhà nước lại là một thực thể chính trị pháp lý, do đó đối với DNNN, Nhà nước vừa là Chủ sở hữu, vừa là một tổ chức công quyền, Nhà nước vừa là một nhà kinh doanh, nhà đầu tư nhưng đổng thời cũng là một chủ thể quyền lực công, thực hiện chức năng quản lý
Trang 15Nhà nước thực hiện quyền Chủ sở hữu đối với doanh nghiệp thông qua
cơ chế đại diện, tuy nhiên trên thực tế, đại diện Chủ sở hữu ở DNNN không được xác định rõ mặc dù có nhiều cơ quan được phân công làm đại diện Chủ
sở hữu Mỗi loại cơ quan đại diện có một số quyền nhất định trong nội dung các quyền sở hữu, tuy nhiên, mối quan hộ giữa các cơ quan này lại không được xác định rõ Kết quả là quyền sở hữu theo hệ thống đại diện ở DNNN trở nên rất phân tán, địa chỉ trách nhiệm của các đại diện Chủ sở hữu không cụ thể dẫn đến tình trạng thiếu một cơ quan có trách nhiệm xuyên suốt, thống nhất về hoạt động kinh doanh của DNNN
Quyền quản lý của Nhà nước và quyển của Chủ sở hữu đối với doanh nghiệp không được tách bạch đã dẫn đến sự can thiệp quá sâu của Nhà nước vào công việc kinh doanh của doanh nghiệp Trong khi sự can thiệp của Nhà nước cả với tư cách là Chủ sở hữu cả với tư cách là cơ quan công quyển đã làm cho DNNN mất đi tính chủ động, linh hoạt trong kinh doanh thì trách nhiệm của sự can thiệp này lại không rõ ràng, vì vậy khó có thể xác định được trách nhiệm về hiệu quả hoạt dộng kinh doanh của DNNN Mặt khác, sự hỗ trợ, can thiệp của Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh của DNNN thông thường không tính toán theo các phương án tối ưu về kinh tế, không tuân thủ các quy luật của kinh tế thị trường đã ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của nền kinh tế
Thứ hai, tính đa mục tiêu của DNNN
Lợi nhuận là mục tiêu đầu tiên và cuối cùng đối với bất cứ doanh nghiệp nào Tuy nhiên, trong DNNN, lợi nhuận không phải là mục đích duy nhất Lý thuyết kinh tế và thực tế ở các quốc gia trên thế giới đều thống nhất rằng Nhà nước phải duy trì sở hữu của mình và sử dụng tài sản thuộc sở hữu Nhà nước phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế và xã hội của đất nước, trong đó có dưới hình thức và thông qua hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNN [19 Tr 3].Ở Việt Nam, DNNN luôn luôn được coi là công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện điều tiết nền kinh tế theo định hướng đã vạch ra
Trang 16Tuy nhiên, việc thực hiện các mục tiêu phi thương mại của DNNN nhằm đảm bảo lợi ích quốc gia, đảm bảo an toàn xã hội hay bù đắp những khuyến khuyết của nền kinh tế thị trường hoặc vì những lý do khác, cụ thể như giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, phát triển kinh tế xã hội ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, hỗ trợ phát triển các ngành nghề cũng đã ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của DNNN.
Thứ ba, tư cách pháp nhân của DNNN
Điều 1 Luật DNNN đã khẳng định tư cách pháp nhân của DNNN, điều
đó có nghĩa là DNNN có tư cách để trở thành một chủ thể đầy đủ của các quan hệ pháp luật dân sự, có khả năng hưởng các quyền dân sự và năng lực dân sự, có quyền dân sự và chịu trách nhiệm dân sự (trách nhiệm hữu hạn) Tuy nhiên, nếu xét theo quy định của Bộ luật Dân sự về điều kiện pháp nhân
và thực tế hoạt động của DNNN thì vấn đề pháp nhân của DNNN còn phải được nghiên cứu thêm bởi lẽ ở DNNN các điều kiện của pháp nhân chưa được bảo đảm
Theo quy định tại Điều 94 Bộ luật Dân sự thì một tổ chức được công
nhận là pháp nhân khi có đủ 4 điều kiện sau: (1) Được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, đăng ký hoặc công nhận; (2) Có
cơ cấu tổ chức chặt chẽ; (3) Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và
tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đố; (4) Nhân danh mình tham gia các quan
hệ pháp luật một cách độc lập.
DNNN mặc dù có thủ tục giao nhận vốn khi thành lập doanh nghiệp, thế nhưng bản thân hành vi giao vốn của Nhà nước đúng ra phải là sự chuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản thuộc vốn góp nhưng thực ra lại chỉ là chuyển giao quyền quản lý và sử dụng Không có bất kỳ một quy định nào khẳng định việc Nhà nước chuyển giao quyền sở hữu vốn và tài sản cho DNNN Vốn và tài sản Nhà nước trong DNNN là tài sản thuộc sở hữu Nhà
Trang 17với DNNN, điều kiện độc lập về tài sản của pháp nhân theo quy định tại Điều
94 của Bộ luật Dân sự là chưa đáp ứng được
Do chưa có sự phân tách DNNN với tư cách một pháp nhân và Nhà nước với tư cách Chủ sở hữu của doanh nghiệp là hai chủ thể pháp lý khác nhau nên quyền, lợi ích, nghĩa vụ và tài sản của doanh nghiệp với tư cách một pháp nhân với quyền, lợi ích, nghĩa vụ và tài sản của Nhà nước với tư cách Chủ sở hữu của doanh nghiệp cũng chưa được tách bạch rõ Mặt khác, giữa tài sản của Tổng công ty và các doanh nghiệp thành viên của tổng công ty, giữa
tư cách, quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của doanh nghiệp với bộ máy quản lý trong doanh nghiệp cũng chưa được tách bạch Do vậy, DNNN không thể nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập mà chỉ được tham gia thực hiện một số quan hệ pháp luật với các đối tác khác sau khi được
sự đồng ý, cho phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Điều đó có nghĩa
là DNNN chưa hội tụ điều kiện thứ tư của pháp nhân do Bộ luật Dân sự quy định (nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập [4 Trl3]
Do không đảm bảo điều kiện thứ ba và thứ 4 Điều 94 Bộ luật Dân sự quy định, DNNN vẫn bị coi là pháp nhân không đầy đủ và DNNN chưa thực
sự hoạt động và chịu trách nhiệm như một pháp nhân đầy đủ
1.1.2 CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮƯ HẠN MỘT THÀNH VIÊN:
1.1.2.1 Khái niệm
Sự ra đời của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (hay còn gọi
là Công ty TNHH một chủ) dường như phá vỡ quan niệm truyền thống về Công ty được xác lập từ thế kỷ 13 với ý nghĩa Công ty là sự liên kết của hai hoặc nhiều người Công ty TNHH một chủ là kết quả pháp lý đặc biệt của quá trình phát triển khi vì một lý do nào đó toàn bộ tài sản của công ty chuyển vào
Trang 18tay một thành viên duy nhất Xét vể bản chất, Công ty TNHH một chủ không phải là một công ty thực sự bởi nó chính là doanh nghiệp tư nhân nhưng loại hình công ty này lại được pháp luật nhiểu nước thừa nhận và được các nhà đầu
tư lựa chọn bởi sự kết hợp giữa 2 lợi thế, đó là tính chịu trách nhiệm hữu hạn
và khả năng độc lập tuyệt đối trong việc điều hành và quản lý doanh nghiệp
Vào những năm 70, 80 của thế kỷ XX, trào lưu cải cách mạnh mẽ DNNN với việc áp dụng nguyên lý tổ chức và quản lý của Công ty tư nhân vào DNNN đã dẫn đến sự ra đời của Công ty TNHH có một Chủ sở hữu là Nhà nước Một số nước như Đức, Trung Quốc, Australia, New Zealand đã bổ sung và quy định trong luật Công ty của mình về loại hình Công ty TNHH có một Chủ sở hữu là Nhà nước
Trước năm 1999, ở Việt Nam, loại hình Công ty TNHH một chủ đã xuất hiện, đó là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài do một tổ chức hay cá nhân người nước ngoài hoặc một cá nhân người Việt Nam định cư ờ nước
ngoài đầu tư thành lập theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Đối với đầu
tư trong nước, loại hình Công ty TNHH một thành viên chưa được thừa nhận Tuy nhiên thực tế kinh doanh ở Việt Nam đã tồn tại nhiểu Công ty TNHH trong đó thực chất chỉ có một thành viên, ngoài ra các thành viên khác chỉ là thành viên danh nghĩa Việc đưa thêm một số thành viên danh nghĩa vào danh sách sáng lập viên nhằm mục đích chủ yếu là hợp thức hoá việc thành lập Công ty, thực chất Công ty chỉ có một Chủ sở hữu duy nhất Như vậy, dù có được pháp luật thừa nhận hay không thì Công ty TNHH một chủ vẫn tồn tại và hoạt động trên thực tế
Xuất phát từ thực tế đó và để thể chế hoá chủ trương của Nghị quyết Trung ương lần thứ 4 Khoá VIII “Chuyển các doanh nghiệp kinh doanh sang hoạt động theo cơ chế Công ty TNHH hoặc Công ty c ổ phần; bổ sung hình thức Công ty TNHH chỉ có một sáng lập viên để áp dụng đối với doanh nghiệp
Trang 19loại hình doanh nghiệp là Công ty TNHH một thành viên Điều 46 Luật Doanh nghiệp quy định như sau:
“Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức làm Chủ sở hữu; Chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi vốn điều lệ của doanh nghiệp.
Chủ sở hữu công ty cố quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ của công ty cho tổ chức hoặc cá nhân khác.
Công ty TNHH một thành viên không được quyền phát hành vổ phiếu Công tỵ TNHH một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh ”
Việc cho phép thành lập Công ty TNHH một thành viên thể hiện tính tiến bộ của pháp luật về loại hình doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu thực tiễn nhằm tạo điều kiện để nhà đầu tư mạnh dạn bỏ vốn kinh doanh, đặc biệt là ở những lĩnh vực rủi ro cao Tuy nhiên ở Việt Nam, loại hình công ty này mới chỉ được áp dụng đối với tổ chức, luật chưa cho phép một cá nhân đứng ra thành lập và là Chủ sở hữu duy nhất của Công ty TNHH Việc cho phép thành lập Công ty TNHH một thành viên đồng thời đã tạo điều kiện cho các DNNN, doanh nghiệp của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội thực chất đang hoạt động giống như Công ty TNHH một chủ có cơ sở pháp lý để hoạt động theo một khuôn khổ pháp lý chung như các loại hình doanh nghiệp dân doanh khác
1.1.2.2 Đặc điểm
Công ty TNHH một thành viên có các đặc trưng sau:
Thứ nhất, chỉ có một thành viên góp vốn và thành viên đó phải là tổ chức
Đây là đặc trưng cơ bản để phân biệt Công ty TNHH một thành viên với Công ty TNHH thông thường khác (chỉ có một thành viên góp vốn) và cũng là
Trang 20đặc trưng cơ bản để phân biệt Công ty TNHH một thành viên với Doanh nghiệp tư nhân (thành viên duy nhất đó phải là một tổ chức).
Khác với Công ty TNHH thông thường, trong Công ty TNHH một thành viên chỉ có duy nhất một thành viên góp vốn để thành lập Công ty, do
đó thành viên này cũng là Chủ sở hữu duy nhất của công ty, có toàn quyền đối với hoạt động của Công ty, không chia sẻ quyền quản lý, chi phối công ty với bất kỳ ai Theo pháp luật Việt Nam, thành viên góp vốn duy nhất đó phải là tổ chức, có tư cách pháp nhân, bao gồm: Cơ quan Nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang; cơ quan Đảng cấp Trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam và Liên đoàn Lao động tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Trung ương Đoàn thanh niên Cộng sản HCM và Đoàn thanh niên Cộng sản HCM tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Trung ương Hội cựu chiến binh Việt Nam và Hội cựu chiến binh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Hội Nông dân Việt Nam và Hội Nông dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Liên hiệp các tổ chức hoà bình, đoàn kết, hữu nghị Việt Nam; Doanh nghiệp Nhà nước; Doanh nghiệp của các tổ chức chính trị -x ã hội; Hợp tác xã; Công ty TNHH; Công ty cổ phần; Các tổ chức xã hội, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp; Quỹ xã hội, quỹ từ thiện; các tổ chức khác (Nghị định s ố 0 2 /2000/N Đ -C P ngày 03/2/2000 của Chính phủ v ề đăng ký kinh doanh)
Như vậy, thành viên của Công ty TNHH một thành viên có thể trong cùng một lúc đồng thời là thành viên của các loại hình doanh nghiệp khác Để tránh sự lạm dụng quyền hạn của Chủ sở hữu đối với công ty, nhằm phân biệt rạch ròi trách nhiệm tài sản của tổ chức đối với tài sản của Công ty, Luật Doanh nghiệp đã đưa những quy định ràng buộc nghiêm ngặt đối với Chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên như: không được trực tiếp rút vốn đã góp vào
Trang 21nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ cho tổ chức hoặc cá nhân khác, chỉ được rút lợi nhuận của Công ty khi Công ty đã thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác đến hạn phải trả
Trong quá trình hoạt động, khi không đáp ứng được điều kiện về thành viên, Công ty TNHH một thành viên buộc phải chấm dứt hoạt động hoặc phải thay đổi hình thức
Thứ hai, Công ty TNHH một thành viên là một pháp nhân kinh doanh
Công ty TNHH một thành viên là một pháp nhân kinh doanh đầy đủ xét trên cả 4 yếu tố:
(1) Được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp đăng ký kinh doanh;(2) Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ: Mặc dù chỉ có một thành viên góp vốn duy nhất nhưng cơ cấu tổ chức trong Công ty TNHH một thành viên cũng tương tự như các loại hình công ty khác Công ty TNHH một thành viên có Hội đồng Quản trị (hoặc Chủ tịch Công ty) là cơ quan quản lý công ty, có Tổng Giám đốc (Giám đốc) là cơ quan điều hành công ty Trong Hội đồng quản trị có sự phân công rạch ròi trách nhiệm giữa Chủ tịch HĐQT và các thành viên HĐQT Trong bộ máy điều hành công ty bên cạnh Tổng Giám đốc
có Phó Tổng Giám đốc và các phòng ban chuyên môn giúp việc Vai trò của HĐQT đối với Tổng Giám đốc cũng như trách nhiệm của Tổng Giám đốc đối với HĐQT được xác định rõ ràng, chặt chẽ
(3) Có tài sản độc lập: Đồng thời với việc đầu tư vốn để thành lập Công
ty, Chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho công ty Từ đây, Công ty
có quyền độc lập hoàn toàn trong việc quản lý, sử dụng và định đoạt tài sản
đó, đồng thời Công ty có nghĩa vụ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa
vụ tài sản bằng chính tài sản đó
(4) Tham gia các quan hệ tài sản một cách độc lập: Do có tài sản và có
sự tách bạch về tài sản của Công ty và tài sản của Chủ sở hữu, khi tham gia
Trang 22các quan hệ pháp luật, Công ty đủ khả năng để nhân danh mình chứ không phải chờ đợi bất kỳ một sự đổng ý, cho phép của Chủ sở hữu hay tổ chức, cá nhân nào khác Trong khi đó, mối quan hệ giữa Chủ sở hữu và Công ty được xác lập chủ yếu thông qua Điều lệ Công ty.
Do có đầy đủ các điều kiện để trở thành một pháp nhân kinh doanh, Công ty TNHH một thành viên hoàn toàn có đủ khả năng đế thực hiện quyền độc lập, tự chủ đối với hoạt động kinh doanh của mình
Thứ ba, trách nhiệm hữu hạn của thành viên công ty
Công ty TNHH một thành viên chịu trách nhiệm hữu hạn đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty Đồng thời, thành viên công ty TNHH một thành viên cũng chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào Công ty thể theo Điều lệ Công ty Thành viên Công ty, dù chỉ là một, cũng không phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình như Chủ sở hữu doanh nhiệp tư nhân Trách nhiệm này chỉ giới hạn trong phạm vi số vốn mà thành viên đó cam kết góp để thành lập công ty Ở đây cần có sự phân biệt giữa vốn cam kết
góp và vốn góp Trong trường hợp vốn cam kết góp chưa được góp đủ thì số
vốn chưa góp được coi là nợ của thành viên đối với công ty và thành viên công
ty phải chịu trách nhiệm bổi thường thiệt hại phát sinh do không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết
Như vậy, từ những điểm khái quát chung về DNNN và Công ty TNHH một thành viên, ta có thể nhận thấy khả năng chuyển đổi DNNN thành Công
ty TNHH một thành viên là có thể bởi xuất phát từ bản chất doanh nghiệp một chủ của cả hai loại hình doanh nghiệp này Nhà nước là Chủ sở hữu duy nhất đầu tư vốn và thành lập DNNN, tuy nhiên trong DNNN vai trò của Chủ sở hữu, phạm vi quyền hạn của Chủ sở hữu đối với doanh nghiệp, cơ quan đại
Trang 23diện Chủ sở hữu doanh nghiệp không được xác định rõ như trong Công ty TNHH một thành viên Do không xác định rõ trách nhiệm, quyền hạn của Chủ
sở hữu, không tách bạch tài sản của Chủ sở hữu với tài sản của doanh nghiệp dẫn đến tình trạng DN chịu trách nhiệm hữu hạn còn Nhà nước chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp Ngược lại, Công ty TNHH một thành viên cũng là doanh nghiệp một chủ nhưng ở đây có sự xác định rõ Chủ sở hữu hoặc đại diện Chủ sở hữu; quyền
hạn, trách nhiệm của Chủ sở hữu đối với Công ty, vị trí, vai trò của tổ chức, bộ máy quản lý công ty được quy định chặt chẽ và được thoả thuận rõ ràng trong Điều lệ Do đó, chuyển DNNN thành Công ty TNHH một thành viên là hoàn toàn phù hợp để nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN bởi đây chính là cách thức đưa DNNN vào hoạt động dưới hình thức pháp lý đúng như bản chất của nó, đồng thời tạo sự bình đẳng về cơ hội và trách nhiệm cho DNNN như đối với các loại hình doanh nghiệp khác
1.2 Sự CẦN THIẾT CỦA VIỆC CHUYỂN Đổi DNNN t h à n h c ô n g ty TNHH MỘT THÀNH VIÊN
1.2.1 Vị trí, vai trò của DNNN:
Kinh nghiệm quốc tế đã chỉ rõ rằng, dưới bất kỳ chế độ chính trị nào, khu vực kinh tế Nhà nước (mà DNNN là một bộ phận) là chỗ dựa kinh tế then chốt của đất nước và là lĩnh vực quan trọng nhất của quản lý Nhà nước Quy
mô và cơ cấu của kinh tế Nhà nước trong các nước khác nhau phụ thuộc vào tình trạng kinh tế, các điều kiện lịch sử, xã hội và truyền thống của đất nước
đó Vấn đề là ở chỗ sự tham gia của Nhà nước trong những ngành nào có lợi hơn được quyết định trong phạm vi mô hình cụ thể, trong đó đưa ra các ưu tiên
Trang 24nhất định về ngành và quan điểm “dân tộc” về vai trò của khu vực kinh tế Nhà nước [24 Tr 77].
Ở các nước tư bản phát triển, dựa vào học thuyết kinh tế của Keynes để thực hiện một hệ thống các chính sách can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế nhằm điều tiết chu kỳ phát triển Chi tiêu của Chính phủ trong việc xây dựng
và phát triển DNNN trong các ngành sản xuất hàng hoá và dịch vụ công cộng, các ngành thuộc lĩnh vực then chốt của nền kinh tế được coi là công cụ can thiệp trực tiếp và chủ yếu để giải quyết việc làm và thu nhập, kích thích tăng nhu cầu tiêu dùng, bảo đảm duy trì tốc độ tăng trưởng của kinh tế ổn định Khu vực kinh tế Nhà nước ở các nước này mặc dù chiếm tỷ trọng thấp trong GDP của mỗi nước nhưng đã có đóng góp quan trọng và duy trì được tốc độ tăng trưởng ổn định trong thời kỳ dài
ở các nước xây dựng nền kinh tế XHCN đã vận dụng học thuyết Mác - Lênin để thực hiện chế độ công hữu về tư liệu sản xuất mà Nhà nước là đại diện, coi đó là nền tảng kinh tế để xoá bỏ sự phân hoá giàu nghèo, bất công trong xã hội do kinh tế thị trường và chế độ tư hữu gây ra và xây dựng một xã hội công bằng do nhân dân làm chủ Trong quá trình xây dựng CNXH, các nước đã nhấn mạnh vào nhiệm vụ và vai trò kinh tế của Nhà nước, coi nó là hiện thân của chế độ công hữu, có sức mạnh toàn năng trong việc tổ chức mọi hoạt động kinh tế của xã hội Do đó, các nước đi theo con đường XHCN đều thực hiện việc quốc hữu hoá và mở rộng mạnh mẽ khu vực kinh tế Nhà nước
ra hầu hết các ngành kinh tế với tỷ trọng tuyệt đối trong nền kinh tế quốc dân, coi đó là mục tiêu cơ bản của quá trình công nghiệp hóa và xây dựng nền kinh tếXHCN
ở các nước đang phát triển, sau khi thoát khỏi chế độ thực dân kiểu cũ
và giành được độc lập về chính trị thì sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước thông qua quốc hữu hoá các cơ sở kinh tế của tư bản nước ngoài và xây dựng
Trang 25phát triển lúc bấy giờ đều chịu ảnh hưởng của lý thuyết kinh tế cho rằng sở hữu Nhà nước ưu việt hơn sở hữu tư nhân, vì nhờ nó, việc thực hiện các kế hoạch đầu tư trực tiếp vào các lĩnh vực ưu tiên của nền kinh tế sẽ tiết kiệm tổng mức đầu tư và tăng phúc lợi xã hội cho nhân dân Quan điểm này phù hợp với các điều kiện về chính trị, kinh tế, xã hội trong thời kỳ các nước mới giành độc lập đã tạo ra khuynh hướng lý tưởng hoá vai trò của Nhà nước.
Sự tồn tại của kinh tế Nhà nước ở hầu hết các nước trên thế giới chứng tỏ
sự cần thiết khách quan của khu vực này trong bối cảnh phát triển kinh tế hiện đại khi các hoạt động quản lý vĩ mô đòi hỏi Nhà nước phải đóng vai trò ngày càng to lớn trong nền kinh tế Có thể nói, khu vực kinh tế Nhà nước giữ vai trò như một công cụ kinh tế của Nhà nước, vừa thực hiện chức năng kinh tế vừa làm một phần chức năng xã hội, góp phần thực hiện tăng trưởng và ổn định kinh tế mỗi nước [17.Tr 48-50] Sự khác nhau chủ yếu ở mức độ chiếm giữ của sở hữu Nhà nước trong các ngành, các lĩnh vực cũng như mục tiêu và cách thức hoạt động của các DNNN ở từng nước Tuy nhiên, việc đề cao vai trò can thiệp tích cực vào nền kinh tế của Nhà nước với những thành tựu phát triển đáng kể, khắc phục được một cách thuyết phục hai yếu điểm của nền kinh tế
*thị trường tự do là cạnh tranh vô chính phủ và bất bình đẳng xã hội ở các nước
tư bản chủ nghĩa đã đi đến xu hướng ảo tưởng về khả năng và sức mạnh của Nhà nước trong phát triển kinh tế, do đó, lạm dụng quá mức sự can thiệp của khu vực kinh tế Nhà nước Khi sự can thiệp đã vượt quá giới hạn hợp lý của sự phát triển nền kinh tế thị trường, thì đến lượt nó lại kìm hãm sự tăng trưởng và làm cho nền kinh tế của nhiều nước rơi vào sự trì trệ kéo dài Riêng đối với
«các nước có khu vực kinh tế Nhà nước chiếm tỷ trọng tuyệt đối, thực hiện kế hoạch hoá tập trung và loại bỏ kinh tế thị trường thì đã đẩy nền kinh tế rơi vào
sự khủng hoảng [17.Tr 53-54] Đến cuối những năm 1980, xu hướng phổ biến
ở hầu hết các nước là đánh giá lại vai trò và hiệu quả kinh tế xã hội của khu vực kinh tế Nhà nước Trên thực tế, các nước đã tiến hành xem xét và triển
Trang 26khai một cách tích cực việc thu hẹp hoặc loại bỏ sở hữu Nhà nước trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực của nền kinh tế thông qua quá trình tư nhân hoá Xu hướng đi tới một mô hình kinh tế hỗn hợp, trong đó khu vực kinh tế Nhà nước
và kinh tế tư nhân, cũng như thị trường và các công cụ kế hoạch được xem xét như là nhân tố cơ bản, sử dụng phối hợp với nhau để điều tiết sự phát triển nền kinh tế thị trường đạt được sự ổn định, hiệu quả và công bằng
ở Việt Nam trước đây, cũng giống như các nước xây dựng nền kinh tế XHCN, khu vực kinh tế Nhà nước đã được phát triển một cách nhanh chóng, rộng khắp trong tất cả các lĩnh vực cơ bản với tỷ trọng tuyệt đối trong nền kinh tế bất kể hiệu quả đích thực mà nó mang lại DNNN giữ vị trí độc tôn trong nền kinh tế Khi nền kinh tế chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường, một vấn đề tiên quyết đặt ra trong đổi mới chính sách và cơ chế quản
lý kinh tế đó là xác định đúng, nhận thức đúng về vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần với 3 hình thức
sở hữu cơ bản là Nhà nước, tập thể và tư nhân Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 6 (khoá VI) tháng 3 năm 1989 đã nêu rõ vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước không phải “có mặt” với tỷ trọng lớn ở tất cả các ngành mà chỉ chiếm giữ những vị trí then chốt trong nền kinh tế Chiến lược phát triển kinh tế đến năm 2000 đã xác định vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước như sau: “Kinh tế quốc doanh được củng cố và phát triển trong những ngành và lĩnh vực then chốt, nắm những doanh nghiệp trọng yếu và đảm đương những hoạt động khác
mà các thành phần kinh tế khác không có điều kiện hoặc không muốn đầu tư kinh doanh Khu vực quốc doanh được sắp xếp lại, đổi mới công nghệ và tổ chức quản lý, kinh doanh có hiệu quả, liên kết và hỗ trợ các thành phần kinh
tế khác, thực hiện vai trò chủ đạo và chức năng của một công cụ điều tiết vĩ
mô của Nhà nước” Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VII (1991) tiếp tục khẳng định vị trí chủ đạo của kinh tế Nhà nước Đến Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996), quan niệm về vị trí của DNNN đã có sự
Trang 27phát triển mới, theo đó kinh tê Nhà nước được giao vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, DNNN là bộ phận quan trọng, chủ yếu để khu vực kinh tế Nhà nước thực hiện vai trò chủ đạo “làm đòn bẩy đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và giải quyết những vấn đề xã hội; mở đường, hướng dẫn hỗ trợ các thành phần kinh
tế khác cùng phát triển; làm lực lượng vật chất để Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết và quản lý vĩ mô; tạo nền tảng cho chế độ xã hội mới”[8.Tr 93] Trên thực tế, việc thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VIII về kinh tế Nhà nước diễn ra những cách hiểu không thống nhất về tính chủ đạo của kinh tế Nhà nước và vị trí của hệ thống DNNN trong nền kinh tế Khắc phục tình trạng đó, Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001) đã chỉ rõ DNNN giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế, là bộ phận quan trọng nhằm thực hiện vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước Văn kiện viết:
“Kinh tế Nhà nước phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế DNNN giữ những vị trí then chốt; đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học
và công nghệ; nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế - xã hội và chấp hành pháp luật”[9.Tr 96] Vấn đề này đã được Nghị quyết Hội nghị lần thứ Ban Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX (2001) về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiộu quả DNNN tiếp tục khẳng định thêm:
“Kinh tế Nhà nước có vai trò quyết định trong việc giữ vững định hướng XHCN, ổn định và phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước DNNN (gồm DNNN giữ 100% vốn và DNNN giữ cổ phần chi phối) phải không ngừng được đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả, giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế, làm công cụ vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô, làm lực lượng nòng cốt, góp phần chủ yếu để kinh tế Nhà nước thực hiện vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, là chủ lực hội nhập kinh tế quốc tế “[10 Tr 2]
Như vậy, để bảo đảm vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước, DNNN phải giữ được vị trí then chốt, vai trò quyết định trong việc ổn định và phát triển
Trang 28kinh tế, chính trị xã hội của đất nước Muốn đạt được điều đó, DNNN phải tiến hành cải cách, đổi mới.
1.2.2 CẢI CÁCH DNNN ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA:
1.2.2.1 Thực trạng DNNN trước cải cách
Vấn đề cải cách, đổi mới, sắp xếp lại DNNN được đặt ra không chỉ ở
Việt Nam mà ở hầu hết các nước nhằm bảo đảm hiệu quả hoạt động của DNNN, giữ vững vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế Nhà nước
Vấn đề cải cách, đổi mới cơ cấu kinh tế, trong đó có cải cách, đổi mới DNNN ở Việt Nam được xác định tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) Quyết định 143-HĐBT ngày 10/5/1990 của Hội đồng Bộ trưởng được coi là văn bản đầu tiên chứa đựng những chủ trương có tính chất nền móng cho việc cải cách, đổi mới DNNN sau này bởi trong đó đã vạch ra phương hướng làm thử việc đổi mới quản lý xí nghiệp quốc doanh trên các nội dung:
tổ chức lại bộ máy quản lý xí nghiệp (xác định lại mức độ, quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan đại diện quyển sở hữu của Nhà nước, cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp của doanh nghiệp, xác định lại quyền hạn của Đại hội công nhân viên chức để đảm bảo quyền sở hữu của Nhà nước, thành lập Hội đồng quản trị, quy định quy cách bổ nhiệm giám đốc doanh nghiệp ); tổ chức xí nghiệp quốc doanh thành công ty cổ phần trong đó tỷ lệ cổ phần của Nhà nước phụ thuộc vào vị trí của doanh nghiệp trong nền kinh tế; nghiên cứu việc khoán và cho thuê DNNN; đề xuất nghiên cứu vấn đề phá sản
Tại thời điểm này (1990), cả nước có 12.084 DNNN, trong đó có 1.695 doanh nghiệp do Trung ương quản lý, 10.389 doanh nghiệp do địa phương quản lý Khu vực kinh tế Nhà nước có số vốn trị giá khoảng 10 tỷ USD, chiếm 85% tổng số vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước, khoảng 70% tổng giá trị tài sản toàn xã hội, tạo ra khoảng từ 30%-38% giá trị tổng sản phẩm xã hội
Trang 29(GDP) và thu nhập quốc dân khoảng 23-30% Các DNNN được hình thành và phát triển trên cơ sở nguồn vốn cấp phát của ngân sách Nhà nước nhưng đểu hoạt động hết sức kém hiệu quả, đặc biệt là các doanh nghiệp do cấp địa phương trực tiếp quản lý Có thể minh hoạ điều này qua các chỉ tiêu cụ thể sau:
- Tỷ trọng tiêu hao vật chất trong tổng sản phẩm xã hội của khu vực kinh tế Nhà nước cao gấp 1,5 lần và chi phí để tạo ra một đồng thu nhập quốc dân thường cao gấp 2 lần so với khu vực kinh tế tư nhân;
- Mức tiêu hao vật chất của các DNNN trong sản xuất cho một giá trị đơn vị tổng sản phẩm xã hội ở nước ta thường cao gấp 1,3 lần so với mức bình quân trên thế giới;
- Chất lượng sản phẩm của nhiều DNNN rất thấp và không ổn định Trung bình trong khu vực kinh tế Nhà nước chỉ có khoảng 15% đạt tiêu chuẩn xuất khẩu; 65% số sản phẩm đạt mức độ dưới trung bình để tiêu dùng nội địa; 20% số sản phẩm kém chất lượng Do đó, hiện tượng hàng hoá ứ đọng với khối lượng lớn và chiếm hom 10% số vốn lưu động của toàn xã hội
-H ệ số sinh lời của khu vực kinh tế Nhà nước rất thấp Ví dụ, hộ số sinh lời của vốn lưu động tính chung chỉ đạt 7%/nãm, trong đó ngành giao thông vận tải đạt 2%/năm, ngành công nghiệp khoảng 3%/năm, ngành thương nghiệp đạt 22%/năm; hệ số sinh lời của vốn lưu động đạt 11%/ năm, trong đó các ngành tương ứng ở trên đạt 9,4%; 10,6% và 9,5%
- Hiệu qúả khai thác vốn đầu tư của khu vực kinh tế Nhà nước hết sức thấp Hàng năm Nhà nước dành hơn 70% vốn đầu tư ngân sách của toàn xã hội cho các DNNN, tuy nhiên chúng chỉ tạo ra được từ 34-35% tổng sản phẩm
xã hội Hơn nữa, khu vực kinh tế Nhà nước lại sử dụng hầu hết lao động có trình độ đại học, công nhân kỹ thuật, phần lớn số vốn tín dụng của các ngân hàng thương mại quốc doanh
Trang 30- Số các DNNN thua lỗ chiếm một tỷ trọng lớn Trong số 12.084 DNNN thì có tới 4.584 đơn vị sản xuất kinh doanh thua lỗ, chiếm hơn 30%
tổng số các DNNN Trong đó, quốc doanh trung ương có 501 cơ sở thua lỗ,
bằng 29,6% số cơ sở do trung ương quản lý; quốc doanh địa phương có 4.083
cơ sở thua lỗ, chiếm 39,9% số đơn vị do địa phương quản lý Các cơ sở thua lỗ
trên có giá trị tài sản cố định bằng 38% tổng giá trị tài sản của toàn bộ khu
vực kinh tế Nhà nước và với 797.300 lao động trong tổng số 2.590.000 lao
động, bằng 32,9% số lao động của toàn bộ khu vực kinh tế Nhà nước Các số
liệu đó cho thấy việc làm ăn thua lỗ của các DNNN đã gây ra tổn thất lớn cho
ngân sách Nhà nước và là một trong những nguyên nhân đưa đến việc bội chi
ngân sách Nhà nước triền miên trong những năm qua Thêm vào đó, Nhà nước
lại có hàng loạt chính sách bù giá, bù lương, bù chênh lệch ngoại thương và
hàng loạt các khoản bao cấp khác cho các DNNN đã làm cho gánh nặng tài
chính và các khoản vay nợ của Nhà nước ngày càng nặng nề và trầm trọng
Chỉ tính trong giai đoạn 1985-1990, tỷ lệ thâm hụt ngân sách thường xuyên ở
trên mức 30% [23]
Như vậy, sau hơn 40 nãm hoàn thành sứ mệnh lịch sử đối với 2 cuộc
kháng chiến giải phóng dân tộc và cải tạo, xây dựng CNXH, DNNN đã bộc lộ
rất nhiều tồn tại, yếu kém không chỉ ở hiệu quả sản xuất kinh doanh mà cả ở
quy mô và các mối quan hệ quản lý có nhiều điểm chưa hợp lý; trình độ kỹ
thuật công nghệ lạc hậu; nợ nần triền miên, tình hình tài chính thiếu lành
mạnh; DNNN là một trong những địa chỉ của tệ tham nhũng, lãng phí, gây
thất thoát, tổn thất nguồn tài lực của đất nước Do đó, nhiệm vụ cải cách
DNNN trở nên cấp bách hơn bao giờ hết
1.2.2.2 Quan điểm cải cách DNNN:
Ở các nước khi tiến hành đổi mới, cải tổ DNNN xuất phát từ quan điểm,
Trang 31khẳng định vai trò của DNNN Các chuyên gia của Ngân hàng thế giới khi
nghiên cứu về đổi mới, cải tổ DNNN đã nhận xét rằng: Thứ nhất, cho dù quá
trình này có mạnh mẽ đến đâu thì vẫn khẳng định sự có mặt của sở hữu Nhà nước hoạt động dưới hình thức doanh nghiệp Nhà nước hay doanh nghiệp cổ phần do Nhà nước nắm phần vốn góp với tỷ trọng bảo đảm quyền chi phối, kiểm soát và quyết định trong những lĩnh vực quan trọng nhất và đem lại lợi
ích cao; thứ hai, ngay cả đối với DNNN đã chuyển sang hình thức sở hữu khác
hoặc Nhà nước không chi phối, quyết định như là người sở hữu thì Nhà nước vẫn có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp này hoạt động hiệu quả Điều này xuất phát không chỉ từ lợi ích chung của nền kinh tế
và xã hội, mà còn cả từ lợi ích của Chủ sở hữu Nhà nước [19 Tr 4]
ở Việt Nam, có nhiều quan điểm khác nhau trong việc cải cách, sắp xếp lại DNNN, tuy nhiên, việc cải cách, sắp xếp lại DNNN phải bảo đảm các yêu cầu sau:
(1) Bảo đảm vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước;
(2) Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và tài sản của Nhà nước, sức cạnh tranh của từng doanh nghiệp trên thị trường;
(3) Phải thực hiện được mục tiêu: tách quản lý hành chính Nhà nước của các cơ quan hành chính Nhà nước với quản lý kinh doanh của DNNN Xoá chức năng chủ quản các DNNN của các cơ quan hành chính công quyền;
(4) Tổ chức lại DNNN phải bảo đảm sự ổn định tình hình kinh tế, chính trị, xã hội;
(5) TỔ chức lại DNNN phải bắt kịp yêu cầu cạnh tranh và hội nhập kinh
tế, thương mại với khu vực và thế giới [15]
1.2.2.3 Các giải pháp cơ bản cải cách DNNN
Cải cách DNNN từ năm 1990 đến nay đã trải qua 3 đợt:
Trang 32- Đợt 1 (từ năm 1990-1993): Chấn chỉnh và tổ chức lại sản xuất kinh doanh của khu vực kinh tế quốc doanh;
- Đợt 2 (từ năm 1994-1997): Tiếp tục sắp xếp tổng thể DNNN để thành lập mới các tổng công ty Nhà nước và chuyển một bộ phận thành công ty cổ phần, đưa DNNN hoạt động theo Luật DNNN;
- Đợt 3 (từ năm 1998 đến nay): Đẩy mạnh sắp xếp và đổi mới DNNN nhằm tạo ra khu vực DNNN có cơ cấu hợp lý và hoạt động hiệu quả [30]
Cải cách DNNN ở Việt Nam trong thời gian qua tập trung vào các giải pháp chủ yếu là: cổ phần hoá; Sáp nhập, giải thể, phá sản; Giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê doanh nghiệp; Tổ chức, củng cố và phát triển các Tổng Công ty Hiện nay, chúng ta đang thí điểm hai giải pháp mới là chuyển đổi DNNN thành Công ty TNHH một thành viên và chuyển đổi DNNN theo mô hình Công ty Mẹ - Công ty Con
Ở Việt Nam, cổ phần hoá là giải pháp được đưa ra sớm nhất để cải cách DNNN, từ năm 1987 tại Quyết định 217/HĐBT về đổi mới thành phần kinh tế quốc doanh, cổ phần hóa là một trong những giải pháp trọng tâm xuyên suốt
Trang 33quá trình đổi mới DNNN nhưng tuyệt nhiên nó không được xét dưới khía cạnh
là một hình thức của quá trình tư nhân hóa Quan điểm này cũng giống như của Trung Quốc Chính phủ Trung Quốc đã khẳng định quan điểm về cổ phần hoá như sau: cổ phần hoá là hình thức biểu hiện chế độ công hữu cổ phần hoá các DNNN ở Trung Quốc không phải là việc chuyển từ chế độ công hữu sang chế độ tư hữu mà là để hoàn thiện và phát triển hơn nữa hình thức chế độ công hữu, điều chỉnh và làm rõ mối quan hệ tài sản trong chế độ công hữu Khi doanh nghiệp thực hiện cổ phần hoá, quyền cổ đông do cổ đông nắm giữ, quyền sở hữu pháp nhân do HĐQT nắm giữ, quyền kinh doanh do Tổng Giám đốc nắm giữ Giám đốc phải chịu trách nhiệm với HĐQT, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là hoàn toàn độc lập, từ đó hình thành một cơ chế ràng buộc giữa quyền lực, lọi ích và rủi ro [18.Tr 25]
(2) Sáp nhập, giải thể và phá sản:
Sáp nhập là một biện pháp đáng quan tâm trong tiến trình cải cách DNNN ở Trung Quốc nhằm mục đích làm cho các doanh nghiệp lớn mạnh hơn do tập trung vốn Sáp nhập không chỉ giải quyết được tình trạng manh mún, phân tán vế vốn và thiếu vốn mà còn khắc phục được tình trạng nhiều DNNN hoạt động chồng chéo vế ngành nghề kinh doanh, cấp quản lý và ữên cùng một địa bàn tạo ra sự cạnh tranh thiếu lành mạnh trong chính khu vực kinh tế Nhà nước với nhau Sáp nhập thực chất là sự liên kết theo chiều ngang nhằm thúc đẩy sự phát triển của các tập đoàn doanh nghiệp, các quần thể doanh nghiệp tiến tới thành lập các tập đoàn lớn, có sức mạnh cạnh tranh quốc
tế, nâng cao hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế
Khác với Trung Quốc, ở Việt Nam, sáp nhập là biện pháp áp dụng đối với các DNNN hoạt động kinh doanh không có hiệu quả, thua lỗ kéo dài nhưng chưa đến mức phải giải thể, phá sản nhưng không thực hiện được chuyển đổi sở hữu Do đó, sáp nhập ở đây hoàn toàn không phải là sự liên kết theo chiều ngang làm cho các doanh nghiệp mạnh hơn mà là sáp nhập dưới
Trang 34hình thức gánh chịu nợ, tức là khoản nợ của doanh nghiệp bị sáp nhập sẽ san
sẻ cho doanh nghiệp sáp nhập gánh chịu Đối với doanh nghiệp không đủ điều kiện để sáp nhập thì phải thực hiện giải thể hoặc phá sản
(3) Giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê doanh nghiệp:
Giải pháp này được áp dụng từ năm 1999, sau khi Chính phủ ban hành Nghị định 103/1999/NĐ-CP ngày 10/9/1999 nhằm đáp ứng yêu cầu bức xúc
về đổi mới DNNN quy mô nhỏ, có vốn Nhà nước dưới 5 tỷ đồng, kinh doanh thua lỗ kéo dài hoặc Nhà nước không cần thiết phải duy trì sở hữu Nhà nước Qua thực hiện giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê doanh nghiệp đã giúp cắt giảm bao cấp và bù lỗ của Nhà nước cho các doanh nghiệp này để tập trung củng cố và phát triển các doanh nghiệp Nhà nước cần nắm giữ, tạo điều kiện tập trung nguồn tài sản sẩn có ở các doanh nghiệp để tiếp tục duy trì và phát triển sản xuất, tránh giải thể doanh nghiệp vì giải thể doanh nghiệp thường dẫn đến xé lẻ doanh nghiệp, người lao động lâm vào tình trạng mất việc làm vì không có cơ sở sản xuất
Trung Quốc đã áp dụng mạnh mẽ biện pháp bán doanh nghiệp trong tiến trình cải cách DNNN Tuy nhiên, việc bán doanh nghiệp cho các thành phần kinh tế khác không được phổ biến trong những năm 80, thậm chí đầu những năm 90 do quan điểm cải cách DNNN trong giai đoạn này còn né tránh
vấn đề sở hữu [18 Tr 23] Trước đây, nếu có thì Trung Quốc hầu như không
bán doanh nghiệp cho tư nhân mà chủ yếu cho các doanh nghiệp sở hữu tập thể Từ giữa những năm 90, việc bán doanh nghiệp dần dần được Trung Quốc khuyến khích áp dụng đối với các hình thức bán một phần hoặc bán đứt toàn
bộ và mở rộng đối tượng mua DNNN đến tất cả các thành phần kinh tế, bắt đầu tiến hành bán một phần doanh nghiệp cho các công ty nước ngoài
Trang 35Việc bán đứt doanh nghiệp ở Việt Nam cũng như ở Trung Quốc thể hiện hai ưu điểm rõ rệt của giải pháp này, đó là nâng cao hiệu quả hoạt động doanh nghiệp và ổn định ngân sách.
(4) Tổ chức, củng cố và phát triển các Tổng Công ty Nhà nước:
Việc tổ chức, củng cố và phát triển các Tổng Công ty 90, 91 nhằm nâng cao hiệu quả và nhu cầu tập trung phát triển một số ngành trọng điểm, then chốt Các Tổng công ty được coi là lực lượng nòng cốt, chủ lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bảo đảm cân đối lớn, cung cấp những sản phẩm trọng yếu cho nền kinh tế quốc dân, đồng thời tạo ra khả năng huy động nhiều nguồn lực đầu tư đổi mới công nghệ, tăng năng lực sản xuất, hiệu quả và sức cạnh tranh
Nằm trong giải pháp tổ chức, củng cố và phát triển các Tổng Công ty Nhà nước, Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX đã đưa ra chủ trương tiến hành thí điểm, rút kinh nghiệm để nhân rộng việc chuyển Tổng Công ty Nhà nước sang hoạt động theo mô hình Công ty Mẹ - Công ty Con Mô hình này nhằm mục đích khắc phục cách ghép nối hành chính giữa tổng công ty Nhà nước và các doanh nghiệp thành viên, tăng sức mạnh, tiềm lực cho tổng công ty để các tổng công ty có thể phát huy được sức mạnh và vị trí, vai trò của mình Hiện có 9 doanh nghiệp đã được Thủ tướng Chính phủ cho phép thí điểm chuyển đổi và hoạt động theo mô hình này
Ở Trung Quốc, việc chuyển Tổng Công ty Nhà nước sang hoạt động theo mô hình Công ty Mẹ - Công ty Con là giải pháp quan trọng nhằm đổi mới hoạt động của các DNNN quy mô lớn để hình thành tập đoàn Trên thế giới, đây cũng là mô hình hoạt động phổ biến của các tập đoàn kinh doanh lớn, nhằm phân tán rủi ro trong kinh doanh và nhân lên sức mạnh đồng vốn của Chủ sở hữu thông qua việc chi phối đối với công ty con [3 Tr 3]
Trang 361.2.2.4 Kết quả cải cách DNNN
Theo Báo cáo của Ban Chỉ đạo Đổi mới và phát triển doanh nghiệp tại Hội nghị sơ kết một năm thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 3 về tiếp tục sấp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước tổ chức tại Hà Nội ngày 13/12/2002, trong những năm qua, cả nước đã tiến hành việc chuyển đổi sở hữu ở 1.035 đơn vị, trong đó đã cổ phần hoá 907 doanh nghiệp (chiếm tổng số khoảng 15% số doanh nghiệp và 3% tổng số vốn của DNNN), giao 76 doanh nghiệp, bán 46 doanh nghiệp và khoán kinh doanh 6 doanh nghiệp Trong số 907 doanh nghiệp hoặc bộ phận doanh nghiệp đã cổ phần hoá có khoảng 13% doanh nghiệp độc lập thuộc các Bộ; 5,5% doanh nghiệp thuộc các Tổng công ty; 81,5% doanh nghiệp thuộc các tỉnh, thành phố Ngành nghề kinh doanh có doanh nghiệp chuyển đổi cao nhất là công nghiệp - xây dựng (53,3%), thương mại - dịch vụ (34,2%), giao thông vận tải (7,7%), còn lại là các ngành khác Bộ, ngành, tỉnh, thành phố có nhiều doanh nghiệp chuyển đổi
sở hữu là Thành phố Hồ Chí Minh (102), Hà Nội (94), Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (60), Bộ Giao thông Vận tải (40), Nam Định (39), Nghệ
An (39)
Đến đầu năm 2003, chỉ còn 5.175 DNNN, giảm 480 Doanh nghiệp Nhà nước nhỏ đa dạng hoá sở hữu Các DNNN tiếp tục được củng cố vị thế trong kinh tế quốc dân Tỷ lệ DNNN làm ăn có lãi được nâng lên Tính đến giữa tháng 12, có 3.979 DN đang có lãi và 816 DN thua lỗ kéo dài Khu vực DNNN do các Bộ, ngành quản lý 87% DN có lãi; 10,3% DN thua lỗ Trong các Tổng Công ty mặc dù vẫn còn 17,9% DN thua lỗ nhưng mức tăng trưởng khá cao, lợi nhuận trước thuế đạt 15.000 tỷ đồng, nộp ngân sách 45.000 tỷ đồng, tăng 15% so với thực hiện năm 2001 [32] Qua khảo sát trên 400 DN đã
cổ phần hoá trên một năm cho thấy doanh thu tăng lên 1,43 lần, lợi nhuận
Trang 37tăng 2,04 lần, nộp ngân sách tăng 1,18 lần, thu nhập cá nhân người lao động tăng 22%.
Bên cạnh đó, việc thành lập các Công ty cổ phần, công ty TNHH do DNNN đầu tư một phần vốn được chú trọng hơn Chính phủ đã chỉ đạo thành lập một số công ty cổ phần có quy mô lớn trong các lĩnh vực công nghiệp nặng, năng lượng, xây dựng mà các cổ đông là các Tổng Công ty Nhà nước
Tuy nhiên, tiến độ chung của việc sắp xếp đổi mới DNNN còn chậm, không đạt yêu cầu chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ Theo đề án của các địa phương, hiện có tới 2000 DNNN không thuộc lĩnh vực ngành nghề cần duy trì
sở hữu Nhà nước, đang thiếu vốn, nhiều doanh nghiệp thua lỗ kéo dài, cần tập trung sắp xếp, đổi mới, trong đó đặc biệt cần nhanh chóng chuyển đổi sở hữu;
2000 DNNN cần được chuyển đổi hình thức tổ chức quản lý Dự kiến trong 5 năm tới chỉ có khoảng 700 DNNN được giữ nguyên Như vậy, từ năm 2003 đến 2005 (là năm phải hoàn thành về cơ bản cải cách DNNN), nhiệm vụ cải cách DNNN rất nặng nề Để thực hiện được nhiệm vụ này, ngoài việc nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành việc chỉ đạo phải rất kiên quyết, các biện pháp phải rất cụ thể, có như vậy mới tránh được tình trạng sắp xếp lại DNNN một cách ì ạch như trong thời gian trước đây
1.2.3 Mục đích chuyển đổi DNNN thành công ty TNHH một thành viên
Nhìn chung, cải cách DNNN trong thời gian qua đã được triển khai một cách khá kiên quyết và mạnh mẽ, do đó, bức tranh DNNN đã có sự thay đổi Tuy nhiên số lượng doanh nghiệp còn lại trong khu vực Nhà nước vẫn lớn hơn nhiều so với các doanh nghiệp cổ phần hoá hoặc đa dạng hoá hình thức sở hữu Vì vậy, nếu muốn khu vực kinh tế Nhà nước giữ vững được vai trò chủ đạo thì vấn đề đặt ra là phải củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của
Trang 38những doanh nghiệp mà Nhà nước quyết định nắm giữ 100% vốn thuộc sở hữu.
Một trong những nguyên nhân được coi là cốt lõi nhất dẫn đến sự kém hiệu quả của DNNN đó chính là cơ chế quản lý DNNN (trong đó bao gồm cả quản lý bên trong nội bộ DNNN và quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp) chưa hợp lý Doanh nghiệp phải đối mặt với sự thay đổi của môi trường kinh doanh, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt nhưng năng lực cạnh tranh lại yếu kém do còn bị nhiều ràng buộc và hạn chế xuất phát từ cơ chế quản lý, ví dụ: doanh nghiệp chưa có đủ các quyền quyết định đối với việc sử dụng tài sản do mình quản lý, chưa nhân danh mình để tham gia vào các quan hệ kinh tế, quyết định kinh doanh, quyết định đầu tư, liên doanh, góp vốn, mua cổ phần, mua bán, thanh lý, cầm cố, chuyển nhượng các tài sản; doanh nghiệp chưa tự chịu trách nhiệm trong phạm vi tài sản của mình; quyền quản lý Nhà nước và quyền của Chủ sở hữu chưa được phân định rõ, quyền sở hữu phân công cho nhiều cơ quan; nhiều thủ tục phiền hà, cơ chế trách nhiệm cá nhân chưa nghiêm, chưa đủ mạnh, các quy định hiện hành chưa đủ động lực để DNNN hoạt động có hiệu quả
Để khắp phục tình trạng này, Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 4 khoá VIII đã đề ra chủ trương chuyển DNNN thành Công ty TNHH một thành viên và Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá IX tiếp tục khẳng định chủ trương này Thể chế hoá chủ trương của Đảng, căn cứ vào mục II, chương III của Luật Doanh nghiệp, ngày 14/9/2001 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 63/2001/NĐ-CP về chuyển DNNN, doanh nghiệp của các
tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành Công ty TNHH một thành viên
Việc chuyển đổi DNNN thành Công ty TNHH một thành viên nhằm mục đích:
Trang 39(1) Tạo điều kiện và môi trường để các doanh nghiệp chuyển đổi hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, trên một mặt bằng pháp lý cùng với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh khác, trong khi vẫn tiếp tục giữ 100% sở hữu Nhà nước;
(2) Tạo ra sự thay đổi về chất đối với doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả
và sức cạnh tranh do chuyển đổi hình thức pháp lý, cơ cấu lại doanh nghiệp, tăng quyền và trách nhiệm đem lại, bao gồm:
- Tạo điều kiện cho doanh nghiệp quyển tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động kinh doanh, bình đẳng với các doanh nghiệp khác, quyền hạn, trách nhiệm tương tự như các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp
- Nhà nước đối xử với doanh nghiệp với tư cách là chủ đầu tư vốn vào doanh nghiệp
- Tạo ra sự chuyển đổi sâu sắc trong quan hệ của Nhà nước với doanh nghiệp: giảm can thiệp, giới hạn trách nhiệm của Nhà nước, giảm bao cấp của Nhà nước
- Loại bỏ nghĩa vụ xã hội phi kinh tế cho doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp phải được hạch toán kinh doanh theo giá thị trường đối với nghĩa vụ này trên cơ sở có sự cấp bù của Nhà nước
- Khắc phục những hạn chế của cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý của DNNN hiện nay
(3) Dần dần tiến tới hoạt động theo một khung pháp luật thống nhất cho các doanh nghiệp [2 Tr 3]
Như vậy, chuyển đổi DNNN thành Công ty TNHH một thành viên không làm thay đổi bản chất sở hữu mà chỉ thay đổi hình thức pháp lý của doanh nghiệp Các doanh nghiệp được chuyển đổi vẫn giữ 100% sở hữu của Nhà nước nhưng quyền hạn, nghĩa vụ của doanh nghiệp sẽ tương tự như các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp; tổ chức quản lý và hoạt độn&
Trang 40thực hiện theo Luật doanh nghiệp; cơ cấu tổ chức quản lý doanh nghiệp theo
cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty TNHH một thành viên
Tác dụng của việc chuyển đổi DNNN thành Công ty TNHH một thành viên thể hiện trên các nội dung sau:
(1) Công ty TNHH một thành viên chỉ có một tổ chức duy nhất là Chủ
sở hữu hoặc được uỷ quyền là Chủ sở hữu, thay vì có nhiều đại diện sở hữu
Do chỉ có một tổ chức duy nhất là Chủ sở hữu hoặc được uỷ quyền là Chủ sở hữu nên khắc phục được tình trạng phân tán quyền hạn và trách nhiệm của Chủ sở hữu cho nhiều cơ quan, tổ chức làm đại diện Chủ sở hữu và không cơ quan nào chịu trách nhiệm toàn diện đối với DNNN;
(2) Quan hệ giữa Nhà nước và Công ty TNHH một thành viên có nhiều chuyển biến tích cực hơn so với quan hệ với DNNN;
(3) Nhà nước đối xử với doanh nghiệp với tư cách là một thành viên góp vốn vào doanh nghiệp để hưởng lợi nhuận và doanh nghiệp là một công ty được “công ty hoá” nên Nhà nước không can thiệp sâu vào quản lý kinh doanh của doanh nghiệp;
(4) Tách bạch giữa Chủ sở hữu và người quản lý doanh nghiệp: Chủ sở hữu công ty chỉ quản lý trên cơ sở giá trị, còn Chủ sở hữu DNNN quản lý doanh nghiệp cả về hiện vật và giá trị nên can thiệp cả vào công việc của người quản lý doanh nghiệp ;
(5) Hạn chế Chủ sở hữu tuỳ tiện rút vốn, điều chuyển vốn, thu hồi lợi nhuận của công ty TNHH một thành viên so với DNNN Do đó, tạo sự ổn định cho doanh nghiệp hoạt động;
(6) Thực hiện cơ chế trách nhiệm hữu hạn, giới hạn trách nhiệm của Nhà nước trong phạm vi số vốn điều lệ đối với các khoản nợ, lỗ của công ty TNHH một thành viên so với cơ chế trách nhiệm vô hạn hiện nay đối với