1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật an sinh xã hội ở việt nam

218 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 218
Dung lượng 26,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong phạm vi luận án tiến sỹ Luật học trong nước hiện nay chưa có đề tài nào trùng với nội dung nghiên cứu sinh lựa chọn.Trong khuôn khổ các đề tài nghiên cứu khoa học, hội thảo, bài vi

Trang 2

NGUYỄN H IỂ N PHƯƠNG

C0 SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHO VIỆC XÂY DỰNG ■ ■ ■ ■

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT AN SINH XÃ HỘI ở VIỆT NAM

C huyên ngành: L uật kinh tế

LUẬN ÁN TIẾN Sĩ LUẬT HỌC • • •

Người hướng dẫn khoa học: 1 PG S.TS ĐÀO TH Ị HANG

2 TS NGUYỄN HUY BAN

HÀ N Ô I - 2008

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các s ố liệu nêu trong luận án ỉà trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công h ố trong bất kỳ công trình nào khác.

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

N guyễn H iền Phuong

Trang 4

ASXH An sinh xã hội

UNDP Chương trình phát triển của Liên hợp quốc

Trang 5

Sự điều chỉnh của pháp luật đối với an sinh xã hội 24Khái niệm và vai trò của pháp luật an sinh xã hội 24Các bộ phận cấu thành khung pháp luật, an sinh xã hội 33Nguyên tắc cơ bản của pháp luật an sinh xã hội 63

Chưong 2

THỤC TRẠNG PHÁP LUẬT AN SINH XÃ HỘI VIỆT NAM 72

Chương 3

XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT AN SINH XÃ 140

HỘI Ở VIỆT NAMYêu cầu cư bản đối với việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật an 1.40sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay

Xây đựng và hoàn thiện khung pháp luật an sinh xã hội Việt Nam ! 48Những phương hướng, giải pháp cơ bản nhấm xây dựng và hoàn 157thiện pháp luật an sinh xã hội Việt Nam

PHỤ LỤC

DANH MỤC TAI LIỆU THAM KHẢO

CÁC CỔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

Trang 6

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

An sinh xã hội là một nhu cầu tự nhiên cứa con người trong xã hội, hên cạnh các nhu cầu đảm bảo an ninh chính trị, kinh tế Với nội dung là sự bảo vệ của xã hội đối với những thành viên của mình, đặc biệt là những người “yếu thế” bằng hệ thống các “lưới an toàn” chống lại những túng quẫn về kinh tế, những khó khăn về

xã h ộ i của mỗi người dân, ASXH giữ vai trò quan trọng trong đời sống xã hội và góp phần vào sự phát triển kinh tế theo hướng ổn định, bền vững

Trên th ế giới, thuật ngữ ASXH đã được sử dụng phổ hiến và pháp luật ASXH ngày càng giữ vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật quốc gia Với ILO, ASXH

là một nội dung cơ bản trong hoạt động và đã có 16 Công ước liên quan đến vấn đề này, trong đó, quan trọng nhấl là Công ước số 102 năm 1952 - Công ước quy định

quy phạm tối thiểu về ASXH Cho đến nay pháp luật về ASXH đã được thực hiện ờ

trên 170 nước trên thế giới và ngày càng phát triển, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu khoa học vì mục tiêu thiết lập hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, đáp úng yêu cầu đòi hỏi của cuộc sống

Ở V iệt Nam, trên phương diện nghiên cứu khoa học, khái niệm ASXH cũng như pháp luật ASXH còn là vấn đề tương đối mới mẻ, từ đó cũng có nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau khi tiếp cận nội dung này Tuy nhiên, xem xét về lịch sử thì nội dung của ASXH đã được thực hiện từ rất sớm với những hoạt động cứu trợ, trợ giúp những thành viên khi gặp rủi ro, hoạn nạn, cấp bổng lộc cho những người có công rồi phát triển với những quy định pháp luật về BHXH, BHYT, TGXH Xem xét về thực tiễn pháp luật điều chỉnh ASXH, chúng ta cũng đã có một hẹ thống các chế độ bảo vệ tương đối đầy đủ so với tiêu chuẩn tối thiểu của ILO, song còn rất nhiều hạn chế Những hạn chế cơ bản không chỉ ở nội dung luật thực định

m à còn thể hiện ở việc thiếu thống nhất trên phương diện lý luận, thiếu một khung

pháp luật ASXH hoàn chỉnh làm cơ sở hoàn thiện pháp luật Pháp luật ASXH hiện

hành ở Việt Nam thực sự còn non kém, chưa xứng tầm với vị trí và vai trò quan

trọng của nó trong đời sống xã hội

Chính vì vậy, việc nghiên cứu một cách có hệ thống, chuyên sâu về cơ sở lý

Trang 7

luận và thực tiễn pháp luật ASXH, từ đó đưa ra định hướng, giải pháp xây dựng và hoàn thiện pháp luật về ASXH đặc biệt có ý nghĩa cả trên phương diện lý luận và thực tiễn Mặt khác, trên phương diện phát triển và hội nhập, việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật ASXH quốc gia là một đòi hỏi bức thiết, biểu hiện thái độ của Nhà nước đối với vấn đề công bằng xã hội, thể hiện trình độ văn minh, tiến bộ của quốc gia và phù hợp với xu hướng chung của các quốc gia trên thế giới và trong

khu vực Đây chính là những lý do cơ bản để tác giả lựa chọn đề tài: “C ơ sở lý

luận và thực tiễn cho việc xây dựng pháp luật An sinh x ã hội ở Việt N a m ’' làm đề

tài cho luận án tiến sỹ Luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong khoa học luật Việt Nam, ASXH là một vấn đề mới mẻ, đang ở bước đầu tiếp cận khi so sánh với các nước trên thế RĨỚi Vì nhiều lý do khác nhau mà nội dung nghiên cứu ASXH hiện đang thực hiện còn chưa có tính hệ thống, việc nghiên cứu còn nhỏ lẻ, manh mún, chưa xứng tầm với vị trí quan trọng của nó Tiếp cận với pháp luật ASXH một cách toàn diện, chuyên sâu hầu như chưa có công trình khoa học nào đề câp tới

Trong nội dung giảng dạy tại các trường đại học chuyên ngành luật, pháp luật ASXH bắt đầu trở thành một môn học bắt buộc đối với sinh viên, giáo trình còn sơ

sài hoặc đang trong quá trình xây dựng Có thể kể đến giáo trình Luật An sinh x ã

hội của trường Đại học Luật Hà Nội năm 2005 do Ths Nguyễn Kim Phụng chủ

biên, giáo trình Pháp luật Bảo đảm x ã hội V iệt N am của trường Đại học Huế năm

2005 do Ths Nguyễn Hiền Phương chủ biên Là thể loại giáo trình với nội duno khá mới mẻ nên vấn đề chưa được thế hiện m ột cách sâu sắc, toàn diện với những quan điểm tiến bộ

Ở phạm vi nghiên cứu bậc Thạc sỹ cũng có luận văn đã công bố có nội dunp,

liên quan đến đề tài, đó là luận văn “Định hướng hoàn thiện khung pháp luật

ASXhì ở Việt N am ’ của Thạc sỹ Phạm Trọng Nghĩa năm 2005, luận vãn “Pháp luật bảo đảm xã hội Việt Nam — cơ sở lý luận và thực tiễn thực hiện” nãm 2003 của

chính tác giả Các luận văn này đã tiếp cận những vấn đề cơ bản của pháp luật ASXH, song củng mới chỉ dừng lại ở những giới hạn nhất định về nội dung cũng

Trang 8

như mục đích nghiên cứu Trong phạm vi luận án tiến sỹ Luật học trong nước hiện nay chưa có đề tài nào trùng với nội dung nghiên cứu sinh lựa chọn.

Trong khuôn khổ các đề tài nghiên cứu khoa học, hội thảo, bài viết tạp chí cũng có m ột số tác phẩm liên quan đến nội dung này, như đề tài nghiên cứu khoa

học cấp nhà nước “Những luận cứ khoa học cho sự đổi mới và hoàn thiện các

chính sách bảo đảm x ã hội trong điều kiện nền kinh tê hàng ho á nhiều thành phần theo định hướng XHCN ở Việt N am ” KX04-05 của Bộ LĐTB-XH năm 1995, tác

phẩm “Mộ/ s ố vấn đ ề về chính sách bảo đảm x ã hội ở nước ta hiện nay'” của Viện khoa học và các vấn đề xã hội, Bộ LĐTB-XH năm 1995, tác phẩm “Gó/7 phần đổi

mới và hoàn thiện chính sách an sinh x ã hội ở nước ta hiện nay” của PGS.PTS Đỗ

Minh Cương và PTS Mạc Văn Tiến, tác phẩm “Mộí s ố vấn đ ề lý luận và thực tiễn

về chính sách, pháp luật xã hội” của Viện Nhà nước và Pháp luật năm 2002 hay

tác phẩm “Bảo trợ x ã hội cho những nhóm thiệt thòi ở Việt N am ” của các Nhà

khoa học thuộc Viện nghiên cứu phát triển xã hội năm 2005 Các tác phẩm này chủ yếu tiếp cận nội dung ASXH trên phương diện chính sách xã hội với đối tượng nghiên cứu riêng, trong những phạm vi nhất định chỉ liên quan đến đề tài Một số bài viết mang tính nghiên cứu, trao đổi về pháp luật ASXH đã được đăng tải trên

các tạp chí như bài viết “An ninh x ã hội, an ninh sinh thái - thực trạng pháp luật

và m ột s ố kiến nghị ban đầu” của PGS.TS Phạm Duy Nghĩa, bài “An ninh x ã hội - một s ố vấn đ ề pháp lý căn bản” của TS Ngô Huy Cương trong tạp chí khoa học

Kinh tế - Luật số 1/2002, bài “Những nguyên tắc cơ bàn của pháp luật an sinh x ã

h ộ ĩ' của TS Lưu Binh Nhưỡng trên Tạp chí Luật học số 5/2004, bài “Bản chất và tính tất yêìi khách quan của an sinh x ã hội” của TS Mạc Tiến Anh trên tạp chí

chuyèn ngành Bảo hiểm xã hội số 2/2005, bài “Hoàn thiện pháp luật về an sinh x ã

hội ở Việt N am ” của Nguyễn Xuân Nga trên tạp chí Bảo hiểm xã hội số 8/2007

Một số hội thảo về nội dung này cũng được tổ chức như hội thảo “Luật an sinh x ã

hội Việt Nam trong điều kiện phát triển kinh tề thị trường và hội nhập quốc t ế ”

tháng 9/2003 của Trường Đại học Luật Hà Nội, hội thảo “Xây dựng hệ thống an

sinh x ã hội Việt Nam ” do Liên hiệp quốc, Viện khoa học xã hội và Bộ LĐTB-XH

tổ chức tháng 11/2006, hội thảo “Phát triển công tác bảo trợ x ã hội Việt N a m ”củ ‘ả

Bộ LĐTB-XH tháng 3/2008

Trang 9

Cho đến nay, tác giả luận án chưa thấy một công trình nghiên cứu nào của

nước ngoài trực tiếp về đề tài tác giả nghiên cứu Một số tài liệu nghiên cứu chung

về ASXH của các tổ chức ILO, WB, ADB, IMF xuất hiện trên diễn đàn nghiên

cứu, các dự án phát triển ASXH trên thế giới và trong khu vực Song, những tài liệu

nghiên cứu trực tiếp về ASXH và pháp luật ASXH Việt Nam thì rất ít Chi có một

số tác phẩm liên quan như: tài liệu hội thảo “Khuôn khổ hệ thống an sình x ã hội

quốc gia hợp nhất ở Việt N am ” trong khuôn khổ dự án đối thoại chính sách của

UNDP Việt Nam năm 2005 và mới đây là hai tác phẩm: uAn sinh Việt N am luỹ

tiến đến mức nào ?” và “Mới' liên quan giữa tuổi cao và nghèo ở Việt Nam ” của

UNDP V iệt Nam xuất bản ngày 22/8/2007 Các tài liệu này chủ yếu tiếp cận thực trạng hệ thống ASXH với mục đích định hướng, dự báo cho sự phát triển của hệ thống ASXH Việt Nam Tiếp cận dưới góc độ pháp luật hầu như chưa có tài liệu nào nghiên cứu

Nhìn chung, tình hình nghiên cứu về nội dung pháp luật ASXH Việt Nam hiện nay còn hạn chế, chủ yếu là những gợi mớ ban đầu Có thể khẳng định rằng cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu có hê thống và toàn diện về lý luận khoa học luật cũng như thực tiễn pháp luật nhằm đưa ra những giải pháp tổng thể xây dựng và hoàn thiện lĩnh vực pháp luật mới mẻ này ở Việt Nam Đề tài “C ơ

sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật an sinh x ã hội Việt N a m ’' là công trình khoa học đầu tiên dưới hình thức luận án tiến sỹ luật học

trực tiếp nghiên cứu vấn đề pháp luật ASXH V iệt Nam một cách tương đối loàn diện và có hệ thống

3 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

Mục đích của luận án là nghiên cứu lý luận và thực trạng pháp luật ASXH Việt Nam, tạo lập những luận cứ khoa học cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật ASXH ở Việt Nam Nhằm đạt được mục đích này, luận án đặt ra những nhiệm

vụ chính, bao gồm:

như quan niệm, bản chất, nội d u n g đặt nền móng nhận thức vững vàng về ASXH nói chung và pháp luật ASXH nói riêng;

Trang 10

- Thứ hai, phân tích và đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về ASXH ở

Việt Nam với các nội dung cấu thành cơ bản và việc áp dụng trên thực tiễn, chi ra những kết quả cũng như những vấn đề còn hạn chế, thiếu sót, chưa phù hợp cần được hoàn thiện

- Thứ ba, luận giải về sự cần thiết khách quan phái hoàn thiện pháp luật an

sinh xã hội

- Thứ tư, đề xuất những định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về

ASXH phù hợp với điều kiện hiện nay đồng thời dự trù cho sự phát triển trong tương lai, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ổn định và bền vững

4 Phạm vi nghiên cứu đề tài

An sinh xã hội là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học với nhiều cách thức và mức độ tiếp cận khác nhau Dưới góc độ khoa học pháp lý và phù hợp với chuyên ngành nghiên cứu, luận án tập trung nghiên cứu pháp luật về ASXH với tư cách là một nội dung trong hệ thống pháp luật Việt Nam Đồng thòi, luận án đi sâu vào nghiên cứu những nội dung cơ bản của pháp luật ASXH Việt Nam với các bộ phận cấu thành cơ bản như pháp iuật về BHXH, BHYT, TGXH, ƯĐXH Còn một số vấn đề khác có liên quan như giải quyết tranh chấp, khiếu nại, xử lý vi phạm trong lĩnh vực ASXH, luận án xin không đề cập đến hoặc nếu có chỉ ở mức độ nhất định, bởi những vấn đề đó được xác định như luật thủ tục đảm bảo cho việc thực hiện nội dung pháp luật Các vấn đề này có thể tiếp Ihu ở các công trình khoa học pháp lý khác hoặc tiếp tục nghiên cứu ở các công trình khoa học tiếp theo sau này

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận với phép duy vật biện chứng và cluy vật lịch sử để nghiên cứu về pháp luật ASXh trong mối quan hệ không tách rời với các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá Trong quá trình nghiên cứu, luận án còn dựa trên cơ sở các quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước về chính sách kinh tế-xã hội, bảo vệ và phát triển con người, lấy con người làm trung tâm để đánh giá và luận giải những vấn đề thuộc đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài.Trong nhũng trường hợp cụ thể, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu

Trang 11

phù hợp như thống kê, so sánh, tổng hợp, phân tích, bình luận, kháo sát thực tiễ n nhằm vận dụng nhuần nhuyễn giữa kiến thức lý luận và thực tiễn để góp phần làm sáng tỏ những vấn đề cần nghiên cứu.

6 Những kết quả nghiên cứu mới của luận án

Là một công trình đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống vềpháp luật ASXH, luận án có những điểm mới chủ yếu sau đây:

- Luận án đã nghiên cứu đưa ra hệ thống lý luận về ASXH ở V iệt Nam, từ đóxây dựng hệ thống lý luận pháp luật ASXH ở Việt Nam trong mối quan hệ giữa pháp luật ASXH với các lĩnh vực pháp luật khác như luật lao động, luật dân sự, luật hành chính

- Luận án đã nghiên cứu và xác định cấu trúc của pháp luật ASXH ở Việt Nam trong quá trình phát triển với các nội dung cấu thành cơ hán bao gồm pháp luật về BHXH, BHYT, TGXH và Ư ĐXH

- Luận án đã rút ra kết luận khoa học về những mặt tích cực cũng như những hạn chế, bất cập của pháp luật ASXH hiện hành và thực tiễn thực hiện Thông qua việc đánh giá, phân tích các nội dung cơ bản của pháp luật ASXH, luận án đã khái quát được bức tranh tổng quan về pháp luật ASXH V iệt Nam hiện hành đồng thời

chỉ ra những đòi hỏi từ thực tiễn nhằm xây dựng và hoàn thiện pháp luật ASXH à

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các công trình khoa học liên quan đến luận án đã công bố, luận án gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về an sinh xã hội và pháp luật an sinh xã hội.

C hương 2: Thực trạng pháp luật an sinh xã hội Việt Nam.

Chương 3: Xây dựng và hoàn thiện pháp luật an sinh xã hội ở V iệt Nam.

Trang 12

CHƯƠNG 1

N H Ũ N G VẤN Đ Ể LÝ L U Ậ N V Ể AN S IN H XÃ H Ộ I

VÀ P H Á P L U Ậ T AN SIN H XÃ H Ộ I

1.1 KHẢI QUÁT CHUNG VỂ AN SINH XÃ HỘI

1.1.1 Tính tất yếu của an sinh xã hội

Trong cuộc sống, không phải lúc nào con người cũng gặp những thuận lợi, may mấn để tồn tại và phát triển Trái lại, những rủi ro từ nguyên nhân khách quan, chủ quan, từ thiên nhiên, từ quá trình lao động, từ những bất hạnh của hoàn cảnh V V .thường đe dọa cuộc sống của mỗi cá nhân khiến họ phải tìm cách bảo vệ mình Trước những tình huống đó, từ xa xưa con người đã tìm đến những biện

pháp bảo vệ đơn giản như tiết kiệm, để dành theo dạng “tích cốc pliỏng cơ, tích y

phỏng hàn”, đồng thời trông chờ vào sự tương trợ, đùm bọc, chia sẻ của gia đình,

họ hàng thân tộc, làng xóm, nhà chùa, nhà thờ v.v Các hoạt động tương trợ có tính chất truyền thống và mang nặng yếu tố tình cảm, bổn phận con người này đã đặt nền m óng đầu tiên cho sư phát triển của các hình thức ASXH hiện đại

Khi x ã hội phát triển, đặc biệt ỉà sự hình thành ngành công nghiệp đã tác động m ạnh mẽ đến đời sống xã hội Một loạt các rủi ro, biến cố mới mà trước đây con người chưa gặp phải như TNLĐ, BNN, mất việc làm v.v thì giờ đây xuất hiện

và ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập và cuộc sống của họ Những biện pháp tương trợ truyền thống và không chính thức thường áp dụng trước đây tỏ ra không còn hiệu quả cao Điều đó dẫn đến nhu cầu tìm kiếm các biện pháp, phương thức bảo

vệ khác hiệu quả hơn

Sáng kiến thiết lập quỹ tài chính từ sự đóng góp bắt buộc của các bên trong quan hệ lao động, đặt dưới sự hỗ trợ, đảm bảơ của Nhà nước và mang tính xã hội sâu sắc, không vì mục đích kinh doanh trên phạm vi rộng được hình thành Đày chính là hình thức BHXH được đề xuất đầu tiên ở Đức dưới thời Thủ tướns, Bismarck (O tto Von Bismarck 1815 - 1898) vào năm 1850 nhằm bảo vệ NLĐ trong trường hợp m ất thu nhập vì ốm đau, bệnh tật sau đó mở rộng dần việc bảo hiểm với các trường hợp rủi ro khác như tai nạn nghề nghiệp vào năm 1884, tuổi già và tàn tậ t vào năm 1889 [133, tr 6]

Trang 13

Với những ưu điểm của mình như phạm vi bảo vệ rộng, khả năng bảo vệ ổn định và chắc chắn, mô hình này nhanh chóng lan toả dần sang các quốc gia Châu

Âu, Mỹ Latinh và khắp các quốc gia trên thế giới Năm 1905 Pháp thực hiện chế

độ BHTN tự nguyện, năm 1928 thực hiện chế độ bảo hiểm tuổi già và ốm đau Năm 1911 Anh thực hiện chế độ bảo hiểm ốm đau, thất nghiệp, tuổi già Cho đến nay, hình thức bảo vệ này đã được thực hiện ở hầu hết các quốc gia trên thê giới và vẫn dược coi là hình thức bảo vệ hiện đại nhất với những ưu điểm của mình Tuv nhiên, tuỳ vào điều kiện kinh tế - xã hội, đặc điểm riêng của từng quốc gia mà có

sự khác nhau về phạm vi các chế độ bảo vệ, mức đóng góp của các chủ thể tham gia, cơ quan quản lý, thực hiện

Thực tế cho thấy, không phải tất cả mọi thành viên xã hội đều tiếp cận được với cơ chế BHXH tiến bộ này Một bộ phận dân chúng, đặc biệt là những người nghèo khổ, không có thu nhập, không tham gia quan hệ lao động không đủ khả năng tiếp cận với cơ chế cùng đóng góp, cùng chia sẻ rủi ro Nếu họ chỉ trông chờ vào các hình thức tương trợ truyền thống, không chính thức thì khả năng đảm bảo

an loàn không cao, đặc biệt trong điều kiện xảy ra rủi ro trên diện rộng, khủng hoáng kinh tế Lúc này, cơ chế chia sẻ rủi ro mang tính xã hội với sự đảm bảo chắc chắn từ Nhà nước trở thành cần thiết hơn bao giờ hết Nhà nước tham gia không chỉ đơn thuần xuất phát từ nhu cầu bảo vệ các thành viên xã hội mà còn [à trách nhiệm của nhà cầm quyền cũng như đảm bảo được mục đích duy trì trật tự xã hội, củng cố địa vị của giai cấp thống trị Song song với các hoạt động tương trợ truyền thống, các chế độ BHXH hiện đại, Nhà nước còn thiết lập hệ thống các chê độ bảo vệ với tất cả cộng đồng dân chúng, không có sự phân biệt và giới hạn theo tiêu chí nào Các chế độ bảo vệ trước tiên và phổ biến nhất được áp dụng với

các đối tượng “yếu thê” trong xã hội như người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người

tàn tật, goá b ụ a hay những đối tượng nạn nhân của thiên tai như động đất, bão lụt, hạn hán bằng các khoản trợ cấp từ Nhà nước mà không yêu cầu nghĩa vụ đóng góp Các dịch vụ xã hội như dịch vụ y tế, dự phòng tai nạn, thích ứng cho người tàn tật, các dịch vụ chăm sóc người già, bảo vệ trẻ em từng bước được

mở rộng ở các nước theo điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội, phong tục tập quán với các mô hình quản lý khác nhau

Trang 14

Tất cả các cách thức, biện pháp chống lại các rủi ro bảo vệ cuộc sống của con người trong xã hội do Nhà nước tổ chức và đảm bảo thực hiện, do các chủ thể tự thiết lập trên cơ sở nhu cầu và lợi ích của mình hoặc những biện pháp tương trợ truyền thống trong cộng đồng dân cư trên cơ sở tình cảm, đạo đức, bổn phận con người đã dần hình thành nên mạng lưới bảo vệ an loàn cho cuộc sống của các thành viên xã hội và được gọi là ASXH.

Như vậy, ASXH ra đời xuất phát từ nhu nhu cầu tự nhiên, tất yếu của con người trong việc tìm kiếm một điều kiện sống an toàn để tồn tại và phát triển Qua

đó cũng cho thấy ASXH tồn tại trong mọi thời kỳ, mọi nền kinh tê chứ không chỉ tồn tại trong xã hội hiện đại hay trong điều kiện kinh tế thị trường Sự ra đời và phát triển của ASXH là một quá trình bắt nguồn từ các hình thức, biện pháp tương trợ cộng đồng sơ khai, đơn giản đến các hình thức bảo vệ hiện đại, có sự can thiệp của Nhà nước Đây chính là sự tổng hoà của các hình thức tương trợ, bảo vệ trong

đó có sự bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau nhằm đạt được mục đích bảo vệ ngày càng tốt hơn cuộc sống của các thành viên xã hội

Cho đến nay, theo tổng kết của ILO, nội dung ASXH đã được thực hiện ở trên 170 quốc gia trên thê giới [134, tr xivj ASXH đã được tất cả các nước thừa nhận như một trong những quyền con người và có ý nghĩa đặc biệt trong việc bình

ổn và phát triển đất nước Quyền hưởng ASXH đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn

về Nhân quyền do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10/12/1948: “Tất

cả mọi người, với tư cách là thành viên x ã hội có quyền hưởng ASXH Quyền đó đặt cơ sở trên sự íhod mãn các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá cần cho sự tự

do phát triển con người ” (Điều 22) Trên cơ sở đó, pháp luật quốc tế cũng như

quốc gia đều thể chế thực hiện thông qua pháp luật với mục đích chung đem đến

sự bảo vệ ngày càng tốt hơn cho cuộc sống cúa mỗi thành viên xã hội

1.1.2 Quan niệm về an sinh xã hội

1.1.2.1 Quan niệm về an sinh xã hôi trên th ế giới

Qua việc đề cập đến sự ra đời của ASXH, chúng ta cũng đã hình dung được

sự phong phú về nội dung và tính đa dạng về hình thức thực hiện ASXH Với những đặc điểm riêng về kinh tế, chính trị, xã hội, lịch sử, phong tục tập quán của các khu vực, các quốc gia khác nhau mà quan niệm về ASXH có thể được

Trang 15

giải thích ở phạm vi rộng, hẹp khác nhau và có thể được tiếp cận dưới nhiều góc

độ, quan điểm, trường phái khác nhau Cho đến nay, trên thế giới hình thành hai trường phái cơ bản tiếp cận với khái niệm ASXH, đó là trường phái kinh tế và trường phái xã hội

Theo trường phái kinh tế, ASXH chủ yếu được tiếp cận như là một cơ chế phân phối lại thu nhập xã hội nhằm điều hoà lợi ích, thu hẹp chênh lệch mức sống giữa các tầng lớp dân cư, giám bớt sự bần cùng, nghèo đói, cải thiện điều kiện sống của mọi thành viên xã hội, đặc biệt là các đối tượng gặp biến cố, rủi ro

Theo đó, ASXH chính là kết quả của việc tìm kiếm các biện pháp bảo đảm về kinh tế cho các thành viên xã hội khi gặp phải rủi ro, biến cố dẫn đến những khó khăn về kinh tế, xã hội Cũng từ quan niệm đơn giản rằng khi gặp khó khãn, rủi ro dẫn đến hậu quả như giảm hoặc mất thu nhập, nghèo đói, tật b ệ n h con người cần

có sự bảo đảm thoát khỏi tình trạng này ASXH chính là những biện pháp đảm bảo

về kinh tế được thực hiện thông qua cơ chế phân phối lại thu nhập xã hội Việc tổ chức và thực hiện các biện pháp này nhắm đến mục tiêu bảo vệ cuộc sống của mọi người dân, điều hoà lợi ích, thu hẹp chênh lệch mức sống giữa các tầng lớp dân cư, giảm bớt sự bẩn cùng, nghèo đói, cải thiện điều kiện sống của mọi thành viên xã hội, dặc biệt là các đối tượng gặp biến cố, rủi ro

Với mục tiêu chính là bảo vệ cuộc sống của các thành viên xã hội trước những rủi ro, biến cố nên nội dung của ASXH theo quan điểm của trường phái này không chỉ dừng lại ở các biện pháp bảo vệ có tính xã hội như BHXH, TGXH, phúc lợi xã h ộ i mà thậm chí còn mở rộng với bảo hiểm thương mại, các hình thức tiết kiệm cá nhân, chế độ bảo vệ của chủ sử dụng lao động v.v Trong đó, vai trò của Nhà nước là có giới hạn, Nhà nước chỉ can thiệp khi bản thân đối tượng và cộng đồng không thể lo được

Xuất phát từ việc chú trọng đến yếu tố kinh tế, nên các quốc gia theo trường phái này thường xác định cơ sở có tính quyết định cho sự thành công của ASXH chính là nguồn lực tài chính đảm bảo thực hiện Do vậy việc thiết lập các mô hình ASXH cũng như tổ chức thực hiện đều xoay quanh vấn đề nguồn tài chính thực hiện ASXH lấy từ đâu và tổ chức sử dụng như th ế nào

Tiêu biểu cho trường phái kinh tế ỉà quan niệm về ASXH của các tổ chức

Trang 16

kinh tế thế giới như Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IM F), Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) và của hầu hết các quốc gia có nền kinh tê thị trường tự do phát triển như Mỹ, Anh, ú c , Niudilan, C an ad a

Chẳng hạn, theo OECD, “/4/7 sinh x ã hội chính là cách thức, phương thức

phôi hợp các nguồn lực đối ph ó với các rủi ro x ã hội” [140, tr 13] với nội hàm bao

gồm các ch ế độ hưởng với nguồn tài chính từ Nhà nước, xã hội và thị trường Xuất phát từ thực tế mất cân bằng cuộc sống của mỗi cá nhân khi có sự biến động về thu nhập và sự chênh lệch về mức sống giữa các tầng lớp dân cư, IMF xác định mục đích của các chế độ ASXH chính là báo vệ thu nhập từ lao động bị biến động trước

những rủi ro với khái niệm “An sinh x ã hội là sự bảo vệ con người khi không còn

khả năng tạo ra thu nhập” [ I 36, tr 7] và cho rằng nội dung của ASXH chỉ bảo

gồm chế độ bảo hiểm tuổi già và ch ế độ tiền tuất mà thôi Cũng từ góc độ kinh tế

lao động, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) quan niệm ASXH “/ừ tập h(/p các

chính sách và chương trình nhằm giảm nghèo đói, lệ thuộc bằng việc thúc đẩy thị trường lao dộng tích cực, giảm rủi ro và tăng cường năng lực tự bảo vệ của người lao động chống lại sự giảm hoặc m ất thu n h ậ p ” [124, tr 4] Theo đó, ADB xác

định nội dung ASXH bao gồm 5 hợp phần chính: (i) các chính sách và chươnơ trình thị trường lao động, (ii) bảo hiểm xã hội, (iii) trợ giúp xã hội, (iv) quỹ hỗ trợ phát triển cộng đồng và (v) bảo vệ trẻ em

Gần đây, tổ chức WB đưa ra khái niệm ASXH với cách tiếp cận mới mẻ dựa trên quan niệm “quản lý rủi ro” Theo đó, sinh x ã hội là những biện pháp công cộng nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đổng đương đầu và kiềm c h ế được nguy cơ lác động đến thu nhập nhằm giảm tính d ễ bị tổn thương và nhữnq bấp bênh về thu nhập’’ [ ] 52; 26, tr 65, 66] Từ ý tưởng cho rằng mỗi cá nhân, mỗi

gia đình, mỗi cộng đồng đều có thể phải chịu những rủi ro nhất định từ nhiều nguyên nhân nên cần thiết lập cơ chế phòng chống, hạn chế và khắc phục rủi ro ASXH chính là hệ thống những biện pháp quản lý rủi ro được thực hiện bởi vai trò quan trọng của Nhà nước, gia đình, cộng đồng, các tổ chức quốc tế, phi chính phủ và

cả những thiết chế của thị trường như ngân hàng, công ty bảo hiểm Mục đích của

Trang 17

ASXH là làm giảm tính dễ bị tổn thương của con người và những biến động xấu về thu nhập Vì vậy, mô hình ASXH được WB đề xuất bao gồm nội dung chính là BHXH và các chương trình giảm nghèo, đặc biệt WB khuyến khích các quốc gia phát triển mạng lưới BHXH và tư nhân hoá các nội dung ASXH [26, tr.l 15] Trên thế giới, quan điểm của WB được coi là quan điểm tiến bộ và rất nhiều quốc gia vận dụng, đặc biệt là các quốc gia chịu chi phối nhiều bởi tổ chức này.

Thực tế cho thấy, sự ảnh hưởng chi phối của các tổ chức kinh tế đối với các quốc gia đã có những dấu ấn rõ nét Các nước trên thế giới bị chi phối nhiều thường cũng bị áp đặt quan điểm của các tổ chức này trong lĩnh vực ASXH Mặc dù vậy cũng không thể phú nhận được đặc điểm riêng của các quốc gia mà từ đó xuất hiện những khái niệm khác nhau về ASXH giữa các quốc gia trên thế giới Đa phần các quốc gia có nền kinh tế thị trường tự do phát triển (Anh, Mỹ, ú c , Niudilan ) thưởng chú trọng tiếp cận vấn đề ASXH dưới góc độ kinh tế nhiều hơn xã hội

Chẳng hạn, ở Châu Âu đa số các nước vận hành theo nền kinh tế thị trường tự

do (các nước Ảnglo - Săcxon) đều xây dựng mô hình ASXH trên quan điểm của trường phái Anh quốc do nhà kinh tế học W illiam BeveridRC người Anh (1879

1963) đề xướng Ông cho rằng “An sinh x ã hội là sự báo đảm vê việc làm khi

người ta còn sức làm việc và đảm bảo một lợi tức khi người ta không còn sức làm việc nữa” [26, tr 109] Lấy trung tâm điểm là vấn đề việc làm và bảo vệ thu nhập

từ việc làm nên m ô hình ASXH mà các nước này thiết lập chú yếu căn cứ vào thu nhập để triển khai xây dựng các chê độ bảo vệ cụ thể Hoặc Mỹ, một quốc gia ban hành luật đầu tiên trên thế giới về ASXH lại tiếp cận khái niệm ASXH với mục

đích và phạm vi nội dung rộng: “An sinh x ã hội là sự đảm bảo của x ã hội nhằm

bảo tồn nhân cách cùng giá trị của các cá nhân đồng thời tạo lập cho con người một đời sống sung mãn và hữu ích đ ể phát triển tài năng đến tột độ” [34, tr 420]

Từ quan niệm này, Mỹ căn cứ vào điều kiện kinh tế để thiết lập các chế độ ASXH bao gồm BHXH, BHYT, trợ cấp nhà ở, phúc lợi xã hội, toàn dụng nhân lực, hỗ trợ gia đình n g h èo đáp ứng yêu cầu xã hội

Theo trường phái xã hội, ASXH chính là sự tương trợ cộng đồng giữa các thành viên trong xã hội nhằm bảo vệ cuộc sống của họ trước những rủi ro, biến cố

Trang 18

đồng và xác định đây chính là nền tảng cơ bản thiết lập ASXH Xuất phát lừ nhu cầu chia sẻ rủi ro lẫn nhau giữa các thành viên xã hội, ASXH ra đời như một tất yếu khách quan Nhờ sự hợp sức, đoàn kết trên tinh thần tương trợ mà nhũng rủi

ro, biến cố, khó khăn, bất hạnh của các cá nhân được dàn trải trên phạm vi rộng,

giúp họ nhanh chóng vượt qua hoằn cảnh Ý tưởng “mỗi người vì một người, một

người vì mỗi người” là nền tảng hình thành ASXH, do vậy nó không nhằm mục

đích kinh doanh, lợi nhuận mà hướng tới những giá trị cao đẹp của con người, vì

sự phát triển và tiến bộ xã hội An sinh xã hội chính là sự thể hiện trách nhiệm của mỗi thành viên xã hội kết hợp với sự chăm lo chung của cả cộng đồng, vừa thể hiện trình độ văn minh và tính tổ chức cao, vừa thể hiện bản chất nhân văn, tình người của mỗi cá nhân [69, tr 30] Từ khía cạnh xã hội cũng cần nhấn mạnh mặc dù ASXH m ang trong mình tính xã hội sâu sắc nhưng đây không phải là sự ban ơn, sự chiếu cố của xã hội đối với nhữne thân phận thấp hèn, yếu thế trong

xã hội ASXH là trách nhiệm của xã hội, của cộng đồng đối với các thành viên của mình, quyền hưởng ASXH là quyền cơ bản của con người trong xã hội được các quốc gia tôn trọng thực hiện

Trong điều kiện hiện đại, tính tương trợ cộng đồng của ASXH thể hiện chủ yếu

ở ba nội dung chính, đó là: (i) sự tương trợ “có đi c,ó lạ p trong nhóm đối tượng tham

gia trong việc tạo quỹ tài chính chung đảm bảo chi trả khi thành viên gặp rủi ro, biến cố; (ii) sự tương trợ từ Nhà nước và (iii) sự tương trợ từ cộng đồng xã hội Quá trình

ra đời và phát triển của AwSXH cũng cho thấy rõ trong điều kiện hiện đại, việc mong chờ vào sự giúp đỡ, chia sẻ của các hoạt động tương trợ truyền thống, không chính thức, không có sự tham gia của Nhà nước thường khó có sự ổn định và khả nàng đảm bảo chắc chắn Vì vậy, hình thức tương trợ dựa trên sơ sở đóng góp tài chính,

có sự tham gia của Nhà nước (thể hiện rõ trong BHXH) là hình thức tương trợ phổ biến nhất được hầu hết các quốc gia coi trọng Tuy nhiên, các hoạt động tương trợ này cũng chỉ đảm bào thực hiện với nhóm đối tượng nhất định, việc “lọt lưới bảo vệ” sẽ xảy ra, một bộ phận dân chúng không tiếp cận được với hệ thống lưới đỡ này sẽ được bảo vệ bằng hình thức tương trợ của Nhà nước, của cộng đổng Hệ

Trang 19

thống các lưới tương trợ này sẽ góp phần thiết lập sự bình đẳng xã hội, giảm khoáng cách chênh lệch giữa đời sống các tầng lớp dân cư, thúc đẩy tiến bộ xã hội.Các quốc gia theo trường phái xã hội thường tiếp cận khái niệm ASXH với yêu cầu quan trọng nhất là đảm bảo tính cộng đồng cao bằng việc thiết lập hệ thống chê độ ASXH có độ bao phủ rộng khắp đối với mọi người dân, không có sự phân biệt ILO cũng đã từng đề cao yêu cầu này khi tiếp cận khái niệm ASXH dưới

góc độ xã hội: “An sinh x ã hội là sự bảo vệ p h ổ cập và đồng nhất giữa mọi thành

viên x ã hội vì vấn đ ề công bằng x ã hội và dựa trên nguyên tắc liên kết” [83, tr 18].

Trên th ế giới, các quốc gia có nền kinh tế thị trường xã hội phát triển như Đức, Thuỵ Điển, Đan Mạch và các quốc gia có nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa như Trung Quốc, Việt Nam, các nước thuộc Liên Xô cũ thường tiếp cận khái niệm ASXH theo trường phái này Chẳng hạn, ở Đức, Thuỵ Điến khái niệm ASXH được tiếp cận với vai trò quan trọng của Nhà nước trong việc đám bảo cuộc

sống cho người dân và tiến tới thiết lập mô hình “nhà nước phúc lợi” Ở Châu Á,

đặc biệt là các quốc gia khu vực Đông Nam Á, khái niệm ASXH cũng còn là vấn

đề mới mẻ Với đặc điểm của những nước có nên kinh tế thị trường mới nổi và đa phần đều là các nước nghèo, điều kiện đảm bảo cuộc sống cho người dân còn ở mức thấp, các quan hệ gia đình, cộng đồng, xã hội được chú trọng Hầu hết các quốc gia ở khu vực này đều tiếp cận khái niệm ASXH từ góc độ xã hội với vai Irò quan trọng của Nhà nước Một số quốc gia tiến bộ trong lĩnh vực ASXH đã tiếp cận với khái niệm ASXH của ILO và triển khai thực hiện với nhữnẹ nét đặc thù riêng của mình Chẳng hạn, trong Luật An sinh xã hội năm 1997 của Philippin,

ASXH được định nghĩa: “An sinh x ã hội là một chính sách của nhà nước nhằm

cung cấp cho các thành viên và những người thừa hưởng của họ được hưởng một

sự bảo hộ đầy ỷ nghiã chống lại những rủi ro về mất khả năng lao động, ốm đau, thai sản, tuổi già, chết và các trường hợp rủi ro khác dẫn đến chỗ m ất thu nlĩập hoặc gây ra gánh nặng về tài c h ín h ” [53, Điều 2] Ở Trung Quốc, thuật ngữ

ASXH được sử dụng là “Bảo chướng xã hội” và được định nghĩa “là m ột c h ế độ an

toàn x ã hội trong đó N hà nước và x ã hội căn cứ vào pháp luật mà đảm bảo sinh sống cơ bản cho các thành viên trong x ã hội” [39, tr 6] Nội dung của ASXH

Trang 20

Trung Quốc bao gồm BHXH, TGXH, phúc lợi xã hội, trợ cấp cho các đối tượng chính sách, tương tế xã hội và các khoản tích luỹ cá nhân.

An sinh xã hội là nội dung bao hàm cả hai yếu tố kinh tế và xã hội mà khó có thể tách rời Vấn đề chỉ là ở chỗ các quốc gia chú trọng đến yếu tố nào hơn trong quan niệm và xây dựng hệ thống ASXH quốc gia mình mà thôi Theo quan điểm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) - một tổ chức có ảnh hưởng lớn đối với việc thiết lập và phát triển hệ thống ASXH ở các quốc gia, khái niệm ASXH được đưa

ra với hai phạm vi rộng và hẹp Ở góc độ khái quát, ỈLO cho rằng “An sinh x ã hội

là sự đảm bảo thực hiện quyền con người được sống trong hoà bình, tự do làm ân,

cư trú, được bảo vệ trước pháp luật, được làm việc và nghỉ ngơi, được chăm sóc y

t ế và bảo đảm thu n h ậ p ” [126, tr 22] Với cách tiếp cận từ góc độ quyền con

người cho thấy phạm vi nội dung của ASXH rất rộng, bao gồm mọi lĩnh vực như

an ninh chính trị, giáo dục, y tế, việc làm, lao động nhằm mục đích bảo vệ thành viên của xã hội trên mọi mặt đời sống Ớ phạm vi hẹp hơn, một khái niệm được

chấp nhận rộng rãi của ILO về ASXH: “An sinh x ã hội là sự bảo vệ của x ã hội đối

với các thành viên của mình thông qua hàng loạt các biện pháp công cộng nhằm chống lại tình cảnh khốn khó về kinh t ế và xã hội gây ra bởi tình trạng bị ngừng hoặc giảm sút đáng k ể vê thu nhập do ốm đau, thai sản, thương tật trong lao động, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già, tử vong, sự cung cấp về chăm sóc y t ế và cả các khoản tiền trợ giúp cho các gia đình đông con ’ [133, tr 5].

Khái niệm này chỉ rõ ASXH chính là sự bảo vệ của xã hội đối với thành viên của mình Phạm vi đối tượng bảo vệ của ASXH là rất rộng lớn, bao gồm toàn bộ thành viên xã hội Nội dung bảo vệ được thực hiện thông qua các biện pháp công cộng khác nhau được tiến hành bởi Nhà nước, các tổ chức, cá nhân với mục đích chống lại những túng quẫn về kinh tế, xã hội của người dân khi gặp phải những biến cố, rủi ro góp phần đảm bảo của cuộc sống con người và cao hơn thế, đảm bảo an toàn chung cho toàn xã hội Do tiếp cận ở phạm vi hẹp nên nội dung bảo vệ

mà khái niệm đưa ra chủ yếu là gắn với rủi ro trong quan hệ ỉao động Vì vậy nhấn mạnh đến tính đa dạng và phạm vi nội dung khác nhau của khái niệm này ở

các quốc gia, ILO cũng xác định rõ: “/4w sinh x ã hội ở các quốc gia khác nhau là

Trang 21

khác nhau, song vê cơ bản an sinh x ã hội là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của m ìn h ” [133, tr 5] Điều này cho thấy mỗi quốc gia với những đặc điểm

riêng về kinh tế, xã hội, lịch sử, phong tục tập quán mà khái niệm ASXH lại có những nét đặc thù riêng biệt Cho đến nay khái niệm ASXH của ILO vẫn được coi

là chuẩn mực được nhiều quốc gia vận dụng

Nhìn chung, dù tiếp cận theo trường phái kinh tế hay trường phái xã hội thì quan niệm về ASXH trên thế giới đều thống nhất ở một vấn đề cơ bản là mục đích của ASXH nhằm đảm bảo an toàn cuộc sống cho các thành viên xã hội, đặc biệt khi bị tổn thương, suy giảm thu nhập, mức sống, sức khoẻ bằng các phương thức, biện pháp khác nhau mang tính xã hội

1.1.2.2 Quan niệm vé an sinh xã hội ở Việt Nam

Việt Nam là một quốc gia có nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, do vậy về kinh tế có những điểm tương đồng nhất định với mô hình kinh tế thị trường xã hội của một số nước trên thế giới Trong nền kinh tế thị trường xã hội, người ta chú trọng đến sự hoà hợp giữa tự do về kinh tế với đòi hỏi cân bằng

xã hội nhằm hướng tới sự thịnh vượng chung Đặc điểm nổi bật của nền kinh tế thị trường Việt Nam là sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đời sống của người dân còn ở mức thấp,

do vậy quan niệm về ASXH chủ yếu được tiếp cận với vai trò quan trọng của Nhà nước Bên cạnh đó, Việt Nam lại là một quốc gia nằm ở khu vực Châu Á nên mang trong mình những đặc điểm về điều kiện xã hội, truyền thống, phong tục tập quán tương tự như các quốc gia trong khu vực Mối quan hệ cộng đồng với các thiết chế gia đình, họ tộc, làng xóm rất được coi trọng và !à nền tảng cơ bản thiết lập sự tương trợ trong hoạt động ASXH Với các điều kiện kinh tế, xã hội như vậy quan niệm về ASXH chủ yếu được tiếp cận theo trường phái xã hội

Tuy vậy, dưới góc độ nghiên cứu khoa học đây là một vấn đề tương đối mới

mẻ và còn nhiều lúng túng trong điều chỉnh pháp luật Vì vậy việc thống nhất về mặt khái niệm là một yêu cầu quan trọng làm cơ sở xây dựng và hoàn thiện pháp luật ASXH ở Việt Nam Thực tế cho thấy, xung quanh vấn đề khái niệm ASXH cũng còn nhiều tranh luận Ngay về mặt thuật ngữ, do được dịch từ nhiều thứ tiếng khác nhau: tiếng Anh (social security); tiếng Pháp (securité sociale); tiếng Nga

Trang 22

(CouuanbHoe OỏecneneHuê) nên có nhiều tên gọi khác nhau cho nội dung này như: “An ninh xã hội”, ‘lAn toàn xã hội” , “Báo đám xã hội”, “'Báo trợ xã hội” [69, tr 5- 6] Song hiện nay, thuật ngữ “an sinh xã hội” đã được hầu hết các nhà khoa học sử dụng phổ biến khi đề cập đến nội dung này bởi thể hiện rõ nét nhất mục đích, bán chất và nội hàm khái niệm.

Về nội dung khái niệm, đa số các ý kiến đều thống nhất rằng ASXH là một khái niệm rộng, bao gồm các hình thức tương trợ cộng đồng (về cả vật chất và tinh thần) cho các thành viên của xã hội khi gặp phải rủi ro, khó khàn, bất hạnh nhằm đảm bảo cuộc sống, ổn định và phát triển xã hội Việc đưa ra một định nghĩa cụ thể là không đơn giản, vì phụ thuộc rất nhiều vào phạm vi nội dung, thời điểm thực hiện, góc độ tiếp cận Chẳng hạn, Iheo nghĩa rộng, GS Tương Lai cho rằng

ASXH “tò m ột lĩnh vực rộng lớn, không ch ỉ bao hàm sự bảo vệ của x ã hội đối với

mọi người khi gặp phải thiếu thốn về kinh t ế mà còn bảo đảm về môi trường thuận lợi d ể giúp mọi người phát triển vê giáo dục, văn hoá nhầm nâng cao trình độ dân trí, học vấn” [15, tr 135] Cách tiếp cận này đã mở rộng nội hàm khái niệm

ASXH, AvSXH không chỉ hao gồm các nội dung bảo vệ cuộc sống con người ở khía cạnh kinh tê mà còn bao gồm cả việc tạo môi trường phát triển giáo dục, nhận thức Theo nghĩa hẹp, với những nét đặc trưng cơ bản của hệ thốne; ASXH Việt

Nam hiện nay, PGS.TS Đỗ M inh Cương lại đưa ra khái niệm: “A/7 sinh x ã hội là sự

bảo vệ của x ã hội đối với các thành viên của mình, trước hết vù chủ yếu trong những trường hợp túng thiếu v ề kinh t ế và x ã hội, bị mất hoặc giảm thu nhập đáng

k ể do gặp phải những rủi ro như ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tàn tật, mất việc làm, m ất người nuôi dưỡng, nghỉ thai sản, về già, trong các trường hợp bị thiệt hại do thiên tai, hoả hoạn, địch hoạ Đồng thời x ã hội cũng ưu đãi những thành viên của mình đ ã xả thân vì nước, vì dân, có những cống hiến đặc biệt cho sự nghiệp cách mạng, xây dựng và bảo vệ T ổ quốc, mặt khác cũng cứu vớt những thành viên lầm lạc, m ắc vào tệ nạn x ã hội, nhằm phối hợp chặt c h ẽ với các chính sách x ã hội khá, nhầm đạt tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, x ã hội văn minh" [111, tr 18Ị Từ giới hạn nhất định về đối tượng bảo vệ theo pháp luật hiện

T H Ư V I E N

Trang 23

hành, tác giả Trần Quang Hùng định nghĩa: “An sinh x ã hội là sự bảo đảm thu

nhập và các điều kiện sinh sống thiết yếu khác cho NLĐ và gia dinh họ khi bị giảm, m ất thu nhập do bị m ất việc làm, bị giảm hoặc mất khả năng lao động; cho những người già cô đơn, trẻ em m ồ côi, người tàn tật, những người nghèo đỏi và nlĩững người bị thiên tai địch hoa ” [111, tr 116] Một số nhà khoa học thuộc

Viện nghiên cứu phát triển xã hội Việt Nam trên quan điểm phát triển và công

bằng xã hội lại cho rằng: “An sinh x ã hội là sự hỗ trợ trực tiếp cho các gia đình

nghèo và d ễ bị tổn thương, bảo hiểm x ã hội và các hoạt động khác nhằm giảm tính

d ễ bị tổn thương gây ra bởi những nguy cơ như thất nghiệp, tuổi già và khuyết tậ t”

[36, tr 27] Các khái niệm này đều xác định được nội dung cơ bản của ASXH song, do được tiếp cận từ những góc độ, phạm vi nghiên cứu khác nhau nên chỉ phù hợp với những giới hạn nhất định

Đê đưa ra được khái niệm về ASXH phải xuất phát từ bản chất của vấn đề và các hình thức biểu hiện của nó v ề bản chất, ASXH là một phạm trù kinh tế - xã hội tổng hợp, mang trong m ình bản chất kinh tế và xã hội sâu sắc v ề bản chất xã hội, có thể nhìn nhận ASXH là sự tập hợp có tổ chức của các thành viên xã hội nhằm chống lại những rủi ro, bấl hạnh của mỗi cá nhân Nhờ đó mà những rủi ro biến cố, khó khăn của mỗi cá nhân được dàn trải trên phạm vi rộng, giúp họ nhanh chóng khắc phục khó khăn, vươn lên phát triển Khác với các biện pháp chia sẻ rủi

ro mang tính thương mại khác (như tham gia ký kết hợp đồng bảo hiểm), ASXH không nhằm mục đích kinh doanh, lợi nhuận mà chỉ đơn giản thuần tuý là đảm bảo

an toàn đời sống của cộng đồng xã hội theo cơ chế chia sẻ rủi ro, mang tính xã hội

và nhân văn cao cả trên cơ sở quyền con người Vì vậy, phạm vi lan toả và tác dụng đặc biệt của ASXH đối với đời sống cộng đồng và sự ổn định, phát triển chung của xã hội là những giá trị vượt trội so với các biện pháp chia sẻ rủi ro khác

Về bản chất kinh tế, ASXH là m ột bộ phận thu nhập quốc dân, thực hiện chức năng phân phối lại thu nhập xã hội, điều hoà lợi ích, góp sức vào tiết kiệm, đầu iư

và phát triển kinh tế An sinh xã hội không chỉ là những cơ chế đơn giản nhằm thay thế thu nhập mà còn được nhìn nhận như những vectơ hồn hợp của cái gọi là

“những chuyển giao kinh t ể ' trong xã hội nhằm phân phối lại tiền bạc, của cải và

Trang 24

các dịch vụ xã hội có lợi cho những nhóm dân cư yếu thế hơn trong xã hội Ị 1, tr 62] Phân phối lại thu nhập xã hội được thực hiện theo hai cách: phân phối theo chiéu dọc và phân phối theo chiều ngang Phân phối theo chiều ngang là sự phân phối trong nhóm đối tượng có cùng cơ hội, điều kiện kinh tế nhằm chia sẻ rủi ro với nhau Người không gặp rủi ro sẽ chia sẻ cho những người gặp rủi ro thông qua

cơ chế đóng góp tài chính chung Thông thường, sự phân phối theo chiều ngang chỉ thực hiện trong nội bộ nhóm người tham gia nhất định mà không bao phủ rộng với toàn thể dân chúng, do vậy cũng còn những đối tượng chưa tiếp cận được với việc phân phối này Hạn chế này được khắc phục bởi phân phối theo chiều dọc bằng sự chuyển giao một phần thu nhập của người (nhóm người) có thu nhập cao, đời sống đầy đủ hơn cho nhóm người nghèo khổ, có khó khăn trong cuộc sống trên phạm vi toàn xã hội Sự phân phối này được thực hiện thông qua nhiều biện pháp

kỹ thuật khác nhau dưới hình thức trực tiếp như thu thuế trực thu, các biện pháp kiểm soát giá cả, thu nhập, lợi nhuận và gián tiếp như cung cấp dịch vụ từ tài chính công về y tế, giáo dục, nhà ở, trợ cấp thực phẩm [30, tr 125-135] Như vậy, phân phối theo chiều dọc đặc biệt có ý nghĩa trong hoạt động ASXH, nhằm thiết lập hệ thống bảo vệ đối với toàn thể dân chúng, đặc biệt đối với những đối

tượng “yếu th ể ' trong xã hội.

Thực hiện phân phối lại thu nhập xã hội, đặc biệt là phân phối theo chiều dọc phải được đặt bên cạnh quan niệm về công bằng xã hội Mặc dù quan niệm về công bằng xã hội cũng còn nhiều chủ thuyết khác nhau, song về cơ bản phải xác định phân phối lại thu nhập xã hội trong các hoạt động ASXH không có nghĩa lấy của người giàu chia cho người nghèo một cách cực đoan hay phân phối binh quân chủ nghĩa mà chinh là nhằm thiết lập hệ thống bảo vệ bằng cách iặp lại cân bằng kinh tế theo hướng có lợi cho những đối tượng “yếu” hơn trong xã hội, đảm bảo công bằng trong đóng góp, hưởng thụ, phân chia nguồn lực Nói như vậy cũng không có nghĩa là ASXH chỉ bảo vệ người nghèo, người yếu thế Cùng với việc mở

rộng mục đích, bản chất kinh tế của ASXH không chỉ dừng lại ở khía cạnh “lập lại

cân bằng kinh t ể ’ cho những đối tượng yếu thế trong xã hội mà còn tiếp cận với cả

nhóm đối tượng có lợi thế về kinh tế trong xã hội, bảo vệ cả những người giàu khône bị nghèo đi

Trang 25

Bán chất kinh tế và xã hội của ASXH là không thể tách rời và luôn phái đặt trong mối tương quan hài hoà Không thể quá chú trọng đến bản chất kinh tế mà coi nhẹ bản chất xã hội và ngược lại, nếu quá chú trọng đến bản chất xã hội cũng khó có cơ sở thiết lập được hệ thống ASXH vững vàng Điều này cũng đã được minh chứng qua thực tiễn ASXH ở các quốc gia trên thê giới.

Xuất phái từ bản chất kinh tế, xã hội trên cơ sở quyền con người, ASXH có các hình thức biểu hiện đa dạng và phong phú Có những hình thức đơn giản được thực hiện trên cơ sở những quan hệ tình cảm tự nguyện, trách nhiệm, bổn phận con người trong phạm vi gia đình, họ hàng, cộng đồng làng xóm Có những hình thức hiện đại, độ đảm bảo an toàn cao được thiết lập với vai trò quan trọng của Nhà nước thông qua cơ chê đảm bảo thực hiện bằng pháp luật Cũng có những hình thức được thực hiện bởi cộng đồng, tổ chức trong phạm vi quốc gia, thậm chí quốc tế Tất cả các hình thức biểu hiện này đều xuất phát từ nhu cầu chia sẻ rủi ro, nhằm mục đích đảm bào an toàn cho cuộc sống của các thành viên xã hội Cho đến nay các hình thức biểu hiện chủ yếu của ASXH được biết đến bao gồm BHXH, BHYT, TGXH, sự bảo vệ của chủ sử dụng lao động, các dịch vụ xã hội

Từ việc nghiên cứu bán chất, hình thức biếu hiện và các quan niệm về ASXH trên thế giới, chúng tôi cho rằng khái niệm ASXH nên được tiếp cận theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng, khái niệm ASXH phải đảm bảo sự phù hợp với quan điểm của các tổ chức quốc tế, đặc biệt là ILO và đúng ở mọi quốc gia Do vậy, có thể đưa ra khái niệm chung nhất về ASXH: “An sinh xã hội là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua các biện pháp công cộng để chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội gây ra bởi các rủi ro, biến cố, bất hạnh nhằm đảm bảo thu nhập, sức khoẻ và các điều kiện sinh sống thiết yếu khác cho các thành viên của mình, góp phần đảm bảo an toàn và phát triển xã hội”

Thực tê cho thấy hầu hết các quốc gia trên thế giới đều tiếp cận khái niệm ASXH theo phạm vi hẹp với nội dung cụ thể tuỳ thuộc vào điều kiện riêng của mình ở nhũng giai đoạn phát triển nhất định Xuất phát từ những đặc điểm riêng của Việt Nam về điều kiện kinh tế, xã hội, phong tục, tập quán, truyền thống cũng như m ục đích CƯ bản của ASXH chúng tỏi cho rằng khái niệm ASXH ở Việt Nam

Trang 26

hiện nay cần được tiếp cận theo nghĩa hẹp, theo đó: “An sinh xã hội là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình, trước hết và chủ yếu nhằm đảm bảo Ihu nhập, sức khoẻ và các điều kiện sinh sống thiết yếu khác thông qua các biện pháp như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ giúp xã hội, ưu đãi xã hội”.

Nếu như ở phạm vi rộng, mục đích của ASXH nhằm bảo vệ cuộc sống của các thành viên xã hội thì ở phạm vi hẹp mục đích của ASXH Việt Nam trước hết

và chú yếu nhằm bảo đảm thu nhập, sức khoẻ và các điều kiện sinh sống thiết yếu cho các thành viên xã hội khi gặp rủi ro Điều này xuất phát chủ yếu từ điều kiện kinh tế, xã hội Việt Nam còn đang trong giai đoạn phát triển, chính sách kinh tê và

xã hội được chú trọng phát triển hài hoà đảm bảo sự phát triển chung ổn định và bền vững Cũng vì vậy, nội hàm khái niệm ASXH cũng được xác định bao gồm các nội dung cơ bản không thể thiếu như BHXH, BHYT, TGXH và ƯĐXH Đây cũng chính là những nội dung cơ bản phù hợp với thông lệ quốc tế đồng thời cũng thể hiện được những nét đặc thù riêng xuất phát từ truyền thống, lịch sử dân tộc của ASXH Việt Nam so với thông lệ quốc tế Việc tiếp cận khái niệm ASXH ở phạm vi hẹp cũng là cơ sở hướng tới việc mở rộng nội dung và mục đích của ASXH khi hội tụ đầy đủ điều kiện cấn thiết

Theo khái niệm này, ASXH có một số đặc trưng cơ bản như:

T hứ nhất, về đối tượng bảo vệ, ASXH có đối tượng rất rộng lớn, bao gồm mọi

thành viên xã hội không có sự phân biệt Iheo thành phần kinh tế, giới tính, tôn giáo, chủng tộc, đảng phái Xét cho cùng, bất kể cá nhân nào trong xã hội dù có những lợi thế về kinh tế, vị trí chính trị xã hội., cũng không thể trù liệu nổi cho những biến cố sẽ hoặc sắp xảy ra với mình, do vậy họ cần phải hợp sức bảo vệ lẫn nhau, hướng tới một xã hội nhân ái và an toàn cho mọi thành viên Vì vậy, các giới hạn phân biệt được xoá bỏ đảm bảo bản chất xã hội và khả năng thực hiện ASXH Mặt khác, ASXH là một nội dung thuộc phạm trù quyền con người - quyền được sống trong hoà bình, trật tự, bình đẳng, được thương yêu, đùm bọc, che chắn và báo vệ trước những biến cố rủi ro, bất lợi xảy ra Đây là vấn đề nhân quyền do vậy không đặt ra bất kỳ một tiêu chí phân biệt nào cho mỗi cá nhân với tư cách là thành viên xã hội Vấn đề là ở chỗ mỗi quốc gia thể chế hoá quyền này như thế nào trong pháp luật của mình

Trang 27

Đặc trưng này thể hiện rất rõ trong đối tượng bảo vệ ở các nội dung ASXH

Bằns việc thiết lập hệ thống các “lưới bảo vệ”, ASXH đem đến sự bảo vệ cho tất cả

cộng đồng dân chúng Chẳng hạn, nếu BHXH có đối tượng bảo vệ là những NLĐ

và thậm chí cả thành viên gia đình họ trong một số trường hợp thì ở hệ thống TGXH hay chăm sóc y tế, dịch vụ công đối tượng lại là toàn bộ dân chúng Nhiều quốc gia còn xác định quyền hưởng ASXH không chỉ bó hẹp với những công dân của nước họ mà còn mở rộng đối với cả người mang quốc tịch nước khác, người không quốc tịch Phạm vi đối tượng hưởng không phân biệt, loại trừ nhau ở mỗi bộ phận mà trái lại, còn bổ sung, hỗ trợ nhau nhằm mục đích đem lại

sự bảo vệ toàn diện cho các thành viên Đặc trưng này vừa thể hiện bản chất của ASXH, vừa là nguyên tắc thực hiện, mục tiêu phấn đấu của mỗi quốc gia 1LO cũng đã từng khuyến cáo các quốc gia phải chú trọng đến độ bao phủ của ASXH:

“Điều lý tưởng nhất là tất cả mọi thành viên cộng đồng đều được bảo vệ bởi an sinh x ã hội, bất kỳ cá nhân đó đang ở giai đoạn nào của cuộc đời và điều lý tưởng hơn nữa là phạm vi sự bảo vệ đó trở nên thực sự p h ổ quát (universaỉ) và đồng nhất (uni/orm )” [ 133, tr 14] trên cơ sở đó mới thiết lập hệ thống chế độ bảo vệ theo tiêu

chí phân loại nhóm đối tượng Xu thế chung của ASXH hiện đại là mỗi quốc gia đều cố gắng hết sức để mở rộng phạm vi đối tượng hưởng trong mỗi chế độ nhằm cung cấp khả năng bảo vệ cao nhất cuộc sống của mỗi thành viên

T hứ hai, nội dung của ASXH chính là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành

viên của mình Sự bảo vệ này được thực hiện thông qua các biện pháp công cộng với sự tham gia của nhiều chủ thể như Nhà nước, gia đình, tổ chức, cá nhân,., từ đó

thiết lập hệ thống các chế độ bảo vệ ASXH Xem xét lịch sử phát triển ASXH ở

các quốc gia cho thấy không một quốc gia nào ngay từ đầu đã thiết lập được mạng lưới hảo vệ đáp ứng được hết các yêu cầu đối phó với mọi rủi ro và cũng chưa một quốc gia nào tự cho rằng hệ thống ASXH của mình là hoàn thiện Đâv là một quá trình phát triển, tuỳ thuộc vào sự xuất hiện nhu cầu bảo vệ và khả năng đáp ứng nhu cầu đó mà các quốc gia bổ sung dần từng chế độ, thậm chí trong một chế độ cũng có sự hoàn thiện dần Do vậy cũng là lý do các quốc gia thường tiếp cận khái niệm ASXH theo nghĩa hẹp với những phạm vi nội dung khác nhau Chẳng hạn, trong khi Anh, Canada xác định nội dung cơ bản của ASXH bao gồm chăm sóc y

Trang 28

tế và BHXH thì Đức xác định bao gồm BHXH và các hình thức trợ giúp từ tài chính công [ 134, tr 82-84], Thuỵ Điển xác định bao gồm BHXH, chăm sóc y tế và các dịch vụ xã hội [105, tr 231], Trung Quốc xác định bao gồm năm vấn đề cơ bản là BHXH, TGXH, phúc lợi xã hội, chế độ đối xử đặc hiệt và chế độ tương hỗ

xã hội [39 tr 8] Ở Việt Nam, với những đặc thù riêng của mình ASXH bao gồm các nội dung cơ bản như BHXH, TGXH, BHYT và ƯĐXH Tổ chức Lao động

Quốc tế sử dụng cụm từ “lưới an toàn x ã hội” (Social safety nets) để chỉ hệ thống

các nội dung của ASXH ở các quốc gia mà theo đó ngày càng dày đặc hơn các

“tầng tầng, lớp lớp” chế độ bảo vệ các thành viên xã hội [133, tr 10,11].

T h ứ b a , mục đích của ASXH là nhằm chống lại những rủi ro, biến cố bất lợi

đảm bảo an toàn cho cuộc sống của các thành viên xã hội Trong cuộc sống, con người phải đối mặt với rất nhiều rủi ro, biến cố dẫn đến những biến động theo chiều bất lợi Hậu quả của nó là những túng quẫn về mặt kinh tế, những khó khãn về mặt

xã hội và xuất hiện nhu cầu cần bảo vệ Vì sự đa dạng của rủi ro, biến cố (từ yếu tố khách quan, chủ quan; từ thiên nhiên, kinh tế, xã hội ) và mức độ yêu cầu đảm bảo khác nhau mà mục đích của ASXH lại có phạm vi và mức độ khác nhau, v ề cơ bản, mục đích của ASXH nhằm giúp cho con người thoát, khỏi những khó khăn, túng quẫn về kinh tế, đảm bảo sự tồn tại Cao hơn thế, mục đích của ASXH không chỉ dừng lại ở việc đảm bảo mà còn nhằm ổn định và phát triển cuộc sống Các quốc gia

có điều kiện kinh tế phát triển, nhu cầu bảo vệ của người dân không chỉ dừng lại với các tiêu chí cơ bản đảm bảo ăn, mặc, ở, chữa bệnh mà hơn thế nữa là nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo vệ cả những người giàu có không bị nghèo đi, thúc đẩy

sự thịnh vượng và phát triển kinh tế Vấn đề là ở chỗ các quốc gia xác định mục đích

cụ thể của ASXH như thế nào và thể chế hoá đảm báo thực hiện ra sao Điều này phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện riêng của từng quốc gia, trong từng giai đoạn phát

triển khác nhau Đề cập đến vấn đề này, ILO cũng khẳng định rõ “mục đích của

ASXH là đảm bảo an toàn cuộc sống cho các thành viên xã hội trước những rủi ro, biến cố Đ ể đạt được mục đích này, các quốc gia xây dựng các chương trình hành động với mục tiêu cụ th ể trong từng giai đoạn phát triể n ’ [126, tr 21].

Vì là một phạm trù kinh tế - xã hội lổng hợp, chịu ảnh hưởng, chi phối nhiều bởi các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, phong tục, truyền thống, lịch sử nên

Trang 29

quốc gia ASXH cũng có những đặc điểm riêng khác nhau Vì vậy, khi xem xét đến đến đặc trưng cụ thể của ASXH ở các quốc gia cần nhìn nhận một cách toàn diện với các đặc trưng chung và riêng.

1.2 S ự ĐIỂU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT Đ ố i VỚI AN SINH XÃ HỘI

Xem xét sự ra đời và phát triển của ASXH cho thấy ASXH không chỉ là sự tương trợ, giúp đỡ của mỗi cá nhân, gia đình, họ tộc hay các tổ chức cộng đồng mà còn là trách nhiệm của Nhà nước trước rủi ro, biến cố của các thành viên xã hội Sự

tham gia của Nhà nước vào các hoạt động ASXH ngoài việc thực hiện “trách

nhiệm x ã hội” còn nhằm mục đích đảm bảo sự ổn định xã hội, củng cố địa vị thống

trị của mình Mỗi quốc gia, căn cứ vào điều kiện của mình mà đề ra các chính sách ASXH Từ việc tiếp cận khái niệm chính sách xã hội cho thấy ASXH là một nội

dung cơ bản trong hệ thống các chính sách xã hội “Chính sách ASXH chính là thái

độ, quan điểm, biện pháp mà nhà cầm quyền đ ề ra và tổ chức thực hiện trong thực tiễn đời sống nhằm quản lý, điều tiết và giải quyết các vấn đ ề nội dung của ASXH ”

[60, tr 20, 39; 57, tr 10] Cùng với các chính sách khác như chính sách lao động, việc làm, chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình, chính sách chãm sóc và bảo

vệ sức khoẻ nhân dân, chính sách xoá đói giảm nghèo, chính sách môi trường chính sách ASXH giữ vai trò quan trọng trong hệ thống các chính sách xã bội nhằm mục đích giải quyết, điều tiết và kiểm soát các vấn đề xã hội

Để cho mỗi chính sách xã hội của quốc gia được thực hiện trong thực tiễn cuộc sống, các Nhà nước phải ban hành pháp luật Thông qua pháp luật, các chính sách xã hội nói chung và chính sách ASXH nói riêng mới được thể chế hoá thành các quy định pháp lý có tính bắt buộc thực hiện Nói cách khác, chính sách ASXH

được xác lập về mặt pháp ỉý khi những nội dung của nó được chuyển tải qua “n%ôn

ngữ pháp luật” với những quy định cụ thể về phạm vi đối tương, quyền và nghĩa vụ

chủ thể, tổ chức thực hiện Pháp luật là phương thức quan trọng nhất để thực hiện chính sách ASXH của mỗi nhà nước

Từ việc tiếp cận quan niệm ASXH theo phạm vi rộng, hẹp như đã đề cập ở

Trang 30

trên và những vấn đề chung về Nhà nước và pháp luật, có thể đưa ra khái niệm về pháp luật ASXH Ớ phạm vi rộng, pháp luật ASXH là hệ thống các quy tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh Irong việc bảo vệ cuộc sống của các thành viên xã hội thông qua các biện pháp công cộng nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế, xã hội gây ra bởi những biến cố, rủi ro, bất hạnh nhằm đảm bảo thu nhập, sức khoẻ và các điều kiện sinh sống thiết yếu khác cho các thành viên xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần đảm bảo an toàn, ổn định và phát triển bền vững xã hội.

Như vậy, đối tượng điều chỉnh của pháp luật ASXH rất rộng lớn, bao gồm các quan hệ hình thành trên mọi lĩnh vực xã hội như giải quyết việc làm, chống thất nghiệp, chăm sóc y tế, bảo vệ sức khoẻ nhân dân, BHXH, TGXH, môi trường, dân số với mục đích đảm bảo và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân Cũng

vì vậy, nội dung pháp iuật ASXH theo nghĩa này rất rộng,

Thực tê cho thấy, hầu hết các quốc gia đều lựa chọn cách tiếp cận pháp luật ASXH theo nghĩa hẹp với phạm vi điều chỉnh cụ thể Sự điều chỉnh của pháp luật đối với ASXH ở các quốc gia, thậm chí ở một quốc gia trong những giai đoạn phát triển khác nhau cũng có sự khác nhau nhất định Sự khác nhau này phụ thuộc nhiều vào quan niệm về ASXH và mồ hình ASXH mà họ thiết lập với những điều kiện cụ thể, tập trung vào những vấn đề cơ bản như: (i) nội dung ASXH; (ii) sự can thiệp của Nhà nước và (iii) tài chính thực hiện Đa phần các quốc gia tiếp cận ASXH chú trọng đến yếu tố kinh tế và các quốc gia có nền kinh tế thị trường tự do phát triển thường thiết lập mô hình ASXH với sự đa dạng về nội dung và chủ thể thực hiện Pháp luật ASXH chủ yếu điều chỉnh các quan hệ bảo vệ thu nhập nhằm khuyến khích NLĐ tham gia thị trường lao động và tích luỹ tư nhân Vai trò của nhà nước trong hoạt động ASXH chỉ xác đinh với những giới hạn nhất định và chú trọng phát huy vai trò của tư nhân Một số quốc gia khác, đặc biệt íà các quốc gia

có nền kinh tế thị trường xã hội lại thường chú trọng đến vai trò của Nhà nước đối với ASXH, do vậy thường xác định phạm vi điều chỉnh của pháp luật ASXH với những quan hệ ASXH được đảm bảo từ nguồn tài chính Nhà nước hoặc do Nhà nước tổ chức thực hiện

Mặc dù có sự khác nhau nhất định trong điều chỉnh pháp ỉuật ASXH ở các

Trang 31

quốc gia khác nhau, song về cơ ban hầu hếl các quốc gia đều xác định đối tượng điều chính chứ yếu, cơ bán và không thể thiếu của pháp luật ASXH quốc gia là các quan hệ BHXH, BHYT và TGXH Đây là những nhóm quan hệ xã hội hình thành trong quá trình tổ chức, thực hiện các hình thức bảo vệ, giúp đỡ của cộng đồng,, chú yếu thông qua đại diện chính thức là Nhà nước, bằng các biện pháp công, đối với các thành viên gặp khó khăn, trong những trường hợp cần thiết, để đảm bảo cuộc sống thiết yếu cho họ và đảm bảo an toàn trong đời sống cộng đồng Các quan hệ này có đặc điểm nổi bật là mang tính xã hội sâu sắc, không vì mục tiêu kinh doanh, lợi nhuận Chủ thể thực hiện là cộng đồng xã hội, chủ yếu thông qua đại diện chính thức là Nhà nước Chủ thể được giúp đỡ chính là những thành viên

xã hội khi gặp rủi ro, cần sự giúp đỡ chủ yêu trong các trường hợp thực sự cần thiết như mất, giảm thu nhập, ốm đau, tật bệnh, tuổi già Nội dung của quan hệ là sự trợ giúp, bảo vệ của cộng đồng đối với đối tượng gặp khó khăn và thông thường chỉ dừng lại ở mức cần thiết để đạt sự đảm bảo an toàn về đời sống bằng nguồn lực chủ yếu từ thu nhập chung quốc gia hoặc từ các loại quỹ xã hội do nhà nước

tổ chức, quản lý như quỹ BHXH, quỹ BHYT Ở Việt Nam, quan hệ ƯĐXH giữa nhà nước với những người có cóng trong sự nghiệp cách mạng trong việc ưu tiên, đãi ngộ từ nguồn tài chính công cũng được xác định là nhóm quan hệ ASXH tiêu biểu Điều này xuất phát từ truyền thống, lịch sử dân tộc và thực tiễn đời sống xã hội với một bộ phận lớn dân cư là người có công với nước Sự điều chính của pháp luật đối với các quan hệ này xuất phát từ nhu cầu chung của xã hội nhằm mục đích bảo vệ cuộc sống mọi người dân mà không nhằm mục đích khác như quản lý hành chính, lợi nhuận hay tình cảm Cũng vì vậy cần có sự điều chỉnh bằng những quy định riêng về ASXH chứ không dùng các quy định luật hành chính, thương mại hay dân sự để điều chỉnh

Trên cơ sở khái niệm chung về pháp luật A.SXH, với những đặc điểm riêng quốc gia, khái niệm pháp luật ASXH ở Việt Nam được hiểu theo nghĩa hẹp, là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong việc bảo vệ các thành viên xã hội, trước hết và chủ yếu nhắm đam bảo thu nhập, sức khoẻ và các điều kiện sinh sống thiết yếu khác thông qua các biện pháp như BHXH, BHYT, TGXH, ƯĐXH Từ sư điều chinh của pháp luật đối

Trang 32

với các quan hệ ASXH hình thành nên các bộ phận cơ bản cấu thành pháp luật ASXH Việt Nam, bao gồm: pháp luật về BHXH, pháp luật về BHYT, pháp luật về TGXH và pháp luật về ƯĐXH.

Trong giới hạn nhất định, có thể kê đến một số quan hệ khác cũng thuộc phạm vi điều chính của luật ASXH Việt Nam như quan hệ xoá đói giảm nghèo diễn ra giữa Nhà nước và các đối tượng đói nghèo trong việc trợ giúp cho họ thoát khỏi đói nghèo vì mục tiêu xoá đói giảm nghèo, quan hệ dịch vụ xã hội như dịch

vụ y tế dự phòng, tiêm chủng mở rộng, phòng chống dịch bệnh, phục hồi chức năng, k ế hoạch hoá gia đình giữa nhà nước và cộng đồng được đảm bảo thực hiện bằng tài chính công Các quan hệ này được thiết lập đều vì mục đích chung của ASXH song do vị trí, vai trò ở các thời điểm khác nhau trong đời sống kinh tế

xã hội nên pháp luật có sự điều chỉnh khác nhau Đây không chỉ thuộc đối tượng tác động của luật ASXH mà còn là đối tác động của nhiều ngành, lĩnh vực pháp luật khác M ặt khác, xem xét trong mối tương quan chung với các lĩnh vực pháp luật khác cho thấy các quan hệ này không phải là nhũng quan hệ xã hội cơ bản, điển hình, phổ biến của luật ASXH và vì vậy, Việt Nam cũng như đa số các quốc gia khác thường lồng ghcp điều chỉnh trong các quy định pháp luật về môi trường, giáo dục, V tế, lao động Việc xác định phạm vi điều chỉnh pháp luật ASXH Việt nam với các nhóm quan hệ cơ bản, chủ yếu như trên đảm tính khoa học và phù hợp thông lệ chung quốc tế, đặc điểm riêng quốc gia Trong những giới hạn tương đối, đây là cơ sở để xác định ranh giới nội dung điều chỉnh của luật ASXH trong mối tương quan chung với các ngành, lĩnh vực pháp luật khác

Bên cạnh các quan hệ ASXH với vai trò quan trọng của Nhà nước vẫn tồn tại những quan hệ khác vì mục đích ASXH Đó là những quan hệ diễn ra giữa các tổ chức, cá nhân trong cộng đồng trong hoạt động tương trợ, chia sẻ rủi ro thiết lậD trên cơ sở tình cảm, đạo đức, tập quán, truyền thống, Những quan hệ này thường không thuộc phạm vi điều chỉnh của luật ASXH bởi chú yếu được thiết lập trên cơ

sở tình cảm, tự nguyện, thiếu tính độc lập và ổn định Trong một số trường hợp nhất định, sự điều chỉnh của pháp luật ASXH chỉ dừng lại ở giới hạn nhất định chẳng hạn như thừa nhận, cho phép các tổ chức hoạt động trong phạm vi không vi phạm pháp luật hoặc định hướng, khuyên khích các hoạt động trợ giúp đúng mục đích, đúng đối tượng mà thôi Do vậy, có thế' nói luật ASXH không điều chính tất

Trang 33

cả các quan hệ xã hội vì mục đích ASXH.

Khi xem xét đến sự điều chính của pháp luật đối với quan hệ ASXH cũng cần lưu ý tới nhóm quan hệ bảo hiểm giữa các tổ chức bảo hiểm thương mại, các quỹ bảo hiểm tư nhân với người tham gia Quan hệ bảo hiểm này cũng hoạt động dựa trên cơ chế chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia nhưng lại không trực tiếp nhằm mục đích ASXH mà vì mục đích lợi nhuận Chủ thể nhận báo hiểm là chú thể kinh doanh, tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở nhu cầu tham gia, xác suất rủi ro và khả năng tài chính Người tham gia báo hiểm là người có khả năng kinh tế chi trả cho những nhu cầu bảo hiểm trên cơ sở sự tự nguyện Chính vì vậy, quan hệ này thuộc phạm trù kinh doanh mà không phải là quan hệ ASXH, không íhuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật ASXH

Với xuất phát điểm là những quy định về hoạt động tương trợ cộng đồng, cho đến nay, các quy định về ASXH Việt Nam đã hình thành với những nội dung pháp luật cơ bản về BHXH, BHYT, TGXH và ngày càng giữ vai trò quan trọng trong đời sống xã hội Dưới góc độ nghiên cứu khoa học luật, xung quanh vấn đề vị trí của pháp luật ASXH trong hệ thống pháp luật quốc gia cũng còn nhiều quan điểm khác nhau Từ cách tiếp cận truyền thống với các tiêu chí về đối tượng điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh có quan điểm cho rằng pháp luật ASXH là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam [91, tr 23; 74, tr 2] Từ quan điểm phân chia các ngành luật thành hai ngành chính là luật công và luật tư có thể xếp luật ASXH thuộc hệ thống luật công bởi mang nặng yếu tố, vai trò của nhà nước

Từ góc độ tiếp cận chính sách xã hội và pháp luật về các vấn đề xã hội, có quan điểm cho rằng pháp luật ASXH là một nội dung trong hệ thống pháp ỉuật về các vấn đề xã hội, thậm chí ở phạm vi hẹp, pháp luật về các vấn đề xã hội chính là pháp luật ASXH với các bộ phận cấu thành chủ yếu là pháp luật về BHXH, BHYT, TGXH, ƯĐXH [60, tr 19]

Tuy nhiên, có thể thống nhất đây chỉ là những quan điểm, góc độ tiếp cận khác nhau khi nghiên cứu và điều chỉnh pháp ỉuật Sự điều chỉnh của pháp luật đối với quan hệ ASXH xuất phát từ nhu cầu đòi hỏi khách quan của thực tiễn cuộc sống, từ đó hình thành nên lĩnh vực pháp iuật ASXH Mặt khác ASXH chính là quyền cơ bản của con người trong xã hội, do vậy đòi hỏi sự thê chế thực hiện

Trang 34

quyén này trong pháp luật quốc gia Vấn đề quan trọng là ở chỗ pháp luật điều chinh những quan hệ ASXH nào, mức độ và phạm vi điều chỉnh đến đâu mà thôi.

Dù tiếp cận dưới góc độ nào, pháp luật ASXH vẫn là một trong những bộ phận hợp thành hệ thống pháp luật chung quốc gia, có mối quan hệ mật thiết với các bộ phận pháp luật khác Đặc biệt, đặt trong mối quan hệ giữa luật ASXH với luật hành chính, luật lao động cho thấy những điểm tương đồng, gần gũi và bổ sung, hỗ trợ cho nhau trong điều chinh pháp luật

Luật ASXH có quan hệ khá chặt chẽ với luật hành chính, thậm chí một số nội dung có liên quan đến chức năng quản lý nhà nước về ASXH được thể hiện như là một nội dung của luật hành chính Hơn nữa, việc sử dụng phương pháp mệnh lệnh, phưomg pháp đặc thù của luật hành chính trong điều chinh luật ASXH cũng thể hiện sự ảnh hưởng nhất định của ngành luật này Điều này xuất phát từ hai lv do cơ bản Một là, do đối tượng điều chỉnh của luật hành chính có phạm vi rộng, bao gồm các quan hệ phát sinh trong hoạt động quản lý nhà nước ở hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội, và đương nhiên bao gồm cả quản lý nhà nước về ASXH Tiếp cận ở khía cạnh chức năng nhà nước thì việc quy định và thực hiện ASXH là thực hiện chức năng xã hội của nhà nước, thể hiện trách nhiệm của nhà nước đối với cộng đồng dân cư Do vậy, có thể nói đây là “lý do khách quan” để luật ASXH luôn có mảng giao thoa và chịu ảnh hưởng từ luật hành chính [96, tr 24] Hai là, xuất phát từ thực tế một thời gian dài trước đây các hoạt động ASXH chủ yếu do luật hành chính quy định thực hiện Việc tiếp cận như một nội dung có tính độc lập trong hệ thống pháp luật quốc gia cả trên phương diện quy định thực hiện và nghiên cứu khoa học còn chưa cụ thể, rõ ràng Đây thuộc về nguyên nhân “có tính chủ quan” của một lĩnh vực pháp luật mới mẻ này

Như vậy, trong một chừng mức nhất định, với những giới hạn cần thiết, một

số nội dung ASXH vẫn ít nhiều thuộc đối tượng điều chỉnh của luật hành chính Chủ yếu là các nội dung liên quan đến chức năng quán lý mọi mặt đời sống xã hội của Nhà nước Đương nhiên, các mối quan hệ cụ thể trons lĩnh vưc ASXH thuộc đối lượng điều chỉnh của luật ASXH

Giữa luật ASXH và luật lao động có mối quan hệ mật thiết, gắn bó chặt chẽ với nhau Đối tượng điều chỉnh chủ yếu của luật lao động là các quan hệ lao động,

Trang 35

song thực tế, phạm vi điều chỉnh của luật lao động cũng có sự khác nhau nhất định Ở các nước phát triển, quan hệ xã hội được chú trọng thường có sự tách biệt

rõ ràng về nội dung điều chỉnh giữa luật ASXH và luật lao động Theo đó, quan hệ BHXH, quan hệ phát sinh từ quan hệ lao động trở thành đối tượng điều chỉnh cơ bản của luật ASXH Tuy nhiên cũng rất nhiều quốc gia, đặc biệt là những quốc gia

có nền kinh tế chậm phát triển, quan hệ BHXH thường do luật lao động điều chỉnh Đây cũng là một thực tế tồn tại ở V iệt Nam trong một thời gian dài với việc quy định BHXH là một chế định cua luật lao động (Bộ luật Lao động năm 1994, Điều 140-152) Điều này được luận giải bởi mối quan hệ giữa đối tượng điều chính của luật luật lao động và luật ASXH Quan hệ BHXH được xem là một trong những quan hệ liên quan trực tiếp tới quan hệ lao động, phát sinh từ quan hệ lao động.Dưới góc độ khoa học luật và thực tiễn phát triển của các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ cuộc sống các thành viên xã hội ở Việt Nam cho thấy, việc tách nội dung BHXH thành nội dung cơ bản, nòng cốt của luật ASXH là tất yếu Điều này một mặt phản ánh sự phát triển của các quy phạm luật ASXH, phù hợp với thực tiễn và xu thế phát triển chung của pháp luật ASXH trên thế giới, mặt khác cũng thể hiện mối quan hệ mật thiết, khăng khít giữa luật lao động và luật ASXH Đa phần các trường hợp rủi ro được bảo vệ trong ASXH gắn với quan hệ lao đông Căn cứ xác định mức đóng, mức hưởng, thời gian hưởng trợ cấp BHXH thường được xác định trên cơ sở nội dung quan hệ lao động với các mức tiền lương, thời gian tham gia quan hệ lao động Từ mối quan hệ đặc biệt giữa luật lao động và luật ASXH khiến hầu hết các quốc gia đều xác định sự phát triển của pháp luật ASXH có ảnh hưởng nhiều từ luật lao động, sự ổn định và phát triển của luật lao động tạo tiền đề, cơ sở cho sự phát triển của luật ASXH

Pháp luật ASXH với mục đích nhân văn, gắn với những giá trị xã hội có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội, chính trị mỗi quốc gia v ề tổng quan, vai trò pháp luật ASXH thể hiện ở một số nội dung sau:

T hứ nhất, pháp luật ASXH là sự cụ thể hoá rõ nét quyền con người trong xã

hội Từ việc ghi nhận quyền hưởng ASXH trong các văn bản pháp ỉý quốc tế, các quốc gia đã quy định quyền hưởng ASXH trong các văn bản pháp lý có giá trị cao như H iến pháp, Bộ luật Thông qua pháp luật ASXH với các quy định về nguyên

Trang 36

tấc, chế độ trợ cấp, nguồn tài chính thực hiện, giải quyết khiếu nại tranh chấp quyền hương ASXH của con người mới được cụ thể hoá và đảm bảo thực hiện Đồng thời đây cũng là cơ sở pháp lý quan trọng để người dân thực hiện quyền hưởng ASXH của mình.

Thứ hai, pháp luật ASXH có vai trò quan trọng trong việc thể chế hoá chính

sách ASXH quốc gia Trong từng giai đoạn, từng thời kỳ phát triển khác nhau của đất nước, Đáng và Nhà nước ta đề ra chính sách phát triển ASXH và pháp luật giữ trọng trách chuyển tải thành những quy định về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm cụ thể của chủ thể Thông qua pháp luật ASXH, các chính sách ASXH được xác lập

về mặt pháp lý đảm bảo thực hiện Từ thực tiễn thực hiện, pháp luật cũng góp phần

bổ sung, hoàn thiện các chủ trương, chính sách ASXH cho phù hợp thực tiễn nhằm đạt được mục tiêu đề ra

Thứ ba, pháp luật ASXH là công cụ góp phần thực hiện công bằng xã hội, ổn

định xã hội Lý luận và thực tiễn đều cho thấy kinh tế thị trường càng phát triển thì

xu hướng phân hoá giàu nghèo, phân lầng xã hội và bất bình đẳng càng gia tầng,

“hậu quả của khủng hoảng kinh tế, biến động bất lợi của kinh t ế thị trường thì người nghèo, người yếu th ế là những người gánh chịu trước; thành tựii của tiến bộ khoa học kỹ thuật, tăng trưởng kinh t ế thì người nghèo, đối tượng yếu th ế là người hưởng thụ sau” [16,tr.25] Trong điều kiện đó, pháp luật ASXH thực hiện chức

năng điều tiết của cải, phân phối lại thu nhập xã hội, giảm khoảng cách giàu nghèo, bất bình đẳng giữa các bộ phận dân cư Thông qua những chế độ trợ cấp ASXH từ thu nhập chung quốc gia hoặc từ sự đóng góp trên cơ sở tương trợ cộng đồng, pháp luật ASXH tác động trực tiếp đến đời sống bộ phận cư dân “yếu th ể ”, đảm hảo công bằng trong hưởng thụ lợi ích xã hội đem lại từ sự phát triển

ớ khía cạnh khác, pháp luật ASXH còn có vai trò như một chiếc “van an

toàn ' cho xã hội, góp phần giảm thiểu nhữne bất ổn xã hội Bởi lẽ, khi nhu cầu

thiết yếu của con người không được đảm bảo rất dễ dẫn đến nhân cách và các giá trị đạo đức cũng không được đảm bảo xã hội sẽ trở thành bất ổn, thiếu an toàn Với những “lưới đỡ” của mình, pháp luật ASXH góp phần quan Irọng vào việc điều hoà mâu thuẫn, duy trì ổn định xã hội, trong đó có cả ổn định chính trị

Trang 37

T h ứ tư, pháp luật ASXH có vai trò qua trọng trong việc đảm bảo sự phát triển

bền vững của xã hội, quốc gia, cộng đồng, gia đình và các cá nhân Cho đến nay, hầu hết các quốc gia đều nhận thức được phát triển là một quá trình, trong đó các yếu tố kinh tế và xã hội luôn bổ sung cho nhau Không thể có sự phát triển bền vững và tiến bộ khi còn tồn tại sự mất công bằng xã hội sâu sắc, khoảng cách giàu nghèo còn xa và cuộc sống của người dân còn nghèo đói, bất ổn Sự phát triển bền vững của quốc gia được xây dựng trên cơ sở phát triển bền vững của từng cá nhân, gia đình và cộng đồng Bằng hệ thống các chế độ trợ cấp, pháp luật trang bị cho từng cá nhân, từng gia đình các cơ chế bảo vệ nhằm vượt qua hoàn cảnh, vươn lên

và phát triển Không chỉ dìmg lại ở những chế độ trợ cấp trước mắt, pháp luật ASXH còn hướng tới những cơ hội phát triển, hạn chế đến mức tối đa khả năng quay lại nghèo đói, quẩn quanh với những rủi ro liên tiếp Như vậy, pháp luật ASXH giải quyết tận gốc rễ của đói nghèo, bất ổn và luôn song hành cùng sự phát trình phát triển của mỗi cá nhân, là công cụ pháp lý quan trọng đảm bảo cho sự phát triển xã hội theo hướng bền vững

T h ứ năm, pháp luật ASXH không chỉ có vai trò quan trọng trona; phạm vi nội

bộ quốc gia mà còn có ý nghĩa quốc tế Các tiêu chí đánh giá độ văn minh, tiến bộ của quốc gia không thuần tuý ở sự phát triển kinh tế mà còn phụ thuộc vào việc quốc gia đó đối xử với công dân của mình th ế nào Pháp luật ASXH là sự phản ánh

rõ nét thái độ của Nhà nước đối với công dân của mình, thậm chí, nhiều khi còn là những lợi thế của quốc gia trên thị trường cạnh tranh Điều này lý giải cho thực tế gần đây, một số quốc gia như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha sau khi gia nhập liên minh Châu Âu đã cải cách chế độ ASXH, tăng chi tiêu trong lĩnh vực xã hội lên gấp đôi nhằm mục đích tạo uy tín, cạnh tranh [rên thị trường Châu Âu [26, tr 109] Mặt khác, với những giá trị nhân văn của mình, pháp luật ASXH còn có vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện những giá trị nhân bản của con người vì một thế giới chung hoà bình, ổn định và phát triển Pháp luật ASXH không còn bó hẹp trong phạm vi quốc gia m à còn vượt qua những rào cản địa lý, chính trị để nhận được sự quan tâm cúa toàn nhân loại

Thông qua sự vận hành của hệ thống ASXH thường kéo theo sự tích tụ vốn

Trang 38

đặc biệt thông qua cơ chế đóng góp của BHXH Đây là yếu tố quan trọng của tiết kiệm nội bộ, mở rộng đầu tư Ớ m ột số nưức phát triển, íhu nhập được kiểm soát, ASXH cũng được coi như hệ thống tiết kiệm bắt buộc với các nghĩa vụ đóng góp tài chính mà người dân không thể né tránh Với các quốc gia có dân số trẻ, chưa phái chi trả nhiều, mức đóng góp cao thì quỹ trợ cấp được tích tụ vốn lớn tạo điều kiện cho đầu tư, giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước.

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, vị trí, vai trò của pháp luật ASXH lại càng trở nên quan trọng hơn Cùng với sự phát triển kinh tế, mỗi quốc gia lại phải đối mặt với những yếu tố tác động của nền kinh tế thị trường khiến các vấn đề xã hội càng trở nên phức tạp hơn Một yêu cầu của phát triển bền vững là tăng trưởng kinh tế gắn liền với việc giải quyết tốt các vấn đề xã hội, Vì vậy, các vấn đề xã hội ngày càng thu hút sự quan tâm của mỗi quốc gia trong chiến lược phát triển bền vững và pháp luật ASXH ngày càng giữ vai trò, vị trí quan trọng hơn trong hệ thống pháp luật quốc gia và đời sống xã hội nói chung Rất nhiều quốc gia trên thế giới đã nhận thức được được điều này và chú trọng phát triển pháp luật ASXH, họ thường ban hành những văn bản pháp lý có giá trị cao như Bộ luật ASXH, Bộ luật

xã hội và thiết lập Bộ chuyên trách như Bộ ASXH, Bộ phúc lợi xã hội, Toà chuyên trách như Toà xã hội đám bảo thực hiện như ở Anh, Đức, Thuỵ Điển, Singapore, Thái Lan [133, tr 90] Hơn thế, vị trí ngày càng quan trọng của pháp luật ASXH không chỉ giới hạn ở phạm vi quốc gia m à còn tha hút sự quan tâm của toàn thế giới Trong điều kiện hội nhập và phát triển, vấn đề đảm bảo nhân quyền và đặc biệt là quyền hưởng ASXH không còn là vấn đề của riêng quốc gia nào mà còn là yêu cầu chung của sự phát triển bền vững, tiến bộ Đây là xu hướng phát triển chung của pháp luật ASXH và cũng là cơ sở luận giải cho sự phát triển cũng như vị trí của pháp ỉuật ASXH Việt Nam trong tương lai

1.2.2 Các bộ phận cấu thành khung pháp luật an sinh xà hội.

Trên phương diện lý luận, khái niệm khung pháp luật được tiếp cận với nhiều góc độ khác nhau và được sử dụng ở nhiều cấp độ khác nhau Mặc dù chưa có một khái niệm ĩhống nhất về khung pháp luật, song, về cơ bản có thể hiểu khung pháp luật được dùng để chỉ một trật tự pháp luật tương ứng với một trật tự kinh tế xã hội trong những giai đoạn phát triển kinh tế, xã hội [56, tr 16] Theo nghĩa hẹp tương

Trang 39

ứng với từng lĩnh vực pháp luật cụ thế có những khung pháp luật tương ứng chẳng hạn như khung pháp luật hình sự, khung pháp luật dân sự, khung pháp luật kinh tế Cũng từ cách tiếp cận nàv chúng ta có khái niệm khung pháp luật ASXH.

Đối với luật ASXH, một lĩnh vực pháp luật tương đối mới mẻ và non trẻ thì quan niệm về khung pháp luật ASXH cũng như xác định cấu trúc nội dung là những tiếp cận ban đầu Theo nghĩa rộng, khung pháp luật ASXH là khái niệm tổng thể dùng

để chỉ một trật tự pháp luật tương ứng với một trật tự kinh tế xã hội, bao gồm những nguyên tắc và định hướng cơ bản được thể chế hoá và tổng thể các quy định trực tiếp điều chỉnh các quan hệ ASXH Theo đó, nội hàm của khái niệm bao gồm

cả những nguyên tắc pháp lý và hệ thống pháp luật thực định điều chỉnh quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của luật ASXH

Từ góc độ hẹp, khung pháp luật ASXH chính là hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ ASXH Hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ ASXH bao gồm hai nội dung là hệ thống cấu trúc nội dung của pháp luật ASXH và hệ thống văn bản pháp luật ASXH hay còn gọi là cấu trúc hình thức của pháp luật ASXH Cấu trúc hình thức pháp luật chính là hệ thống văn bán pháp luật điều chỉnh hay còn gọi

là nguôn luật bao gôm những đạo luật, pháp lệnh, thông tư có mối quan hệ mật thiết với nhau và được sắp xếp theo một trật tự nhất định, mang tính thứ bậc [77, tr 50] Hệ thống vãn bản pháp luật ASXH cũng chính là hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh các quan hệ ASXH hình thành với các nhóm nội dung cụ thể

“Khi nói tới cấu trúc khung pháp luật thực chất là đ ề cập tới các bộ phận cấu thành và mối liên hệ giữa các bộ phận ấy” [56, tr 23] do vậy, hệ thốne cấu trúc

nội dung pháp luật ASXH với các bộ phận cấu thành pháp luật và mối quan hệ giữa chúng được coi là cốt lõi của khung pháp luật ASXH Và vì vậy, luận án lựa chọn tiếp cận khái niệm khung pháp luật ASXH theo nghĩa hẹp và tập trung chủ yếu nghiên cứu về các bộ phận cấu thành khung pháp ỉuật ASXH

Các nội dung cơ bản hav còn gọi là các bộ phận cấu Ihành cơ bản của khung pháp luật ASXH được thiết lập trên cơ sở các mô hình ASXH phù hợp với từng quốc gia Mặc dù có rất nhiều mổ hình ASXH tồn tại trên thế giới nhưng cho đến nay chúng ta vẫn thừa nhận chưa có một mô hình chuẩn nào áp dụng chung cho các quốc gia, cũng như chưa có một mô hình nào đươc coi là tiến bộ vượt trội [35,

Trang 40

của ASXH và (iii) tổ chức tài chính thực hiện ASXH Chẳng hạn, ở Châu Âu tồn tại 3 m ô hình ASXH tiêu biểu:

(i) Mô hình tự do của các nước Ảnglo-Săcxon với những giới hạn về vai trò của Nhà nước Nhà nước chỉ can thiệp khi thị trường và bản thân đối tượng khống

tự bảo vệ được, do vậy nội dung ASXH không chỉ bao gồm các chế độ bảo vệ mang tính phổ quát ở mức tối thiểu của nhà nước mà còn mở rộng đến các cơ chế bảo vệ tư nhân, thậm chí có sự tham gia của các thiết chế thị trường như ngân hàng, bảo hiểm thương mại

(ii) Mô hình dân chủ - xã hội của các nước Bắc Âu lại chú trọng đến vai trò của Nhà nước với nội dung ASXH được thiết lập chủ yếu là các chế độ BHXH trên

cơ sở tài chính đóng góp và các chê độ bảo vệ từ nguồn tài chính công

(iii) Mô hình phường hội của các nước Tây Âu với việc tổ chức thực hiện ASXH theo ngành nghề, địa phương

Cụ thể hoá ba mô hình này, các quốc gia Châu Âu thiết lập hệ thống pháp luật ASXH có những dấu ấn riêng của quốc gia mình Chẳng hạn Thuỵ Điển, một quốc gia thiết lập hệ thống pháp luật ASXH theo mô hình dân chủ lại định hướng xây dựng mô hình nhà nước phúc lợi với ba hợp phần quan trọng là hệ thống giáo dục công, hệ thống chăm sóc sức khoẻ công và hệ thống BHXH Đức, Hà Lan,

Ý vốn trung thành với học thuyết của Bismark lại thiết ỉập mô hình ASXH với hai nội dung chính là BHXH và TGXH

Mỹ và Canada ỉà hai quốc gia tiêu biểu cho châu Mỹ với việc thiết lập hệ thống ASXH theo mô hình tự do dựa trên học 'thuyết Lord Beveridge Theo đó, hệ thống ASXH phải đảm bảo yêu cầu bao phủ toàn diện, công bằng trong đóng góp hưởng thụ và quản lý tập trung, thống nhất Để đảm bảo yêu cầu này, bên cạnh các chế độ bảo vệ mang tính bắt buộc, mô hình ASXH mà các quốc gia này xây dựng còn chú trọng đến các cơ chế bảo vệ tư nhân, mang tính tự nguyện với các nội dung về bảo hiểm nhân thọ, BHYT tự nguyện, bảo hiểm bổ sung thu n h ập

Hiện nay, trước những khó khăn về xã hội, biến động kinh tế và xu hướng toàn cầu hoá, hệ thống pháp ỉuật ASXH các quốc gia Châu Âu đang tỏ ra bất ổn,

Ngày đăng: 24/01/2021, 22:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2001), Chiến lược phát triển kinh tê - xã hội 2001- 2010, N xbC TQ G Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển kinh tê - xã hội 2001- 2010
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Nhà XB: N xbC TQ G Hà Nội
Năm: 2001
14. Bộ K ế hoạch và Đầu tư (2005), “K ế h o ạ c h phát triển kinh t ế - x ã hội 5 năm 2006 - 2 0 1 0 ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 2005
15. Bộ LĐTB-XH (1995), Đ ề tài “Luận cứ khoa học cho việc đổi mới chính sách bảo đảm x ã hội trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa Việt N a m ”. Đề tài khoa học cấp Nhà nước, mã số KX.04-05 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận cứ khoa học cho việc đổi mới chính sách bảo đảm xã hội trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Bộ LĐTB-XH
Năm: 1995
16. Bộ LĐTB-XH (2005), Tổng hợp ý kiến đóng góp dự thảo xây dựng Luật BHXH ngày 8/4/2005 của D ự án “H ỗ trợ xây dựng luật Bảo hiểm x ã hội Việt N a m ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: D ự án “H ỗ trợ xây dựng luật Bảo hiểm x ã hội Việt N a m
Tác giả: Bộ LĐTB-XH
Năm: 2005
17. Bộ LĐTB-XH (2006), Đ ề án “Phát triển bền vững lĩnh vực lao động - thương binh và x ã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án “Phát triển bền vững lĩnh vực lao động - thương binh và xã hội
Tác giả: Bộ LĐTB-XH
Năm: 2006
18. Bộ LĐTB-XH, “Thuật ngữ Lao động - Thương binh xã hội ”, Nxb LĐ- XH, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuật ngữ Lao động - Thương binh xã hội
Tác giả: Bộ LĐTB-XH
Nhà XB: Nxb LĐ- XH
Năm: 1999
20. Bộ LĐTB-XH, Vụ chính sách lao động việc làm (1997), D ự án “Mô hình chính sách đ ể thực hiện bào hiểm thất nghiệp Ở Việt N a m ”.2 1. Bộ LĐTB-XH (1/2006), Báo cáo thực trạng người tàn tật Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: D ự án “Mô hìnhchính sách đ ể thực hiện bào hiểm thất nghiệp Ở Việt N a m ”."2" 1. Bộ LĐTB-XH (1/2006)
Tác giả: Bộ LĐTB-XH, Vụ chính sách lao động việc làm
Năm: 1997
22. Bộ LĐTB-XH (2006), Đ ề tài nghiên cứu khoa học “Phát triển hệ thốnq An sinh x ã hội Việt Nam phù hợp với nền kinh t ế thị trường định hướng x ã hội chủ nghĩa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề tài nghiên cứu khoa học “Phát triển hệ thống An sinh xã hội Việt Nam phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Tác giả: Bộ LĐTB-XH
Năm: 2006
23. Bộ LĐTB-XH (2006), Văn kiện chương trình mục tiêu quốc gia giám nghèo 2006 - 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện chương trình mục tiêu quốc gia giám nghèo 2006 - 2010
Tác giả: Bộ LĐTB-XH
Năm: 2006
25. Bộ Y tế (2007), “D ự thảo Luật Báo hiểm y tế ” (tháng 7/2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “D ự thảo Luật Báo hiểm y tế ”
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2007
26. Bruno Palier Louis - Charles Viossa (2003), “Chính sách x ã hội và quá trình toàn cầu hoú ” Diễn đàn kinh t ế tài chính Việt - Pháp, Nxb CTQG Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách x ã hội và quá trình toàn cầu hoú
Tác giả: Bruno Palier, Louis - Charles Viossa
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2003
28. Ngàn Chi (2006), “Quản lý quỹ ốm đau, Ihai sản”, Tạp chí Bảo hiểm x ã hội, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý quỹ ốm đau, Ihai sản
Tác giả: Ngàn Chi
Nhà XB: Tạp chí Bảo hiểm x ã hội
Năm: 2006
29. Ngô Huy Cương (2006), “Góp phần bàn về cải cách pháp luật ở Việt Nam hiện n a y ”, Nxb Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Góp phần bàn về cải cách pháp luật ở Việt Namhiện n a y ”
Tác giả: Ngô Huy Cương
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2006
30. Vũ Cương (2002), “Chính phủ với vai trò phân phối lại thu nhập và ổn định kinh tế vĩ mô” , Giáo trình Kinh t ế và tài chính công, (chương trình sau đại học về kinh tế, Khoa Sau Đại học - Trường Đại học Kinh tế quốc dân), Nxb Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ với vai trò phân phối lại thu nhập và ổn định kinh tế vĩ mô
Tác giả: Vũ Cương
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2002
32. Cục Thương binh, liệt sỹ và người có công, Bộ LĐTB-XH, Báo cáo Hội nghị tổng kết phong trào “Đền ơn đáp nghĩa, biểu dươnq tập th ể và người có công toàn q u ố c ” tại TP. Hồ Chí Minh, ngày 10/7/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Hội nghịtổng kết phong trào “Đền ơn đáp nghĩa, biểu dươnq tập th ể và người có công toàn q u ố c ”
33. Cục Thương binh, liệt sỹ và người có công, Bộ LĐTB-XH, Tài liệu phục vụ kỷ niệm 60 năm ngày Thương binh - Liệt s ĩ 271712007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu phục vụ kỷ niệm 60 năm ngày Thương binh - Liệt s ĩ
Tác giả: Cục Thương binh, liệt sỹ và người có công, Bộ LĐTB-XH
Năm: 2007
34. Lê Vinh Danh (2001), “Chính sách công của Hoa Kỳ 1935-2001 ”, Nxb Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách công của Hoa Kỳ 1935-2001
Tác giả: Lê Vinh Danh
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2001
35. Diễn đàn kinh tế Việt - Pháp (2004), Báo cáo tổng kết khóa họp lần thứ 4 “Vì một sự tăng trường và một xã hội công bằng”, Nxb CTQG Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết khóa họp lần thứ 4 “Vìmột sự tăng trường và một xã hội công bằng”
Tác giả: Diễn đàn kinh tế Việt - Pháp
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2004
36. Lê Bạch Dương, Đặng Nguyên Anh, Khuất Thu Hồng, Lê Hoài Trung và Robert Leroy Bach (2005), “Bảo trợ x ã hội cho nhữnq nhóm thiệt thòi ở V iệt Nam ”, Nxb Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo trợ x ã hội cho nhữnq nhóm thiệt thòi ở V iệt Nam
Tác giả: Lê Bạch Dương, Đặng Nguyên Anh, Khuất Thu Hồng, Lê Hoài Trung, Robert Leroy Bach
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2005
38. Đàm Hữu Đắc (2002), ‘‘Xã hội hoá các hoạt động công tác xã hội”, Tạp chí Lao động x ã hội, (số chuyên đề III) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chíLao động x ã hội
Tác giả: Đàm Hữu Đắc
Năm: 2002

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w