1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số khía cạnh pháp lý liên quan đến vấn đề hiến bộ phận cơ thể người

91 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 9,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Không thể có bất ứ sự hiểu nhầm nào, người hiến phải nắm được một sổ thông tin liên quah đến việc BPCT của họ có thể bị lấy đi khi họ thực hiện quyền hiến của mình, đặc biệt là những rủi

Trang 2

TRU ÔNG ĐẠI HỌC LUẬT HẢ NỘI

I P H O N G Đ O C - ,

-LUẬN VĂN THẠC s ĩ LUẬT HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẢN: TS BÙI tiĂNG HIÉU

HẢ NỘI - 2008

Trang 3

MỤC LỤC

Chương 1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về hiến BPCT người 4

* 1.2.2 Mục đích nhân đạo, chữa bệnh, giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học 12

Trang 4

người

Trang 5

BẢNG KÊ NHỮNG TỪ VIẾT TẮT Được s ủ ' DỤNG TRONG LUẬN VĂN

BL.Y tế Cộng đồng Bộ luật Y tế Cộng đồng Cộng hòa Pháp

Pháp:

BLDS2005: hay BLDS: Bộ luật Dân sự Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt

Nam 2005BLHS1999: Bộ luật Hĩnh sự Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1999

BLTTDS2004: Bộ luật Tố tụng Dân sự Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt

Trang 6

r-r1 • A ~Tiên sĩThông tư số 01/2003/TT-BYT, ngày 12/03/2003 của Bộ Y tế

về việc Hướng dẫn bổ sung điểm a mục 1 phần II Thông tư

số 22/2001/TT-BYT, ngày 15/11/2001 về Mức chi phí cho một đơn vị máu đạt chuẩn

Thông tư số 07/2003/TT-BYT, ngày 28/05/2003 của Bộ Y tế Hướng dẫn thi hành nghị địnli số 12/2003/NĐ-CP, ngày 12/02/2003 của Chính phủ về Sinh con theo phương pháp khoa học

Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể Liên hợp quốc

Tổ chức Y tế thế giới

Xã hội chủ nghĩa

Trang 7

L Ờ I N Ó I Đ Ầ U

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Sự phát triển bùng nổ của công nghệ y sinh học những năm gần đây đã làm thế giới phải ngỡ ngàng Con người khẳng định sự kì diệu của chmh cơ thể mình Nhưng nó cũng đẩy chúng ta đến nguy cơ phá vỡ mọi quy luật tự nhiên, mọi quy tắc, quan điểm về con người đã tồn tại cùng chúng ta trong suốt chiều dài lịch sử của mình tới nay Công nghệ y sinh là một cơ hội cũng là thách thức bởi “khoa học mà không có ý thức thì chỉ là khoa học dẫn đến sự lụi tàn của con người” [59] Hơn lúc nào hết, chúng ta cần kiểm soát công cụ này nhằm đưa nó đi đúng hướng cho sự phát triển thật sự lành mạnh của nhân loại Quy tắc về đạo đức sinh học, đặc biệt là các quy tắc hành xử liên quan đến cơ thể người được đặt ra và nhanh chóng được luật hoá tạo thành động lực định hướng phát triên một công nghệ y sinh học mang tính nhân bản

Ở Việt Nam, với sự nỗ lực không ngừng hơn mười lâm năm nay, công nghệ y sinh mà điển hình là kỹ thuật y học của ta đã đạt được những bước tiến đáng kể, từng bước bắt kịp với thế giới, írong đó ghép BPCT, điều trị vô sinh rất đáng để chúng ta tự hào Nhu cầu bức thiết điều chỉnh có hiệu quả các quan hệ có thể phát sinh từ việc áp dụng kỹ thuật y sinh trong đời sống là một câu hỏi ỉớn cần được sự quan tâm của tất cả chúng ta Và nguồn BPCT người phục vụ điều trị, nghiên cứu khoa học là bài toán tiên quyết, có tính chìa khoá, cũng là bài toán khó khăn nhất do

sự nhạy cảm mà nó mang Do đó, việc nghiên cứu các vấn đề pháp lý về việc hiến BPCT cần kíp phải được giải quyết để ngành y tế Việt Nam có cơ sở pháp lý vững chắc triển khai các hoạt động cấy, ghcp thay thế trị liệu của mình, đảm bảo nhu cầu bảo vệ sức khoẻ của nhân dân trên cơ sở tôn trọng những giá trị tốt đẹp và nhân bản vốn có của y học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Quyền hiến BPCT đã được trang trọng ghi nhận trong BLDS2005; các khía canh pháp lý liên quan đến công tác hiến BPCT người cũng đã bước đầu được một

số nhà nghiên cứu pháp luật dân sự lưu tâm như: Tìm hiểu một sổ quy định của pháp

luật về đạo đức sinh học (đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học, 2003); về quyền

1

Trang 8

hiển B PC T và quyền hiến xác sau khi chểí-TS Phùng Trung Tập, Tạp chí Toà án

nhân dân, số 5 tháng 3/2005; Bình luận những nội dung mới của BLDS2005-TS Đinh Trung Tụng chủ biên.NXB Tư pháp, 2005); Luận văn Thạc sĩ Quyền nhân

thân Hên quan đến thân thê của cá nhân (Lê Thị Hoa, 2006); Khoá luận tốt nghiệp Quyền hiến xac, hiến BPC T sau khi chết (Bùi Đức Hiển, 2007) Các tác giả đã khai

thác vấn đề hiến BPCT trên các khía cạnh: nguyên tắc thực hiện, cơ sở xác định chết não, trình tự thủ tục; đồng thời đưa ra một số giải pháp hoàn thiện: xây dựng ngân hàng mô, tạng với hình thức phi lợi nhuận và TTĐPQG, thực hiện tuyên truyền phổ biến pháp luật, bổ sung quv định về thời hiệu đối với quyền hiến BPCT; tuy nhiên không xây dựng phương hướng cụ thể cho nên kiến nghị này chỉ ở dạng ý rưởng Cá nhân tác giả, năm 2006 ở cấp độ cử nhân đã làm đề tài Quyền hiến BPC T theo BLDS

2005 Những khái lược cơ bản nhất về quyền năng đặc biệt này của con người: khái

niệm, chủ thể, mục đích, nguyên tắc chung (tiền đề), mối quan hệ giữa quyền hiến

và nhận BPCT đã được đưa ra Nội dung kiến nghị xây dựng của tác giả bao gồm: Việc xác định chết não-cơ sở đầu tiên cho phép thực hiện quyền hiến BPCT sau khi chết (nguồn ghép chủ yếu); quy chế tài chính; các nguyên tắc cần thiết; trình tự thủ tục cơ ban trong việc hiển-nhận BPCT Tuy nhiên đáng tiếc là cho đến hiện nay vấn

đề thực hiện các hoạt động h :n BPCT trong cộng đồng chưa có bước tiến nào đáng

kể N hư vậy, mảng đề tài này, có thể nói là tương đối mới mẻ và còn nhiều bỏ ngỏ

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Để thực hiện đề tài, tác giả nghiên cứu trên đối tượng là toàn bộ hoạt động hiến BPCT người gắn liền với luật thục định trên giới hạn lãnh thổ Y.ệt Nam có sự

so sánh với các nước trên thế giới

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Lấy quan điểm duy vật lịch sử với phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin làm định hướng, quá trình nghiên cứu đề tài tác giả chọn kết hợp

sử dụng các phương pháp cụ thể sau: phương pháp nghiên cứu tài liệu (nghiên cứu

lý thuyết), phương pháp chuyên gia (tham vấn ý kiến chuyên gia) để thu thập thông tin; phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp để thực hiện xử lý thông tin đã thu thập được Trong đó: phương pháp tổng hợp, so sánh tạo tạo sự đa dạng cho các thông tin tác giả cung cấp phương pháp phân tích tạo chiều sâu cho những quan

Trang 9

điểm, kết luận đánh giá của tác giả; trên cơ sở tư duy của phương pháp khung logic tạo sự linh hoạt, hiệu quả trong nghiên cứu; đồng thời sử dụng phương pháp thống

kê như một sự bổ trợ cần thiết cho việc nghiên cứu đề tài

5 M ục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài• • • • “

Với mong muốn tiếp tục nghiên cứu, một lần nữa tác giả mạnh dạn chọn đề

tài Một sổ khỉa cạnh pháp lý liên quan đến vấn dề hiến B P C T người Theo đó, cái

đích cuối cùng mà tác giả có tham vọng đạt được đó là cổ gắng đưa ra những phương hướng mang tính khuyến nghị để sửa đổi và hoàn thiện các quy chế phi p lý liên quan đến hoạt động hiến BPCT trong cộng đồng vứi các nhnìm vụ cụ thể sau:

- Nghiên cứu các khái niệm BPCT người và hiến BPCT người; chỉ ra các BPCT nào và trong trường hợp nào có thể hiến

- Nêu những điểm cơ bản trong cơ cấu hệ thống hiến BPCT (cơ sở y tế, ngân hàng mô/tt bào, TTĐPQG) và hoạt động hiến BPCT (hiến khi còn sống và sau khi chết)

- Tổng kết tình hình thực hiện hoạt động hiến BPCT trong cộng đồng nêu ra nhữiig điểm bất cập, hạn chế và nguyên nhân cua nó Trong đó đặc biệt nhấn mạnh các vi phạm thực tế trong hoạt động này

- Xây dựng các khuyến nghị cần thiết để sửa đổi và hoàn thiện các quy phạm pháp luật lièn quan đến hoạt động hiến BPCT

6 C ơ cấu của luận văn

FX- triển khai nội dung nghiên cứu và đưa ra những kết quả mới có thể đem lại

từ đề tài, tác giả sẽ trình bày cơ cấu của luận văn như sau:

Chương 1 M ột số vấn đề lý luận cơ bản về hiến BPCT người

Chương 2 Hiến BPCT người íheo luật thực định V iệt Nam

Chương 3 Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hiến BPCTngười

Mặc dù đã rất cổ gắng, song đề tài nghiên cứu chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót, tác giả hy vọng nhận được sự góp ý của Thầy/Cô và các bạn

Xin trân trọng cảm ơn!

H à Nội, tháng 12/2008

3

Trang 10

M Ộ T SÓ V Á N Đ È LÝ L U Ậ N c ơ B Ả N V È H IÉ N B PC T N G Ư Ờ I 1.1 Khái niệm B PC T người và hiến BPC T người

1.1.1 BPCT người

BPCT người là cụm từ được sử dụng tương đối phổ biển trung đời sống với một cách hiểu đơn nhất theo kiểu định nghĩa thống kê: “BPCT người bao gồm: chân, tay, máu, xương, gan, tụy, m ậ t ” Khái niệm này trở nên phức tạp từ khi có

sự xuất hiện BLDS2005 lần đầu tiên ghi nhận quvền hiển và nhận BPCT của cá nhân với tư cách là quyền nhân thân không thể phủ nhận (điều 33, 34, 35) mà không hề giải thích thuật ngữ Lúc này người ta mới đề cập đến việc nhận thức như thể nào về khái niệm BPCT (người) để có những hành xử đúng theo tinh thần của luật Khái niệm này phức tạp ở chỗ trước đó người ta đã sử dụng thuật ngữ này bên cạnh thuật ngữ mô (điều 30, Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân) Điều này cho phép người ta hiểu rằng BPCT và mô là hai khái niệm khác nhau và không trùng nhau Như thế có nghĩa thực tế cá nhân mặc dù thực hiện hành vi hiến tế bào (trứng, tinh trùng ), mô, BPCT nhưng pháp luật chỉ thừa nhận một quyền duy nhất: quyền hiển BPCT! Cách hiểu này càng được củng cố hơn khi một lần nữa nó được dùng trở lại trong Luật 75/06

Trong từ điển tiể Ìg Việt thuật ngữ BPCT không được định nghĩa, ta chỉ có thể suy đoán qua hai khái niệm bộ phận và cơ thể Theo đó bộ phận là “từng phần của một chỉnh thể” [54]/“một phần của chỉnh thể trong quan hệ với chỉnh thê” [53] và

cơ thể được hiểư là “tập hợp thống nhất mọi bộ phận của sinh vật” [54] Từ những tra cứu trên cho phép ta có một cách hiểu về BPCT người như sau: BPCT người là phần cấu tạo nên chmh thể con người về mặt sinh học Ở đây, dưới góc độ sinh học, về cơ bản, tất cả những gì thuộc về cơ thể con người, cấu tạo nên cơ thể con người được gọi chung trong một khái niệm: BPCT n g ư ờ i r a o đổi về vấn đề này TS Phùng Trung Tập thống nhất với cách hiểu trên khi cho rằng: “BPCT người là những thành

tố cấu thành cơ thể sống hoàn chỉnh và nó thực hiện chức năng trao đổi chất giúp'cơ thể tồn tại và phát triển bình thường theo quy luật tự nhiên” Đây là cách hiểu rộng của cụm từ dưới góc độ sinh học nói chung Việc phân chia cơ thể người thành

Trang 11

những bộ phận khác nhau như vậy là căn cứ vào chức năng của chúng Nhưng nếu dựa vào độ phức tạp về cấu trúc thì cơ thê người không chia thành t)ác bộ phận kh IC nhau mà chia thành các C4 5 độ: tế bào, mô và cơ quan chuyên biệt (nhiều tài liệu gọi

là BPCT) Trong đó, tế bào “là các đơn vị cấu trúc, cbửc năng cơ bí ,n của mọi sinh vật đa tế bào” [19]; mô “là tập họp các tế bào cùng một loại hay nhiều loại khác nhau

để thực hiện các chức năng nhât định của cơ thể người”(khoản 1, điều 3, Luật 75/06)

và cơ quan chuyên biệt “là một phần của cơ thể được hình thành từ nhiều loại mô khác nhau để thực hiện các chức năng sinh lý nhất định”(khoản 2, điều 3, Luật 75/06) N hư vậy BPCT người (nghĩa rộng) có thể là tế bào, mô hoặc một cơ quan chuyên biệt (BPCT theo nghĩa hẹp) Ví iựí da là một BPCT nhưng ở cấp độ mô, tim

ở cấp độ cơ quan chuyên biệt còn giao tử lại ở cấp độ tế bào Việc hiểu khái niệm theo nghĩa hẹp đã chi phối toàn bộ các văn bản pháp quy liên qua đến ngành y như Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân, Luật 75/06 Hệ quả là có luật về hiến BPCT nhưng các hoạt động hiến tế bào, tuỷ đã bị gạt ra khỏi phạm vi điều chỉnh của luật, nên khoa học các liệu pháp tế bào của ta ở tình trạng áp dụng tương tự trong khi đợi luật Nguyên nhân của thực trạng trên là do khi xây dựng luật ta mới chỉ chú ý đến hoạt động ghép lạng và một số loại mô mà chưa thực sự chú trọng đến vẩn đề gốc là đạo đức sinh học Nên bà Trịnh Thị Lê Trâm, đại diện ban soạn thảo Pháp lệnh (nay là Luật) về hiển, ghép mô, BPCT cũng thừa nhận khi nói về mô: “chúng tôi muốn điều chỉnh cụ thể về da, xương, giác mạc”[64 tr.6] và người Pháp thì “không hiểu tại sao việc hiến, lấy, nhận giao tử, tế bào lại không thuộc phạm vi điều chỉnh của luật này”[62, tr.19], họ cho rằng việc sử dụng cụm từ “BPCT” có thể dễ dẫn đến hiểu lầm là phủ lục ngũ tạng trong cơ thể người (nghĩa hẹp) và gợi ý dùng cụm từ “các thành phần và sản phẩm của cơ thể con người”/“các yếu tố và sản phẩm từ cơ thể người” Cụm từ này về mặt nghĩa rất đầy đủ nhưng tương đối dài nên không được chấp nhận[58] Việc phân định BPCT nào là tế bào, mô, cơ quan chuyên biệt là việc tươiig đối phức tạp vì nó mang tính kĩ thuật cao Cho nên, cách hiểu \ ề BPCT như trong Luật 75/06 không những đã thu hẹp khái niệm này mà nhiều khi cũng không thực sự chính xác, ví dụ: phổi được coi là cơ quan chuyên biệt trong kV i xương lại được coi là mô Thực tế người hiến cũng không quan tâm đến việc họ hiến tế bào,

mô hay cơ quan chuyèn biệt; cái họ quan tâm là họ hiến tuỷ hay giao tư hay th ận

5

Trang 12

N hư vậy, nếu từ góc độ chức năng thì cơ thể người được phân thành những

bộ phận-ta có cụm từ BPCT nghĩa rộng; còn từ góc độ phức tạp của ( ẩu trúc thì nó được phân thành các cấp độ: tế bào, mô, cơ quan chuyên biệt (BPCT nghĩa hẹp) Câu hỏi được đặt ra là BLDS2005 sẽ tiếp cận theo hu ng nào? Nếu coi BLDS là đạo luật “gốc” thì việc hiểu khái niệm BPCT theo nghĩa hẹp sẽ không thể bao quát hết các trường họp can thiệp vào cơ thể người của y học (ứng dụng và nghiên cứu) Và người ta sẽ đòi hoi thêm quyền hiến mô, tế bào Bởi vì dù ở cấp độ nhỏ nhất (tế bào)

cơ thể người vẫn cần phải được tôn trọng và bảo vệ Do đó, trong đề tài nghiên cứu

về các khía cạnh pháp lý liên quan đến hiến BPCT người, tác giả sẽ tiếp cận khái niệm trên theo nghĩa rộng, bao gồm cả những phần không còn cần thiết cho cơ thể (nhau thai) hay bị nhiễm bệnh (khối u) gây hại đến sức khoẻ con người, cần phải cắt

bỏ Vì về mặt thực tế, những phần nêu trên mặc dù trở lên không cần thiết, bị loại bỏ khỏi cơ thể nhưng nó vẫn xuất phát từ cơ thô một con người cụ ử : và trước khi bị cắt bỏ vẫn là thành tổ cấu tạo nên cơ thể đó; về mặt khoa học, muốn loại bỏ nó thì cần phải thực hiện các thủ thuật y học tác động lên cơ thể; mặt khác, tuy không có giá trị ghcp trị liệu nhưng hoàn toàn có giá trị về mặt nghiên cứu khoa học, chữa bệnh Xét cả về mặt pháp luật và đạo đức thì các quy tắc liên quan cũng không thể khác so vớ- các trường họp BPCT thông thường nghĩa là trong mọi trường hợp nhân phẩm con người đều được tôn trọng

1.1.2 Hiến BPCT người

Theo từ điển, hiến là động từ chỉ “hành động dâng hay tự nguyện cho của một chủ thể” [28], là hành vi mang tính chủ động “cho cái quý giá của mình một cách tự nguyện, trang trọng” [53] Vì vậy, hieu đơn thuần về mặt câu chữ hiến BPCT người

có nghĩa là tặng/cho mội phần cơ thể của chủ thể xác định Tuy nhiên, đối tượng được đem tặng này lại rấl đặc biệt-BPCT-món quà sự sống cho nên kéo theo nó là cả một hệ thống các quy chế pháp lý cho ta có cách hiêu về cụm tò trên phức tạp hơn Dưới góc độ pháp luật, hiến BPCT người được hiểu “là việc cá nhân tự nguyện

h iến BPCT của mình khi còn sống hoặc sau khi chết”[73] Mặc dù định nghĩa này không thực sự rõ ràng khi sử dụng mệnh đề: “hiến là h iến ” nhưng n( đã chỉ ra một điểm hết súc quan trọng: nguồn gốc của đói tượng hiến (BPCT) phải xuất phát

từ chính cơ thể của chủ thể thực hiện hành vi hay hành vi hiến phải là hành vi trực

Trang 13

tiếp (tự mình thực hiện, không đại diện) của cá nhân, ngay cả trường không có thẻ đăng ký hiến sau chết phải có sự đồng ý của cha, mẹ/người giám hộ/vợ, chồng/đại diện các con đã thành niên của họ-đây là trường hợp sự đồng ý của người thân được hiểu là chứng cứ chứng minh người chết đã không từ chối và có thể đồng ý hiến trước đó Ngoài ra, định nghĩa trên còn đặc biệt nhấn mạnh tính tự nguyện của chủ thể khi thực hiện hành vi để nêu bật lên tính nhân văn cao đẹp của nó cho dù bản thân từ hiến đã bao hàm sự tự nguyện Nếu hiểu hiến BPCT người với tư cách là một quyền năng dân sự của cá nhân thì nghĩa của cụm từ này còn bị thu hẹp hơn Cụ thể: chỉ có thể có việc hiến BPCT “vì mục đích chữa bệnh cho người khác hoặc nghiên cứu khoa học”[72], hoặc “mục đích nhân đạo”, “không nhàm mục đích thương mại”[73]; không tôn tại cái gọi là hiến BPCT chung chung tức là hành vi luôn phải kèm theo mục đích rõ ràng: nhân đạo, cứu người hoặc phục vụ nghiên C'fu khoa học

vì sự tiến bộ chung của loài người và hoàn toàn vô điều kiện Chính mục đích nhân đạo cao cả này đã làm cho hiến BPCT người trở thành một trong những nghĩa cử cao đẹp nhất mà con người dành cho nhau và sẽ con mãi được ngợi ca bởi cách mà bạn đem lại cho ai đó một tương lai Chính nó đã tạo nên mối gắn kết cộng đồng thêm bền chặt, vươn lên giá trị đích thực của sự bác ái Pháp luật không chỉ hạn chế

về điều kiện mục đích hành vi mà còn hạn chế về điều kiện chủ thê thực hiện nó Theo đó hành vi hiến BPCT không phải là của cá nhân bất kì mà phải là những cá nhân “tò đủ 18 tuổi trở lên, có NLHVDS đầy đủ” (“từ đủ 20 tuổi trở lên” trong trường hựp hiến tinh trùng)[73] nhưng lại bỏ lửng trường hợp hiến tuỷ Cách hiểu này vô hình chung đã tước đi quyền được hiến tuy của trẻ em cho các anh chị em của nó và bỏ qua khả năng được cứu sống của trẻ em bị bệnh về máu* Vì thể tác giả muốn tiếp cận khái ịiỉệm hiến BPCT theo tinh thần của BLDS2005 Có thể diễn đạt lại định nghĩa trên như sau: hiến BPCT người là hành vi trực tiếp, tự nguyện của cá nhân theo quy định của pháp luật nhằm tặng/cho một phần cơ ihể của ch-iih mình vì mục đích nhân đạo, chữa bệnh, giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học và hoàn toàn vô điều kiện

Dưới góc độ pháp lý, bản chất của hiển BPCT không phải là hợp đồng mà là hành vi đơn phương của chủ thể hiến Thực vậy, nó thể hiện duy nhất ý chí tự nguyện của chủ thể hiến mà không phải là sự thỏa thuận giữa các bên chủ thể nhằm

Trang 14

Nó không thỏa mãn khái niệm hợp đồng dân sự được quy định tại điều 388, BLDS2005 Khi ngưừi hiến ký tên vào đơn đăng ký hiến và cơ sở y tể hoàn tất thủ tục đăng ký cho người hiến không phải là họp đồng tặng cho được ký kết Nó ch đơn £Ĩản là một thủ tục ghi nhận duy nhất ý chí tự nguyện của người hiến, còn cơ sở

y tế chỉ là một chủ th i có nhiệm vụ trợ giúp người hiến thực hiện quyi n của họ (tiếp nhận, đăng ký đơn hiến; kiểm tra, tư vấn sức khỏe; thực hiện lấy, xử lý an toàn và phân phối BPCT) mà thôi Ở đây, chủ thể nhận không cần phải đuực xác định cụ thể, thậm chí m ột số trường họp không thể xác định (hầu hết ở hiến vì mục đích ghép trị liệu) Việc hiến và nhận về mặt pháp lý hoàn toàn độc lập với nhau, không

có mối liên hệ quyền, nghĩa vụ giữa người hiển và nhận (cá nhân nhận ghép trị liệu,

cơ sở y tế, cơ sở lưu trữ mô, tế bào), chủ thê nhận sẽ chính thức được xác định trong kháu phân phối Vì thế không trách nhiệm nào phát sinh giữa họ khi hiến-nhận Có chăng chỉ là trách nhiệm của các cơ sở y tế đối với người hiến theo luật khi người hiển thực hiện các thủ tục hiến BPCT mình với tư cách là một phần, một mắt xích của hệ thống hiến BPCT người chư không phải là một bên của hợp đồng Ngược lại, chủ thể hiến không phải chịu ràng buộc bất cứ trách nhiệm nào Do đó người nhận,

cơ sở y tế, cơ sở lưu trữ không thể kiện người hiến về việc không chuyển giao BPCT hay chất lượng BPCT không đảm bảo N ếu cho rằng việc hiến là hợp đồng tặng cho thì vẫn có nhũng tranh cãi khi người ta không thống nhất được về chủ thể bên kia (người nhận) là ai khi mục đích hiến là ghép trị liệu N ếu chủ thổ nhận là cơ sở y tế

và nó sẽ tiếp tục giao cho người thứ ba để thực hiện mục đ ch của ngưm hiến trên một hợp đồng m ẫu vì lợi ích của người thứ ba 1 1 đơn đăng ký hiến thì không phù họp với quy định về hợp đồng vì lợi ích của ngưài thứ ba (khoản 5, điều 406, BLDS2005): “là hợp đồng mà các bên giao kết họp đồng đều phải thực hiện nghĩa

vụ và người thứ ba được hưởng lợi ích từ việc thực hiện nghia vụ đó” bởi vì người hiến luôn luôn có quyền hủy bỏ quyết định hiển bất cứ lúc nào mà không chịu bất cứ

áp lực nào về trách nhiệm thực hiện cam kết trước “bên nhận” cũng như “người thứ ba” kia Nếu bên nhận là bệnh nhân được phẫu thuật ghép thay thế và họp đồng sẽ

được ký kết gián tiếp thông qua cơ sơ y tế với tư cách là người đại diện thì lại không

thể trả lời cho những trường họp không xác định trước người nhận ghép, tức là bản

Trang 15

thân “người đại diện'’ cũng không thể xác định được người mà mình đại diện là ai Ngay cả trường hợp đã xác định được người nhận gbop thì việc đại diện này cũng không thuộc bất cứ trường họp nào được quy định tại chương VII, BLDS2005 Mặc

dù tại điều 11, NĐ 12/2003/CP nhà làm luật lại coi hiến phôi (dư) là hợp đồng tặng cho giữa một cặp vợ-chồng và cơ sở y tế thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản nhưng rõ ràng cái được gọi là “hợp dồng tăng cho” này không phản ánh đúng bân chất của chính cụm từ mà nó mang Thứ nhất, bên nhận là cơ sở y tế không có quyền sở hữu

số lượng phôi trên vì họ không thể tự định đoạt chúng bằng bất cứ hành vi nào để chuyển giao hay từ bỏ quyền sở hữu cho dù giả thiết rằng đây là loại tài sản hạn chế lưu thông (không mua bán, không chuycn giao cho người nước ngoài, sư dụng cho mục đích hỗ trợ sinh sản, người nhận phôi phải lả nguởi vợ trong cặp vợ-chồng đang điều trị vô sinh m à nguyên nhân vô sinh là do cả ngu ri vợ và chồng, từ đủ 20 tuổi đến 45 tuổi, có đủ sức khỏe để thụ thai, mang thai và sinh đẻ, không mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS, bệnh tâm thần, bệnh truyền nhiễm hay các bệnh di truyền khác) Việc phân phối số phôi này đều phải trên cơ sở I i g u v ê n tắc phân phối luật định: luôn phải cung cấp phôi (nếu có) cho người có nhu cầu khi không chứng m inh được họ không thỏa mãn điều kiện của luật Thứ hai, cơ sở y tế không thể chủ động trong mối quan hệ cho-nhận này với tii cách là một bên tự nguyện của hợp đồng để từ chối không tiếp nhận phôi dư được “tặng cho” mà luôn phải tiếp nhận nếu nó đảm bảo an toàn y tể với tư cách là một mắt xích của hệ thống hiến BPCT người Như vậy trong hoạt động tặng cho phôi dư của một cặp vợ-ch< Ìg

cụ thể, cơ sở y tế thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản nhận số phôi dư dù là một bên chu thể của họp đồng nhưng vai trò thực chất của nó chính là cầu nối trung gian thực hiện phân phối số phôi dư được tặng cho Dù sao đây cũng là quy định mnr đường cho khuynh hướng công cụ hoá cơ thể người và nguy cơ thương mại hoá là điều rất

dễ xảy ra, hơn nữa việc kiểm soát nó là một câu hoi rất lớn vì như chúng ta biết, hệ thống thanh kiểm tra của ta rất yểu kém từ trình độ cán bộ đến cơ chế vận hành

1.2 Nguyên tắc trong vấn đề hiến B ?C T người

Khoa học đưa ra những sự lựa chọn, luật pháp sẽ thể hiện sụ lựa chọn cụ thể trên cơ sơ đưa ra các quy phạm còn đạo đức làm nhiệm vụ đánh giá các ung xử trưóc những lựa chọn đã xác định Trong bối cảnh các thành tựu của công nghệ y

Trang 16

sinh và quan đicm đạo đức liên quan đến chúng cạnh tranh liên tục và gay gắt thì nhân phẩm con người đòi hỏi phải được đặt lên hàng đầu tức là tất cả các nguyên tắc định hướng đặt ra đều phải nhằm vào mục tiêu duy nhất là bao vệ con người Bộ nguyên tắc về hiến BPCT người không nằm ngoài mục tiêu đó Pháp luật mỗi nước khác nhau thì bộ nguyên tắc này có những cách thể hiện rất khác nhau nhưng tựu chung nội dung mấu chốt vẫn xoay quanh các nguyên tắc cơ bản được thừa nhận trên toàn thế giới Ở Việt Nam, chúng được ghi nhận tại điều 4, Luật 75/06 gồm 4 nguyên tắc:

1.2.1 Tự nguyện

Tự nguyện luôn là nguyên tắc được đặt vị trí đầu tiẻn trong pháp luật của tất

pả các nước, dược đòi hỏi như là điều kiện cần cho hoạt động hiến BPCT ngư< i Trong hoạt động này nhất thiêt phải có sự đồng ý của chủ thể hiến, không thể đề cập tới nguyên tắc nào khác nếu không nhắc tới sự tự nguyện Tự nguyện ở đây phải là

sự tự nguyện hoàn toàn Có nghĩa: quyết định hiến BPCT của cá nhân phải được đưa ra trong trạng thái bình thường, minh mẫn, sáng suốt và quyết định này phải dựa tiến việc họ được thông tin Không thể có bất ứ sự hiểu nhầm nào, người hiến phải nắm được một sổ thông tin liên quah đến việc BPCT của họ có thể bị lấy đi khi

họ thực hiện quyền hiến của mình, đặc biệt là những rủi ro nhất định trong hoạt động này cho phép họ có những cân nhắc cần thiết trước khi đưa ra quyết định Việc lấy BPCT của một người nào đó chỉ thực sự được tiến hành khi chắc chắn về sự đồng ý của họ, thậm chí đó là các bộ phận được lấy trong quá trình phẫu thuật nhằm đảm bảo lợi ích của người được ph u thuật ví dụ nhau thai, khối u Ở Pháp trường hợp duy nhất không thể có được sự đồng ý của người hiến là lấy tủy/tế bào gốc tạo máu có nguồn gốc tuỷ xương từ người cho không có năng lực ra quyết định để chữa bệnh cho anh, chị, em ruột của ngưò đó khi không còn sự lựa chọn nào khác, trường hợp này sự đồng ý thể hiện qua người giám hộ và Hội đồng chuyên môn (điều L 1241-4 BL.Y tế cộng đồng) Nguyên tắc tự nguyện cho phép chủ thể có quyền thay đổi, huỷ bỏ việc hiến BPCT bấl cứ thời điểm nào họ muốn mà không cần đưa ra lý do hay sự giải thích Ngoài ra, việc sử dụng bộ phận hiến khác với mục đích đã xác định ban đầu của người hiển thì phải có sự đồng ý của người đó Ỏ đây, mọi lựa chọn của người hiển đều được tôn trọng; không một cá nhân, tổ chức

Trang 17

hay quyền lực nào có thể can thiệp vào sự định đoạt ấy của họ Dáy là nguyên tắc phô biến được áp dụng chung trên toàn thế giới.

Trường hợp hiến BPCT khi còn sống, sự đồng ý được thể hiện rất rõ ràng theo các hình thức luật định nhằm đảm bảo tính chân thực của sự tự nguyện và chống lại mọi sự lạm dụng Thông thường khi đã được Hội đồng chuyên môn cho phép (Việt Nam là Hội đồng tư vấn và chỉ đặt ra ở trường họp hiến BPCT không tái sinh), người hiến sẽ thể hiện sự đồng ý một cách trang trọng trước đại diện cơ quan nhà nước có thâm quyền: chánh án toà sơ thẩm thẩm quyền rộng hoặc thẩm phán được chánh án chỉ định (Pháp, Marốc, Tuynidi); hoặc thể hiện tru te đại diện của cơ

S í t y tế: giám đốc (Tuynidi), nhân viên (Việt Nam)

Ngược lại hiến BPCT trong trường họp sau khi chết, sự đồng ý được vận hành theo 2 cơ chế: chủ động và suy đoán Đối với cơ chế chủ động, người ta chỉ được phép lấy BPCT một người sau chết nếu có sự đồng ý rõ ràng, minh bạch của người đó khi còn sống Cơ chế này thể hiện sự thận trọng từ nhà qi in lý, tạo khí, năng chủ động cho người dân tham gia đồng thời đảm bảo dân chủ, minh bạch, công khai trong hoạt động mang đậm tính nhân văn này Đa phần các nước đều theo cơ chế chủ động đồng ý trong đó có Việt Nam Đối với cơ chế suy đoán sự, người ta luôn có quyền lấy đi BPCT người quá cố nếu lúc còn sống họ không phí'n đổi Pháp luật ngầm định rằng mọi người dân đều biết được về khả năng BPCT của họ có thể

bị lấy đi khi họ chết nếu trước đó họ không thể hiện sự phản đổi cùa mình Cơ chế này đã tự động bỏ qua khả năng “không lựa chọn” cua người dân, buộc họ phẻi lựa chọn: đồng ý hoặc không; trái với quy tắc: im lặng không có nghĩa là đồng ý, gây sốc cho nhiều người, bị áp lực chỉ trích nhưng do tình hình khan hiểm nguồn hiến nên vẫn được áp dụng vì lợi ích chung của khoa học và xã hội (Ý, Áo Đan Mạch, Tây Ba Nha, Bồ Đào Nha, Pháp, Bỉ, Singapo, Tuynidi, M arốc ) Thực tế cho thấy

tỷ lệ người dân Pháp đăng ký từ chối rất thấp, chưa đầy 1%[62, tr.4] Điều này chứng minh tính hiệu quả và khả thi của cơ chế này mặc dù nảy sinh nhiều vấn đề tranh cãi, vì thế nó cũng chi được áp dụng ở các nước có trình độ dân trí cao, khả năng cung cấp thông tin rất tốt Để thể hiện sự đồng V hay từ chối cũng như sự thay đổi của mình, trong cả 2 cơ chế chủ động và suy đoán pháp luật các nước thường quy định tương đối mở, cá nhân có thể thể hiện ý chí của mình dưới bất kỳ hình thức

11

Trang 18

nào có giá trị chứng minh Cụ thể: việc từ chối hay đồng ý luật luôn quy định phải đăng ký vào danh sách quốc gia do cơ quan có thẩm quyền quản lý nhưng nếu một người chết đi người ta vẫn thực hiện các thủ tục hỏi ý kiến người thân để chắc chắn

về ý nguyện sau cùng của họ (không phai là xem gia đình người chết có đồng ý hay không) Danh sách đăng ký quốc gia cũng chỉ có giá trị tham khảo không thể bắt buộc do khả năng có thể thay đổi ý kiến bất cứ lúc nào của cá nhân trong hoạt động hiến BPCT Cách làm này thể hiện sự mềm dẻo, linh hoạt khi áp dụng luật trong lĩnh vực hêt sức nhạy cảm này

1.2.2 Mục đích nhân đạo, chữa bệnh, giảng dạy hoặc nghiừn cứu khoa học

Trên cơ bảo vệ nhân phẩm con người chống lại mọi hình thức sử dụng thân thể như một phương tiện nhằm thoả mãn bất kỳ một mục đích nào, pháp luật luôn đặt con người ở vị trí chủ thế phân biệt rõ ràng con người với các vật thể khác Vì thế, bằng cách này hay cách khác “thủ thuật y học chỉ họp pháp nếu thủ thuật đó tôn trọng một số điều kiện có ban chất là giữ gìn và bảo vệ con người”[59] theo đó cơ thể con người không thể bị xâm hại.! Pháp luật yêu cầu phải có sự đồng ý của chủ thể

để có thể tiến hành một sự xâm hạ bất kỳ đến cơ thể người đó nhưng chỉ là điều kiện cần có tính tiên quyết song chưa đủ Người ta không thể xâm hại đến cơ thể một người chỉ với sự cho phép cua chính họ Sự can thiệp chỉ thực sự hợp pháp khi

sự tự nguyện là vì mục đích nhân đạo, chữa bệnh, giảng dạy, nghiên cứu khoa học phục vụ cộng đồi \g và toàn bộ hoạt động này đều phải được tiến hành trên tinh thần hoàn toàn phi lợi nhuận Nguyên tắc hiến vì mục đích nhân đạo, chữa bệnh, giang dạy, nghiên cứu khoa học đòi hỏi hoạt động hiến BPCT mục đích hiến luôn phải được xác định trước và rõ ràng, không thể khác mục đích nhân đạo, chữa bệnh cứu người hoặc nghiên cứu, giang dạy Mọi hoạt động hiến BPCT người ngoài mục đích trên đều bị coi là vi phạm pháp luật Đây là sự cụ thể hoá BLDS2005 (điều 33, 34), một biểu hiện cao đẹp của lòng nhân ái, tinh thần giác ngộ khoa học, khẳng định tính nhân bản vì con người của cộng đồng Trong đó, mục đích chữa bệnh, giảng dạy, nghiên cứu khoa học rất rõ nét nhưng mục đích nhân đạo mà luật đề cập tương

đối không rõ ràng vì khái niệm nà> qũ Ị rộng, hi u chung nhất là vì lợi ích cộng đồng

& & , I ỉ v \ M r n ( ' V I ? \ \ ' V ' ' ' ' ' ' \ ' ' ' \ \ \

nên khó hình dung và có thể gáy tranh cãi, ví dụ: lấy mẫu DNA của người nôi tiếng

Trang 19

gắn vói mặt hàng trang sức với số lượng có hạn rồi triển lãm hoặc đấu giá hay triển lãm hình xăm trên da người gây quỹ cho một tổ chức tà thiện nào đ ó ; thực tế hiến

vì mục đích nhàn đạo dễ thấy nhất là ư hoạt động hiến tế bào sinh dục phục vụ hỗ trợ sinh sản (về bản chất, hỗ trợ sinh sản không phải là thi tục chữa bệnh vô sinh nhưng giải quyết được tình trạng vô sinh, ngoài ra có thể tránh việc truyền bệnh nguy hiểm cho con cái như H IV vì thế cũng có thể coi đây là thủ thuật chữa bẹnh đặc biệt), còn các trường hợp khác mục đích nhân đạo được đi kèm với mục đích chữa bệnh, giang dạy, nghiên cứu khoa học như một sự bổ trợ cho các mục đích này

V

n h ằrb b ảo vệ ca người hiến và nhận, cụ thể: khi thực hiện hoạt động hiến BPCT người nhân viên y tế cũng như người hiến đều phải đảm bảo tính an toàn V tế Đối vứi người mong muốn hiến, nguyên tắc nav đặt ra yêu cầu sự thiện chí: trước tiên họ

có nhiệm vụ bảo vệ sức khỏe của mình (không hiến khi không đủ điều kiện sức khỏe

để tiến hành ca phẫu thuật lấy BPCT); thứ hai, họ có nghĩa vụ tôn trọng sức khỏe ẹủa người khác (không hiến nếu nhận thấy mình không đạt yêu cầu theo các quy định của luật và hướng dẫn cua bác sĩ, cần tôn trọng các thông tin về bản thân bằng cách cung cấp một cách trung thực tại các câu hỏi khảo sát tình trạng sức khỏe và các hành vi gây nguy cơ mắc bệnh truyền nhiễm, tạo thuận lợi cho nhân viên y tể kiểm tra điều kiện về mặt sinh học của người hiến) Đối với nhân viên y tế, nguyên tắc này yêu cầu sự tận tâm, tận lực: khi có người hiến phải tuân thủ các quy định chặt chẽ trong tư vấn, kiểm tra sức khỏe, tâm lý của người hiến nhằm hạn chế thấp nhất rủi ro cho cả phía người hiến và nhận Vì thế “không phải bất kỳ mục đích chữa bệnh nào cũng được dùng làm lý do để can thiệp vào cơ thể một người,T[59], việc hiến BPCT phải đáp ứng lợi ích về mặt sức khoẻ cũa con người Có nghĩa bắt buộc phải có sự cân đối giữa mức độ can thiệp đến cơ thể và lợi ích sức khoẻ có thể mang lại nhờ sự can thiệp đó Pháp luật quốc tế gọi đây là sự cân đối giữa mặt lợi và rủi ro

và nhiều nước đã luật hoá thành nguycn tắc riêng Ví dụ: các bác sĩ sẽ khòng dược phép can thiệp lấ> giác mạc của người khoẻ mạnh để ghép cho một người mù dù người hiến hoàn toàn tự nguyện với mục đích trong sáng bởi kết quả vẫn có một người bị mù, không kể tổn thương sau phẫu thuật chưa thể đánh giá hết được Nội dung này phát triển trên các quy tắc đạo đức có ngi ■ in gốc thần học và rất được xem

Trang 20

trọng vì nó đảm bảo vị thế chủ thể của con người, tránh mọi hình thức công cụ hoá

cơ thê ngươi

1.2.3 Phi lợi nhuận

Nguyên tắc phi lợi nhuận được áp dụng với tư cách là điều kiện đủ trong hoạt động hiến BPCT người so với điều kiện cần là nguyên tắc tự nguyện và mục đích hiến luật định ở trên Nguyên tắc này được kỳ vọng như là “thành trì bảo vệ chống lại mọi hành vi vi phạm có tổ chức đối với cơ thể và nhất là việc buôn bán các BPCT”[61] Và vì thể mà nó trở thành nguyên tắc quan trọng, bao trùm lên toàn bộ

hệ thống các quy định của pháp luật về vấn đề hiến BPCT người Nguyên tắc phi lợi nhuận bao gồm 2 nội dung chính như sau:

Thứ nhất, không trả tiền cho việc hiến BPCT người (Việt Nam là không nhàm mục đích thương mại, một sổ nước là cấm trả thù lao hoặc cho không) Theo nội dung này, không có việc đền bù tài chính trực tiếp cho người hiến; họ không có quvền đòi hỏi bất kỳ sự trả giá nào cũng như được phép nhận thù lao dưới bất kỳ hình thức nào từ hành vi hiến BPCT của mìiih Người nhận cấy ghép, sử dụng giảng dạy, nghiên cứu không phải trả bất cứ khoản nào do việc có được BPCT người Đối với các bác sĩ thực hiện kỹ thuật lấy cũng không được trả thêm tiền vì tiến hành phẫu thuật Đây phải được coi là một nhiệm vụ của bác sĩ làm việc hưởng lương tại

cơ sở y tế Toàn bộ chi phí phát sinh do việc lấy BPCT người do cơ sở y tế thực hiện lấy chi trả Bao gồm: chi phí trực tiếp liên quan đến hoạt động p h iu thuật, chi phi điều trị, đi lại ăn ở, những khoản tiền mà người hiến bị mất trong thời gian thực hiện việc hiến (nếu có) Việc “không trả tiền” được áp dụng trên cả 4 đối tượng: người hiến, nhận, bác sĩ, cơ sơ y tế nhằm ngăn chặn những biến tướng thương mại hoá cơ thể người từ bất cứ nguồn, hướng nào trong hệ thống hoạt động hiến BPCT Việc trả tiền được cho là mội thách thức đối với công bằng xã hội Người bán sẽ luôn là người nghèo và kẻ m ua luôn là người giàu trong khi đây là một việc liên quan đến sức khoe thậm chí là sự sống còn, dẫn đến áp lực lợi nhuận gia tăng biến hoại động cao cả, tốt đẹp, đầy nhân văn của con người trở thành phương tiện “hốt bạc” Trả tiền thực chất là m ua ý chí hiến tặng của nguời khác Từ đây nảy sinh nhiều nguy cơ: vì tiền người ta sẵn sàng đánh bạc với súc khoẻ của mình bán đi một phần cơ thể thậm chí cả trong điều kiện phẫu thuật không đảm bảo vệ sinh an toàn;

Trang 21

nguy hiểm hơn, có thể nảy sinh hiện tượng cưỡng đoạt BPCT người với đường dâybắt cóc, giết người làm ảnh hưởng tiêu cực đến các mối quan hệ xã hội Vì thế tínhkhông đền bù được xem là khởi nguồn của hoạt động đầy nhân văn này và được đa

số các nước nhất trí áp dụng Tuy nhiên không phải tất cả, một số nước không ápdụng nguyên tắc phi lợi nhuận, đại diện là Mĩ Cơ sở của lý luận của quan điểm nàyđưa ra dựa trên tính tối cao của nguyên tắc quyền tự do trong quan điểm chitih trị vàlập pháp Hệ quả pháp luật M ĩ có khuynh hướng công cụ hoá cơ thể người, conngười nhiều khi bị coi là một thực thể so sánh với các thực thể khác M ĩ cho phép

“bán” BPCT, cụ thể là nội tạng Có thể gây nhiều tranh cãi song công thức tính toángiá cả như sau: giá tạng bằng giá trị cuộc sống nhân với tỷ lệ rủi ro chết khi cho tạngcộng khoản thu nhập bị mất trong thời gian ở bệnh viện thực hiện lấy tạng; trong đó,giá trị cuộc sống căn cứ vào giá bảo hiểm nhân thọ từ các công ty bảo hiểm (khoảng

3 triệu U SD )[64] Mặc dù nội dung “cho không” trong nguyên tắc phi lợi nhuậnđược đa số các nước bắt buộc áp dụng nhưng đối với máu và các chế phẩm của máu

không ít nước lại coi đó là một ngoại lệ trong đó có Việt Nam: nội dung này ch được sử dụng như m ột khuyến nghị, việc mua-bán máu vẫn được phép Nguyên nhân là do người ta không đặt nặng vấn đề đạo đức đối với việc bán máu với lý giải:

Vmảu không chỉ tái sinh nhanh, việc lấy ra khỏi cơ thể hầu như không gây ra nguy cơ nào cho người hiến ngược lại sau một thời gian sức khoẻ người hiến còn cải thiện hơn cả trước khi hiến, mặt khác còn do tình trạng quá khan hiếm máu ở các bệnh viện

Thứ hai, cấm quảng cáo cho một người hoặc cho một tổ chức cụ thể Nội dung này đòi hoi hoạt động cung cấp thông tin, giới thiệu, môi giới về nhu cầu hiến, nhận BPCT cho một người, một tổ chức cụ thể mang tính thương mại đều bị cấm Tuy nhiên, trong hoạt động này do tính nhạy cảm đặc biệt nên thông tin tuyên truyền

là hết sức quan trọng, chính nó quyết sự thành công hay thất bại của chúng ta Sẽ không thể xây dựng được chương trình hiến BPCT người thành công nếu không thực hiện các hoạt động thông tin, tuyên truyền rộng rãi đối với nhân dân Vì thế, việc cấm quảng cáo này cũng không được làm cản trở hoạt động thông tin tuyên truyền về hiến BPCT trong cộng đồng Nhưng, nếu việc thông tin, tuyên truyền không được kicm soát chặt chẽ rất dễ dẫn đến hiện tượng lách luật, biến tướng thành

15

Trang 22

quảng cáo, môi giới thương mại Đe có thể vừa làm tốt công tác vận động, tuyên truyền vừa ngăn chặn được những biến tướng quảng cáo thương mại BPCT người cần phải có một chương trình, kế hoạch thông tin, tuyên truyền hiệu quả, nằm trong chính sách chung cua ngành y tế Các biến tướng thương mại hoá rất tinh vi nên mọi hoạt động cũng như nội dung của các chiến dịch truyền thông đến nhân dân phải được BYT cho phép.

1.2.4 Vô danh

Nguyên tắc vô danh là một trong những biện pháp nhằm đảm bảo trật tự các quan hệ xã hội, ngăn chặn hiện tượng thương mại hoá BPCT người đồng thời bảo vệ người hiến, nhận về mặt riêng tư cá nhân Nguyên tắc này rất quan trọng, nó cho phép tránh mọi áp lực không cần thiết về tinh thần cũng như vật chất từ phía người hiến, nhận và gia đình họ đối với nhau; qua đó ngăn chặn khả năng thương mại hoá

do quan hệ trực tiếp giữa các đối tượng này Vô danh có nghĩa mọi thông tin về danh tính cá nhân đều không thể được biết đến Nguyên tắc này đặt ra yêu cầu: mọi thông tin về người hiến, nhận đều phải được mã hoá và bảo mật, người hiến không được biết căn cước người nhận và ngược lại; cấm tiết lộ bất cứ thông tin nào cho phép xác định người hiến, nhận Bảo mật thông tin là nghĩa vụ bắt buộc của các nhân viên hoạt động trong mạng lưới hiến tặng Hồ sơ người hiến, nhận sẽ được lưu giữ trong một thời hạn xác định trước khi công bố Nhưng khi công bố thì vẫn phải đảm bảo khuyết danh Thời hạn lưu giữ tuỳ thuộc vào quy định của các nước, thường là 30 năm (Việt Nam có áp dụng) Nhưng nguyên tắc này bị tranh cắĩ nhn J đối với trường hợp hiến giao tử, phôi Người ta lo ngại việc áp dụng nguyên tắc vô danh có nghĩa là pháp luật đã tước đi quyền được biếT nguồn gốc của đứa trẻ S'nh ra theo phương pháp khoa học vì quan hệ huyết thống giữa đứa trẻ và cha mẹ nó về mặt pháp lý và sinh học là không trùng nhau Điều này có vẻ không phù hựp Công ước UN về Quyền trẻ em: “Trong mọi trường họp có thể, trẻ em có quyền được biết cha mẹ mình là ai và được cha mẹ nuôi dạy” (điều 7) Và cách thiết lập quan hệ cha mẹ con như quy định của luật là một sự đảo lộn quan hệ huyết thống truyền thống, đi ngược lại sự thật về nguồn gốc sinh học của đứa trẻ Mặt khác khi áp dụng nguyên tắc này

có thể dẫn đến hệ quả hôn nhân đồng huvết c ầ n thấy rằng: “mọi trường hợp có thể”

mà Công ước đề cập mang tính khuyến nghị, tức là quyền được biết cha mẹ là ai

Trang 23

I T H Ư VI Ệ N

17 1RƯỞNG ĐẠI H Ọ C LÙÃT h à N ỏ l

P HONG Đf:ckhông phải là quyền tuyệt đối Hơn nữa, thực tế sự sông của đứa trẻ chỉ thực sự bắt đầu khi tiến hành các thủ tục hỗ trợ sinh sản từ cặp nhận thì liệu có thể nói ràng nó

bị tước đi nguồn gốc? Pháp luật thiết lập quan hệ cha mẹ con trên cơ sở quan hệ thân thể (người mang thai là mẹ, chồng của mẹ là cha) không dựa vào nguồn gốc sinh học Cặp nam-nữ đã đem lại sự sống cho đứa trẻ là cha mẹ của nó là hoàn toàn hợp

lý Khi đứa trẻ được biết sự thật về việc nó sinh ra như thế nào thì liệu nó sẽ có được điều gì tốt đẹp hơn cả về tâm lý và điều kiện sống? Ngoài ra, nguy cơ hôn nhân đồng huyết giữa những đứa trẻ có cùng cha/mẹ sinh học là có về mặt lý thuyết song trên thực tế hiếm khi xảy ra, chỉ khoảng 0,01%[Nguyễn Việt Tiến, 16, tr.25] nên thực sự không đáng ngại, đặc biệt là trong hoàn cảnh dân số tăng nhanh như hiện nay vì việc hiến chỉ được thực hiện một lần và chỉ được thực hiện thành công cho một cặp vợ chồng, tỉ lệ này còn nhỏ hơn trường hợp những đứa trẻ sinh ra một cách tự nhiên kết hôn đồng huyết với nhau[Sainte-Rose, 59, tr.19; 60, tr.20] v ấ n đề áp dụng nguyên tắc vô danh cần phải xét trên tổng thể các yếu tố sinh học, xã hội, tâm lý của những người có liên quan Nguyên tắc vô danh cho phép đơn giản hoá thiết lập mối quan

hệ trong cộng đồng, tránh các biến động của tranh chấp và những hệ lụy khó xử của

nó Nguyên tắc này áp dụng tương đối phổ biến ở các quốc gia và khi áp dụng cũng không gặp vấn đề gì Tại Châu Âu, quốc gia duy nhất không áp dụng nguyên tắc này

là Thụy Điển, họ cho phép đứa trẻ sinh ra theo phương pháp khoa học được tìm về nguồn gốc của mình Phạm vi áp dụng nguyên tắc vô danh đa phần chỉ trong trường hợp hiến khi chết hay hiển máu, giao tử, phôi khi còn sống; các trường họp hiến khi còn sống khác không bị nguyên tắc này chi phối Cụ thể: bác sĩ chỉ lấy BPCT một người sống để ghép cho bệnh nhân đã được xác định trước một cách rõ ràng, việc ghép đã sẵn sàng, không thể ghép cho một bệnh nhân bất kỳ nào khác; bởi vì sản phẩm ghép lúc này có tính chọn lọc cao bên cạnh đó thực tế người sống hiến phải biết rõ mình hiển cho ai, rất khó để chấp nhận cho người nào đó mà mình không biết BPCT mình một cách dễ dàng hay hoàn toàn vô tư trong khi nguy cơ mà người hiến phải đối mặt không phải nhỏ và lúc nào cũng dự liệu được Người hiến trong trường hợp còn sống hầu như là thân nhân, bạn hữu của người nhận nên người ta không đặt

ra vấn đề áp dụng nguyên tắc vô danh Ở Việt Nam, về mặt lý thuyết, nguyên tắc này áp dụng cho tất cả các trường họp hiến BPCT, không phân biệt hiến khi còn

Trang 24

sống hay đã chết Tuy nhiên như các nước, Việt Nam thừa nhận trong phạm vi áp dụng của nguyên tắc vô danh có những ngoại lệ-nó có thể bị tương đối hoá trong một s trường họp đặc biệt Đó là trường họp cần thiết vì mục đích chữa bệnh (điều trị cho một cá nhân cụ thể hoặc nghiên cứu bệnh học) thì theo yêu cầu của cơ quan/nguời có thẩm quyền hồ sơ người hiến sẽ được mở nhưng vẫn phải đảm bảo khuyết danh, trừ trường họp không thể không xác định danh tính hồ sơ Những người được tiếp cận hồ sơ khi chưa được phép công bố phải tuân thủ nghĩa vụ bí mật thông tin Ngoài ra, khoản 4, điều 4, Luật 75/06, Việt Nam còn quy định thêm trường hợp loại trừ của nguyên tắc vô danh đối với người hiến, ghép có cùng dòng máu trực hệ hoặc có họ trong phạm vi 3 đời mà đối tượng hiến không phải là giao

tử, phôi (khoản 7, điều 11) và trường họp “các bên có thoả thuận khác” Sự thoả thuận khác ở đây hiểu theo tinh thần của luật là trường hợp cả người hiến, nhận đều mong muốn được biết về danh tính của nhau, pháp luật sẽ tôn trọng sự lựa chọn này của họ Tuy nhiên câu chữ mà nhà làm luật dùng có phần tuỳ tiện, ngưc ’.i ta sẽ không thể hiểu được “các bên” Ư đây là ai bởi vì trong quan hệ hiến-nhận BPCT, cơ sở y tế luôn là trung gian quan hệ trực tiếp giữa người hiến và nhận còn bản thân người hiến, nhận không có quan hệ gì về quyền và nghĩa vụ với nhau Mặt khác “thoả thuận’' ở đây là trực tiếp hay gián tiếp, trước hay sau khi hiến, có bao gồm việc chỉ định người ghép hay không không được làm rõ và có thể dẫn đến lách luật buôn bán, môi giới BPCT

Ngoài 4 nguyên tắc cơ bản trên đây, tuy không được luật Việt Nam trực tiếp quy định nhưng trên tinh thần của luật, khi tiếp cận vấn đề/hiến BPCT người cần phải tuyệt đối tôn trọng các nguyên tắc sau:

1.2.5 Tôn trọng cơ thể con người

Tôn trọng cơ thể người (hay không công cụ hoá cơ thể người) là nguyên tắc cuội rễ của cả 4 nguyên tắc trên Nói cách khác, 4 nguyên tắc đã được Việt Nam luật hoá là sụ cụ thể nguyên tắc tôn trọng cơ thể con người Tuy nhiên không phải vì thế

mà không cần đề cập đến nguyên tắc này nữa Bởi nguyên tăc tôn trọng cơ thể người

vô cùng quan trọng, có sức bao quát tất cả các trường họp có thể phát sinh trong đời sống dàn sự liên quan đến công nghệ y sinh học vốn rất đa dạng và vô C ư n g nhạy cảm, phức tạp Chính vì thế mà nó có tác dụng định hướng tương lai, tìm kiếm sự

Trang 25

đồng thuận giữa các quan điểm khác nhau và có giá trị tuyên truyền trong cộng đồng.

Con người là trung tâm của mọi hoạt động và tiến bộ xã hội; yếu tố con ngươi luôn được nhấn mạnh, tô đậm, đặt lên hàng đầu Được tôn trọng cơ thể là quyền của mọi cá nhân, nó là một trong những nội dung cơ bản của quyền con người Quyền đầu ticn, cơ bản nhất của con người là quyền sống, tức là cơ thể họ phải đuợc tôn trọng, “pháp luật bảo đảm vị trí tối cao của con người, nghiêm cấm mọi hành vi xúc phạm đến nhân phâm và bảo đảm cho con người được tôn trọng ngay từ khi bắt đầu

sự sống” (điều 16, LDS Pháp) Sự tôn trọng thể con người tạo nên tinh bất khả xâm phạm của nó: mỗi cá nhân có quyền được toàn vẹn về ihân thể, được bảo vệ chống lại mọi sự xâm phạm của người khác, ngay cả khi đã chết Diều này đòi hỏi

trách nhiệm của các cơ sở y tê phải khôi phục vê mặt thâm mỹ thi thê sau khi lây BPCT của người đó hoặc khi không còn nhu cầu sử dụng cho mục đích nghiên cứu, giảng dạy thì mọi BPCT người được tiêu huỷ, thi thể được mai táng, tất cả đền phải

tổ chức với sự trang trọng, kính cẩn N ội dung này của nguyên tắc tôn ữọng cơ thẻ con người đã được Việt Nam ghi nhận trong các văn bản luật Việc tôn trọng cơ thi người không chỉ ở chỗ được bảo vệ bởi cơ chế bất khả xâm phạm ma c-'n ở chỗ ngăn chặn mọi khả năng công cụ hoá với quy chế phi tài sản cơ thể người Cơ thể và

bộ phận cấu thành không thể là đối tượng của quyền tài sản Ở Pháp, cơ thể người không thuộc sở hữu của bất cứ chủ thể nào, và không thể định đoạt, ngay cả bản thân người có cơ thể đó cũng chỉ có thể có một số quyền định đoạt hạn chế (chỉ được định đoạt vì sự nhân đạo) Pháp quan niệm: “chỉ có những vật thuộc lĩnh vực thương mại mới có thể là đối tượng của những họp đồng mua bán, vay m ượn” [61],

“mọi thoả thuận đưọc giao kết nhàm mục đích sử dụng cơ thẻ ngườ’, các BPCT người hoặc sản phẩm từ cơ thể người như một tài sản đều vô hiệu” (điều 16-5 BLDS Pháp) Tuy nhiên ngoại lệ lả răng, tóc Việt Nam không có nguyên tắc này dẫn đến không có quan điểm thống nhất về việc liệu BPCT người có phải là một tài sản hay không? Chiếu theo Q.ều 163, BLDS2005: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá

và các quyền tài sản” thì có thố coi BPCT người íà một loại tài sản với tư cách là

m ột “vật” Tài sản đặc biệt này thuộc loại hạn chế lưu thông, các giao dịch liên quan chỉ được thực hiện ữong phạm vi vì mục đích nhân đạo chữa bệnh, nghiên cứu,

19

*

Trang 26

giảng dạy Như vậy với nguyên tắc các chủ thể có quyền làm những gì mà pháp luật không cấm thì liệu họ có thể tham gia giao dịch BPCT người trong các trường hợp không mục đích thương mại, không vi phạm điều cấm cu ì luật, như: tặng cho, cho mượn/vay không đền bù, trao đổi, gửi giữ ? Khi đỏ có thê sẽ nay sinh trách nhiệm

do không thực hiện nehĩa vụ chuyển giao “vật” hoặc cung cấp “vật” không đảm bảo chất lượng? Mặt khác, nếu coi BPCT người là một loại tài sản thì có thể định giá nó bằng Tiền, người ta sẽ lợi dụng sự định giá để trục lợi theo rất nhiều cách khác nhau, thậm chí có thể trở thành tội ác Khi đinh giá thành tiền thì nhân phẩm con người không những bị mờ nhạt mà mục tiêu cao cả của hoạt động hiến BPCT cũng không còn Thực ra, đối với lĩnh vực nhạy cảm và mang tính biểu tượng như hiến BPCT người không nhất thiết đòi hỏi phải có những quy định thật chi tiết, tránh trư.mg hợp mới ban hành luật đã phải sửa nhưng những nguyên tắc đưa ra phải thật rõ ràng và đầy đủ mới có thể định hướng tương lai được Muốn ngăn chặn thực sự khuynh hư<Vng hiến BPCT người thành một thứ nguyên liệu sinh học thì không thể không quy định nguyên tắc tôn trọng cơ thể người

1.2.6 Quyền được thông tin của người hiến

Được thông tin là quyền cơ bản và quan trọng của cả^iguửi hiến, nhận Nó xuất phát từ quyền được thông tin cúa bệnh nhân đã được áp dụng từ lâu trong ngành y tế Đối vớ người hiến, đặc biệt là hiến khi còn sống quyến này càng có ý nghĩa quan trọng hơn Đây là nội dung quyền không thể thiếu cũng là quyền đầu tiên của họ Không thể nói bất cứ quyền gì khác của họ nếu không được đảm bảo quyền này trước tiên Bởi như đã phân tích, sự đồng ý của người hiến phải trên cơ sở được thông tin đầy đủ, rõ ràng, không thể có sự che dấu nào của bác sĩ hay sự nhầm lẫn nào của ngiiợi hiến, cho phép họ có sự cân nhắc kỹ lưỡng khi đưa ra quyết định Và

vì vậy các văn ban khuyến nghị quổc tế đều đề quyền này thành nguyên tắc Việt Nam khôà^ quy định đây là nguyên tắc hay một quyền cụ thể trong các văn bản pháp luật mà chỉ thể 1 ện nội dung quyền này trong rải rác các quy định về thủ tục hiến với tư cách trách nhiệm tư vấn các thông tin một cách chung chung của cơ sở y

tế trong hệ thống hiến BPCT và người ta trông đợi các nhân viên y tế trung thanh với nguyên tắc này như là đạo đức nghề nghiệp của họ Thông tin được cung cấp ở đây phải đáp ứng hai thuộc tính đúng và đủ Đó phải là ĩất cả những thông tin cần

Trang 27

th iểt, trung thực, đầy đủ về bản chất và những hệ quả của các phương tiện, liệu pháp, thủ thuật y học sẽ được áp dụng trên cơ thể của người được cung cấp thông tin, đặcbiệt lưu ý đến thông tin về những rủi ro có thể xảy ra như: những rủi ro về vệ sinh y

tế, về phẫu thuật hoặc những rủi ro sau khi tiến hành lấy BPCT của người hiến sống Như vây, nôi dung thông tin thuôc quyền của người hiển không phải là những thông tin cho phép xác định danh tính người nhận nên không mâu thuẫn với nguyên tắc vô danh (bí mật thông tin người hiển-nhận) và rõ ràng là có LÍnh độc lập tương đối với nhau Việc cung cấp thông tin phải được tiến hành trước khi thực hiện bất cứ can thiệp nào lên cơ thể của người đó; trừ trường hợp khẩn cấp, bất khả kháng hay người được cung cấp thông tin từ chối Đây không phải là việc dễ dàng cho bất cứ bác sĩ nào nhưng nỉiìn chung bác sĩ phải cung cấp những thông tin thiết yểu nhất với ngôn

từ đơn giản, dễ hiểu cho phép người được cung cấp thông tin hình dung sự việc và đưa ra được lựa chọn Nguyên tắc quyền được thòng tin ch-nh là thể hiện sự thận trọng, minh bạch từ phía hệ ngành y tế, cũng là tạo niềm tin cho nhân dân đối với hoạt động hiến BPCT người vô cùng cao cả và nhạy cảm này

1.3 Đ ối tượng của hoạt động hiến BPC T người

nếu tuân thủ các điều kiện luật đinh, trừ lông/tóc, móng chân/tay Bản chất của các

bộ phận này là các tế bào sừng đã chết và bị loại ra ngoài cơ thể, việc cắt bỏ không gây bất cứ một ảnh hường nào Chúng cũng không có tác dụng điều trị trong y học

do đó không là đối tượng của hoạt động hiến tặng được đề cập trong đề tài Xét một cách toàn diện, khòng có điều gì ngăn cản một người thực hiện ý nguyện cống hiến cho cộng đồng khi họ đạt độ tuổi và NLHVDS theo luật Như thể có nghĩa khả năng trở thành đối tượng của quyền hiển cũng như hoạt động hiến BPCT người được mở rộng cho tất cả các BPCT (loại trừ tể bào sừng đã chết) Tuy nhiên, BPCT nào là đối tượng của hoạt động hiến cụ thể thì còn phụ thuộc vào phương thức thực hiện quyền

mà chủ thể lựa chọn Phương thức này dựa trôn 2 điểm: mục đích sử dụng BPCT và thời điểm hiển

1.3.1 Đối vói mục đích sử dụng BPCT hiến

Có 2 sự lựa chọn: chữa bệnh hoặc nghièn cứu, giảng dạy Neu mục đích là chữa bệnh, yêu cầu về chất lưựng của BPCT hiến sẽ phải được đặt ra và kiểm tra rất

21

Trang 28

chặtpchẽ, chỉ có những bộ phận đảm bảo đầv đủ các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn y tế mới là đôi tươttg được pííép hiển, ví dụ: đảm bảo không thể mang niầm bệnh như truyền nhiễm, u hoặc ung thư Dây là mối quan tâm hàng đậu trong hoạt động lấy

vì mục đích chữa bệnh nói chung và ghép cơ quan nói riêng nên nhất thiết phải tiến hành đầy đu các xét nghiệm theo danh mục quv định của BYT Nếu sử dụng cho nghiên cứu khoa học, giảng dạy thì chất lượng BPCT không phải là vấn đề quan trọng, mọi bộ phận được đề cập ở trên đều là đối tượng hiển

1.3.2 Đối vói Ihời điểm hiến

Cũng có 2 sự lựa chọn: hiến khi còn sống hoặc hiển sau khi chết, lưu ý: dù là

sự lựa chọn nào thì với mô, tế bào phôi, thai chỉ được hiến khi chấm dứt quá trình

mang thai Nếu hiến sau khi chết, không đặt ra vấn đề BPCT nào sẽ không được

phép hiến mặc dù vào thời điểm lấy tìPCT đã hiển thì tuổi tác, hồ Ắỉ y tế của người hiến sẽ được xem xét cân nhắc Chu thể có thể lựa chọn bất cứ BPCT nào tủ tế bào,

mô đến động mạch, máu, cũng như cầ& tuyến khác trong^cơ thể, thậm chí là tất cả

Họ có quyền chỉ định BPCT đó sẽ dùng vào việc gì: chữa bệnh, ghép cơ quan,

nghiên cứu, giáo dục hay nha khoa Neu hiến khi còn sổng thì việc bộ phận nào là

đối tượng hiến chịu sự tác động mạnh mẽ của cơ chế cân bằng lợi ích và rủi ro, cụ thể trong trường họp này là lợi ích mà người nhận có thể có và rủi ro mà người hiến

có thể gặp khi thực hiện các thủ thuật y học can thiệp lên cơ thể họ Khi lấy đi một BPCT thì tuỳ thuộc vào chức năng của nó mà sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ của người hiến: không ảnh hưởng (máu, tinh trùng), ảnh hưởng mức độ nhẹ (da, tuỷ ), ảnh hưởng lớn (giác mạc, chân, tay ), ảnh hưởng quyết định đến sinh tồn (tim, óc ) Cho nên cơ chế này được xem là nguyên tắc chi phối và có tính bắt buộc, cho phép

BPCT nào có thể được hiến Dưới sự tác động của nó, thủ tục hiến ở người sống

được quy định hết sức chặt chẽ: bộ phận quyết định đến sinh tồn không bao giờ được hiến, các bộ phận còn lại có thể được xem xét cho phép hiến nhưng chi có BPCT người nằm trong độ tuổi luật định và có sức khoẻ để tiến hành một ca phẫu thuật an toàn mới có thể là đối tượng hiến, cụ thể: bộ phận tái sinh được phép hiến;

bộ phận không tái sinh bị hạn chế tối đa, chỉ hiển trong trường họp không có sự lựa chọn nào khác và phải được sụ đồng ý của Hội đồng iư vấn Hội đồng n iy quyết định không dựa trên các tiêu chí y tế mà chủ yếu trên cơ sở cân đối mặt lợi ích và rủi

Trang 29

ro đối với người hiến, nhận, đặc biệt chú ý đến rủi ro của người hiến Các tiêu chí y

tế chỉ là lý do đề xuất Hội đồng tiến hành cuộc họp Không có gì đảm bảo một người hiến thận sẽ không thể bị suy thận mãn, không thận trọng là có thể gây hoạ cho người kliác, trong khi mục đích của y học là chữa bệnh cứu người, ở đây, chỉ một số

ít bộ phận không thể tái sinh được phép hiến, các bộ phận này phải không ảnh hưởng nhiều đến chức năng của phần còn lại cơ thể, khả năng tồn tại, sống, lao động bình thường của người hiến, tất nhiên trước đó phải có sự hoà hợp về sinh học giữa người hiến-nhận

1.3.3 Phân loại

BPCT người với tư cách là đối tượng cifct hoạt động hiến tặng được phân loại dựa trên 2 căn cứ chủ yếu: cấu trúc sinh học và đặc thù của quy chế pháp lý liên

quan đến việc hiến của chủ thể Dựa vào sự phức tạp của cấu irúc sinh học thì có thể

phân BPCT ngưữi thành 3 loại: tế bào, mô, cơ quan chuyên biệt (BPCT nghĩa hẹp)

Te bào “có thể là tế bào độc lập hpặc môt tập hợp tế bào không liên kểt \jịi

nhau bằng.piô ĩiên kểt”ị $ ] T ^bào gồm 3 loại: tế bào sinh dục (giao tử: trứng/noẩn, tinh toàng; phôi-“sản phẩm của quá trình phát triển do sự kết hợp giữa noãn và tinh

trùng”[72]) dùng cho liệu pháp hỗ trợ sir& sản, tế bào gốc (tể bào gốạ phôi, tể bào

gốc trưởng thành) và tế bào thường (cụm tế bào tụy, tế bào gart ) dùng trong lĩnh vực liệu pháp tế bào Người ta kỳ vọng nhiều vào liệu pháp tế bào vì nó đã chứng tỏ

sự “mầu nhiệm” trước các bệnh di trayền, bệnh người già, bệnh do chấn thương không phục hồi được Trong liệu pháp tế bào thì tế bào gốc đóng vai trò vô cùng quan trọhg Nó là những tế bào có thể biệt hoá thành những tế bào khác nhau hay tạo thành những cơ quan khác nhau, đặc biệt tế bào gốc phôi có thể chuyển hoá thành một cơ thể sống Mỗi cơ quan trưởng thành trong cơ thể có một hay vài dòng tế bào gốc nằm ở những nơi đặc biệt: niêm mạc miệng, da, máu, tuỷ, màng lót dây rốn, máu cuống rốn, nhau th ai

Mô là một m u nhỏ của cơ thố, thực chất “là bộ phận cấu thành cơ thể người

được hình thành tò nhiều tế bào”[51] Công nghệ ghép mô quan trọng nhất là ghép giác mạc nhưng phổ biến nhất là ghép da đối với những trường họp bị bỏng nặng hoặc vết thương do hoại tử, ngoài ra còn có những trường hợp ghép mạch, xương, van tim

23

Trang 30

Cơ quan chuyên biệt (BPCT nghĩa hẹp) “là một phần của cơ thể người, riêng

biệt và có khả năng sống, được hình thành từ nhiều loại mố khác nhau và có khả năng duy trì cấu trúc, sự phân bố mạch và thực hiện các chức năng sinh lý một cách hoàn toàn độc lập” [51] Bao gồm: thận, tim, phổi, gan, tụy, ruột, các chi (tay, chân) Nội tạng là các cơ quan hay được nhắc đến nhiều nhất trong công nghệ ghép trị liệu nói chung, gần đây ghép chi, mặt cũng đã tiến hành thử nghiệm, kết quả rất tốt

Tuy nhiên việc phân loại như trên lại không cho thấy sự khác biệt nhất định trong V iệc hiến BPCT Thứ nhất, việc lấy tế bào, mô cơ bản không khác nhau Thứ hai, mặc dù việc lấy cơ quan chuyên biệt nhìn chung có phức tạp hơn tế bào, mô nhưng không phải lúc nào cũng như vậy vì m rc độ phức tạp phụ thuộc phần nhiều vào vị trí, vai trò của từng bộ phận trên cơ thể, ví dụ: chọc trứng là một kỹ thuật rấl khó, nguy cơ cao nên việc hiến tế bào trứng phức tạp không kém gì hiển cơ quan chuyên biệt gan, thận Thứ ba, các thao tác hậu pl ẫu mức độ phụ thuộc phần lớn vào khả năng phục hồi của người hiến vì bản thân có những biển chứng, rủi ro không phải lúc nào cũng lường trước được hết Cho nên đặc trưng của các quy chế pháp lý liên quan đến hiến BPCT theo từng cấp độ cấu trúc là không cụ thô các kỹ thuật y học mà thường theo khuynh hướng đơn giản hóa và mang tính chất định hướng

Căn cứ vào tỉnh đặc thù của quy chế pháp lý liên quan đến việc hiến BPCT

của chủ thể có thể chia đối tượng hiến thành 4 loại khác nhau tương ứng với 3 loại văn bản quy phạm điều chỉnh: Máu; tế bào sinh dục; mô và cơ quan chuyên biệt (BPCT người nghĩa hẹp); tuỷ và tế bào khác

Đối với máu, hoạt động hiến được điều chỉnh bởi các văn ban nằm trong

chương ti nh an toàn truyền máu, đáng chú ý là: Điều lệnh iruyền máu ban hành kcm theo QĐ 937/1992/BYT, QĐ 28/2007/BYT về Giá tối đa của một khối lượng máu đạt tiêu chuẩn Theo đó máu chỉ được lấy từ chủ thể khỏe mạnh, phát triển bình thường, trong độ tuổi từ 18-60, có thể hiến nhiều lần và được khuyến khích hiến số lượng không hạn chế nếu sức khỏe người hiến cho phép, có thể không áp dụng nguyên tắc phi lợi nhuận (thừa nhận giao dịch bán máu Ễ-iữa cá nhân với cơ sở y té

có nhu cầu và ngược lại, còn giao dịch giữa cá nhân với các chủ thể khác cũng không bị cấm)

Trang 31

Trường họp đối tượng hiến là tế bào sinh dục, người hiến phải có NLHV đầy

đủ, trong độ tuổi 20-55 đối với nam, 18-35 đối với nữ; việc tặng cho phôi dư được coi là một hợp đồng giữa một cặp vợ-chồng và cơ sở y tế thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và không cần tr.ii qua thủ tục lấy (thực tế cơ sở y tế dã lưu giữ phôi rồi), cơ

sở y tế được cho có toàn quyền sử dụng phôi đó theo luật định (ở Pháp thì việc cho giao tử có thể huỷ bỏ bất cứ lúc nao trư.-c khi giao tử được sử dụng) Bên cạnh đó số lần hiến thành công bị hạn chế là một (không lấy tế bào sinh dục của người đã hiến) nhằm hạn chế sự lạm dụng của người hiến và cơ sở y tế cũng như khả năng hôn nhân đồng huyết; đặc biệt, để bảo vệ trật tự g I ỉ đình truyền thống pháp luật không chấp nhận việc hiến giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ và giữa những người khác giới có họ trong phạm vi 3 đời, đây là nét khác biệt nhất so với các trường hợp hiến BPCT khác khi chủ yếu hiến cho trước tiên là người thân của nhau Văn bản quy phạm điều chỉnh trực tiếp là NĐ 12/2003/CP, TT 07/2003/BYT, Luật 75/06

Nếu là truơng họp mô, cơ quan chuyên biệt thì chịu sự điều chỉnh của Luật

75/06 Trường hợp chủ thể có NLHV đầy đủ, đạt độ tuổi từ đủ 18 có thể hiến cả khi còn sống và sau khi chết qua thủ tục đăng ký còn nhửng trường họp khác chỉ được

h ến sau khi chết với sự đồng ý dược thể hiện qua bất cứ hình thức nào nhưng chỉ có giá trị tham khảo, sự đồng ý của người thân họ mới có giá trị pháp lý Pháp luật không đề cập đến số lần cụ thể được phép hiến mà nó phụ thuộc vào bản thân BPCT

cụ thể được hiến nhưng thông thường được khuyến nghị chỉ hiến một lần

Nếu đối tượng hiến là tuỷ và tế bào thì hiện nay chưa có bất cứ văn bản nào

trực tiếp điều chỉnh, chỉ có thể áp dụng mang tính nguyên tắc BLDS2005 trên cơ sở tham khảo thông lệ quốc tể Có thể việc hiến tế bào sẽ được tiến hành tương tự như hiến mô, cơ quan chuyên biệt theo Luật 75/06 Việc hiến tuỷ cũng như vậy và nếu được nên mở rộng chủ thể hiến còn sống đối với người dưới 18 tuổi hoặc người mất hay hạn chế NLHV như một ngoại lệ khi không còn nguồn hiến nào khác nhưng chỉ

có thế là của anh, chị, em ruột; anh, chị, em họ; cô, dì, chú, bác hoặc cháu của người nhận (điều L 1241-3, BL.Y tế cộng đồng Pháp) Vì tuỷ xưưng có thể tái tạo, việc cho tuỷ không ảnh hưởng nhiều đến sức khoẻ của người cho Người cho là trẻ em cũng không đặt ra bất cứ nguy cơ nào

25

Trang 32

C h ư ơ n g 2:

H IẾ N B PC T N G Ư Ờ I T H E O L U Ậ T T H Ụ C Đ ỊN H V IỆ T N A M• • • •

2.1 Các cơ quan, tổ chức hỗ trợ' việc hiến BPCT ngưòi

Để thực hiện việc hiến BPCT người cần phải thiết lập một hệ thống vận hành nhằm hỗ trợ cá nhân trong suốt quá trình thể hiện ý nguyện vô cùng cao cả của họ Pháp luật đã chú trọng quy định cho hệ thống này tính mở rộng, tạo điều kiện cho toàn xã hội tham gia với hạt nhân là các cơ sở y tế thực hiện lấy BPCT người, ngân hàng mô/tế bào, TTĐPQG; ngoài ra còn có hàng loạt các vệ tinh là những cơ sở y tế không được phép thực hiện lấy BPCT người Tất cả hợp thành một mạng lưới rộng khắp trong đó mỗi tổ chức, cơ quan là một mắt xích của hệ thống Hệ thống chứa một lượng thông tin không lồ cung với nghĩa vụ bảo mật thông tin nên cần có sự phối kết hợp nhịp nhàng từ phía các mắt xích trong mạng lưới đặc biệt này để đảm bảo tính hiệu quả cua nó Vì thế cách thức vận hành cả hệ thống là điều vô cùng qua trọng Tác giả sẽ không đi sâu vào cơ cấu, tổ chức, chức năng, quyền hạn cụ thể của từng cơ quan, tổ chưc mà phân tích chúng trên cơ sở tư cách là một mắt xích trong mạng lưới hệ thống hiến BPCT

Tất cả các cơ s ở y tế dù được phép hay không thì bắt buộc phải có trách nhiệm

tham gia mạng lưới hoạt động hệ thống Các cơ sở y tế trong mạng lưới chia thành 3 loại: không có giấy phép lấy BPCT, chỉ khám lâm sàng; có giấy phép lấy BPCT, tham gia hoạt động lấy và chuyển giao cho cơ sở được phep ghép có nhu cầu; có giấy phép ghép BPCT, được phép lấy và có thể phải chuyển cho cơ sở khác nếu bệnh nhân của họ không thuộc trường hợp ưu tiên ghép Việc lấy BPCT chi được thực hiện tại cơ sở y tế thoả mãn các điều kiện do BYT quy định Không có sự phân biệt giữa tư nhân và nha nước là để tận dụng mọi nguồn lực từ xã hội Pháp không đồng ý với quan điểm nàv chỉ cho phép một số bệnh viện tư nhân được thực hiện dịch vụ công (không vì mục đích lợi nhuận) như ghép phổi, thận Bệnh viện vệ tinh (không được phép lấy BPCT) chỉ thực hiện các hoạt động cung cấp các thông tin tuyên truyền, làm thủ tục đăng ký người hiến, chuyển bệnh nhân đến cơ sở được cấp phép để tiến hành lấy BPCT Đẻ có được các mảnh gíìép là BPCT người đăng ký hiến sau chết không phải là một việc dễ dàng bởi không phải cái chết nào cũng thích

Trang 33

hợp cho việc hiến tặng Đa số các trường họp có thể lấy cơ quan chuyên biệt là nếu một nguừi nào đó chết trong phòng hồi sức cấp cứu của bệnh viện Nguyên nhân là

để đảm bảo sự thành công của ca cấy ghép với chất lượng tốt nhất của BPCT đã hiến Do đó, nếu có thể được thì nguyện vọng của người quá cố được tôn trọng bằng tất cả sự cố gắng của các nhân viên y tế Thực hiện ữ a cứu qua TTDPQG để nắm bắt thông tin người hiến là bắt buộc đổi với mọi trường họp lấy BPCT Riêng trường họp hiến tế bào sinh dục công việc này còn có ý nghĩa đảm bảo chắc chắn việc người hiến chỉ hiến một lần do thực hiện nguyên tắc giao tử hiến chỉ sử dụng cho một người (điều 9, NĐ 12/2003/CP) Các bệnh viện sẽ sắp xếp nhân viên trực tiếp làm việc với người hiến/người nhà của họ để hoàn tất các thủ tục lấy BPCT Những người này làm việc trong hộ thống một cách chuyên nghiỉp trên cơ sở sự trợ giúp tù các đồng nghiệp khác tại cơ sở mà họ công tác Nhiệm vụ chính của họ là đảm bảo công tác tổ chức chung cho hoạt động lấy BPCT, thống kê người hiến tiềm năng, kết nối mạng lưới các bệnh viện thực hiện hoạt động lấy; theo dõi, chăm sóc y tế và xác minh cac thông tin về người hiến; thông báo mọi vấn đề phát sinh trong quá trình lấy cho TTĐPQG, thực hiện các thủ tục hành chính-tư pháp, liên hệ, đón tiếp người hiến (hiếii khi còn sống), người thân của họ (hiến sau khi chết) Trường hợp hiến bộ phận không tái sinh ở người sống, bệnh viện sẽ phin thành lập Hội đồng tư vấn để quyết định cl ip thuận hay không việc hiến trên cơ sở bảo vệ lợi ích của người hiến, đặc biệt là trước những rủi ro có thể gặp Cơ cấu thành viên Hội đồng tư vấn đa dạng, gồm các chuyên gia về pháp luật, y tể, tâm lý nhằm đưa cả xã hội vào công việc đầy

ý nghĩa này, tránh tình trạng dành quyền cho phép lấy BPCT người sổng vào tay một nhóm bác sĩ/phẫu thuật viên Nên nếu không có sự phối kết hợp từ TTĐPQG cử chuyên gia pháp luật và tâm lý thì khôn? thể làm được

Ngân hàng mô/tế bào là một thành tố quan trọng trong chuỗi mắt xích hệ

thống mạng lưới hiến-ghép BPCT Đây là nơ chịu trách nhiệm thực hiện các thao tác xử lý, lưu giữ, phân phối BPCT người hiến dưởi dạng tế bào, mô thành phẩm hoặc chưa thành phâm Mọi hoạt động trên chỉ được thực hiện thông qua các ngân hàng đã được cơ quan chức năng cho phép hoạt động Ngân hàng không thực hiện chức năng lưu giữ cơ quan chuyên biệt vì sau khi được lấy khỏi cơ thể người hiến,

xử lý an toàn, chúng sẽ được chuyển đến cơ sở ghép luôn và phải được sử dụng

27

Trang 34

ngay trong vòng từ 2-24h sau lấy, quá thời gian dó sẽ không sử dụng được nữa Ngân hàng có thể tổ chức dưới dạng ngân hàng đơn mô/tế bào (chuyên lưu giữ một loại mô/tế bào nào đó) hoặc đa mô/tế bào (lưu giữ các loại mô/tế bào khác nhau) tuỳ theo khả năng và mong muốn cua người thành lập nó Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền thành lập ngân hàng mô/tế bào không phân biệt thuộc nhà nước hay tư nhân chỉ cần đáp ứng các điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân lực, vật lực đều có thể được cấp phép Ngân hàng có thể là một đơn vị độc lập hoặc phụ thuộc; có thể trực thuộc bộ/sư Y tế hay trường đại học y dược Mọi hoạt động của ngân hàng đều phải trên cơ sở phi lợi nhuận Tuy nhiên, quá trình lưu giữ sẽ phát sinh chi phí bảo quản, trong đó chi phí cho trang thiết bị, nhà kho, nhân viên, chi phí đảm bảo vệ sinh, an toàn chất lượng mô/tế bào ncn khi chuyển giao chúng ngân hàng được thanh toán khoản chi phí nay từ những địa chỉ có nhu cầu sử dụng Nguồn mô/tế bào của ngân hàng được cung cấp thông qua các kênh: cơ sở y tế được phép lấy chuyển tới,

từ ngân hàng khác hoặc do viện trợ, hợp tác quốc tế So với cơ quan chuyên biệt, nguồn mô/tế bào phong phú hơn do có thể bảo quản được lâu và việc có được chúng

từ ngưi i hiển đơn giản hơn, không căn cứ lắm vào trường họp người đó chết như thế nào Ngân hàng ngoài việc bảo quản mô/tế bào còn có ứ được phép tổ chức lấy chúng nếu đáp ứng các ti êu chuẩn luật định, cơ sở y tế có thể trực tiếp lấy hoặc ngân hàng sẽ cc người xuống lấy Nguy cơ lây nhiễm trong quá trình lấy là cao nên ngàn hàng phải đảm bảo giám sát quá trình lựa chọn, lấy, xử lv phù hợp với quy định nhằm đảm báo rằng tất cả các trường hợp cho đã được kiểm tra an toàn Tất cả các mô/tế bào sau khi lấy khỏi cơ thể đều phải được chuyển đến ngân hàng và phân phối theo quy tắc luật định trừ trường hợp hiến cho một ca bệnh đã xác định thi sẽ chuyển ngay đến cơ sở y tế để làm thủ thuật chữa bệnh Ngân hàng phải đảm bảo rằng mọi

cơ sở nhà nước hay tư nhân hoạt động trong lĩnh vực y tế, sản xuất thuốc hoặc thiết

bị y tế đều có thể tiếp cận mô, tế bào người theo các quv định của pháp luật Ngoài nhiệm vụ lưu giữ các mô/tế bào người hiến các ngân hàng còn có thêm dịch vụ gửi giữ cho khách hàng có nhu cầu, họ sẽ có trách nhiệm trả phí bảo quản, đương nhiên

sẽ không áp dụng nguyên tắc phân phối (Việt Nam chỉ có tinh trùng được luật trực tiếp đe cập, tế bào máu cuống rốn là tự phát) Ngân hàng mô/tế bào tư nhân ít nhiều gây lo ngại về tình trạng lợi dụng để tổ chức buôn bán BPCT người vì thế muốn

Trang 35

kiểm soát tính an toàn và minh bạch của nó thì mối liên hệ chặt chẽ giữa nó với các mắt xích khác trong hệ thống càng phải được nhấn mạnh.

Mô hình TTĐPQG chưa có tiền lệ ở Việt Nam nhưng là kỳ vọng rất lớn của

nhà làm luật trong vấn đề thiết lập hệ thống hiến BPCT Đây là một tổ chức sự nghiệp trực thuộc BYT, dự kiến sẽ hoạt động theo cấp vùng (Bắc-Trung-Nam) qua

cơ chế đại diện Các nước quy định rất khác nhau về cơ quan này, tuy có những đặc điểm riêng biệt song nhiệm vụ chung đều là quản lý nhà nước hoạt động hiến-nhận BPCT như việc cấp thẻ hiến và danh sách chờ ghép, phân phối BPCT hiến trên toàn quốc, chuyển giao chúng ở phạm vi quốc tế Bên cạnh đó TTĐPQG còn phải thực hiện phát triển hoạt động hiến trong cộng đồng: khắc phục tình trạng thiếu mảnh ghép bằng cách tổ chức chiến dịch tuyên truyền tại các địa điểm công cộng, phối họp và tổ chức các hoạt động lấy, ghép, đánh giá, báo cáo việc thực hiện và tỏ chức nghiên cứu, đào tạo nhân lực, tư vấn chính sách, soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực này Hoạt động của nó thể hiện sự dân chủ, đại diện cho tiếng nói quảng đại quần chúng Nhiệm vụ của TTĐPQG là rất nặng nề với dung lượng ihông tin khổng lồ cần phải xử lý Đ kết nối các cơ sở y tế và ngân hàng mô/tế bào người, các phòng điều phổi và hỗ trợ thòng tin thuộc TTĐPQG sẽ làm việc 24/24h Các bên phải thường xuyên liên lạc và phối hợp với nhau khi có bất cứ trường hợp hiển-ghép nào Dể đain bao bình đẳng trong cấy ghép, nó sẽ tiến hành theo dõi đánh giá, nếu cần, kL m tra các hoạt động liên quan thuộc thẩm quyền nhàm đảm bảo quy trình nghiêm ngặt với yêu cầu minh bạch tối đa tránh những trường hợp khiếu nại, tạo niềm tin trong nhân dân

Chuỗi mắt xích cơ sở y tế, ngân hàng mô/tế bào và TTĐPQG đặc biệt cần sự nhịp nhàng trong trường hợp lấy BPCT của người chết não Là một cuộc đua nước rút thực sự, trường hợp này phải có sự phối họp chặt chẽ tò việc xác định chết não, xét nghiệm bệnh truyền n] iễm, các kiểm tra sinh huyết học để đani bảo chất lượng

an toàn bộ phận được lấy Ngoài ra còn phải tiến hành các thủ tục như: chuẩn bị tinh thần cho thân nhân người chết, gặp mặt người làm chứng, yêu càu sự cho phép của gia đình Công việc đó mất khá nhiều thời gian mà càng để lâu thì chất lượng BPCT càng giảm, cơ hội ghép thành công cũng sẽ càng thấp cho nên tính khẩn trương, cln ih xác đối với toàn hệ thống là yêu cầu bắt buộc Trong mạng lưới, các

29

Trang 36

cơ sở y tế và ngân hàng mô/tế bào tư nhân hoạt động là một thử thách đối với nguyên tắc phi lợi nhuận MỘI mặt tư nhân có nhiều điều kiện vật chất, nhân sự, cần tranh thủ, điều nay phù họp với xu thế hội nhập, xã hội hoá hoạt động y tế, khuyến khích hoạt động nghiên cứu khoa học của cá nhân, tổ chức, thu hút được nguồn lực rộng lớn từ xã hội; mặt khác làm thế nào để kiểm soát nguy cơ thương mại hoá trong tình h.nh quản lý nói chung còn quá nhiều bất cập mà vấn đề này lại quá mới ta chưa có kinh nghiệm là một câu hỏi không dễ trả lời.

2.2 H iếo BPCT khi còn sống

2.2.1 Chủ thể

Hiến BPCT là một quyền năng nhân thân không thể phủ nhận của mọi cá nhân Pháp luật không phân biệt quốc tịch hay tư cách công dân của chủ thể hiến Bất kỳ là ai dù là người Việt Nam hay nước ngoài, có hay không bị hạn chế một số hoặc tất cả quyền công dân thì vẫn có thể trở thành chủ thể hiến BPCT Cá nhân thực hiện quyền của mình một cách độc lập với những chủ thể còn lại, chỉ duy nhất

có trường họp hiển phôi (dư) pháp luật yêu cầu đó phải là quyết định của cả 2 vợ chồng (khoản 1, điều 11, NĐ 12/2003/CP) gần giống với quan điểm của Pháp coi việc hiến tế bào Sinh dục là quvei định chung của vợ chồng nếu người hiến đã có vợ/chồng (điều L 1244-2, BL.Y tế cộng đồng) Quyền bản thân không có sự hạn chế nhưng khả năng thực hiện nó phải căn cứ vào trường họp cụ thể của từng cá nhân Việc lầy đi một BPCT nào đó ít nhiều cũng ảnh hưởng đến sức khoẻ của người bị lấy do đ ■ để bảo đảm an toàn cho các chu thể hiển thì quyền này chỉ được thực hiện khi cá nhân đạt những điều kiện nhất định nào đó mà nhờ đó cho phép khẳng định mức độ an toàn cần thiết đ i với họ v ề mặt khoa học, có 3 tiêu chí dành cho chủ thể hiến cần phải quan tâm đó là các điều kiện: tuổi và NLHV (khẳng định khả năng tự

ra quyết định và chịu trách nhiệm); sức khoẻ (đảm bảo an toàn khi phẫu thuật trước hểt cho người lấy sau là cho người nhận); quan hệ giữa người hiến-nhận (đảm bảo tính phi thương mại của hành vi) Nhưng về mặt pháp lý các điều kiện này có được đặt ra hay không, nếu có thì việc thể hiện nó như thế nào phụ thuộc rất nhiều vàn quan điểm lập pháp của từng nước

+) Đ iều kiện sức khỏe: Pháp luật Việt Nam đã cố gắng qu> định về điều kiện

người hiến đơn giản để nhân dân thoải mái khi thực hiện, không có bất cứ yêu cầu

Trang 37

về sức khoẻ nào được đặt ra N hưng giữa thể hiện nguyện vọng và khả năng thực hiện là hoàn toàn kháÍG nhau Chỉ thực sự hiển được khi cá nhân đạt điều kiện sức khoẻ để có thể trải qua ca ph iu thuật lấ> BPCT một cách an toàn Có thể nói bộ phận hiến tặng đã đưa rất nhiều người bệnh trở lại cuộc sống bình thường, khoẻ mạnh nhưng không phải vì thế mà hy sinh sức khoẻ người khác, đây chính là giá trị nhân bản của hoạt động hiến BPCT Trên nguyên tắc cân đối lợi ích và rủi ro của người được tiến hành thủ thuật y học thì điều kiện đầu tiên cho mọi chủ thể hiển là sức khoẻ phẫu thuật Nó thuộc kiến thức y học phổ cập nên chính bác sĩ trong kíp

mổ sẽ tự đánh giá căn cứ tình hình thực tế người hiển Đối với trường hợp hiến còn sổng dùng vào mục đích chữa bệnh thì điều kiện sức khoẻ người hiển không chỉ dừng lại ở sức khoẻ phẫu thuật mà còn có thêm nội dung không mắc các bệnh truyền

nhiễm, di truyền nguy hiểm, khối u, ung th ư Ngoài ra(n g ư ờ i hiến-nhận bắt buộc

phải tương thích về hệ thống miễn dịch, nhóm máu, nhóm m ô N ếu các ư i ề u kiện

về sức khoẻ trên không thoả mãn thì ý nguyện tốt đẹp của người hiến không thể hiện thực được.^BYT sẽ quy định danh sách các loại bệnh thuộc trường họp cấm lấy để ghép cũng như các chỉ số sinh học thích họp khi chọn cặp cho-nhận Đây không phải

là sự phc*n bỉệt đổi với các chủ thể hi n, điều kiện tiêu chuẩn kỹ thuật được đặt ra với họ không gì khác hơn là bảo vệ chính họ và người nhận, đảm bảo phẫu ihuật thành công, tránh mọi tai biến xấu trong và sau phẫu thuật cũng như những ảnh hưởng lâu dài lên cơ thể người hiến và những khiếu kiện rắc rối có thể nảy sinh Do

đó việc kiếm tra tình hình sức khoẻ của người hiển trước khi quyết định lấy BPCT

Ỉ1Ọ là một thủ tục bắt buộc

+) Đ iều kiện tuổi và N L H V : Điều kiện này của chủ thể hiến được pháp luật

quy định rất rõ ràng, nó có mặl trong tất cả các văn bản pháp luật liên quan đến vấn

đề hiến BPCT người từ máu tinh trùng đến nội quan Việc đặt điều kiện NLHV

và hạn định tuổi người hiến phụ thuộc phần lớn vào động cơ lấy BPCT hợ v ề cơ bản, có 2 động cơ thúc đẩy việc lấy BPCT một người là: xuất phát từ sự nhân đạo (mong muốn hiến xuất hiện trước việc lấy) hoặc do lợi ích của người được lấy (quyết định lấy xuất hiện trước mong muốn hiến)

Trương hợp lấy B P C T một ngưòi vì lợi ích cùa chính người đổ thì có thể hiến

và mục đích chu yếu là nghiên cứu khoa học, giảng dạy, bên cạnh đó vẫn có thể

31

Trang 38

dùng để chữa bệnh nếu chất lượng BPCT được lẩy đảm bảo các tiêu chuẩn sinh học theo quy định Ví dụ: khi một người chấn thương, \ ỡ nhãn cầu có chỉ định cắt bỏ nhãn cầu thì có thể hiến giác mạc nếu còn tốt Vì việc lấy BPCT là nhàm bảo vệ lợi ích của người được lấy, là một trong các phương thức chữa bệnh cho người hiến nên không thể bị pháp luật hạn định tuổi cũng như yêu cầu về NLHV Tiếc là pháp luật Việt Nam chưa thực sự chú ý đến trường hợp này nên mặc dù có hoạt động thực tiễn nhưng đến nay chưa có văn bản pháp quy nào trực tiếp điều chỉnh, về hình thức có thể áp dụng tất cả các quy định về hiến BPCT của Luật 75/06 nhưng lại vướng mắc

về tuổi và NLHV (luật này quy định người hiến phải từ đủ 18 trở lên, có NLHV đầy đủ) làm các trường hợp đã lấy BPCT người chưa thành niên, người đã thành niên thuộc diện phải giám hộ nhưng lại không thế sử dụng gây lãng phí rất lớn trong khi nguồn hiến thực tể quá hiếm hoi Điều 8, Điều lệ Khám bệnh, chữa bệnh và phục hồi chúc năng quy định: “mọi trường hợp phẫu thuật và thủ thuật đều phải có sự đồng ý của người bệnh”, trường hợp người chưa thành niên, bị hôn mê hoặc r< ii loạn tâm thần thì “phải được thân nhân, người giám hộ đồng ý cho phẫu thuật và ký vào giấv xin m ổ”, thân nhân là người có quan hệ: cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên (khoản 3, điều 32 BLDS2005) Như thế việc lấy BPCT vì lợi ích chính người được lấy được quyết định bởi người đó hoặc đại diện của họ nếu thuộc trường họp chưa thành niên hoặc được giám hộ Nếu có thể được, chính phu nên hướng dẫn luật theo hướng cho phép những trường hợp như thế này được hiến như một ngoại lệ Tức là khi lấy BPCT một người vì lợi ích của họ thì được hiến vì mục đích cứu ngưừ hoặc giảng dạy, nghiên cúu khoa học nếu người này đồng ý; trường hợp họ chưa thành niên hoặc đã thành niên mất NLHV thì phải được sự đồng ý của cha mẹ, người giám

hộ, nếu chính người được lấy phản đối thì không được sử dụng BPCT đã lấy của họ Riêng đổi với mô, tế bào phôi, thai, các nước đều quy định rất chặt chẽ: chỉ được lấy khi chấm dứt quá trình mang thai; sử dụng mục đích chuẩn đoán bệnh, nghiên cứu, chữa bệnh; phải có sự đồng ý của người bệnh, nếu họ chưa thành niên hoặc mất NLHV thì không được phép lấy trừ trường hợp tìm hiều nguyên nhân chấm dứt quá

ti nh mang thai, quy định như vậy nhằm ngăn chặn sự lạm dụng đối với những người được pháp luật bảo trợ (ví dụ: điều L 1241-5 BL.Y tế cộng đồng Pháp)

Trang 39

Trường họp động cơ lấy BPCT là vì người khác thì mục đích sử dụng phổ biến

là chữa bệnh cửu người, cũng có một số trường họp sử dụng đê giảng dạy, nghiên cứu khoa học nhimg không nhiều Đây là trường họp dành rất nhiều sự quan tâm không chỉ từ phía nhà quản lý ma còn cả cộng đồng, việc hiến BPCT mà cộng đồng được biết chủ yếu là từ đây cho nên các quy định của luật hầu như nhằm vào nó Pháp luật đòi hỏi rất khắt khe: người hiến phải từ đủ 18 tuổi và có NLHV đầy đủ Bởi vì hiến BPCT là vấn đề hệ trọng, liên quan đến an toàn cá nhân từng người, là quyền nhân thân không thể chuyển giao do đó phải do chính người hiến quyết định, không ai có thể quyết định thay trong khi 18 được coi là tuổi trưởng thành, cơ thể có

sự phát triển ổn định và gần như đã hoàn thiện để có thể đảm bảo sự chín chắn của quyết định và sự an toàn của ca phẫu thuật lấy BPCT; mặt khác, người ta chỉ thực sự

tự quyết định và chịu trách nhiệm nếu nhận thức đầy đủ, sáng suốt, trong trạng thái hoàn toàn bình thường, linh táo, những người không thể nhận thức và điều khiển hành vi thì không thế thực b ,ện quyền hiến BPCT của họ được, v ề nguyên tắc, mọi

cá nhân khi đến tuổi trưởng thành (đủ 18) được coi là có đầy đủ NLHV nếu không thuộc trường hợp mất, hạn chế NLHV (điều 19, BLDS2005) Nhưng vướng mắc ở chỗ việc mát, hạn chế NLHV chỉ xày ra nếu bị toà án tuyên (điều 22, 33, BLDS2005) trong khi toà án chỉ làm việc nếu có yêu cầu (BLTTDS2004) Những trường họp bị mắc bệnh tâm thần/bệnh khác không thể nhận thức, làm chủ hành vi hoặc nghiện các chất kích thích dẫn đến phá tán tài sản mà không có yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan thì cũng không thể coi là mất, hạn chế NLHV Thế nên về mặt lý những người này vẫn có thể tham gia hiến BPCT Lưu ý: trường hợp

có thể bị hạn chế NLHV là tương đối nguy hiểm cho việc hiến mục đích chữa bệnh

do có thê làm sai lệch các chuân đoán dưới tác dụng của các chất kích thích mà người đó dùng; đó là chưa kể trường hợp nghiện ma túy-hành vi gây nguy cơ cao trong lây nhiễm HIV/AIDS Còn nếu hiến vì mục đích nghiên cửu khoa học, giảng dạy thì những người bị hạn chế NLHV về phương diện khoa học là hoàn toàn có thể hiến được nhưng vướng mắc là họ không được quyền hiến do không đáp ứng điều kiện NLHV trong khi bản thân của chế định hạn chế NLHV chi nhằm hạn chế người những người này về giao dịch tài sản trong khi hiến BPCT là quyền nhân thân phi tài sản Đối với người dưới 18 tuổi, cơ thể không phải là bản sao thu nhỏ của người

33

Trang 40

lớn, nó còn đang phát triển nếu lấy đi một bộ phận thì không chắc các phần còn lại

có thể phát triển tốt, lứa tuổi này cũng chua đủ độ chín về tư duy nên dễ bị lợ dụng Không thể để các em mạo hiểm, pháp luật cấm lấy BPCT người sống chưa thành niên Mặt khác việc cấm này còn xuất phát từ thực tế hiến khi còn sống thường là từ người thân thích của người nhận, một người còn sống phải quyết đ ìh hiến BPCT cho người thân của mình họ chịu rất nhiều áp lực từ phía gia đình, pháp luật không muốn người chưa thành niên phải đối mặt với áp lực như vậy Tuy mốc chung các quốc gia thường là 18 tuôi nhưng Việt Nam còn quy định thêm cụ thể từng khung giới hạn theo BPCT hiến: từ 18-60 đối với máu (mục I, phần A, điểm 1, Điều lệnh truyền máu), nam từ 20-55, nữ từ 18-35 đối với tế bào sinh dục (điều 7, NĐ 12/2003/CP) Theo quan điểm cá nhâii tác giả việc đưa ra khung tuổi giới hạn này không cần thiết, có phần cứng nhắc vì tuổi về mặt xã hội và sinh học là khác nhau Chỉ cần từ đủ 18 tuổi trở lên là hoàn toàn có thể hiến BPCT, việc có lấy được hay không do tình trạng súc khoẻ, các chỉ số sinh học của chính người đó quyết định với

sự xem xét nghiêm túc và đầy trách nhiệm của bác sĩ trên cơ sở áp dụng nguyên tắc cân bằng mặt lợi ích và rủi ro cho người hiến-nhận Trong khi việc hiến tinh trùng/noãn là cực kỳ nhạy cảm liên quan đến giống nòi nên phải tạo cho người hiến cảm thấy thoải mái khi ra quyết định Thực tế, đối với ngưừi từ đu 18 tuổi là đã có

đủ điều kiện về thể chất đế cho tinh trùng rồi; còn hơn 40 tuô' mà có đủ điều kiện sức khoẻ thì cũng cho tinh trùng được Điều kiện tuổi ở đây không thực sự chính xác, điều kiện về tinh dịch đồ mới là quan trọng Nói chung điều kiện như vậy khó

mà đáp ứng nhu cầu xin tinh trùng hiện nay trong khi bệnh viện đang thiếu nghiêm trọng nguồn hiến này Pháp không quy định tuổi, điều kiện đầu tiến họ chú ý là phải

có con, sau là quy định các xét nghiệm về mặt y tế nhằm đánh giá chất lượng tinh trùng/trứng được cho Sở dĩ thế vì nhà làm luật muốn đảm bao sự an toàn từ phía người cho cả về mặt sức khoẻ (những đúa trẻ khoẻ mạnh) và pháp lý (tránh tranh chấp vì nuối tiếc đã “cho đi một đứa con”) Mặc dù cấm lấy BPCT người chưa thànli niên, người đã thành niên thuộc diện giám hộ là quan điểm mang tính quốc tế nhưng không phải không có ngoại lệ, đó là trường hựp lấy tuỷ/tế bào gốc tạo máu có nguồn gốc tủy xương để ghép cho anh chị em ruột khi không còn biện pháp nào khác Ngoại lệ với người chưa thành niên được thừa nhận rộng rãi, vớ' người đã thành

Ngày đăng: 24/01/2021, 22:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w