1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chức năng, nhiệm vụ của kiểm sát viên trong tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự một số vấn đề lý luận và thực tiễn

63 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 7,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tiễn những năm gần đây cho thấy hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Kiểm sát viên trong tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự còn có nhiều hạn chế, làm ảnh hưởng đến chất

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

HÀ M INH HẢI

CHỨC NÃNG, NHIỆM vụ CỦA KIỂM SÁT VIÊN* m m

TRONG TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA s ơ THẨM HỈNH s ự

MỘT SÔ VẤN ĐÊ LÝ LUÂN VÀ THƯC TIỄN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS NGUYỄN đ ứ c m a i

T H Ư VI Ệ N

ĩ RƯƠNG ĐAI H O C [ Ú Â ĩ HA N ổ l

P H O , i 0 -;c

HÀ NỘI - 2007

Trang 3

Chương 1 Khái quát về tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình

sự và quy định của BLTTHS hiện hành về chức năng, nhiệm vụ của Kiểm sát viên trong tranh tụng 5 tại phiên toà sơ thẩm hình sự

1.1 Khái quát về tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự 51.2 Quy định của BLTTHS hiện hành về chức năng, nhiệm vụ

của Kiểm sát viên trong tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm 18hình sự

Chương 2 Thực trạng và một sô giải pháp nhằm náng cao chất

lượng, hiệu quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Kiểm sát viên trong tranh tụng tại phiên toà sơ 23

thẩm hình sự

2.1 Thưc trang thưc hiên chức năng, nhiêm vu của Kiểm sát

viên trong tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự 232.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả

thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Kiểm sát viên trong

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Tranh tụng tại phiên toà là một nội dung quan trọng trong quá trình xét

xử vụ án hình sự tại toà án Thông qua tranh tụng tại phiên toà các chứng cứ, các tình tiết về vụ án được kiểm tra, xác minh thông qua việc xét hỏi và tranh luận giữa các bên giúp cho Hội đồng xét xử xác định đúng đắn, toàn diện sự thật khách quan của vụ án, làm cơ sở để ra bản án hoặc quyết định bảo đảm đúng pháp luật, tránh oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm và người phạm tội Đối với những người tham gia tố tụng, tranh tụng tại phiên toà giúp cho họ có thể bảo

vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích họp pháp của mình hoặc của người mà mình đại diện hoặc bảo vệ

Chính vì ý nghĩa rất quan trọng của tranh tụng tại phiên toà nên Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/1/2002 “Về một số nhiệm vụ trong tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới” và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” của Bộ Chính trị đã khẳng định sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tranh tụng và mở rộng tranh tụng dân chủ tại phiên toà Với vai trò kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong

tố tụng hình sự, Kiểm sát viên cũng là một chủ thể chính của bên buộc tội tham gia vào quá trình tranh tụng tại phiên toà Do vậy, để nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên toà trước hết đòi hỏi phải nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Kiểm sát viên với tư cách là chủ thể của một bên tham gia tranh tụng

Thực tiễn những năm gần đây cho thấy hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Kiểm sát viên trong tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự còn

có nhiều hạn chế, làm ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả của hoạt động tố tụng hình sự nói chung và hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự nói riêng Vì vậy, việc nghiên cứu làm sáng tỏ hoại động thực hiện chức năng,

Trang 5

nhiệm vụ của Kiểm sát viên trong tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự nhằm phát hiện những hạn chế, bất cập và vướng mắc để từ đó đưa ra các giải pháp hữu hiệu nhằm khắc phục, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của Kiểm sát viên trong tố tụng hình sự nói chung và trong tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự nói riêng, đáp ứng kịp thời yêu cầu cải cách tư pháp

ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

Những nội dung nêu trên chính là lý do để tác giả lựa chọn vấn đề

“Chức năng, nhiệm vụ của K iểm sát viên trong tranh tụ n g tại p h iên toà sơ thẩm hình sự - M ộ t sô vần đ ề lý luận và thực tiễn” làm đề tài Luận văn thạc

sỹ Luật học của mình với mong muốn được góp phần nhỏ bé làm phong phú thêm về mặt lý luận cho khoa học luật tố tụng hình sự và hoàn thiện thêm các quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành đồng thời góp phần đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng tranh tụng và mở rộng tranh tụng tại phiên toà do cải cách tư pháp đặt ra

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Từ trước đến nay trong khoa học pháp lý đã có một số công trình nghiên cứu về các vấn đề có liên quan đến đề tài như: “Một số vấn đề lý luận

và thực tiễn về quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự” (1997), Luận văn thạc sỹ luật học của Nguyễn Xuân Thanh; “Nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên trong giai đoạn xét xử sơ thẩm hình sự” (1998), Luận văn thạc sỹ luật học của Nguyễn Văn Oanh; “Hoạt động của Viện kiểm sát trong việc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo - M ột số vấn đề lý luận và thực tiễn” (2001), Luận văn thạc sỹ luật học của Nguyễn Tiến Thắng;

“Kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự - Những vấn đề lý luận và

thực tiễn” (2004), Luận văn thạc sỹ luật học của Nguyễn Thu H u ệ;

Ngoài ra, còn có nhiều bài viết xung quanh vấn đề này của các tác giả khác đăng trên các tạp chí chuyên ngành Tuy nhiên, phần lớn những công trình nói trên nghiên cứu vấn đề trước khi Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 được ban hành và chưa đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện về

Trang 6

chức năng, nhiệm vụ của Kiểm sát viên trong tranh lụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự Trong quá trình thực hiện đề tài của mình tác giả tham khảo các công trình nói trên nhằm làm phong phú thêm cho nội dung của đề tài nghiên cứu.

3 Mục đíeh và phạm vi nghiên cứu của đề tài

* M ục đích nghiên c ứ u : Tác giả nghiên cứu đề tài với mục đích làm

sáng tỏ về mặt lý luận chức năng, nhiệm vụ của Kiểm sát viên trong tranh tụng tại phiên toà, và các quy định của BLTTHS năm 2003 về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên trong tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự; phân tích những hạn chế, bất cập, vướng mắc trong thực tiễn thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Kiểm sát viên tại phiên toà sơ thẩm hình sự và nguyên nhân Trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp nhằm khắc phục những vướng mắc và hạn chế đó nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Kiểm sát viên trong tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự

* P hạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu đề tài được giới hạn trong

nội dung về chức năng, nhiệm vụ của Kiểm sát viên trong tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự, bao gồm một số vấn đề lý luận có liên quan đến vấn đề tranh tụng trong tố tụng hình sự, quy định của BLTTHS hiện hành về chức năng, nhiệm vụ của Kiểm sát viên trong tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình

sự và thực tiễn hoạt động của Kiểm sát viên trong tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự những năm gần đây

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Hệ thống, phân tích - tổng hợp, khảo sát thực tiễn, so sánh,

5 Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn của đề tài

Cơ sở khoa học của đề tài là Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; các quan điểm, chủ trương của Đảng ta về xây

Trang 7

dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, về cải cách tư pháp ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.

Cơ sở thực tiễn của đề tài là các quy định của BLTTHS hiện hành và thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật này về chức năng, nhiệm vụ của Kiểm sát viên trong tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự

6 Nhiệm vụ nghiên cứu của đê tài

Với mục đích và phạm vi nghiên cứu nêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu được đặt ra là làm sáng tỏ về mặt lý luận tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự; các quy định của BLTTHS về chức năng, nhiệm vụ của Kiểm sát viên trong tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự đồng thời phân tích những bất cập, hạn chế của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về vấn đề này cũng như thực tiễn hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Kiểm sát viên để từ đó

đề xuất phương hướng và các giải pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên toà sơ thẩm hình sự

7 C ơ cấu của Luận văn

Ngoài Lời nói đầu, Kết luận và Danh mực tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu gồm 2 chương:

Chương 1 Khái quát về Iranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự và quy định của BLTTHS hiện hành về chức năng, nhiệm vụ của Kiểm sát viên trong tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự

Chương 2 Thực trạng và một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Kiểm sát viên trong tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự

Trang 8

C H Ư Ơ N G 1

K H Á I Q U Á T V Ể T R A N H T Ụ N G T Ạ I P H IÊ N T Ò A

S ơ T H Ẩ M H ÌN H S ự V À Q U Y Đ ỊN H C Ủ A B L T T H S H IỆ N H À N H

V Ể C H Ứ C N Ă N G , N H IỆ M v ụ C Ủ A K IE M s á t v i ê n t r o n g

1.1 KHÁI QUÁT VỂ TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA s ơ THẨM HÌNH S ự

1.1.1 Khái niệm về tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự

Tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự là m ột phạm trù pháp lý phản ánh một phương thức, một hoạt động nhằm giải quyết vụ án hình sự trong quá trình tố tụng hình sự Để hiểu được khái niệm này cần tìm hiểu các hệ tố tụng hình sự cơ bản dưới đây

Trên thế giới có hai hệ tố tụng hình sự cơ bản là tố tụng tranh tụng và tố tụng thẩm vấn Hệ tố tụng tranh tụng được sử dụng rộng rãi ở các nước theo truyền thống luật án lệ như Anh, Mỹ và một số quốc gia khác Còn hệ tố tụng thẩm vấn được áp dụng phổ biến ở các nước theo hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa

Trang 9

tham dự Trường hợp bị can không nhận tội và đề nghị xét xử bằng thủ tục có Bồi thẩm đoàn thì vụ án sẽ được Cơ quan công tố truy tố ra Tòa án để xét xử với một Thẩm phán và Bồi thẩm đoàn Trong quá trình xét xử, các bên buộc tội và gỡ tội (Công tố viên và Luật sư biện hộ) tự xét hỏi đưa ra chứng cứ và tự bảo vệ quan điểm của mình Thẩm phán có vai trò điều hành mọi hoạt động tố tụng, hướng dẫn cho Bồi thẩm đoàn những quy tắc tố tụng, chứng cứ và luật nội dung Việc quyết định bị cáo có tội hay không hoàn toàn thuộc quyền của Bồi thẩm đoàn Nếu bị cáo bị tuyên có tội, lúc đó Thẩm phán sẽ là người quyết định hình phạt Nếu bị cáo được tuyên vô tội, vụ án sẽ chấm dứt và Cơ quan công tố cũng không được quyền kháng nghị phúc thẩm theo hướng bị cáo có tội, vì nguyên tắc của Hiến pháp không cho phép xét xử hai lần đối với một bị cáo về cùng một tội Việc xét xử phúc thẩm chỉ định ra khi có liên quan đến việc xác định tội danh hoặc lượng hình Như vậy, có thể thấy rằng hệ

tố tụng tranh tụng có một số đặc điểm cơ bản sau đây:

Thứ nhất, trong tố tụng tranh tụng Tòa án giữ vai Irò thụ động và trung lập Tố tụng tranh tụng đòi hỏi Tòa án phải kiềm chế tham gia tìm hiểu về nội dung vụ án Nếu Tòa án tham gia tích cực vào vụ án, nhất là xét hỏi tại phiên tòa thì Tòa án bị xem là một bên tranh chấp và như vậy sẽ không bảo đảm côpg lý

Thứ hai, tố tụng tranh tụng đòi hỏi các bên phải trình bày chứng cứ Do vai trò thụ động và trung lập của Tòa án, các bên buộc tội và gỡ tội phải tự tìm kiếm và trình bày chứng cứ một cách có hiệu quả nhất, thuyết phục nhất trước Tòa án Do có sự phức tạp của các nguyên tắc tố tụng, luật chứng cứ và luật nội dung nên các bên tham gia tranh tụng thường không thể tự mình mà nhờ

sự giúp đỡ của đội ngũ Luật sư đại diện để tiến hành các hoạt động tố tụng, đặc biệt là ở tại phiên tòa

Thứ ba, tố tụng tranh tụng có những quy tắc rất khắt khe chi phối toàn

bộ các hoạt động tố tụng như quy tắc chứng cứ, quy tắc về ứng xử của Luật

Trang 10

sư, Trong đó quy tắc về chứng cứ có ảnh hưởng lớn nhất vì nó đảm bảo sự công bằng trong tranh tụng.

Ngoài ra, tố tụng Iranh lụng còn có điểm khác biệt đáng lưu ý so với các hệ tố tụng khác đó là yếu tố thú tội và mặc cả nhận tội Do tính chất khắc nghiệt của tranh tụng, các Cơ quan cảnh sát và Công tố nhiều khi không thể tìm ra đủ chứng cứ để buộc tội một cách thuyết phục khi truy tố bị cáo tại phiên toà Do vậy, luật pháp khuyến khích bị cáo nhận tội, khai báo hay cung cấp thông tin về bị cáo khác Đổi lại, bị cáo có thể được miễn truy tố hoặc giảm hình phạt, Cơ chế này tác động tới trình tự tố tụng vì khi bị cáo nhận tội dù ở bất kỳ giai đoạn nào của quá trình tố tụng thì toàn bộ thủ tục tố tụng đối với vụ án sẽ được thay đổi theo hướng không còn tranh tụng nữa và lúc đó Thẩm phán sẽ kiểm tra lại hổ sơ vụ án và quyết định hình phạt

So với hệ tố tụng thẩm vấn, hệ tố tụng tranh tụng có một số ưu điểm được thể hiện cụ thể như sau:

Thứ nhất, quyền quyết định giải quyết vụ việc theo cách nào, trình tự nào thuộc về người bị hại và những người thân thích, người đại diện của họ Như vậy quyền và lợi ích của cá nhân tham gia tranh tụng được tôn trọng và

bảo đảm thực hiện ở mức độ cao nhất.

Thứ hai, phương pháp được sử dụng trong tranh tụng là phương pháp đối tụng, có nghĩa là trách nhiệm chứng minh được đặt ra cho cả hai bên - bên buộc tội và bên gỡ tội, do đó hoạt động tranh tụng có tính chất chủ đạo là khách quan công bằng

Thứ ba, trong hệ tố tụng tranh tụng, phương pháp đối tụng cho phép sử dụng việc kiểm tra chéo nhau giữa các bên để xác định tính đúng đắn của các lời khai và chứng cứ Các bên đều có quyền xét hỏi và đưa ra ý kiến của mình

về mọi vấn đề có liên quan đến vụ án Bên buộc tội và bên gỡ tội đều có nghĩa

vụ chứng minh, các quyền của mỗi bên phát sinh từ nghĩa vụ này là ngang nhau Do đó có thể khẳng định giữa các bên tham gia tranh tụng tại phiên toà

Trang 11

hoàn toàn bình đẳng với nhau về khả năng thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong tranh tụng.

Bên cạnh những ưu điểm đã kể trên, hệ tố tụng tranh tụng cũng có những hạn chế nhất định dưới đây:

Thứ nhất, do quyền lựa chọn cách thức giải quyết tranh chấp rất rộng, nên việc kiểm soát tội phạm từ phía nhà nước sẽ rất khó khăn, phức tạp, nhà nước chỉ nắm bắt được tình hình tội phạm trong phạm vi công tố

Thứ hai, do nghĩa vụ chứng minh được chia đều cho cả hai bên tham gia tranh tụng tại phiên toà, Thẩm phán dường như chỉ đảm nhiệm vai trò của trọng tài với quyền đưa ra phán quyết về chứng cứ của các bên Như thế phán quyết của Toà án chịu sự quyết định của kết quả đối tụng và hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng chứng minh của mỗi bên và điều này dẫn đến khả năng phải chịu oan sai của cả hai bên trong tranh tụng cũng rất cao

Như vậy, nếu xét theo tiêu chí bảo vệ lợi ích của cá nhân, thì hệ tố tụng tranh tụng có rất nhiều ưu điểm Nhưng nếu xét theo tiêu chí khác - tiêu chí bảo vệ lợi ích của xã hội và nhà nước thì nhược điểm của hệ tố tụng này lại rất lớn

* Hệ tô tụng thẩm vấn:

Hệ tố tụng thẩm vấn được áp dụng phổ biến ở các nước Châu Âu lục địa

và có nhiều điểm khác biệt so với hệ tố tụne tranh tụng Có thể khái quát hệ tố tụng này như sau: Sau khi tội phạm được phát hiện, Cơ quan điều tra tiến hành điều tra để tìm ra người phạm tội, làm rõ các tình tiết có liên quan đến vụ án Sau đó hồ sơ vụ án được chuyển cho Viện công tố Đối với những tội tiểu hình, vụ án sẽ được Toà án tiến hành xét xử bởi một Thẩm phán hoặc có cả Hội thẩm tham gia Việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can và quyết định truy tố thuộc thẩm quyền của Viện công tố Viện công tố cũng là cơ quan chỉ đạo hoại động điều tra của Cảnh sát điều tra

Trang 12

Đối với tội đại hình, sau khi sơ bộ kết thúc điều tra, hồ sơ sẽ được

chuyển cho Thẩm phán điều tra xem xét yếu tố chứng cứ đã đủ để đưa ra

phiên toà hay chưa Thẩm phán điều tra có quyền đề ra những yêu cầu điều tra

bổ sung đối với Cảnh sát và Cơ quan công tố Trong trường hợp nếu Viện

công tố quyết định truy tố bị cáo ra trước Toà án, vụ án sẽ được xét xử bởi một

Hội đồng xét xử bao gồm Thẩm phán và Hội thẩm Phiên toà bắt đầu bằng

việc Công tố viên đọc cáo trạng, mô tả hành vi phạm tội của bị cáo và tội danh

mà Viện công tố truy tố Thẩm phán sẽ hỏi bị cáo, những người làm chứng,

xem xét vật chứng, Công tố viên và Luật sư cũng có quyền hỏi bị cáo,

những người làm chứng về những vấn đề mà họ cho là cẩn thiết trong việc

buộc tội và gỡ tội Bị cáo và Luật sư bào chữa cũng có quyền hỏi lại hay đối

chất với người làm chứng, Công tố viên Hội thẩm thường chỉ hỏi sau khi

Thẩm phán và các bên đã hỏi xong Trong quá trình thẩm vấn, Công tố viên và

Luật sư bào chữa đều có quyền đưa ra những lập luận, kết luận của mình về

những tình tiết của vụ án trước khi bị cáo nói lời sau cùng và Hội đồng xét xử

nghị án Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo do Toà án

xem xét, quyết định theo đề nghị của Viện công tố nhưng Luật sư bào chữa

hoặc bị cáo vẫn có quyền kháng cáo lên Toà án cấp trên

Như vậy, đặc điểm cơ bản của hệ tố tụng thẩm vấn là: Các cơ quan tố

tụng đều làm nhiệm vụ buộc tội và gỡ tội; việc xét xử tại phiên toà cũng là

một giai đoạn tiếp tục cuộc điều tra để tìm ra sự thật của vụ án; Toà án có vai

trò tích cực và chủ động trong việc tìm ra sự thật bằng cách có thể tự tiến hành

điều tra, thu thập chứng cứ; Viện công tố có vai trò quan trọng trong quá trình

điều tra và truy tố (có thẩm quyền phê chuẩn việc khởi tố vụ án, trực tiếp điều

tra và chỉ đạo mọi hoạt động điều tra của cảnh sá t, )

So với hệ tố tụng tranh tụng, hệ tố tụng thẩm vấn có một số ưu điểm sau đây:

Trang 13

Thứ nhất, do phạm vi công tố rất rộng, được thực hiện gần như ở tất cả các vụ án hình sự nên tố tụng hình sự gần như không nằm trong khả năng định đoạt của cá nhân, cho nên khả năng kiểm soát tội phạm từ phía nhà nước rất cao, điều này rất có lợi cho việc thực hiện chính sách đấu tranh phòng chống tội phạm và hoạt động quản lý xã hội của nhà nước.

Thứ hai, nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng hình sự được giao cho chủ thể tiến hành tố tụng còn chủ thể tham gia tố tụng có quyền mà không buộc phải chứng minh, do đó việc tiến hành tố tụng được thực hiện bởi cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng rất thuận lợi, dễ dàng Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng có tất cả các quyền phát sinh từ nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng hình sự

Thứ ba, trong hệ tố tụng thẩm vấn, Toà án không chỉ là người trọng tài thụ động đưa ra phán xét mà còn có vai trò tích cực và chủ động làm sáng tỏ

sự thật của vụ án trước khi đưa ra phán quyết để giải quyết vụ án hình sự Đây

là một điều kiện quan trọng để hạn chế nguyên nhân khách quan dãn đến oan sai cho các bên tham gia tranh tụng do chân lý không phụ thuộc hoàn toàn vào năng lực chứng minh của các bên

Bên cạnh những ưu điểm trên, tố tụng hình sự thẩm vấn cũng có một số nhược điểm nhất định, cụ thể là:

Thứ nhất, do phạm vi tư tố rất hạn chế, người bị hại hoặc người đại diện của họ chỉ có quyền quyết định việc tố tụng trong rất ít trường hợp cho nên quyền và lợi ích của cá nhân dường như bị hạn chế

Thứ hai, do nghĩa vụ chứng minh được giao trọn cho các cơ quan tiếnhành tố tụng và người tiến hành tố tụng nên tính chất đối tụng bình đẳng giữa các bên không nhiều Các phán quyết do Toà án đưa ra có thể không công bằng nếu không bảo đảm khách quan tuyệt đối

Từ những nội dung và đặc điểm của hệ tố tụng thẩm vấn và hệ tố tụngtranh tụng như đã trình bày trên, có thể rút ra một số điểm khác biệt cơ bản giữa hai hệ tố tụng này như sau:

Trang 14

điều tra, thẩm vấn trong toàn bộ quá trình tố tụng nhằm đảm bảo tính chính xác đối với các phán quyết của Toà án.

Thứ hai, trong tố tụng tranh tụng Toà án giữ vai trò trọng tài và trung lập, không trực tiếp tham gia điều tra, xét hỏi và làm sáng tỏ vụ án tại phiên toà Ngược lại, trong tố tụng thẩm vấn, Toà án có vai trò tích cực và chủ động tham gia vào quá trình này

Thứ ba, trong hệ tố tụng tranh tụng, yếu tố cá nhân với các quyền và nghĩa vụ tố tụng được coi trọng hơn cả Ngược lại, trong hệ tố tụng thẩm vấn, trách nhiệm, nghĩa vụ tố tụng cơ bản thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng còn đối với cá nhân chỉ trong phạm vi rất hạn chế

Xem xét cả hai hệ tố tụng cơ bản nêu trên một cách khách quan, có thể thấy rằng yếu tố tranh tụng tổn tại cả trong hệ tố tụng tranh tụng và trong hệ

tố tụng thẩm vấn Điều này có thể clưực lý giải như sau:

Trong quá trình phát triển của mình, các hệ thống tố tụng đã tác động lẫn nhau và đã có những sự trao đổi, tiếp nhận một số yếu tố của nhau Chẳng hạn, trong hệ tranh tụng cũng đã chấp nhận việc dùng Công tố viên Nhà nước thực hiện việc truy tố thay cho Đại bồi thẩm đoàn, vai trò của Thẩm phán cũng đã được nâng lên trong một số lĩnh vực như hướng dẫn thương lượng, buộc tội hay xác định Bồi thẩm đoàn được phép xem xét những vật chứng, nhân chứng nào Còn trong hệ thẩm vấn, tranh luận trong phiên toà xét xử đã dần có các tính chất của tranh tụng [12]

Tuy nhiên, yếu tố tranh tụng trong hệ tố tụng tranh tụng và trong hệ tố tụng thẩm vấn có sự khác nhau rất rõ rệt về mức độ và sự ảnh hưởng của nó Trong hệ tố tụng tranh tụng yếu tố tranh tụng giữ vai trò chủ đạo đối với quá

Trang 15

trình tố tụng Ngược lại trong hệ tố tụng thẩm vấn, yếu tố tranh tụng chỉ tồn tại

ở một mức độ nhất định và không có vai trò chủ đạo đối với quá trình tố tụng

* H ệ tô tụ n g h ình sự của V iệt Nam:

Tố tụng hình sự của nước ta hiện nay cũng được xem là kiểu tố tụng thẩm vấn nhưng có kết hợp một số yếu tố hợp lý của tố tụng tranh tụng nhằm bảo đảm quyền dân chủ của công dân và giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng đạt được hiệu quả trong việc làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án

Có thể khái quát về tố tụng hình sự của nước ta như sau: Khi có sự kiện phạm tội xảy ra, Cơ quan điều tra tiến hành điều tra, khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tiến hành các hoạt động điều tra, kết thúc điều tra và đề nghị truy tố gửi đến Viện kiểm sát Viện kiểm sát sẽ xem xét, quyết định truy tố bị can ra trước Toà án bằng bản cáo trạng Toà án có nhiệm vụ xét xử và bản án sẽ được chuyên cho Cơ qưan thi hành án thi hành.Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn thông thường do Cơ quan điều tra thực hiện, có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát Điều đặc biệt so với hệ tố tụng của các nước khác là trong tố tụng hình sự Việt Nam, Viện kiểm sát vừa thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, vừa thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự

Trong giai đoạn điều tra, Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Cơ quan điều tra, đề ra yêu cầu, phê chuẩn việc khởi tố bị can, việc áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn, Trong giai đoạn xét xử, Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên toà

và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Hội đổng xét xử và những người tham gia tố tụng, bảo đảm việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không

để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội

Tại phiên toà, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, tranh tụng với Luật sư, người bào chữa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác bằng việc đối đáp từng vấn đề cần giải quyết trong vụ án mà những người tham gia

Trang 16

tố lụng đặt ra khi tranh luận Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng

cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, người làm chứng, nguyên đơn, bị đơn dân sự và những người có quyền và lợi ích có liên quan để

ra bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và phù hợp với thủ tục pháp luật quy định

Luật sư, người bào chữa của bị can, bị cáo được tham gia vào quá trình

tố tụng từ khi bị tạm giữ, tạm giam, được tham gia vào việc hỏi cung bị can, nghiên cứu hồ sơ vụ án, đưa ra chứng cứ và tranh luận dân chủ tại phiên toà với Kiểm sát viên, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác

Tố lụng hình sự ở nước ta có nhiều điểm tương đồng với tố tụng thẩm vấn ở các nước Châu Âu lục địa, các cơ quan tố tụng không chỉ có chức năng buộc tội mà có cả chức năng gỡ tội cho bị cáo Tuy nhiên, có một sự khác biệt lớn về vai trò và vị trí của Viện công tố - Viện kiểm sát Ớ nước ta Viện kiểm sát là cơ quan của Quốc hội, chịu trách nhiệm trước Quốc hội Còn Viện công

tố ở các nước theo hệ thống tố tụng thẩm vấn nói chung thường được đặt dưới

sự lãnh đạo của Bộ trưởng Bộ Tư pháp Đây chính là nguyên nhân dẫn đến sự khác nhau về địa vị pháp lý giữa Viện kiểm sát ở nước ta và Viện công tố ở các nước

Tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay đang phát triển theo hướng tăng cường hơn nữa các yếu tố của tranh tụng và mở rộng tranh tụng tại phiên toà - giai đoạn trung tâm của quá trình tố tụng thể hiện rõ nét nhất bản chất của tranh tụng trong tố tụng hình sự Thực chất đây là việc mở rộng hơn các quyền

và nghĩa vụ của các chủ thể khi tham gia tranh tụng kèm theo các điều kiện cần thiết để bảo đảm hiệu quả hoạt động xét xử của Toà án Điều đó hoàn toàn phù hợp với yêu cầu khách quan nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm các quyền

và lợi ích hợp pháp của công dân đang đặt ra ngày càng cao trong giai đoạn cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay Việc tãng cường hơn nữa các yếu tố của

Trang 17

tranh tụng và mở rộng tranh tụng không có nghĩa là pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam đã ghi nhận tranh tụng là một nguyên tắc của tố tụng hình sự Tuy nhiên, dù có được ghi nhận hay không thì nguyên tắc tranh tụng nếu có “vẫn tồn tại khách quan không phụ thuộc vào việc chúng ta có thừa nhận hay phủ nhận sự tồn tại của nó” [13].

Xem xét hai hệ tố tụng cơ bản trên thế giới là hệ tố tụng thẩm vấn và hệ

tố tụng tranh tụng cũng như hệ tố tụng hình sự Việt Nam cho thấy các yếu tố của tranh tụng được thể hiện ở những mức độ và phạm vi khác nhau trong tất

cả các kiểu tố tụng đó Điều đó thể hiện bản chất của tranh tụng trong tố tụng hình sự nói chung và tranh tụng tại phiên toà hình sự nói riêng Đây cũng là cơ

sở để đưa ra một khái niệm tương đối đầy đủ, hoàn chỉnh về tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự

Xét về ngữ nghĩa, tranh tụng là đấu tranh trong tố tụng và đương nhiên

là tố tụng hình sự Sự đấu tranh trong tố tụng có chủ thể, nội dung và mục đích

rõ ràng được pháp luật thừa nhận và bảo đảm thực hiện Tranh tụng trong tố tụng hình sự là một quá trình có mở đầu, diễn tiến và kết ihúc, tồn tại gần như xuyên suốt quá trình tố tụng từ khởi tố, điều tra, truy tố đến xét xử vụ án hình

sự Tranh tụng tại phiên toà là tranh tụng trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự,

là giai đoạn thể hiện ró nét nhất, tập trung nhất bản chất của tranh tụng trong

tố tụng hình sự Ở đâu có buộc tội, ở đó có gỡ tội và đó là tính chất cơ bản của tranh tụng Do vậy tranh tụng trong tố tụng hình sự tồn tại ở cả hai cấp xét xử (ở phiên toà sơ thẩm và phiên toà phúc thẩm), trong đó tranh tụng tại phiên toà

sơ thẩm là tranh tụng ở cấp xét xử đầu tiên có cùng bản chất với tranh tụng trong tố tụng hình sự

Từ phân tích trên, có thể rút ra khái niệm tranh tụng tại phiên toà sơ

thẩm hình sự như sâu:“Tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự là một phương thức xác định sự thật khách quan của vụ án tại phiên toà sơ thẩm hình

sự, được tiến hành bởi các bên chủ th ể nhằm bảo vệ ỷ kiến, quan điểm, các

Trang 18

quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc cho người mà mình đại diện hoặc bảo vệ”.

Một vấn đề cũng cần được làm rõ trong nội dung của khái niệm trên là chủ thể tham gia vào quá trình tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự v ề cơ bản pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam cũng như pháp luật của các nước đều xác định có ba nhóm chủ thể chủ yếu tham gia vào quá trình tranh tụng tại phiên toà, đó là: Bên buộc tội thực hiện chức năng buộc tội; bên bào chữa thực hiện chức năng bào chữa và Toà án thực hiện chức năng xét xử

Ở những nước theo hệ tố tụng tranh tụng, chủ thể chính của bên buộc tội là Công tố viên (hoặc Điều tra viên) Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, thì Kiểm sát viên là chủ thể chính của bên buộc tội giữ quyền công tố trước Toà án Quyền công tố (buộc tội nhân danh nhà nước) xuất phát từ chức năng công tố của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự Thực hành quyền công tố (buộc tội) tại phiên toà luôn là chức năng của Kiểm sát viên ngay cả trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại Trên cơ sở chức năng này, khi thực hành quyền công tố tại phiên toà, Kiểm sát viên có những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể được BLTTHS quy định Chủ thể chính thuộc bên gỡ tội là bị cáo và người bào chữa (hoặc người đại diện hợp pháp của bị cáo) Những chủ thể này cùng với các chủ thể của bên buộc tội là hai nhóm chủ thể cơ bản tạo nên sự tranh tụng tại phiên toà Các chủ thể khác bao gồm: Người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bảo vệ quyền lợi (hoặc đại diện hợp pháp) của đương sự cũng tham gia vào quá trình tranh tụng tại phiên toà ở một phạm vi nhất định

Ngoài ra, còn có người làm chứng, giám định viên, người phiên dịch, cũng tham gia vào quá trình tranh tụng tại phiên toà Tuy nhiên, các chủ thể này không tham gia vào việc thực hiện các chức năng buộc tội hay gỡ tội mà

để giúp cho các bên và Toà án xác định sự thật khách quan của vụ án

Trang 19

Như vậy, khái niệm về tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự phản ánh rõ bản chất của tranh tụng trong tố tụng hình sự Tuy nhiên, để làm sáng

tỏ hơn về nội dung của khái niệm này, cần xem xét tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự với tư cách là một quá trình bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau

1.1.2 Các giai đoạn của tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự

Tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự là sự tiếp diễn và kết thúc của quá trình tranh tụng trong tố tụng hình sự ở cấp sơ thẩm Quá trình này cũng được chia thành những giai đoạn (những phần) khác nhau nhưng không hoàn toàn độc lập, tách rời nhau Trong mỗi giai đoạn lại được kết cấu bởi những bước nhất định Tổng hợp các bước, các giai đoạn đó tạo ra toàn bộ quá trình tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự Cụ thể như sau:

* Giai đoạn xét hỏi tại phiên toà:

Xét hỏi tại phiên toà là giai đoạn đầu tiên của quá trình tranh tụng tại phiên toà Trong kết cấu về mặt nội dung của quá trình tranh tụng tại phiên toà

sơ thẩm hình sự, giai đoạn đầu là xét hỏi vì nó cho phép nêu ra vấn đề và làm

rõ vấn đề trước khi tranh luận tại phiên toà Giai đoạn xét hỏi theo quy định tại chương XX - BLTTHS năm 2003 bao gồm những bước sau:

- Thứ nhất, đọc bản cáo trạng (do Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên toà thực hiện - Điều 206)

- Thứ hai, tiến hành xét hỏi theo thứ tự hợp lý (do Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự thực hiện, những người khác tham gia phiên toà cũng có quyền đề nghị hỏi thêm) Trong quá trình xét hỏi, bị cáo, người bị hại, người làm chứng, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan đến vụ

án hoặc người đại diện hợp pháp của họ phải trả lời những câu hỏi Cũng trong quá trình này Hội đồng xét xử xem xét các vật chứng và các tài liệu khác có liên quan đến vụ án Việc xét hỏi chỉ kết thúc khi mọi tình tiết của vụ án đều

đã được xem xét

Trang 20

* Giai đoạn tranh luận tại phiên toà:

Tranh luận tại phiên toà là giai đoạn thứ hai và là cũng là giai đoạn kết thúc của quá Irình tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự Do vậy tranh luận

và tranh tụng tại phiên toà không đồng nhất Tranh tụng tồn tại với tư cách là một phương thức, một quá trình xuyên suốt trong tố tụng, từ khởi tố cho đến xét xử vụ án hình sự Tranh tụng tại phiên toà là một phương thức tiến hành tố tụng tại phiên tòa, bao gồm cả phần xét hỏi Còn tranh luận tại phiên toà chỉ là một phần của tranh tụng tại phiên toà, là một hoạt động của tranh tụng và là lúc các chủ thể đưa ra những lập luận của mình về những vấn đề có liên quan đến vụ án nhằm đạt được mục đích tham gia tranh tụng tại phiên toà

Giai đoạn tranh luận tại phiên toà được quy định tại chương XXI - BLTTHS, gồm những bước sau:

Thứ nhất, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội tại phiên tòa (hoặc rút toàn bộ quyết định truy tố nếu thấy không có căn cứ để kết tội bị cáo)

Thứ hai, bị cáo trình bày lời bào chữa hoặc người bào chữa cho bị cáo trình bày lời bào chữa Ngưừi bị hại, nguyên đơn dân sự, bị dơn dân sự, người

có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ, người bảo vệ quyền lợi của đương sự trình bày ý kiến của mình hoặc cho người mà mình đại diện hoặc bảo vệ

Thứ ba, tiến hành đối đáp tại phiên toà Bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác trình bày ý kiến của mình về luận tội của Kiểm sát viên Kiểm sát viên phải trả lời cho từng ý kiến Những người tham gia tranh luận cũng có quyền đáp lại ý kiến của người khác Chủ toạ phiên toà giữ vai trò điều khiển hoạt động tranh luận tại phiên toà

Tranh luận tại phiên toà kết thúc khi những người tham gia tranh luận không còn trình bày ý kiến gì thêm Nếu qua tranh luận thấy cần xem xét thèm chứng cứ thì Hội đồng xét xử có thể quyết định trở lại việc xét hỏi Xét hỏi xong phải tiếp tục tranh luận về nội dung đã xét hỏi thêm

TRƯỜNG ĐẠI HỌC U IẬ I HA NỘI

I PHỎ NG Đ O C

Trang 21

sáng rõ mọi tình tiết của vụ án mà còn sàng lọc, khẳng định tính đúng đắn của

những quan điểm, ý kiến có giá trị liên quan đến việc giải quyết mọi vấn đề có

trong vụ án Kết quả đó là một trong những căn cứ quan trọng để Hội đồng xét

xử xem xét cân nhắc trước khi đưa ra những phán quyết cần thiết trong việc áp

dụng pháp luật nhằm giải quyết vụ án hình sự

Các giai đoạn và các bước nói trên là kết cấu về nội dung của tranh tụng

tại phiên toà sơ thẩm hình sự Cùng với khái niệm về tranh tụng tại phiên toà

sơ Ihẩm hình sự đã phản ánh tương đối hoàn chỉnh về cả hai mặt nội dung và

hình thức của giai đoạn tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự Khái quát về

tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự như trên là cơ sở nền tảng cho việc

bàn đến quy định của BLTTHS về chức năng, nhiệm vụ của Kiểm sát viên

trong tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự

1.2 QUY ĐỊNH CỦA BLTTHS HIỆN HÀNH VỂ CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG TRANH TỤNG TẠI

PHIÊN TOÀ S ơ THẨM HÌNH s ụ

1.2.1 Quy định chung của BLTTHS hiện hành về chức năng, nhiệm

vụ của Kiêm sát viên trong tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự

Chức năng, nhiệm vụ của Kiểm sát viên trong tranh tụng tại phiên toà

so' thẩm hình sự xuất phát từ chức năng công tố của Viện kiểm sát do Hiến

pháp quy định Thể chế hoá quy định của Hiến pháp (Điều 137 - Hiến pháp

1992) thành pháp luật, BLTTHS năm 2003 đã quy định tại Phần thứ nhất

“Những quy định chung” như sau: “Viện kiểm sát thực hành quyền công tố

trong Tố tụng hình sự, quyết định việc truy tố người phạm tội ra trước toà án”

(Khoản 1 - Điều 23 - BLTTHS) Chức năng công tố của Viện kiểm sát là cơ sở

Trang 22

để quy định nhiệm vụ của Kiểm sát viên Cũng tại Phần thứ nhất “Những quy

định chung” của BLTTHS quy định Kiểm sát viên khi được phân công thực

hành quyền công tố có nhiệm vụ: “Tham gia phiên toà; đọc cáo trạng, quyết

định của Viện kiểm sát liên quan đến việc giải quyết vụ án; hỏi, đưa ra chứng

cứ và thực hiện việc luận tội; phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án,

tranh luận với những người tham gia tố tụng tại phiên toà” (Điểm đ - Khoản 1

- Điều 37 - BLTTHS) Khi tham gia tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự,

Kiểm sát viên phải thực hiện những nhiệm vụ cụ thể có liên quan đến hoạt

động tranh tụng trên cơ sở chức năng và nhiệm vụ của Kiểm sát viên được quy

định tại phần “Những quy định chung” đã nêu trên

1.2.2 Các quy định cụ thể của BLTTHS hiện hành vê chức năng, nhiệm vụ của Kiểm sát viên trong tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự

Chương XX “Thủ tục tranh tụng tại phiên toà” và chương XXI “Tranh

luận tại phiên toà” có quy định cụ thể về nhiệm vụ của Kiểm sát viên trong

tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự Tương ứng với các giai đoạn của quá

trình tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự các quy định này cũng chia

thành hai phần: Phần xét hỏi và phần tranh luận

Trong phần xét hỏi tại phiên toà Kiểm sát viên có những nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, nhiệm vụ đọc bản cáo trạng (quyết định truy tố): Kiểm sát

viên phải đọc bản cáo trạng theo quy định tại Điều 206 - BLTTHS: “Trước khi

tiến hành xét hỏi Kiểm sát viên đọc bản cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung,

nếu có” Đọc bản cáo trạng là nhiệm vụ đầu tiên của Kiểm sát viên khi tiến

hành tranh tụng tại phiên toà

Thứ hai, nhiệm vụ tham gia xét hỏi: Kiểm sát viên phải tham gia xét hỏi

theo trình tự và thứ tự hợp lý được quy định tại Điều 207 - BLTTHS về trình

tự xét hỏi Khi tham gia xét hỏi, Kiểm sát viên phải cùng với Hội đồng xét xử

làm rõ các tình tiết của vụ án Khi xét hỏi từng người, Kiểm sát viên hỏi sau

Chủ toạ phiên toà và Hội thẩm

Trang 23

Trong quá trình xét hỏi, Kiểm sát viên có thể công bố lời khai của người được xét hỏi tại Cơ quan điều tra trong những trường hợp được quy định tại Khoản 2 - Điều 208 - BLTTHS, cụ thể:

“a) Lời khai của người được xét hỏi tại phiên toà có mâu thuẫn với lời khai của họ tại cơ quan điều tra”;

b) Người được xét hỏi không khai tại phiên toà;

c) Người được xét hỏi vắng mặt hoặc đã chết”

Kiểm sát viên tham gia xét hỏi cùng với Hội đồng xét xử đối với bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa

vụ có liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ, người làm chứng, người giám định (các Điều 209, 210, 211, 215 - BLTTHS) Khi xét hỏi

bị cáo, Kiểm sát viên hỏi về những tình tiết của vụ án liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội bị cáo Khi xét hỏi người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ, người làm chứng, Kiểm sát viên hỏi thêm về những điểm mà họ trình bày chưa đầy đủ hoặc có mâu thuẫn, hỏi thêm đối với người giám định nếu thấy kết luận giám định chưa rõ ràng

Cũng trong quá trình xét hỏi tại phiên toà, Kiểm sát viên có quyền xem xét vật chứng, trình bày nhận xét của mình về vật chứng, có thể đến xem xét tại chỗ nơi đã xảy ra tội phạm hoặc những địa điểm khác có liên quan đến vụ

án ( các Điều 212-213 BLTTHS)

Đối với các tài liệu có liên quan đến vụ án, nhận xét báo cáo của cơ quan, tổ chức, Kiểm sát viên có quyền đưa ra nhận xét của mình và hỏi thêm

về những vấn đề liên quan (Điều 214-BLTTHS)

Kiểm sát viên chỉ kết thúc tham gia xét hỏi khi mọi tình tiết của vụ án

đã được xem xét đầy đủ và không còn ai yêu cầu hỏi thêm

Trong p h ầ n tranh luận tại p h iên toà, K iểm sát viên có nhữ ng nhiệm

vụ sau:

Trang 24

Thứ nhất, nhiệm vụ trình bày lời luận tội tại phiên toà.

Khoản 1 - Điều 217-BLTTHS quy định:“Sau khi kết thúc việc xét hỏi tại phiên toà, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung cáo trạng hoặc kết luận về tội nhẹ hơn”

Trình bày lời luận tội là nhiệm vụ trước tiên của Kiểm sát viên khi tham gia tranh luận và cũng là sự mở đầu cho giai đoạn tranh luận tại phiên toà Kiểm sát viên thực hiện nhiệm vụ này trong trường hợp có căn cứ để kết tội bị cáo, có thể theo toàn bộ hay một phần nội dung cáo trạng hoặc kết luận về tội khác nhưng nhẹ hơn

Ngược lại, Kiểm sát viên “Nếu thấy không có căn cứ để kết tội thì rút toàn bộ quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo không

có tội” - (Khoản 1 - Điều 217 - BLTTHS) Trong trường hợp này do không có luận tội nên không có việc buộc tội và gỡ tội, việc đối đáp không diễn ra và Hội đồng xét xử sẽ nghị án ngay sau khi nghe những người khác tham gia tranh tụng trình bày ý kiến về việc rút quyết định truy tố của Kiểm sát viên

T hú hai, nhiệm vụ tham gia đôi đáp tại p h iên toà:

Đối đáp là hoạt động trung tâm của tranh luận tại phiên tòa, thể hiện rõ nhất bản chất của tranh tụng trong tố tụng hình sự Khác với việc luận tội, đối đáp là hoạt động chung của các chủ thể tham gia tranh tụng, nhưng Kiểm sát viên có vai trò cao nhất vì nội dung đối đáp cơ bản phụ thuộc vào nội dung luận tội của Kiểm sát viên Kiểm sát viên tham gia đối đáp nhằm bảo vệ cáo trạng của Viện kiểm sát và quan điểm của Kiểm sát viên đã nêu trong luận tội

Điều 218 quy định:

“Bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến về luận tội của Kiểm sát viên và đưa ra đề nghị của mình; Kiểm sát viên phải đưa ra những lập luận của mình đối với từng ý kiến”

Việc đáp lại các ý kiến có liên quan đến vụ án của bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác có tính chất bắt buộc đối với Kiểm

Trang 25

sát viên Chủ toạ phiên toà có quyền đề nghị Kiểm sát viên thực hiện nhiệm vụ này Cũng Điều 218 quy định:

“Chủ toạ phiên toà có quyền đề nghị Kiểm sát viên phải đáp lại những ý kiến có liên quan đến vụ án của người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác mà những ý kiến đó chưa được Kiểm sát viên tranh luận”

Như vậy, trong phần tranh luận tại phiên toà Kiểm sát viên có hai nhiệm

vụ là trình bày lời luận tội và đối đáp tại phiên toà Cũng trong phần này, trong trường hợp trở lại việc xét hỏi theo quyết định của Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên sau khi tham gia xét hỏi phải tiếp tục đối đáp theo như quy định đã nêu trong nội dung trên

Tóm lại, khi tham gia tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự theo quy định của BLTTHS hiện hành, Kiểm sát viên phải Ihực hiện bốn nhiệm vụ cơ bản, bao gồm: Đọc bản cáo trạng, tham gia xét hỏi, trình bày lời luận tội và đối đáp tại phiên toà Những nhiệm vụ đó đều thuộc về chức năng công tố của Viên kiểm sát mà Kiểm sát viên là người có quyền thực hành tại phiên toà sơ thẩm hình sự

Khái quát về tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự và quy định của BLTTHS hiện hành về chức năng, nhiệm vụ của Kiểm sát viên trong tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự đã phản ánh đầy đủ cả về bản chất và hình thức của tranh tụng tại phiên toà, chức năng và nhiệm vụ của Kiểm sát viên khi tham gia tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự Đó là tiền đề lý luận và căn cứ pháp lý cần thiết đối với việc tìm hiểu về thực trạng thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Kiểm sát viên trong tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình

sự Trên cơ sở đó sẽ tìm được những giải pháp mang tính khoa học, hợp lý nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Kiểm sát viên trong tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự, góp phần đáp ứng các yêu cầu về cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay

Trang 26

CHƯƠNG 2 THỰC T R Ạ N G VÀ M Ộ T s ố G IẢ I PH Á P

N H Ằ M N Â N G CAO C H Â T LƯ Ợ N G , H IỆ U Q U Ả T H ự C H IỆ N

T R A N H T Ụ N G T Ạ I PH IÊ N T O À s ơ T H A M h ì n h s ự

2.1 THỰC TRẠNG THựC HIỆN CHỨC NĂNG, NHIỆM v ụ CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TOÀ s ơ THẨM HÌNH Sự.

Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 “Về một số nhiệm vụ trọng lâm của công tác tư pháp trong thời gian tới” và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” của Bộ Chính trị đã xác định một trong những nhiệm vụ quan trọng của cải cách tư pháp ở nước ta giai đoạn hiện nay là “nâng cao chấl lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên toà, bảo đảm tranh tụng dân chủ với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác” Ngành kiểm sát đã quán triệt đây là nhiệm vụ trung tâm và từng bước triển khai thực hiện bằng những việc làm cụ thể như: nâng cao chất lượng việc tuyển chọn và đào tạo mới, đào tạo lại Kiểm sát viên; ban hành “Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét

xử các vụ án hình sự”; chuyển từ công tác chuyên khâu sang công tác thông khâu đối với Kiểm sát viên khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, Những việc làm đó đã tạo điều kiện thuận lợi để từng bước nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Kiểm sát viên tại các phiên toà sơ thẩm hình sự nhằm đáp ứng kịp thời các yêu cầu cải cách tư pháp ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

Trang 27

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đáng khích lệ đã đạt được, thực tiễn

hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Kiểm sát viên trong tranh tụng

tại phiên toà sơ thẩm hình sự vẫn còn nhiều tồn tại, bất cập làm hạn chế chất

lượng, hiệu quả của hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên; vị trí và vai trò

của Kiểm sát viên trong hoạt động này chưa ngang tầm với chức năng, nhiệm

vụ của Viện kiểm sát theo quy định pháp luật

2.1.1 Việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Kiểm sát viên trong giai đoạn xét hỏi tại phiên toà

Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành, khi tham gia tranh

tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự trong phần xét hỏi theo thủ tục luật định,

Kiểm sát viên có hai nhiệm vụ có ý nghĩa rất quan trọng là đọc bản cáo trạng

và tham gia xét hỏi tại phiên toà

* N hiệm vụ đọc bản cáo trạng

Đọc bản cáo trạng hay công bố bản cáo Irạng là nhiệm vụ trước tiên của

Kiểm sát viên và cũng là sự mở đầu cho quá trình tranh tụng tại phiên toà sơ

thẩm hình sự Điều 206 BLTTHS quy định rõ: “Trước khi tiến hành xét hỏi,

Kiểm sát viên đọc bản cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung, nếu có”

Bản cáo trạng (hay quyết định truy tố) là văn bản pháp lý thuộc thẩm

quyền của Viện trưởng Viện kiểm sát Kiểm sát viên là người đại diện cho

Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên toà phải đọc nguyên văn nội

dung của bản cáo trạng Sau khi công bố bản cáo trạng, Kiểm sát viên có thể

trình bày ý kiến bổ sung và chỉ nhằm mục đích làm rõ thêm nội dung của bản

cáo trạng mà không được thay đổi nội dung bản cáo trạng

Thực tiễn cho thấy nhiệm vụ đọc bản cáo trạng được Kiểm sát viên thực

hiện không có gì khó khăn vì bản cáo trạng đã được chuẩn bị trước, Kiểm sát

viên chỉ cần trình bày nguyên văn nội dung, đọc rành mạch, rõ ràng tại phiên

toà là đạt yêu cầu Nhiệm vụ này chỉ trở thành vấn đề trong các trường hợp xét

xử những vụ án lớn, phức tạp, có đông bị cáo tham gia hoặc các bị cáo phạm

Trang 28

nhiều tội mà cáo trạng dài hàng trăm trang như: vụ án Lã Thị Kim Oanh, vụ

án Tân Trường Sanh, Trong những vụ án này Kiểm sát viên phải đứng đọc cáo trạng trong nhiều giờ và điều này có thể ảnh hưởng đến sức khoẻ, làm suy yếu các giác quan, giảm khả năng tập trung của Kiểm sát viên trong quá trình tranh tụng Đối với những vụ án này thường có hai Kiểm sát viên tham gia phiên toà và thay nhau đọc bản cáo trạng Điều đó không trái với quy định của BLTTHS So sánh với những nhiệm vụ khác của Kiểm sát viên trong tranh tụng tại phiên toà thì đọc bản cáo trạng là nhiệm vụ đơn giản nhất, dễ thực hiện nhất Điều đáng bàn về chức năng, nhiệm vụ của Kiểm sát viên trong tranh tụng tại phiên toà là ở những nhiệm vụ còn lại mà Kiểm sát viên phải thực hiện sau khi công bố xong bản cáo trạng

* N hiệm vụ tham gia xét hỏi tại phiên toà:

Sau khi bản cáo trạng đã được Kiểm sát viên công bố, Hội đồng xét xử tiến hành xét hỏi Việc xét hỏi tại phiên toà được tiến hành theo thứ tự hợp lý

và trình tự được quy định tại Điều 207 BLTTHS Theo quy định này Kiểm sát viên tham gia xét hỏi đối với từng người sau Thẩm phán và Hội thẩm

Việc xét hỏi của Kiểm sát viên tại phiên toà sơ thẩm hình sự là nhiệm

vụ thứ hai và có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với quá trình tranh tụng vì kết quả việc xét hỏi tại phiên toà không chỉ là cơ sở để Kiểm sát viên thực hiện việc luận tội mà còn là căn cứ để Kiểm sát viên đáp lại ý kiến của các chủ thể khác tham gia tranh tụng ở phần tranh luận tiếp theo

Khi được phân công thực hành quyền công tố tại phiên toà các Kiểm sát viên đều nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng đặc biệt của việc xét hỏi mà mình tham gia đối với chất lượng, hiệu quả hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, sự nhận thức đúng mới chỉ là tiền đề để Kiểm sát viên có thể thực hiện tốt vai trò của mình trong xét hỏi Để việc xét hỏi có chất lượng, hiệu quả, Kiểm sát viên cần phải có đủ những yếu tố khác như: trình độ chuyên môn, kỹ năng, kinh nghiệm thực tiễn,

Trang 29

công tác chuẩn bị, Chỉ khi nào có đầy đủ tất cả những yếu tố đó thì Kiểm sát viên mới có thể tích cực, chủ động tham gia xét hỏi và kết quả xét hỏi tại phiên toà của Kiểm sát viên mới đạt được hiệu quả mong muốn Thực tiễn cho thấy một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến chất lượng tham gia xét hỏi của Kiểm sát viên tại phiên toà không cao, kém hiệu quả, gây khó khăn trong việc bảo vệ quan điểm của Viện kiểm sát ở phần tranh luận tại phiên toà chính là do thiếu một trong những yếu tố nêu trên.

Để việc xét hỏi tại phiên toà đạt kết quả tốt, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Kiểm sát viên phải nghiên cứu và nắm chắc hồ sơ vụ án, lập kế hoạch xét hỏi và làm các công tác chuẩn bị khác Trong kế hoạch xét hỏi của Kiểm sát viên cần xác định rõ các đối tượng cần hỏi, các vấn đề cần làm rõ đồng thời phải dự kiến được các tình huống có thể xảy ra trong quá trình xét hỏi tại phiên toà và hướng xử lý các tình huống đó; việc sử dụng các chứng cứ để chứng minh trong quá trình xét hỏi, Việc xây dựng kế hoạch xét hỏi chu đáo, toàn diện và đầy đủ sẽ tạo điều kiện thuận lợi để Kiểm sát viên tích cực, chủ động iham gia xét hỏi và xử lý kịp thời mọi tình huống trong quá trình xét hỏi tại phiên toà

Thực tiễn cho thấy công tác chuẩn bị cho việc xét hỏi tại phiên toà của một số Kiểm sát viên không được Ihực hiện đầy đủ, chu đáo dẫn đến trong nhiều trường hợp hoạt động xét hỏi của Kiểm sát viên tại phiên toà có chất lượng và hiệu quả không cao Đây là một nhược điểm cần được khắc phục kịp thời Nguyên nhân của tình trạng này một phần là do trình độ chuyên môn và năng lực nghiệp vụ của Kiểm sát viên còn hạn chế; cường độ làm việc cao nên không đủ thời gian cho công tác chuẩn bị, Một phần khác do một số Kiểm sát viên thiếu tinh thần trách nhiệm hoặc do chủ quan, quá tự tin vào trình độ, kinh nghiệm bản thân mà không lập hoặc lập kế hoạch xét hỏi quá sơ sài, qua loa, chiếu lệ, đặc biệt là khi Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố trong những vụ án không lớn, tình tiết ít phức tạp, nhất là khi không

Trang 30

có sự tham gia của người bào chữa Sự chủ quan trong nhận thức của Kiểm sát viên trong trường hợp này thường xuất phát từ việc đối phó với luật sư bào chữa mà quên rằng nhiệm vụ chứng minh để thuyết phục Hội đồng xét xử mới

là điều quan trọng Hậu quả của sự chủ quan này của Kiểm sát viên không chỉ làm cho việc xét hỏi kém hiệu quả mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến việc bảo vệ cáo trạng và đưa ra quan điểm có sức thuyết phục về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án Điều đó trong nhiều trường hợp đã dẫn đến một thực tế là phán quyết của Hội đồng xét xử về vụ án thường khác xa với đề nghị của Kiểm sát viên, dẫn đến việc kháng nghị và kéo theo đó là sự phức tạp về thủ tục tố tụng,

sự lãng phí về thời gian, công sức và tiền bạc của nhà nước Nhưng vấn đề nghiêm trọng hơn ở đây là uy tín, vị trí và vai trò của Viện kiểm sát trong tranh tụng đã bị Kiểm sát viên làm cho lu mờ và giảm sút Rõ ràng chỉ một sai lầm, thiếu sót dù nhỏ của Kiểm sát viên nhưng hậu quả cũng có thể là khôn lường

Một vấn đề mà Kiểm sát viên cần hết sức chú ý trong công tác chuẩn bị của mình trước khi tham gia phiên toà, đó là cần dự kiến những trường hợp người làm chứng, người bị hại có thể không có mặt tại phiên toà Thực tế đã xảy ra nhiều trường hợp như vậy, điển hình là tại phiên toà xét xử vụ án Năm Cam, vụ án Bùi Tiến Dũng và gần đây nhất là vụ án giao đất trái phép tại Đồ Sơn Trong những trường hợp này, trong kế hoạch xét hỏi của mình, Kiểm sát viên phải chuẩn bị tốt những lời khai của họ trước Cơ quan điều tra và các tài liệu khác cần công bố tại phiên toà và dự kiến thời điểm thích hợp để công bố các tài liệu này để có thể tích cực, chủ động và kịp thời xử lý chính xác trong quá trình xét hỏi tại phiên toà

Kết quả xét hỏi các đối tượng cụ thể của Kiểm sát viên không chỉ có ý nghĩa quyết định chất lượng, hiệu quả hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên toà mà còn phản ánh tương đối khách quan về trình độ chuyên môn, năng lực nghiệp vụ và bản lĩnh của Kiểm sát viên Không phải cứ tích cực, chủ động tham gia xét hỏi và xét hỏi thật nhiều là đã mang lại hiệu quả và ngược

Trang 31

lại Vấn đề quan trọng là Kiểm sát viên phải biết lựa chọn phương pháp xét hỏi, xác định phạm vi và nội dung xét hỏi cho phù hợp với tính chất của từng

vụ án cụ thể và theo dõi diễn biến thực tế tại phiên toà để tiến hành xét hỏi với một thời gian đủ cần thiết nhưng đạt hiệu quả cao

Thực tiễn cũng cho thấy trong một số trường hợp, Kiểm sát viên đã chủ động đề xuất trước để Thẩm phán chủ toạ phiên toà dành riêng cho mình xét hỏi về một số nội dung nào đó Chúng tôi cho rầng đây là việc làm không cần thiết và cũng không thể coi đây là sự chủ động mà ngược lại đó là sự thụ động của Kiểm sát viên khi tham gia xét hỏi (để tránh sự bị động hoặc không chú ý theo dõi diễn biến phiên toà) Điều quan trọng đối với Kiểm sát viên khi tham gia xét hỏi là phải biết tập trung theo dõi quá trình xét hỏi để phát hiện những nội dung (tình tiết của vụ án) mà các thành viên Hội đồng xét xử chưa xét hỏi hoặc tuy đã xét hỏi nhưng chưa đầy đủ hoặc những điểm mâu thuẫn giữa những lời khai của những người đã được xét hỏi Đây chính là những nội dung cần chỉnh lý, bổ sung vào kế hoạch xét hỏi đã chuẩn bị trước và Kiểm sát viên cần thiết phải tiến hành xét hỏi để làm sáng tỏ tại phiên toà Có như vậy, nội dung xét hỏi của Kiểm sát viên mới đi đúng trọng tâm, đáp ứng được mục đích đặt ra và không bị trùng lắp với những vấn đề mà Hội đồng xét xử đã xét hỏi làm rõ

Những năm gần đây, về phương diện lý luận, một số nhà nghiên cứu cho rằng Kiểm sát viên là người thực hành quyền công tố có nhiệm vụ buộc tội bị cáo trước Toà án nên Kiểm sát viên phải là người giữ vai trò chủ đạo trong việc làm sáng tỏ sự thật của vụ án Kiểm sát viên phải là người hỏi chính

và hỏi trước Thẩm phán, Hội thẩm Cùng với quan điểm này nhưng có ý kiến lại cho rằng tại phần xét hỏi Kiểm sát viên có thể hỏi sau Thẩm phán và Hội thẩm nhưng Thẩm phán chủ toạ phiên toà chỉ đặt ra những câu hỏi có tính chất nêu vấn đề, gợi mở vấn đề, còn việc làm sáng tỏ các vấn đề về vụ án thuộc tránh nhiệm của bên buộc tội và bên gỡ tội mà trước hết là của Kiểm sát viên

Ngày đăng: 24/01/2021, 22:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/1/2002, “V ề một s ố nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới” của Bộ chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: “V ề một s ố nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới
7. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005, “V ề chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” của Bộ chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: “V ề chiến lược cải cách tưpháp đến năm 2020
8. Phạm Hồng Hải (1999), “Bàn về quyền công tố”, Tạp clú Nhà nước và Pháp luật, (12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về quyền công tố”, "Tạp clú Nhà nước và Pháp luật
Tác giả: Phạm Hồng Hải
Năm: 1999
9. Nguyễn Văn Huyên (2003) “Tranh tụng tại phiên toà - M ột s ố vấn đề lý luận và thực tiễn ”, Học viện Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tranh tụng tại phiên toà - M ột s ố vấn đề lý luận và thực tiễn
10. Nguyễn Thu Huệ (2004), Kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự - Những vấn đ ề lý luận và thực tiễn , Luận văn thạc sỹ Luật học, Viện Nhà nước - Pháp luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự - Những vấn đ ề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Thu Huệ
Năm: 2004
11. Lam Khê (2007), “Các bị cáo chống lại buộc tội của Viện kiểm sát”, Báo Tiền phong, (174), tr. 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bị cáo chống lại buộc tội của Viện kiểm sát”, "Báo Tiền phong
Tác giả: Lam Khê
Năm: 2007
12. Nguyễn Mạnh Kháng (2003), “Cải cách tư pháp và vấn đề tranh tụng”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (10), tr. 32 - 37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách tư pháp và vấn đề tranh tụng”, "Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
Tác giả: Nguyễn Mạnh Kháng
Năm: 2003
13. Nguyễn Đức Mai (2003), “Vấn đề tranh tụng trong dự thảo Bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi)”, Tạp chí N hà nước và Pháp luật, (10), tr. 38- 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tranh tụng trong dự thảo Bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi)”, "Tạp chí N hà nước và Pháp luật
Tác giả: Nguyễn Đức Mai
Năm: 2003
14. Hoàng Thị Liên (2006), “Người bị hại đã yêu cầu khởi tố, trình bày lời buộc tội tại phiên toà theo trình tự thủ tục nào?”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (8), tr. 47 - 48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người bị hại đã yêu cầu khởi tố, trình bày lời buộc tội tại phiên toà theo trình tự thủ tục nào?”, "Tạp chí Dân chủ và Pháp luật
Tác giả: Hoàng Thị Liên
Năm: 2006
15. Nguyễn Văn Oanh (1998), N hiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên trong giai đoạn xét xử sơ thẩm hình sự, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: N hiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên trong giai đoạn xét xử sơ thẩm hình sự
Tác giả: Nguyễn Văn Oanh
Năm: 1998
16. Nguyễn Xuân Thanh (1997), M ột s ố vấn đ ề lý luận và thực tiễn về quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: M ột s ố vấn đ ề lý luận và thực tiễn về quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự
Tác giả: Nguyễn Xuân Thanh
Năm: 1997
17. N guyễn Tiến Thắng (2001), H oạt động của Viện kiểm sát trong việc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo - M ột s ố vấn đ ề lý luận và tliực tiễn, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: H oạt động của Viện kiểm sát trong việc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo - M ột s ố vấn đ ề lý luận và tliực tiễn
Tác giả: N guyễn Tiến Thắng
Năm: 2001
18. Từ điển thuật ngữ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 189 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ Luật học
1. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (sửa đổi) Khác
2. Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999 Khác
3. Bộ luật tố tụng hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2003 Khác
5. Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự (Ban hành kèm theo Quyết định số 960/QĐ-VKSNDTC ngày17/9/2007) Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm