1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đấu trang phòng chống các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh ninh bình thực trạng và giải pháp

100 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 9,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu đối với các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ đã được tiến hành có kết quả ở các cấp độ tiến sỹ, thạc sỹ luật học như công tr

Trang 2

VIỆN NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Q U Á C H N G Ọ C TUẤN

ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH: TH ựC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Trang 3

CHƯƠNG 1: CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

1.1 Khái niệm các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ theo

1.2 Phân biệt các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ với cáchành vi vi phạm quy định an toàn giao thông đường bộ 26

1.3 Khái quát lịch sử phát triển các quy định của pháp luật hình sựViệt Nam về tội xâm phạm an toàn giao thông từ năm 1945 đến nay 30

CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH, NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỂU KIỆN CỦA CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ VÀ THựC TRẠNG ĐÂU TRANH PHÒNG CHỐNG CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRÊN

2.1 Tinh hình phạm tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ trên

2.2 Nguyên nhân và điều kiện của các tội xâm phạm an toàn giao

2.3 Thực trạng tổ chức đấu tranh phòng chống các tội xâm phạm an

2.4 Dự báo tình hình tội phạm xâm phạm an toàn giao thông đường bộ

CHƯƠNG 3: CÁC BIỆN PHÁP ĐÂU TRANH PHÒNG CHỐNG CÁC TỘI XÂM

3.1 Một số vấn đề chung về phòng ngừa và chống các tội xâm phạm

3.2 Các biện pháp phòng ngừa và chống cụ thể đối với các tội xâm

Trang 4

NHỦNG t ừ v i ế t t ắ t t r o n g l u ậ n VĂN:

1 ATGT : An toàn giao thông

2 ATGTĐB : An toàn giao thông đường bộ

3 BLHS : Bộ luật hình sự

4 BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự

5 GTVT : Giao thông vận tải

6 PTGTĐB : Phương tiện giao thông đường bộ

7 TAND : Toà án nhân dân

8 TNGT : Tai nạn giao thông

9 TNGTĐB : Tai nạn giao thông đường bộ

10 TTATGT : Trật tự an toàn giao thông

Trang 5

1 Tính cấp thiết của đề tài.

Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, giao thông vận tải giữ một vai trò hết sức quan trọng, đặc biệt là giao thông vận tải đường bộ Cũng như bất cứ hoạt động nào khác của con người, hoạt động giao thông vận tải nói chung và hoạt động giao thông vận tải đường bộ nói riêng đều lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm mục tiêu hướng tới Hiệu quả của giao thông vận tải đường bộ không những chỉ là trật tự, an toàn công cộng trong lĩnh vực giao thông mà còn là sự an toàn tuyệt đối về tính mạng, sức khoẻ và tài sản Xuất phát từ vị trí, vai trò của hoạt động giao thông vận tải đường bộ và hiệu quả như đã nêu trên, các quan hệ xã hội trong lĩnh vực giao thông vận tải đường

bộ cần phải được điều chỉnh bằng pháp luật và cao hơn là pháp luật hình sự thông qua việc quy định những hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ đến mức độ nào sẽ bị xử lý bằng hình sự

Việc vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải đường bộ có những nguyên nhân và điều kiện riêng gắn liền với sự phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ Các vi phạm này đều do con người thực hiện hoặc cố

ý hoặc vô ý Làm rõ nguyên nhân, điều kiện phạm tội là cơ sở để tìm ra các biện pháp ngăn chặn, đấu tranh có hiệu quả với loại tội phạm này

Tỉnh Ninh Bình là một tỉnh nằm ở vị trí yết hầu của trục đường giao thông Bắc - Nam, nơi có mật độ các phương tiện giao thông đường bộ liên tỉnh qua lại dày đặc, do vậy cũng là một trong những địa phương xảy ra nhiều tai nạn giao thông đường bộ đặc biệt nghiêm trọng trong thời gian qua gây thiệt hại lớn về người và tài sản Đồng thời nó còn gây ra những tác động xấu đến đời sống kinh tế - xã hội Đảm bảo an toàn giao thông nói chung và

an toàn giao thông đường bộ nói riêng đang là nhiệm vụ cấp thiết được Đảng

và Nhà nước ta đặt ra, trong đó hoạt động đấu tranh phòng chống các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ có vị trí và vai trò đặc biệt Để đấu tranh phòng chống các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ có hiệu

Trang 6

quả đòi hỏi phải nắm vững được cơ sở lý luận về an toàn giao thông đường

bộ cũng như thực tiễn đấu tranh phòng chống các tội này, tìm ra những nguyên nhân và điều kiện của tình hình phạm tội

Với việc thực hiện đề tài "Đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm

an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Ninh Bình: thực trạng và giải pháp", tác giả mong muốn tìm hiểu sâu hơn và nâng cao nhận thức trong lĩnh vực an toàn giao thông đường bộ dưới góc độ tội phạm học và các quy định của luật hình sự cũng như thực tiễn áp dụng các quy định của Luật hình sự đối với các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ ở Ninh Bình trong thời gian 5 năm (1999-2003), qua đó có cơ sở đưa ra một số đề xuất cá nhân

về giải pháp đấu tranh nhằm góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả của công tác đấu tranh phòng chống các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ ở tỉnh Ninh Bình

2 Tình hỉnh nghiên cứu.

Trong thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu đối với các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ đã được tiến hành có kết quả ở các cấp độ tiến sỹ, thạc sỹ luật học như công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Chính về "Đấu tranh phòng chống các tội xâm phạm an toàn giao thông vận tải đường bộ ở thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay", tác giả Nguyễn Văn Hạnh về "Tội vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải và đấu tranh phòng, chống tội vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải trong quân đội", tác giả Phan Huy Thái về "Điều tra các

vụ án vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải đường bộ trên địa bàn Hà Nội - Thực trạng và các giải pháp hoàn thiện", tác giả Ngô Huy Ngọc

về "Những biện pháp phòng ngừa tội phạm xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ tại thành phố Hà Nội", tác giả Bùi Kiến Quốc về "Các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ ở Hà Nội "

Trang 7

Các công trình nghiên cứu kể trên đã được các tác giả nghiên cứu một cách khá toàn diện ở những góc độ và mức độ khác nhau Tuy nhiên tác giả nhận thấy trong một phạm vi nhất định việc nghiên cứu và tìm hiểu về tình hình, nguyên nhân và điều kiện, thực trạng đấu tranh cũng như các giải pháp đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Ninh Bình vẫn là cần thiết và hữu ích, kết quả nghiên cứu cũng phần nào làm rõ hơn những quy định về các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ theo Bộ luật hình sự năm 1999.

3 M ục đích nghiên cứu.

Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự về các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ, tình hình, nguyên nhân và điều kiện của các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ ở tỉnh Ninh Bình, thực trạng đấu tranh phòng chống để đề ra những giải pháp hữu ích cho cuộc đấu tranh phòng chống các tội này

4 Nhiệm vụ nghiên cứu.

Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, tác giả giải quyết các nội dung cơ bản sau:

- Phân tích các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ

- Nghiên cứu tình hình vi phạm pháp luật về an toàn giao thông đường bộ ở tỉnh Ninh Bình trong 5 năm (1999-2003), làm rõ nguyên nhân và điều kiện của các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ

- Đề xuất các giải pháp khắc phục tình hình phạm tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ ở tỉnh Ninh Bình

5 Phạm vi nghiên cứu.

- Phân tích làm rõ quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ

- Phân tích tình hình, nguyên nhân và điều kiện phạm tội xâm phạm

an toàn giao thông đường bộ ở địa bàn tỉnh Ninh Bình

Trang 8

- Nghiên cứu thực tiễn đấu tranh phòng chống các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ ở tỉnh Ninh Bình

6 C ơ sở lý luận và phương pháp luận của việc nghiên cứu.

Cở sở lý luận của luận văn được xác định trên cơ sở lý luận khoa học

luật hình sự, các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999, các kết quả nghiên

cứu, các luận điểm khoa học trong công trình nghiên cứu của các nhà khoa

học về lĩnh vực hình sự và các chuyên ngành liên quan

Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin và tư

tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng cộng sản về Nhà nước và Pháp

luật Sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học Luật hình sự, phân tích,

so sánh, tổng hợp, thống kê, xã hội học, tội phạm học; nghiên cứu các vãn

bản pháp luật hình sự, thực tiễn xét xử, đấu tranh phòng chống, các tài liệu

nghiên cứu có liên quan

7 Điểm mới về khoa học của luận văn.

Đánh giá tình hình, nguyên nhân và điều kiện của các tội xâm phạm

an toàn giao thông đường bộ ở tỉnh Ninh Bình từ năm 1999 đến năm 2003

Nêu ra thực trạng đấu tranh phòng chống, những mặt được và chưa được của

cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm này trong thời gian qua; dự báo diễn

biến của tình hình tội phạm này cũng như các giải pháp đấu tranh phòng

chống trong thời gian tới ở tỉnh Ninh Bình

8 B ố cục của luận vãn.

Luận văn được kết cấu gồm 3 chương với phần mở đầu và kết luận:

Chương I: Các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ theo Luật

hình sự Việt Nam

Chương II: Tình hình, nguyên nhân và điều kiện của các tội xâm

phạm an toàn giao thông đường bộ và thực trạng đấu tranh phòng chống các

tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Ninh Bình trong

thời gian qua

Chương III: Các biện pháp đấu tranh phòng chống các tội xâm phạm

an toàn giao thông đường bộ ở tỉnh Ninh Bình

Trang 9

CHƯƠNG 1 CÁC TỘI XÂ M PHẠM AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những trật tự khác của pháp luật xã hội chủ nghĩa"

Xét về mặt cấu trúc, tội phạm có đặc điểm chung là đều được hợp thành bới những yếu tố nhất định, tồn tại không tách rời nhau nhưng có thể phân chia được trong tư duy và do vậy cho phép chúng ta nghiên cứu chúng một cách độc lập với nhau Những yếu tố đó theo khoa học luật hình sự Việt Nam là khách thể, chủ thể, mặt khách quan và mặt chủ quan của tội phạm Bốn yếu tô này tồn tại thống nhất và là tiền để, điều kiện cho nhau với tư cách là bộ phận cấu thành của thể thống nhất là tội phạm Thiếu bất kỳ yếu

tố nào cũng không có tội phạm Bốn yếu tố này có những nội dung biểu hiện khác nhau, chính sự khác nhau này quyết định tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Tổng hợp những yếu tố này trong khoa học luật hình sự được gọi là cấu thành tội phạm Cấu thành tội phạm là tổng hợp những dấu hiệu chung có tính đặc trưng cho loại tội phạm cụ thể được quy định trong luật hình sự Các dấu hiệu được mô tả trong cấu thành

Trang 10

tội phạm là những dấu hiệu pháp lý đặc trưng, do luật định, có tính bắt buộc phản ánh nội dung các yếu tố của tội phạm Trong tất cả các cấu thành tội phạm các dấu hiệu bắt buộc phải có là:

- Dấu hiệu hành vi nguy hiểm cho xã hội thuộc mặt khách quan của tội phạm;

- Dấu hiệu lỗi thuộc mặt chủ quan của tội phạm;

- Dấu hiệu năng lực trách nhiệm hình sự thuộc chủ thể của tộiphạm;

Các dấu hiệu khác của bốn yếu tố cấu thành tội phạm như dấu hiệu hậu quả, dấu hiệu động cơ phạm tội, dấu hiệu mục đích phạm tội, tuỳ theo từng nhóm (loại) tội phạm mà có (hoặc không) quy định trong từng cấu thành tội phạm cụ thể [18, tr.51-55]

Từ định nghĩa tội phạm và những yếu tố cấu thành tội phạm nói chung như nêu trên ta có thể định nghĩa: C ác tội xâm phạm an toàn giao thòng đường bộ là những hành vi nguy hiểm cho x ã hội do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách c ố ỷ hoặc vỗ ỷ, xâm phạm các quy tắc an toàn giao thông đường bộ, gây ra hoặc đe doạ gây ra những thiệt hại đáng

k ể về người và tài sản; được quy định trong Bộ luật hình sự năm 1999 tại chương XIX từ Điều 202 đến Điều 207. Các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ bao gồm:

+ Tội vi phạm qui định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (Điểu 202);

+ Tội cản trở giao thông đường bộ (Điều 203);

+ Tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường bộ không bảo đảm an toàn (Điều 204);

+ Tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ (Điều 205);

+ Tội tổ chức đua xe trái phép (Điều 206);

+ Tội đua xe trái phép (Điều 207);

Trang 11

Các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ nằm trong chương X IX

Bộ luật hình sự năm 1999 có tên gọi chung là: "Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng" với hai nhóm tội: các tội xâm phạm an loàn giao thông và các tội phạm khác Do vậy ngoài những đặc điểm chung cơ bản của các tội trong chương là xâm phạm khách thể an toàn công cộng, trật

tự công cộng, các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ còn có những đặc điểm riêng và những dấu hiệu pháp lý đặc trưng thể hiện trong cấu thành tội phạm của mình Những dấu hiệu đó được xem xét cụ thể ở những nội dung sau:

* Khách th ể của các tội xâm phạm an toàn giao thông đường b ộ :

“Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và

bị tội phạm xâm hại” [18, tr.62] Cũng giống như những hoạt động khác của con người, hoạt động phạm tội cũng nhằm vào những khách thể cụ thể “Các hành vi vi phạm pháp luật nói chung cũng như tội phạm nói riêng đều là những hành vi về hình thức mâu thuẫn với quy phạm pháp luật và về nội dung gây thiệt hại ở những mức độ khác nhau cho các quan hệ xã hội đã được nhà nước xác lập” [18, tr.61]

Đối với các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ, khách thể của tội phạm không chỉ là sự an toàn công cộng, trật tự công cộng trong lĩnh vực giao thông đường bộ mà còn là sự an toàn về tính mạng, sức khoẻ, tài sản của toàn xã hội trực tiếp hoặc không trực tiếp tham gia giao thông Bởi vì bất

kỳ hoạt động di chuyển nào của con người dù ở trình độ cao hay thấp đều cần phải tuân theo những quy tấc nhất định Nhất là trong giai đoạn hiện nay

và sau này khi mà số lượng, chủng loại cũng như chất lượng phương tiện tham gia giao thông ngày càng đông đảo, đa dạng, phong phú thì sự vi phạm các nguyên tắc, các quy định về đảm bảo trật tự công cộng, an toàn công cộng trong lĩnh vực giao thông không dừng lại đơn thuần ở việc vi phạm các quy tắc, các quy định của nhà nước, của xã hội khi tham gia giao thông mà những hành vi ấy còn gây ra hoặc đe doạ gây ra các thiệt hại hết sức nghiêm

Trang 12

trọng về tính mạng, sức khoẻ của con người và tài sản của xã hội Tức là các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ luôn đồng thời xâm hại hoặc đe doạ xâm hại hai khách thể: trật tự, an toàn giao thông đường bộ và sự an toàn

về tính mạng, sức khoẻ, tài sản của con người Tuy nhiên không phải bất kỳ một hành vi xâm phạm an toàn giao thông đường bộ nào cũng đều bị coi là phạm tội mà chỉ có những trường hợp xác định, được cụ thể hoá và quy định tại các điều từ 202 đến 207 Bộ luật hình sự năm 1999 đã được kể tên ở trên mới bị coi là tội phạm

Trong hai khách thể nói trên, sự an toàn về giao thông đường bộ bao giờ cũng bị xâm hại trước và trên cơ sở đó thì hành vi phạm tội mới có thể xâm hại đến sự an toàn về tính mạng, sức khoẻ và tài sản của người khác Sự an toàn về giao thông đường bộ và sự an an toàn về tính mạng, sức khoẻ và tài sản của con người là hai khách thể trực tiếp của các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ Ta cũng có thể nói sự an toàn giao thông đường bộ là khách thể đặc trưng, còn sự an toàn về tính mạng, sức khoẻ, tài sản là khách thê bắt buộc của nhóm tội này

* Mặt khách quan của các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ:

Cũng như mặt khách quan của các loại tội phạm khác, mặt khách quan của các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan Những biểu hiện đó có thể là hành động hoặc khônghành động Người ta không thể coi những gì chỉ diễn ra trong tư tưởng conngười mà không biểu hiện ra bên ngoài là tội phạm Các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ cũng như bất cứ tội phạm nào, khi xảy ra đẽu có những biểu hiện diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan mà con người có thể trực tiếp nhận biết được Đó là:

- Hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội;

- Hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng như mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả;

Trang 13

- Các điều kiện bên ngoài của việc thực hiện hành vi phạm tội (Công

cụ, phươns tiện, cách thức, thủ đoạn, thời gian, địa điểm phạm tội, )

© H ành vi khách quan của các tội xâm phạm an toàn giao thông đường

Trong những biểu hiện của mặt khách quan thì hành vi nguy hiểm cho

xã hội là dấu hiệu đầu tiên, quan trọng nhất và bắt buộc phải có của mọi cấu thành tội phạm Hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng như mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, các điều kiện bên ngoài của việc thực hiện hành

vi phạm tội có thể có, có thể không tuỳ theo từng cấu thành tội phạm cụ thể Phải có hành vi khách quan thì mới có tội phạm, do đó, trước hết phải có hành vi vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ mới có các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ Việc nghiên cứu, đánh giá hành vi khách quan là cơ sở để xác định có hay không có tội phạm xảy ra

Để cấu thành các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ, trước tiên phải có hành vi vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ được quy định ở các văn bản chuyên ngành Quy phạm pháp luật quy định cấu thành tội phạm của các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ là quy phạm viện dẫn Do vậy để xác định có tội hay không có tội, cần xem xét người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ hay không

Hiện nay, chúng ta đã có Luật giao thông đường bộ được thông qua ngày 29/06/2001 có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 01/01/2002, Nghị định SỐ14/2003/NĐ-CP ngày 19/02/2003 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật giao thông đường bộ (Trước đây áp dụng Nghị định 36/CP ngày 10/07/2001, Nghị định 36/CP ngày 29/05/1995 của Chính phủ được sửa đổi

bổ sung bằng Nghị định số 75/1998/NĐ-CP ngày 26/09/1998 của Chính phủ) Đây là các văn bản chuyên ngành cho chúng ta viện dẫn đến khi vận dụng các quy định của các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ

Trang 14

Hành vi khách quan của các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ

là hành vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ được quy định

ở các văn bản chuyên ngành được kể tên ở trên, gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội Các hành vi này bao gồm:

- Hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thôngđường bộ;

- Hành vi cản trở giao thông đường bộ;

- Hành vi đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường bộ không bảo đảm an toàn;

- Hành vi điều động hoặc giao cho người không đủ điểu kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ;

- Hành vi tổ chức đua xe trái phép;

- Hành vi đua xe trái phép;

Để thấy rõ, đánh giá đầy đủ về hành vi khách quan của các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ, ta hãy lần lượt đánh giá từng hành vi khách quan trong từng cấu thành cụ thể tương ứng với từng tội trong nhóm

a Đầu tiên là hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, hành vi khách quan trong tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ Để làm rõ hành vi này trước hết cần làm rõ một sô khái niệm sau đây theo Luật giao thông đường bộ:

- Đường bộ gồm đường, cầu đường bộ, hầm đường bộ, bến phà đường

- Phương tiện giao thông đường bộ bao gồm xe cơ giới, xe thô sơ và các

xe máy chuyên dùng tham gia hoạt động giao thông đường bộ Phương tiện

cơ giới đường bộ là phương tiện di chuyển bằng sức của động cơ hoạt động trên đường bộ gồm xe ôtô, máy kéo, xe môtô 2 bánh, xe môtô 3 bánh, xe gắn máy và các loại xe tương tự kể cả xe cơ giới dùng cho người tàn tật Phương tiện thô sơ đường bộ gồm các loại xe không di chuyển bằng sức động cơ như xe đạp, xe xích lô, xe xúc vật kéo và các loại xe tương tự Xe

Trang 15

- Điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là hành vi trực tiếp thực hiộn chức năng điều khiển sự vận động phương tiện giao thông đường bộ hoạt động trên đường

- Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông gồm người điều khiển xe cơ giới, xe thô sơ, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường

Hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường

bộ là hành vi điều khiển phương tiện giao thông đường bộ không tuân thủ các quy tắc an toàn giao thông đường bộ được quy định trong Luật giao thông đường bộ, được hướng dẫn cụ thể trong Nghị định SỐ14/2003/NĐ-CP ngày 19/02/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật giao thông đường bộ Hành vi này bao gồm các dạng hành vi vi phạm

cụ thể như:

+ Hành vi không chấp hành tín hiệu, báo hiệu đường bộ theo Điều 11 - Luật giao thông đường bộ bao gồm vi phạm các quy định của hệ thống báo hiệu bằng hiệu lệnh của người điều khiển giao thông, biển báo hiệu, vạch kẻ đường, cọc tiêu hoặc tường bảo vệ, hàng rào chắn;

+ Hành vi vi phạm vê tốc độ và khoảng cách giữa các xe được quy định tại Điều 12 - Luật giao thông đường bộ;

+ Hành vi vi phạm quy định vê điểu kiện tham gia giao thông của xe cơ giới, xe thô sơ, xe máy chuyên dùng được quy định tại các Điều: 48, 51, 52 - Luật giao thông đường bộ;

+ Hành vi vi phạm quy định về điều kiện của người lái xe cơ giới, xe máy chuyên dùng, xe thô sơ tham gia giao thông được quy định tại các Điều:

53, 55, 57, 58 - Luật giao thông đường bộ;

+ Hành vi vi phạm về sử dụng làn đường được quy định tại Điều 13 - Luật giao thông đường bộ;

Trang 16

+ Hành vi vi phạm về VƯ0 xe, chuyển hướng xe, lùi xe, tránh xe, nhường đường được quy định tại các Điều: 14, 15, 16, 17, 22, 23 - Luật giao thông đường bộ;

+ Hành vi vi phạm vê dừng, đ ỗ xe trên đường trong và ngoài đô thị

được quy định tại các Điều: 18, 19 - Luật giao thông đường bộ, Điều 4 Nghị định 14/2003/NĐ-CP;

+ Hành vi vi phạm quy đinh khi qua phà, qua cầu phao được quy định tại Điều 21 - Luật giao thông đường bộ;

+ Hành vi vi phạm quy định vê giao thông trên đường cao tốc, gião thông trong hầm đường bộ được quy định tại Điều 24, Điều 25 - Luật giao thông đường bộ;

+ Hành vi vi phạm quy định về bảo đảm tải trọng và kh ổ giới hạn của đường bộ được quy định tại Điều 26 - Luật giao thông đường bộ; về xếp hàng hoá trên phương tiện giao thông theo Điều 5 Nghị định 14/2003/NĐ-

CP ngày 19/02/2003 của Chính phủ;

+ Hành vi vi phạm về kéo xe, kéo rơ m oóc, chở người, đội mũ bảo hiểm, điều khiển xe dược quy định tại các Điều: 27, 28, 29 - Luật giao thông đường

Hành vi vi phạm quy định về điểu khiển phương tiện giao thông đường

bộ chỉ cấu thành tội phạm khi gây ra thiệt hại về tính mạng, thiệt hại nghiêm trọng về sức khoẻ, tài sản của người khác Tức là gây chết người, làm bị thương người khác mà tỷ lệ giảm sức khoẻ của người bị hại (các bị hại) được xem xét tuỳ theo số người bị thương tích hoặc gây thiệt hại lớn về tài sản (trong trường hợp không gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ cho người khác)

b Hành vi cản trở giao thông đường bộ là những hành động làm cho giao thông đường bộ không hoạt động được hoặc hoạt động không như dự kiến bình thường Những hành vi này là hành vi vi phạm nghiêm trọng điều

8 Luật giao thông đường bộ Luật hình sự Việt Nam chỉ coi cản trở giao

Trang 17

thông đường bộ là phạm tội khi hành vi cản trở mang tính nguy hiểm cao cho xã hội: gây thiệt hại về tính mạng, gây thiệt hại nghiêm trọng về sức

khoẻ, tài sản hoặc đe dọa thực tê gây ra hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời Hành vi cản trở giao thông đường bộ có các dạng hành vi sau:

+ Đ ào, klioan, x ẻ các công trình giao thông đường bộ;

+ Đặt trái phép chướng ngại vật gây cản trỏ giao thông;

+ T háo dỡ, di chuyển trái phép làm sai lệch, che khuất hoặc phá huỷ biển báo hiệu, các thiết bị an toàn giao thông đường bộ;

+ Mở đường giao cắt trái phép c/ua đường bộ, đường có giải phản

cách ;

+ Lấn chiếm vỉa hè, lòng đường;

+ Lấn chiếm hành lang bảo vệ đường bộ;

+ Vi phạm quy định vê bảo đảm an toàn giao thông khi thi công trên đường b ộ ;

+ Hành vi khác cản trở giao thông đường bộ.

Các hành vi cản trở giao thông đường bộ chủ yếu được thực hiện bằng hành động: đào, khoan, tháo dỡ, làm sai lệch, lấn chiếm, nhưng cũng có một số hành vi thực hiện bằng không hành động như không đặt đèn, biển báo, rào chắn, khi thi công trên đường bộ

c Hành vi đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường bộ không b ảo đảm an toàn là hành vi mặc dù biết rõ phương tiện giao thông đường bộ không bảo đảm an toàn nhưng vẫn cố tình đưa vào tham gia giao thông đường bộ Hành vi này chỉ bị coi là tội phạm khi gây ra hậu quả nghiêm trọng (Thiệt hại về tính mạng, thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác) và hậu quả xảy ra phải có mối quan hệ nhân quả với hành vi vi phạm Phương tiện giao thông đường bộ không đảm bảo an toàn được hiểu là phương tiện có những hỏng hóc mà về mặt kỹ thuật người ta

Trang 18

ra là người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ được giao hoặc điều động điều khiển phương tiện (không đủ điều kiện) đã gây ra tai nạn giao thông dẫn đến thiệt hại về tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng về sức khoẻ, tài sản của người khác.

Người không đủ điều kiện điều khiển phương tiên giao thông đường bộ

là người không có bằng hoặc giấy phép lái xe hoặc không có đủ điều kiện khác như: tình trạng sức khoẻ, tinh thần không đảm bảo (theo Điều 53, 54,

55, 57 - Luật giao thông đường bộ)

Trang 19

Phương tiện đua xe là ôtô, xe máy và các loại xe có gắn động cơ Hành

vi tổ chức đua trái phép các loại phương tiện không được kể tên ở trên sẽ không phạm vào tội tổ chức đua xe trái phép

Hành vi tổ chức đua xe trái phép được thể hiện dưới các dạng hành

- Vạch k ế hoạch, tổ chức đua xe;

- Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác tham gia đua xe;

- Đứng ra tổ chức, kêu gọi người khác đóng tiền tham gia đua xe;

- T ổ chức mạng lưới canh gác, b ảo vệ, giám sát cuộc đua xe, tổ chức cá cược, tổ chức chống lại cán bộ công an, dân phòng;

- Cung cấp phương tiện đua xe cho người đua xe;

- Cho người đua xe vay tiền, thuê, mượn phương tiện. [18, tr.526] Tội tổ chức đua xe trái phép là tội có cấu thành hình thức cho nên chỉcần có dấu hiệu hành vi là yếu tố thuộc mặt khách quan để khẳng định có hay không có tội phạm

g Hành vi đua xe trái phép là hành vi trực tiếp tham gia vào việc đua

xe Hành vi đua xe chỉ có thể bị coi là tội phạm khi có hậu quả xảy ra hoặc

có một dấu hiệu về nhân thân (đã bị xử phạt hành chính về hành vi này, đã

bị kết án về tội này chưa được xoá án tích) Người phạm tội trực tiếp tham gia bằng hành động trực tiếp điều khiển phương tiện đua Cũng cần phân biệt giữa hành vi đua xe với hành vi chạy xe quá tốc độ, phóng nhanh vượt ẩu Việc xác định hành vi vi phạm thuộc loại nào sẽ dẫn đến thái độ xử lý khác nhau của Nhà nước đối với người vi phạm, đó là xử lý bằng chế tài hành chính hoặc xử lý bằng chế tài hình sự

Phương tiện đua xe là ôtô, xe máy hoặc loại xe khác có gắn động cơ Hành vi phạm tội đã vi phạm Điều 8 Luật giao thông đường bộ

(Đ Hậu quả nguy hiểm cho x ã hội và mối quan hệ nhân quả giữa hành

vi và hậu quả.

+ Hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm :

Trang 20

“Hậu quả của tội phạm là thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho quan

hệ xã hội là khách thể bảo vệ của luật hình sự.” [18, tr.80]

Hầu hết các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ là những tội có

cấu thành vật chất cho nên việc xem xét, nghiên cứu về dấu hiệu hậu quả có

một ý nghĩa hết sức quan trọng

Theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1985 và nay là Bộ luật hình sự

năm 1999, hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi được xác định với 3

mức độ: Hậu quả nghiêm trọng, hậu quả rất nghiêm trọng, hậu quả đặc biệt

nghiêm trọng Hậu quả nguy hiểm cho xã hội của các tội xâm phạm an toàn

giao thông đường bộ được xác định căn cứ vào quy định giải thích trong các

văn bản hướng dẫn: Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29/01/1986, Nghị quyết

số 01/HĐTP ngày 19/04/1989 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao,

Thông tư liên ngành số 02/TTLN ngày 07/01/1995 của Toà án nhân dân Tối

cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Bộ nội vụ (Nay là Bộ Công an) hướng

dẫn áp dụng Điều 186, 188 Bộ luật hình sự 1985 và hiện nay là Nghị quyết

số 02/2003/NQ- HĐTP ngày 17/04/2003 của Hội đồng thẩm phán Toà án

nhân dân tối cao

Các thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra được xác định dưới hình thức

là các thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản Hiện nay, mức độ đánh giá

tính nghiêm trọng của hậu quả được quy định cụ thể đối với từng loại thiệt

hại ở từng mức độ khác nhau theo các mục 4.1, 4.2, 4.3 của Nghị quyết số

02/2003/NQ-HĐTP Mặc dù Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP chỉ hướng dẫn

áp dụng đối với các quy định về hậu quả ở Điều 202, tuy nhiên do đặc điểm

và tính chất của các tội thuộc nhóm này nên nó vẫn được đối chiếu để áp

dụng đối với các tội khác cùng nhóm Nghị quyết hướng dẫn:

- Gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác có các trường hợp:

a Làm chết một người;

Trang 21

b Gây tổn hại cho sức khoẻ của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;

c Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 41% đến 100%;

d Gây tổn hại cho sức khoẻ của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;

đ Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người, với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21% , nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 30% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đổng đến dưới năm mươi triệu đồng;

e Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng

- Gây hậu quả rất nghiêm trọng bao gồm một trong những trường hợp sau:

a Làm chết hai người;

b Làm chết một người và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp được hướng dẫn tại các điểm b, c, d, đ và e tiểu mục 4.1 mục 4 Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP

c Gây tổn hại cho sức khoẻ của 3 đến 4 người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;

d Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 101% đến 200%

đ Gây tổn hại cho sức khoẻ của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp được hướng dẫn tại các điểm c, d, đ và e tiểu mục 4.1 mục 4

T H Ư VI ệ N

TRƯƠNG ĐẠI H O C LỦÂT HẢ NÓI PHÒNG DÓC ' l ị í i l

Trang 22

b Làm chết hai người và còn gây hậu quả thuộc một trong các

trường hợp được hướng dẫn tại các điểm b, c, d, đ và e tiểu mục 4.1 mục 4

Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP

c Làm chết một người và còn gây hậu quả thuộc một trong các

trường hợp được hướng dẫn tại các điểm c, d, đ và e tiểu mục 4.2 mục 4

Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP

d Gây tổn hại cho sức khoẻ của năm người trở lên với tỷ lệ thương

tật của mỗi người từ 31% trở lên;

đ Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người trở lên với tổng tỷ lệ

thương tật của những người này trên 200%;

e Gây tổn hại cho sức khoẻ của ba hoặc bốn người với tỷ lệ

thương tật của mỗi người từ 31% trở lên và còn gây thiệt hại về tài sản được

hướng dẫn tại điểm e tiểu mục 4.2 mục 4 Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP

g Gày thiệt hại về tài sản có giá trị từ một tỷ năm trăm triệu đồng

trở lên [22]

Đối với các tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông

đường bộ, tội cản trở giao thông đường bộ, tội đưa vào sử dụng phương tiện

giao thông đường bộ không bảo đảm an toàn, tội điều động hoặc giao cho

người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ,

dấu hiệu hậu quả gây thiệt hại nghiêm trọng cho tính mạng, sức khoẻ hay tài

sản của người khác là dấu hiệu bắt buộc cần phải có để cấu thành tội phạm

Nếu như không có dấu hiệu hậu quả vật chất xảy ra thì hành vi vi phạm sẽ

không bị xử lý hình sự về các tội này Nói cách khác, các tội nêu trên là các

tội có cấu thành vật chất Riêng đối với tội tổ chức đua xe trái phép, trong

cấu thành cơ bản không có dấu hiệu gây thiệt hại vật chất nêu trên, mà chỉ

Trang 23

cần có hành vi tổ chức đua xe trái phép đã bị coi là phạm tội và bị xử lý bằng hình sự Đây là tội có cấu thành tội phạm hình thức, dấu hiệu hậu quả vật chất không phải là điều bắt buộc mà dấu hiệu hậu quả chỉ có ý nghĩa đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và là tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm e khoản 2 của Điểu 206 Bộ luật hình sự năm 1999.

Đối với tội đua xe trái phép, mặc dù có quy định dấu hiệu hậu quả là thiệt hại sức khoẻ, tài sản của người khác trong cấu thành tội phạm, tuy vậy nếu như không có dấu hiệu hậu quả nhưng có một dấu hiệu khác về nhân thân người phạm tội (đã bị xử phạt hành chính hoặc kết án về hành vi này, chưa được xoá án tích) thì vẫn cấu thành tội này

+ Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và hậu quả:

Đối với các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ có cấu thành tội phạm vật chất thì yếu tố mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả là dấu hiệu bắt buộc phải có trong cấu thành tội phạm Đối với tội không đòi hỏi dấu hiệu hậu quả là bắt buộc trong cấu thành tội phạm thì việc

sử dụng hậu quả xảy ra để đánh giá tính nguy hiểm của hành vi phạm tội làm căn cứ áp dụng hình phạt cũng đòi hỏi hậu quả đó phải có mối quan hệ nhân quả với hành vi phạm tội Trong các mối quan hệ nhân quả trên, hành vi vi phạm an toàn giao thông vận tải (vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ; cản trở giao thông đường bộ; đưa vào sử dụng phương tiện giao thông đường bộ không bảo đảm an toàn; điều động, giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường bộ;

tổ chức, đua xe trái phép) được coi là nguyên nhân dẫn đến hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, các thiệt hại phải là thiệt hại được xác định trên thực tế về người, sức khoẻ, tài sản

Dựa trên cơ sở một người chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về hậu quả nguy hiểm cho xã hội khi hậu quả đó do chính hành vi khách quan của họ gây ra Cho nên việc xác định hậu quả xảy ra có phải do hành vi vi phạm an

Trang 24

toàn giao thông đường bộ gây ra hay không là rất quan trọng Nó có ý nghĩa quyết định đến việc đánh giá hành vi vi phạm có nguy hiếm đến mức là tội phạm hay không hoặc nếu đã là tội phạm thì ở mức độ nào Việc xác định này phải dựa trên những căn cứ chung Đó là:

- Hành vi vi phạm an toàn giao thông đường bộ phải xảy ra trước hậu quả thiệt hại tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người khác về mặt thời gian

- Hành vi vi phạm an toàn giao thông đường bộ phải độc lập hoặc trong mối liên hệ tổng hợp với một hoặc nhiều hiện tượng khác phải chứa đựng khả năng thực tế gây ra thiệt hại tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người khác

- Thiệt hại tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người khác đã xảy ra phải đúng là sự hiện thực hoá khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả của hành vi

vi phạm an toàn giao thông đường bộ

Trong cấu thành của tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ và tội cản trở giao thông đường bộ có trường hợp "có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngãn chặn kịp thời", v ề trường hợp này, hiện nay chưa có văn bản chính thức nào hướng dẫn cụ thể thế nào là khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng Theo tác giả để xác định hành vi phạm tội trong trường hợp này phải xác định đầy đủ các tình tiết: Phải có hành vi vi phạm trên thực

tế (điều khiển, cản trở) đã được ngăn chặn, có hậu quả dự kiến xảy ra là đặc biệt nghiêm trọng (việc đánh giá mức độ của hậu quả chưa xảy ra rất dễ dẫn đến nhiều quan điểm, cách đánh giá khác nhau) và hành vi vi phạm phải là nguyên nhân trực tiếp đe doạ tức thì gây ra hậu quả đặc biệt nghiêm trọng

* Chủ th ể của các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ.

Trong Luật hình sự Việt Nam, “chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi nhất định và đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thể” [18, tr.90] Chỉ có những người có đủ điều kiện để nhận thức được

ý nghĩa xã hội của hành vi thực hiện và năng lực điều khiển được hành vi theo đòi hỏi của xã hội mới có thể trở thành chủ thể của tội phạm Để trở

Trang 25

thành chủ thể của tội phạm cần đảm bảo đầy đủ hai điều kiện: có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định Ngoài ra, đối với một số tội được coi là có chủ thể đặc biệt nó còn đòi hỏi chủ thể phải có thêm một số dấu hiệu đặc biệt ví dụ như: chức vụ, giới tín h ,

Theo điều kiện chung về chủ thể, để trở thành chủ thể của các xâm phạm an toàn giao thông đường bộ phải đáp ứng đủ các điều kiện sau:

- Có năng lực trách nhiệm hình sự;

- Đủ tuổi theo luật định;

- Là người trực tiếp có hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ

Về năng lực trách nhiệm hình sự: Luật hình sự Việt Nam không quy định trực tiếp thế nào là có năng lực trách nhiệm hình sự mà chỉ có Điều 13

Bộ luật hình sự năm 1999 quy định người ở trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự là người "đang mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình"

Do vậy những người đã đến tuổi chịu trách nhiêm hình sự mà không thuộc trường hợp mất năng lực trách nhiệm hình sự thì mặc nhiên được coi là có nâng lực trách nhiệm hình sự Để xác định tình trạng không có năng lực trách nhiệm theo Điều 13 Bộ luật hình sự người ta dựa trên 2 dấu hiệu: Dấu hiệu y học và dấu hiệu tâm lý Một người mà về mặt y học mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm rối loạn hoạt động tâm thần dẫn đến các biểu hiện

về mặt tâm lý là mất khả năng nhận thức hoặc mất khả năng điều khiển hành

vi thì dù có đạt độ tuổi vẫn bị coi là mất năng lực trách nhiệm hình sự

Đối với các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ, người có năng lực trách nhiệm hình sự là người khi tham gia vào hoạt động giao thông đường bộ nhận thức được tính nguy hiểm của hành vi vi phạm quy định an toàn giao thông đường bộ của mình sẽ gây ra, đe doạ gây ra hoặc có khả năng thực tế gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội và người đó hoàn toàn có

Trang 26

Độ tuổi áp dụng đối với các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ cũng nằm trong quy định chung về độ tuổi phạm tội nói chung Tuy nhiên mỗi tội trong nhóm tội này cũng có những đặc thù riêng cho nên về độ tuổi ở một số tội cũng có sự khác biệt Đối với các tội: vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ; cản trở giao thông đường bộ; đưa vào sử dụng phương tiện giao thông đường bộ không bảo đảm an toàn; điều động, 2,iao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, do được thực hiện với lỗi vô ý, không có khung hình phạt của tội đặc biệt nghiêm trọng cho nên chủ thể chỉ có thể là những người từ đủ 16 tuổi trở lên Còn các tội tổ chức đua xe, đua xe trái phép được thực hiện với lỗi cố ý, trong các khung hình phạt có khung hình phạt của tội rất nghiêm trọng cho nên chủ thể có thể là bất cứ người nào từ đủ 14 tuổi trở lên.

Trong các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ có tội đòi hỏi phải có chủ thể đặc biệt, nếu không là chủ thể đặc biệt thì không thể phạm các tội này Đó là các tội:

- Tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường bộ không bảo đảm an toàn: chủ thể chỉ có thể là người có trách nhiệm và quyền hạn trực tiếp cho phép sử dụng hoặc điều động phương tiện giao thông đường bộ tham gia hoạt động giao thông

- Tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ: chủ thể là người có trách nhiệm trong việc

Trang 27

điều động lái xe hoặc có trách nhiệm trực tiếp trong việc quản lý và điều khiển xe.

* Mặt chủ quan của các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ:

“Tội phạm là thể thống nhất của hai mặt khách quan và chủ quan Mặt khách quan là những biểu hiện ra bên ngoài của tội phạm, mặt chủ quan là hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội Mặt chủ quan của tội phạm không tổn tại một cách độc lập mà luôn gắn liền với các biểu hiện ra bên nsoài của tội phạm.” [18, tr.99] Hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội bao gồm nhiều nội dung khác nhau, trong đó lỗi, động cơ, mục đích là những nội dung ảnh hưởng đến tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội Đặc biệt là lỗi, lỗi là dấu hiệu quan trọng trong cấu thành tội phạm, nó “biểu hiện thái độ tâm lý của con người đối vófi hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra, được biểu hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý.” [18, tr.101]

Như bất kỳ một tội phạm nào, dấu hiệu lỗi là dấu hiệu bắt buộc phải có Irong cấu thành tội phạm của các tội xâm phạm an toàn giao thông đường

bộ Các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ được chia làm 2 nhóm là nhóm tội được thực hiên với lỗi cố ý và nhóm tội được thực hiện với lỗi vô ý.Các tội: Tội vi phạm các qui định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, Tội cản trở giao thông đường bộ, Tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường bộ không bảo đảm an toàn, Tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường

bộ được thực hiện với lỗi vô ý thuộc một trong hai hình thức: Lỗi vô ý do quá tự tin hoặc lỗi vô ý do cẩu thả

Lỗi vô ý do cẩu thả trong các tội này được thể hiện ở dạng người phạm tội không nhận thức được hành vi do mình thực hiện đã vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ hoặc người phạm tội có thể ý thức được hành vi do mình thực hiện đã vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ nhưng cho rằng chỉ vi phạm không đáng kể cho nên không thấy

Trang 28

Các tội tổ chức đua xe trái phép và tội đua xe trái phép chỉ có thể được thực hiện với lỗi cố ý.

Đối với tội tổ chức đua xe trái phép: Tội này có cấu thành tội phạm hình thức do vậy hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc cho nên việc xác định người phạm tội có thấy trước hay không thấy trước hậu quả không nhất thiết phải được đặt ra khi xem xét lý trí người phạm tội ở tội này, người phạm tội biết rõ hành vi tổ chức đua xe trái phép của mình sẽ tất yếu dẫn đến việc đua xe trái phép, tất yếu dẫn đến hậu quả nguy hiểm cho xã hội, nguy

cơ gây ra thiệt hại về người và tài sản là rất cao nhưng người phạm tội vẫn mong muốn hành vi đua xe trái phép xảy ra, do vậy lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp

Trang 29

Đối với tội đua xe trái phép: ở đây lỗi của người phạm tội là cố ý gián tiếp vì người phạm tội thấy trước được rằng hành vi đua xe của mình khi không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép là vi phạm pháp luật, người phạm tội thấy được hành vi vi phạm của mình có thê gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội, cụ thể ở đây người phạm tội thấy được hành vi của mình có thể gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người khác nhưng người phạm tội có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.

1.1.2 Hình phạt đôi với các tội xâm phạm an toàn giao thông dường

Một trong những thuộc tính quan trọng của tội phạm là tính chịu hình phạt Tại điều 26 Bộ luật hình sự năm 1999, khái niệm hình phạt lần đầu tiên được đưa ra: "Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội Hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự và do Toà án áp dụng đối với người phạm tội"

“Hình phạt là hệ quả của tội phạm, tội phạm là cơ sở để xác định hình phạt” [34, tr.25] “Mục đích cuối cùng của hình phạt là bảo đảm công bằng xã hội và phòng ngừa tội phạm Trong đó trừng trị, cải tạo, giáo dục là thuộc tính, là phương thức thực hiện hình phạt, là phương thức để hình phạt đạt được mục đích của mình” [34, tr.24] Để đạt được mục đích của mình hình phạt được áp dụng phải tương xứng, phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Tội phạm càng nguy hiểm thì mức độ nghiêm khắc của hình phạt cũng phải tănẹ theo

Việc áp dụng hình phạt phải đảm bảo đúng người, đúng tội Chỉ những hành vi phạm tội mới phải chịu hình phạt và hình phạt chỉ được áp dụng đối với người phạm tội thông qua Toà án Và hình phạt được áp dụng phải nằm trong hộ thống hình phạt của Luật hình sự Việt Nam Hệ thống hình phạt này theo Bộ luật hình sự năm 1999 bao gồm:

Trang 30

2 6

- Hình phạt chính: cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục xuất, tù có thời hạn tù chung thân, tử hình

- Hình phạt bổ sung: cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, cấm cư trú, quản chế, tước một số quyền công dân, tịch thu tài sản, phạt tiền và trục xuất khi không áp dụng là hình phạt chính

Đối với các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ, các hình phạt

và mức hình phạt được quy định cụ thê đối với từng tội bao gồm cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung

Theo đó hình phạt được áp dụng đối với các tội được thực hiện với lỗi

vô ý có các loại hình phạt:

- Hình phạt chính: phạt tiền, cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn (Tối đa là 15 năm)

- Hình phạt phụ: Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định (riêng tội cản trở giao thông đường bộ không áp dụng hình phạt bổ sung)

Hình phạt đối với các tội được thực hiện với lỗi cố ý gồm:

- Hình phạt chính: phạt tiền, cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, tù chung thân (chỉ áp dụng với tội tổ chức đua xe trái phép)

- Hình phạt bổ sung: phạt tiền từ năm triệu đến 30 triệu đổng

Trong nhóm tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ không có tộinào áp dụng hình phạt tử hình

1.2 Phân biệt các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ với các hành vi vi phạm quy định an toàn giao thông đường bộ.

1.2.1 Phân biệt giữa vi phạm và tội phạm.

Trong đời sống kinh tế - xã hội, chúng ta thường xuyên bắt gặp những hành vi vi phạm quy tắc xử sự chung Những hành vi vi phạm này rất đa dạng phong phú như vi phạm kỷ luật, vi phạm lao động, vi phạm hành chính,

Trang 31

Trong đó có một loại hành vi được coi là tội phạm do tính chất mức độ nsuy hiểm cho xã hội của nó.

Vậy tội phạm là gì? Theo Điều 8 Bộ luật hình sự 1999 thì Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quỵ định trong Bộ luật hình sự, do người

có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm các khách thể được Luật hình sự bảo vệ

Việc phân biệt giữa tội phạm và vi phạm pháp luật khác có ý nghĩa rất quan trọng cả về phương diện lập pháp lẫn phương diện áp dụng pháp luật

Đê phân biệt tội phạm với các vi phạm pháp luật khác người ta dựa vào khái niệm của tội phạm và việc đánh giá tổng thể các dấu hiệu cấu thành nên tội phạm

Dấu hiệu cơ bản đầu tiên để phân biệt tội phạm với vi phạm pháp luật khác chính là ở tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi Để đánh giá tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi đến mức đáng kể coi hành vi đó là tội phạm người ta dựa trên căn cứ:

- Tính chất của quan hệ xã hội bị xâm hại.

- Tính chất, mức độ lỗi.

- Tính chất, mức độ hậu quả của tội phạm.

- Tính chất của hành vi khách quan (bao gồm c ả : công cụ phương tiện phạm tội, tính chất của phương pháp, thủ đoạn thực hiện tội phạm).

- Động cơ, mục đích phạm tội.

- Điều kiện hoàn cảnh phạm tội.

- Nhân thân người phạm tội.

Dấu hiệu thứ hai để phân biệt giữa tội phạm với vi phạm pháp luật khác

là ở tính quy định bởi Bộ luật hình sự Chỉ những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự mới bị coi là tội phạm Những hành

vi vi phạm pháp luật dù có nguy hiểm cho xã hội thế nào đi chăng nữa nhưng nếu chưa được quy định bởi Bộ luật hình sự thì cũng không phải là tội phạm

Trang 32

xã hội của hành vi và do đó không bị coi là tội phạm.

Thứ tư là về chủ thể: Chủ thể của tội phạm chỉ có thể là cá nhân và chỉ

do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện

Thứ nãm là về tính chịu hình phạt: Chỉ có tội phạm mới phải chịu hình phạt và hình phạt chỉ được áp dụng cho người phạm tội Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chê quyền, lợi ích của người phạm tội Chỉ có nhà nước mới được áp dụng hình phạt đối với người phạm tội thông qua cơ quan phán quyết là Toà án

1.2.2 Phán biệt giữa vi phạm quy định an toàn giao thông đường bộ với các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ.

Ta thấy tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ và hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ rất giống nhau ở chỗ đều có hành

vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ tuy nhiên việc đánh giá tính nguy hại cho xã hội của hai loại hành vi này là rất khác nhau dẫn đến chế tài áp dụng đối với chúng cũng khác nhau rất xa, một loại hành vi bị áp dụng chế tài nghiêm khắc nhất của nhà nước là hình phạt, còn một hành vi chỉ bị áp dụng chế tài hành chính

Do vậy, việc phân biệt giữa vi phạm quy định an toàn giao thông đường

bộ với các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng Nó làm cơ sở để có thể đánh giá đúng tính chất mức độ của hành vi vi phạm từ đó áp dụng loại trách nhiệm cũng như chế tài được chính xác, thích đáng so với hành vi vi phạm

Để phân biệt trước hết ta cần làm rõ thế nào là vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ và thế nào là tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ

Trang 33

Trước hết, ta thấy hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ là hành vi vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ được quy định trong Luật giao thông đường bộ nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự Còn tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ là các hành vi phạm tội theo các Điều: 202, 203, 204, 205, 206, 207 - Bộ luật hình sự 1999 (Trước đây là các Điều: 186, 187, 188 - Bộ luật hình sự 1985) Các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ cũng là những vi phạm an toàn giao thông đường bộ nhưng đã đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình

sự do nó đã gây thiệt hại đến tính mạng, thiệt hại nghiêm trọng đến sức khoẻ, tài sản của người khác; hoặc nó đe doạ gây ra thiệt hại đến tính mạng, thiệt hại nghiêm trọng đến sức khoẻ, tài sản của người khác

Đối với tội tổ chức đua xe trái phép thì ranh giới để phân định chính là

ở hành vi thực hiện Tội có cấu thành tội phạm hình thức cho nên hành vi cấu Ihành tội phạm ngay khi thực hiện Phân biệt giữa hành vi phạm tội hay khống còn ở phương tiện tổ chức đua, ở đây chỉ phạm tội khi phương tiện tổ chức đua trái phép là ôtô, xe máy hoặc các loại xe khác có gắn động cơ

Đối với tội đua xe trái phép: Ranh giới để phân biệt giữa tội phạm hay không thứ nhất là ở dấu hiệu hậu quả đã có hay chưa hoặc là có dấu hiệu về nhân thân hay không (tiền án, tiền sự về tội này), thứ hai là phương tiện tham gia đua trái phép có phải là ôtô, xe máy hay loại xe khác có gắn động cơ hay không

Đối với các tội còn lại: Ranh giới để phân định giữa hành vi là phạm tội hay chưa được căn cứ vào việc đánh giá hậu quả xảy ra Việc đánh giá hậu quả này được quy định cụ thể trong Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao (Trước đây là Thông tư liên ngành

s ố 02ITTLN ngày 07/01/1995 giữa Toà án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ nội vụ (nay là Bộ công an) hướng dẫn áp dụng điêu

186, 188 Bộ luật hình sự 1985). Đây cũng chính là ranh giới để phân định

Trang 34

Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công đã đập tan chế độ thực dân phong kiến cùng các thiết chế pháp luật của nó, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, thiết lập nên hệ thống pháp luật mới của Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á Chính quyền được thiết lập, đi cùng với nó là việc xây dựng hệ thống pháp luật Tuy nhiên, lúc này nhân dân ta vừa giành được chính quyền nên nhiệm vụ hàng đầu là củng cố chính quyền nhân dân, hơn nữa do chính quyền giành được chưa lâu thì toàn quốc lại phải bắt tay vào cuộn khánh chiến trường kỳ 9 năm chống Pháp nên chưa có điều kiện và

cơ sở để hình thành quy phạm pháp luật về các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ Trong thời gian này (1945-1954), những hành vi xâm pham

an toàn giao thông đường bộ vẫn được áp dụng luật của chế độ cũ tương ứng với luật ở từng miền trước kia

Chỉ đến khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, đứng trước yêu cầu đòi hỏi của việc quản lý xã hội, Nhà nước ta đã tiến hành xây dựng hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật để quản lý xã hội trong đó có các văn bản

về đảm bảo an toàn giao thông đường bộ Đầu tiên là Luật giao thông đường

bộ ra đời ngày 03/10/1955 kèm theo Nghị định số 348/NĐ của Bộ Giao thông Bưu điện tạo cơ sở pháp lý cho sự hình thành các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ Tiếp theo Nghị định 348/NĐ, hàng loạt các văn bản pháp lý về an toàn giao thông vận tải được ban hành như: Nghị định số 139/NĐ ngày 19/12/1956, Nghị định số 44/NĐ ngày 24/5/1958 của Bộ Giao thông Bưu điện; Nghị định số 09/NĐLB ngày 07/03/1956 giữa Bộ Giao

Trang 35

thông Bưu điện - Bộ công an ban hành thể lệ tạm thời về vận tải đường bộ; Nghị định sô 10 ngày 11/01/1968 của Hội đồng Chính phủ ban hành Điều lệ

kỷ luật an toàn giao thông vận tải trong thời chiến; Nghị định số 36/CP ngày 29/5/1995 của Chính phủ về tăng cường đảm bảo trật tự an toàn giao thông vận tải đường bộ và trật tự đô thị; Nghị định 36/CP ngày 10/07/2001 của Chính phủ về đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường bộ và trật tự an toàn giao thông đô thị Đặc biệt ngày 06/06/2001 Luật giao thông đường bộ được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2002 đã pháp điển hoá các quy tắc an toàn giao thông đường bộ lên thành Luật

Dựa trên các văn bản chuyên ngành nói trên, các quy phạm pháp luật hình sự quy định các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ cũng được hình thành và phát triển

Vãn bản pháp luật hình sự đầu tiên của Nhà nước ta điều chỉnh các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ là thông tư 442/TTg ngày 19/01/1955 của Thủ tướng Chính phủ Tại mục 4 đã quy định: "Không cẩn thận hay không theo luật đi đường mà gây tai nạn làm người khác bị thương

sẽ bị phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm, nếu gây tai nạn làm chết người có thể bị phạt tù đến 10 năm"

Tiếp theo đó ngày 29/06/1956, Thủ tướng Chính phủ đã ra thông tư số 556/TTg bổ khuyết cho thông tư 442/TTg ngày 19/01/1955 Trong đó tại điểm 4 quy định bổ sung thêm: “Trong trường hợp gây tai nạn lớn làm chết nhiều người và gây thiệt hại lớn đến tài sản của nhân dân thì có thể bị phạt đến tù chung thân hay tử hình”

Sau khi miền Nam giải phóng, thống nhất đất nước, Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền nam Việt Nam ra sắc luật số 03/SL/76 ngày 15/03/1976 Tại Điều 9 quy định: “Tội vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn nghiêm trọng với các khung hình phạt tù từ 3 tháng đến 5 năm, trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù đến 15 năm Trong mọi trường hợp có thể bị phạt tiền đến 1.000 đồng Ngân hàng”

Trang 36

Các văn bản trên đã đáp ứns; được phần nào yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ lúc đó Tuy nhiên các quy định còn tản mạn, chưa thống nhất được tên gọi, đánh giá mức

độ nguy hiểm cho xã hội đê áp dụng hình phạt mới chỉ chủ yếu dựa vào hậu quả xảy ra Hành vi phạm tội chưa có sự mô tả rõ ràng Trình độ lập pháp còn nhiều hạn chế

1.3.2 Các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam vê các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ theo Bộ luật hình sự năm 1985 và Bộ luật hình sự nám 1999.

Đến năm 1985, các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ được pháp điển hoá lên một hình thức cao hơn, đó là được quy định thành các điều luật trong Bộ luật hình sự Theo Bộ luật này, các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ được quy định chung với các tội xâm phạm an toàn giao thông đường sắt, đường thuỷ, đường không bao gồm 3 tội danh sau:

- Tội vi phạm các qui định về an toàn giao thông vận tải (Điều 186);

- Tội cản trở giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 187);

- Tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông vận tải không bảo đảm an toàn hoặc điều động người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 188)

Bộ luật hình sự 1985 ra đời đã đánh một dấu mốc quan trọng trong việc đấu tranh phòng chống các tội xâm phạm an toàn giao thông Lần đầu tiên các tội này được quy định cụ thể thành các điều luật, điều này không chỉ có

ý nghĩa là một bước tiến vượt bậc về mặt lập pháp mà về mặt áp dụng pháp luật cũng có được một cơ sở vững chắc để xử lý các tội xâm phạm an toàn giao thông Điều đó thể hiện trên các khía cạnh sau:

- Tên của tội đã được chỉ rõ Các văn bản trước đây chưa làm được, điều này giúp thống nhất được cách gọi tội danh

- Điều luật đã mô tả các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội phạm cùng các khung hình phạt tăng nặng giảm nhẹ tương ứng với tính chất mức độ của

Trang 37

hành vi vi phạm Việc mô tả đó đã giúp cho công tác áp dụng pháp luật hình

sự được thống nhất hơn, hạn chế tình trạng vận dụng, đánh giá tuỳ tiện theo

ý thức chủ quan của người áp dụng pháp luật

- Các tình tiết tăng nặng định khung được quy định cụ thể, đầy đủ, rõ ràng hơn trước kia Các tội đều được phân thành từ 4 đến 5 khung hình phạt khác nhau Điều này giúp cho việc đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của từng trường hợp cụ thể được rõ ràng hơn, chính xác hơn Giảm bớt được

sự chênh lệch khi đánh giá về tính chất mức độ của hành vi theo ý thức chủ quan khi áp dụng điều luật vào trong các trường hợp cụ thể

- Các tội đều được quy định có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung Điều này giúp cho mục đích, hiệu quả của hình phạt được đảm bảo hơn

Qua gần 15 năm thực hiện, Bộ luật hình sự 1985 đã phát huy tác dụng

to lớn trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo đảm trật tự an toàn

xã hội nói chung cũng như bảo đảm an toàn giao thông Tuy vậy trong quá trình áp dụng, có nhiều quy định của Bộ luật này còn bộc lộ nhiều hạn chế, trong đó có các quy định về các tội xâm phạm an toàn giao thông vận tải Như chúng ta đều biết giao thông vận tải ở nước ta hiện nay bao gồm 4 lĩnh vực: đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường không Mỗi lĩnh vực có những đặc điểm kỹ thuật, tính chất khác nhau do vậy yêu cầu bảo đảm an toàn khác

xa nhau Cùng một hành vi vi phạm nhưng ở mỗi lĩnh vực lại có một mức độ nguy hiểm khác nhau Việc gộp chung các hành vi phạm tội trong bốn lĩnh vực này làm một sẽ hạn chế nhiều đến việc phân hoá trách nhiệm hình sự cũng như quy định cụ thể hành vi phạm tội Đồng thời cùng với sự phát triển của nền kinh tế cũng đã phát sinh nhiều hành vi nguy hiểm cho xã hội mới

có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội khác xa so với những hành vi

vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thông thường cũng như ý thức của người vi phạm cũng khác so với các hành vi phạm tội đã được mô tả trong cấu thành tội phạm được mô tả trong Bộ luật Xuất phát từ nguyên tắc của Bộ luật hình sự là chỉ những hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được quy

Trang 38

định trong Bộ luật mới được coi là hành vi phạm tội Do đòi hỏi của xã hội cần phải trìmg trị, phòng ngừa các hành vi nguy hiểm mới phát sinh, Bộ luật hình sự năm 1985 đã trở nên không còn phù hợp nữa Đứng trước yêu cầu và đòi hỏi của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, trong đó có đấu tranh phòng chống các tội xâm phạm an toàn giao thông, Quốc hội nước ta đã ban hành Bộ luật hình sự nãm 1999 Trong Bộ luật hình sự mới, các tội xâm phạm an toàn giao thông vận tải được tách ra theo từng lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường không Riêng trong lĩnh vực giao Ihông đường bộ, các tội được quy định từ Điều 186 đến Điều 188 Bộ luật hình sự 1985 được chuyển thành các tội được quy định từ Điều 202 đến Điều

205 Bộ luật hình sự 1999 theo thứ tự bao gồm: Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ; Tội cản trở giao thông đường bộ; Tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường bộ không bảo đảm an toàn; Tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ Ngoài ra Bộ luật hình sự 1999 còn quy định thêm 2 tội mới xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn đó là tội tổ chức đua

xe trái phép (Điều 206) và tội đua xe trái phép (Điều 207) Các hành vi phạm tội kể trên được quy định trong Bộ luật hình sự năm 1999 đã làm cơ sở pháp

lý vững chắc, trực tiếp cho việc đấu tranh phòng chống các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ trong thời gian vừa qua cũng như hiện nay

Trang 39

CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH, NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỂU KIỆN CỦA CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ VÀ THỰC TRẠNG ĐÂU TRANH PHÒNG CHỐNG CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH TRONG THỜI GIAN QUA

2.1 Tình hình phạm tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Ninh Bình trong thời gian qua.

2.1.1 Tỉnh hình vi phạm trật tự, an toàn giao thông đường bộ và tình hình tai nạn giao thông đường bộ ở tình Ninh Bình.

Vấn đề tai nạn giao thông, đặc biệt là tai nạn giao thông đường bộ đang trở thành một vấn đề xã hội sâu sắc, mang tính toàn cầu Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, cùng với sự tăng trưởng nhanh chóng của nền kinh tế là

sự phát triển mạnh của các phương tiện cơ giới đường bộ cả về số lượng lẫn chủng loại; trong đó có sự bùng phát gia tăng các phương tiện ôtô, xe máy Song song với sự phát triển của phương tiện là sự gia tăng mạnh mẽ của tai nạn giao thông đường bộ Tai nạn giao thông đường bộ đang thực sự là mối

nguy hiểm nghicm trọng, thường trực khi hàng ngày, hàng giờ khi nó gây ra

thiệt hại rất lớn về tính mạng, sức khoẻ, tài sản của con người Hàng năm ở nước ta tai nạn giao thông đường bộ cướp đi tính mạng hàng vạn người, làm

bị thương hàng vạn người khác, gây ra thiệt hại nặng nề cho nền kinh tế cũng như cho xã hội, ảnh hưởng xấu tới tâm lý của người dân

Ninh Bình là một tỉnh tuy nhỏ, dân số không đông nhưng lại ở vị trí yết hầu trên trục đường giao thông Bắc - Nam Thời gian qua, các ngành, các cấp ở địa phương đã triển khai thực hiện nhiều biện pháp nhằm đưa Luật Giao thông đường bộ vào cuộc sống nhằm bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ tại địa phương song tai nạn giao thông cũng như tội phạm xâm phạm an toàn giao thông đường bộ vẫn chưa được ngân chặn có hiệu quả Theo thống kê của Ban an toàn giao thông tỉnh thì bình quân mỗi tháng năm 2002 trên địa bàn tỉnh có khoảng 23 vụ tai nạn giao thông làm 14 người

Trang 40

Sô người chết

Tốc độ gia tăng (% )

Sô người bị thương

Tốc độ gia tăng (% )

(Nguồn: Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Ninh Bình)

Qua số liệu trên ta thấy tai nạn giao thông hàng năm đều có xu hướng tăng, riêng năm 2003 giảm mạnh do công tác kiểm tra, kiểm soát các phương tiện giao thông đường bộ được đẩy mạnh Tuy vậy, tỷ lệ người chết trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ có xu hướng tăng mạnh, tỷ lệ người

bị thương trong các vụ tai nạn giao thông lại có xu hướng giảm Điều này cho thấy tính chất của các vụ tai nạn giao thông ngày càng nghiêm trọng hơn Chúng ta có thể thấy rõ nét qua số liệu ở trên: năm 2002, số vụ tai nạn giao thông giảm 0,02% so với năm 2001 nhưng số người chết vì tai nạn giao thông lại tăng cao, tăng tới 33,06% Năm 2003, số vụ tai nạn giao thông giảm gần một nửa so với năm 2002 nhưng số người chết vì tai nạn giao thông chỉ giảm 26,67% Để cụ thể hơn ta hãy so sánh: năm 1999 cứ 2,4 vụ tai nạn giao thông đường bộ có 01 người chết, năm 2002 tỷ lệ này là 1,6 vụ tai nạn giao thông có 1 người chết và đến năm 2003 tỷ lệ đã là 1,11 vụ có 1 người chết So sánh tỷ lệ người chết trên số vụ tai nạn giao thông đường bộ qua các năm là: 1999 - 42% , 2000 - 38,9% , 2001 - 45,8% , 2002 - 62,3% ,

2003 - 90,3% , qua tỷ lệ này ta thấy tỷ lệ người chết trong các vụ tai nạn giao thông tăng lên ngày càng cao, đến năm 2003 đang ở mức rất cao Mặc dù việc so sánh các tỷ lệ chỉ là một sự so sánh tương đối nhưng nhìn vào các tỷ

lệ trên chúng ta cũng có thể thấy phần nào sự gia tăng của tỷ lệ các tai nạn giao thông nghiêm trọng, đặc biệt năm 2003 gần như vụ tai nạn giao thông

Ngày đăng: 24/01/2021, 22:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm