1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chế tài pháp luật một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở việt nam hiện nay

66 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 5,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chế tài là bộ phận quan trọng, không thể Ibiếu của quy phạm pháp luật, ấn chih các biện pháp cưỡng chế nhà nước bảo đảm cho nghĩa vụ trong quy định được thực h iện ...13 1.3.2.. Nếu bộ p

Trang 1

B ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ T ư PHÁP

TR Ư Ờ N G Đ Ạ I H Ọ C L U Ậ T H À N Ộ I

PHẠM THỊ MINH PHƯƠNG

MỘT SỖ VẤN BÊ LÝ LUẬN VÀ THỤÙ TIỄU» m »

LUẬN VÃN THẠC SỸ LUẬT HỌC* • * Ạ

H A N Ộ I - 2009

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ T ư PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

PHẠM THỊ MINH PHƯƠNG

CHấ TÀI PHÁP LUẬT * MÔT SỐ VẤN Dầ LÝ LUẬN VÀ THựC TlầN¥ * ĩ

ỏ VllT NAM HIẾN MAY

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử về Nhà nước và pháp luật

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

MỤC LỤC

1

CHƯƠNG I: MỘT s ố VẤN ĐỂ LÝ LUẬN c ơ BẢN VỂ CHẼ TÀI PHÁP LUẬT

1.1 Bản chất của chế tài pháp lu ậ t 1

1.2 Đặc điềm của chê tài pháp luật .9

1.2.1 Chế tài là bộ phi.n "động" nhá' của quy phạm pháp luật, phụ thuộc bộ phận quy định của quy phạm pháp lu ậ t 9

1.2.2 Chế tài là biện pháp cưỡng chế do pháp luật quy định 10

1.2.3 Chế tài pháp luật xác định hậu quả pháp lý bất lợi mà chủ thể vi phạm pháp luật phải gánh chịu 11

1.2.4 Chế tài pháp luật được bảo đảm thực hiện bằng quyền lực nhà nước 11

1.2.5 Chế tài được đặt ra nhằm đáp ứng yêu cầu về công bằng xã hội và công l ý 12

1.3 Vai trồ của chế tài pháp lu ậ t 13

1.3.1 Chế tài là bộ phận quan trọng, không thể Ibiếu của quy phạm pháp luật, ấn chih các biện pháp cưỡng chế nhà nước bảo đảm cho nghĩa vụ trong quy định được thực h iện 13

1.3.2 Vai trò bảo đảm công bằng xã hỏi, duy trì công l ý 13

1.3.3 Vai trò phòng ngừa vi phạm pháp lu ậ t 15

1.4 Phân loại chê tài pháp lu ậ t 16

1.4.1 Theo các dạng vi phạm pháp luật cơ b ả n 17

14.1.1 C hế tài hình s ự 17

1.4.1.2 C hế tài hành chính 18

1.4.1.3 C hế tài kỷ lu ậ t 18

1.4.1.4 C hế tài dân s ự 19

1.4.2 Theo tính chất của chế tài pháp lu ậ t 20

1.4.2.1 C hế tài p h ạ t 20

1.4.2.2 C hế tài khôi p h ụ c 21

Trang 4

1.4.3 Theo thiệt hại thực tế của vi phạm pháp luật và phương

thức bồi hoàn của chủ thể vi phạm 22

1.4.3.1 C hế tài vật c h ấ t 22

1.4.3.2 C hế tài phi vật c h ấ t 22

1.4.4 Theo góc độ kỹ thuật lập pháp 22

1.4.4.1 C hế tài tuyệt đối dứt khoát 22

1.4.4.2 C hế tài tương đối dứt khoát 23

1.4.4.3 C hế tài lựa c h ọ n 23

1.5 Tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của hệ thống chế tài pháp lu ậ t 24

1.5.1 Tính hệ thống và đồng b ộ 24

1.5.2 Tính ổn định 24

1.5.3 Tính phân h o á 25

1.5.4 Tính khả th i 26

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG CHẾ TÀI PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ MỘT s ố GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 2.1 Thực trạng hệ thống chế tài pháp luật Việt Nam hiện n a y 29

2.1.1 Chế tài hình s ự 29

2.1.2 Chế tài hành chính 36

2.1.3 Chê tài kỷ lu ậ t 43

2.1.4 Chế tài dân s ự 47

2.2 M ột số giải pháp hoàn thiện hệ thống ch ế tài pháp luật Việt N a m 50

2.2.1 Chế tài hình s ự 51

2.2.2 Chế tài hành chính 52

2.2.3 Chế tài kỷ lu ậ t 54

2.2.4 Chế tài dân s ự 55

KẾT L U Ậ N 57

TÀI LIỆU THAM K H Ả O 59

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Xã hội là một cộng đồng người Trong cộng đồng đó thường xuyên nảy sinh những quan hệ hết sức phong phú, đa dạng và phức tạp Mọi xã hội chỉ có thể tồn tại và phát triển trên cơ sở của ổn định và trật tự, được hình thành và bảo vệ bởi rất nhiều các quy phạm xã hội khác nhau Pháp luật là công cụ quản lý xã hội của nhà nước, được ban hành nhằm hướng mọi thành viên trong

xã hội xử sự theo những cách thức mà nhà nước mong muốn Nhà nước nào cũng mong muốn pháp luật do mình ban hành phải được tôn trọng và thực hiện nghiêm minh Vì vậy, nhà nước nào cũng đấu tranh phòng và chống vi phạm pháp luật- Khi một chủ thể xử sự trái với sự cho phép của pháp luật thì phải có những biện pháp thích ứng để áp dụng với chủ thể đã không tôn trọng pháp luật đó Những biện pháp đó là chế tài pháp luật Chế tài pháp luật đặt ra nhằm bảo vệ chế độ xã hội, bảo vệ lọi ích của nhà nước, quyền, lợi ích của nhân dân, cứa tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật, tạo điều kiện cho những quan

hệ xã hội phát triển đũng hướng, bảo đảm cho quá trình điều chi.ih pháp luật được tiến hành bình thường và có hiệu quả Chế tài pháp luật là công cụ cưỡng chế nhà nước có sức mạnh to lớn nhất trong việc đấu tranh và phòng ngừa vi phạm pháp luật, bảo đảm công bằng và trật tự xã hội

Ở Việt Nam, qua hơn hai mươi năm thực hiện đường lối đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu quan trọng và đem lại sự biến đổi tích cực,

đa dạng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội Quá trình đổi mới và hội nhập cũng đang đòi hỏi chúng ta phải có sự thay đổi, phát triển, hoàn thiện về mọi mặt, mà một trong những nhiệm \ụ hàng đầu là hoàn thiện hệ thống pháp luật

Hệ thống pháp luật của chúng ta đã có những bước phát triển tích cực, từng bước phát huy vai trò quản lý xã hội, song cũng còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập, bất hợp lý Bên cạnh đó, quá trình đổi mới và phát triển đất nước cũng có

Trang 7

mặt tiêu cực là tình trạng vi phạm pháp luật ngày càng phổ biến và biến động khó lường, số lượng hành vi phạm pháp tăng nhanh, hậu quả ngày càng lớn, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt Thực tiễn đó đòi hỏi công cụ đấu tranh của nhà nước phải thật sắc bén và hiệu quả.

Về mặt lý luận khoa học luật, vấn đề chế tài pháp luật cũng chưa được đặt đúng tầm Cho đến nay, chưa có một công trình chuyên khảo nào về chế

tài pháp luật mà mới dừng lại ở việc nghiên cứu riêng lẻ hoặc một khía cạnh,

một nội dung nào đó trong vấn đề này Chế tài chủ yếu được tiếp cận dưới góc

độ của khoa học pháp lý chuyên ngành, kết quả nghiên cứu cũng chưa có sự thống nhất cao Do vậy, chế tài pháp luật bị chia nhỏ, rời rạc mà thiếu đi cái nhìn tổng quát và hệ thống

Xuất phát từ những lý do trên, người viết chọn đề tài “Chế tài pháp luật

- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay” để làm luận văn

cao học luật

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Mặc dù chưa có những công trình chuyên khảo nào về chế tài pháp luật trên cả phương diện lý luận và thực tiễn nhưng đề tài cũng đã được các nhà

khoa học quan tâm nghiên cứu ở những góc độ nhất định và mức độ sâu, rộng khác nhau Đáng chú ý nhất là Luận án “Chếtài hành chính - Lý luận và thực

tiễn ” của NCS Vũ Thư, nghiên cứu một cách tổng quát, tương đối đầy đủ về

chế tài hành chính Một số giáo trình đã đề cập đến vấn đề này như: Giáo trình

Lý luận Nhà nước và pháp luật của Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lý luận

về chung về Nhà nước và pháp luật của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật của Học viện Hành chính quốc

gia Một số bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành như: Hoàn thiện các

quy định của Bộ luật Hình sự về hình phạt và quyết định hình phạt của Th.s

Phạm Mạnh Hùng - Tạp chí Kiểm sát số 4/2001, v ề trách nhiệm kỷ luật hành

chính của Th.s Nguyễn Hữu Phúc - Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 3/2006,

Trang 8

Vê trách nhiệm pháp lý của TS Hoàng Thị Ngân - Tạp chí Nghiên cứu lập

pháp số 1/2001, Một s ố vấn đề hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành

chính của TS Lê Vương Long, - Tạp chí Luật học số đặc san về xử lý vi phạm

hành chính năm 2004, Trách nhiệm pháp lý theo luật hiến pháp của TS Vũ Thư - Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 12/2003; Trách nhiệm hiến pháp của Bùi Ngọc Sơn - Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 4/2003, Một số vấn dề vê'

oháp luật kỷ luật đối với cán bộ, công chức của Th.s Lương Thanh Cường -

Tạp chí Dân chủ và pháp luật số 3/2007 Nhìn chung, các bài viết chủ yếu dưới lăng kính của các khoa học pháD lý chuyên ngành, không trực tiếp nghiên cứu về chế tài mà đề cập đến các nội dung có liên quan chặt chẽ đến chế tài mà thôi

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Đây là một vấn đề rộng và phức tạp, luận văn tập trung nghiên cứu một

số vấn đề lý luận cơ bản về chế tài pháp luật như bản chất, đặc điểm, vai trò, phân loại, tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của hệ thống chế tài pháp luật Nghiên cứu thực trạng của hệ thống chế tài theo pháp luật Việt Nam hiện hành, từ đó đưa ra một số giải pháp hoàn thiện hệ thống chế tài

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, phương pháp khảo cứu tài liệu và kế thừa những kết quả nghiên cứu đã

có, phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, lịch sử, suy luận logíc

5 Mục đích, nhiệm yụ của việc nghiên cứu đề tài

Như tên gọi của đề tài: “Chế tài pháp luật - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay”, trọng tâm nghiên cứu của luận văn là pháp luật vật chất về chế tài pháp luật Mục đích của việc nghiên cứu đề tài này là [àm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cơ bản xung quanh chế tài pháp luật, đồng

Trang 9

thời với việc nghiên cứu hệ thống chế tài theo quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng Từ đó đưa ra giải pháp, đề xuất hoàn thiện hệ thống chế tài pháp luật nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả phòng chống vi phạm pháp luật trong điều kiện hiện nay.

Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ đặt ra cho việc nghiên cứu đề tài là:

- Xây dựng quan niệm tổng quát về chế tài pháp luật, những tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của hệ thống chế tài pháp luật, tạo cơ sở lý luận cho việc giải quyết những vấn đề tiếp theo

- Đánh giá thực trạng hệ thống chế tài pháp luật hiện hành trong mối liên hệ với lý luận và thực tiễn đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật

- Đưa ra phương hướng, đề xuất hoàn thiện hệ thống chế tài pháp luật

6 Cơ cấu của luận văn

Ngoài lời nói đầu và kết luận, luận văn được chia làm hai chương:

Chương I: Một số vấn đề lý luận cơ bản về chế tài pháp luật

Chương II: Thực trạng hệ thống chế tài pháp luật Việt Nam hiện nay và một số giải pháp hoàn thiện

Trang 10

lý luận mà còn quan trọng trong thực tiễn đời sống pháp lý Hệ thống tri thức

lý luận vể chế tà pháp luật bao gồm rất nhiều vấn đề, được mở rộng và hoàn thiện không ngừng, trong đó những nội dung cơ bản phải kể đến là: bản chất, đặc điểm, vai trò, phân loại chế tài pháp luật, các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của hệ thống chế tài pháp luật

1.1 Bản chất của chế tài pháp luật

Trong khoa học pháp lý, chế tài pháp luật được nhìn nhận dưới hai góc độ: Một là: một bộ phận của quy phạm pháp luật; Hai là: biện pháp cưỡng chế nhà nước mà Nhà nước dự kiến áp dụng với chủ thể vi phạm pháp luật Muốn hiểu đúng về bản chất của chế tài pháp luật, phải nghiên cứu chế tài từ cả hai góc độ này

Lý luận vể pháp luật đã chỉ ra rằng quy phạm pháp luật được đặt ra để điều chi ih quan hệ xã hội Do đó quy phạm pháp luật phải thỏa mãn ba yêu cầu: áp dùng vào trường hợp nào? trong trường hợp đó Nhà nước muốn người dân phải xử sự như thế nào? nếu xử sự không đúng yêu cầu của Nhà nước thì Nhà nước sẽ áp dụng biện pháp gì? Tương ứng với việc thỏa mãn ba yêu cầu trên là ba bộ phận cấu thành của một quy phạm pháp luật (theo quan điểm truyền thống) có quan hệ chặt chẽ với nhau là giả định, quy định và chế tài

Trang 11

Nếu bộ phận giả định nêu ra những tình huống (hoàn cánh, điều kiện)

có thể xảy ra trong đời sống xã hội mà quy phạm pháp luật sẽ tác động đối với những chủ thể (tổ chức, cá nhân) nhất định, bọ phận quy định nêu lên những cách xử sự mà các chủ thể có thể hoặc buộc phải thực hiện gắn với những tình huống đã nêu ở phần giả định của quy phạm pháp luật, thì:

Chế tài là một phần của quy phạm pháp luật chỉ ra các biện pháp mang tính trừng phạt mà các chủ thể có thẩm quyền áp dụng quy phạm có thể

áp dụng đối với các chủ thể vi phạm pháp luật, không thực hiện đúng những mệnh lệnh đã nêu trong phần quy định của quy phạm pháp luật [26]

Phần chế tài của quy phạm pháp luật thường trả lòi cho câu hỏi: các chủ thể có thẩm quyền áp dụng quy phạm có thể áp dụng những biện pháp nào đối với các chủ thể vi phạm pháp luật, không thực hiện đúng những mệnh lệnh đã nêu trong phần quy đ ih của quy phạm pháp luật Chế tài có quan hệ chặt chẽ với giả định và quy định Giả định và quy định nêu tiền đề để có thể áp dụng chế tài, còn chế tài làm cho giả ciiah và quy định được thực hiện nghiêm túc Xét về cấu trúc, ba bộ phận này tạo thành một quy phạm pháp luật hoàn chỉnh theo quan điểm truyền thống

Như vậy, chế tài là một bộ phận quan trọng của quy phạm pháp luật Thực tế, có nhiều quy phạm không có bộ phẠn chế tài nhưng thực chất đó là những quy tắc xử sự không mang tính bắt buộc, hoặc khi cần áp dụng chế tài thì viện dẫn ở quy phạm khác Mặc dù vậy, không ai có thể phủ nhận vai trò của bộ phận chế tài, bởi vì nếu thiếu hộ phận này ở tất cả các quy phạm pháp luật thì hệ thống pháp luật sẽ hụt hẫng về cấu trúc, thiếu về nội dung và mất đi sức mạnh to lớn đặc trưng của nó: tính cưỡng chế Nhà nước Nếu không dự liệu được những hậu quả to lớn của việc không xử sự theo yêu cầu của pháp luật thì các chủ thể trong xã hội khó có thể tuân thủ một cách nghiêm chỉnh, thậm chí còn liên tục vi phạm

Trang 12

ở góc độ thứ hai, chế tài pháp luật là biện pháp cưỡng chế nhà nước mà Nhà nước dự kiến áp dụng với chủ thể vi phạm pháp luật Trong khoa học pháp lý, nhìn chung các học giả tương đối thống nhất về nội hàm khái niệm chế tài pháp lý Tuy nhiên, cũng còn một vài ý kiến khác nhau.

Theo quan điểm thứ nhất, chế tài chính là trách nhiệm pháp lý của chủ thể vi phạm pháp luật Những người theo quan điểm này cho rằng chế tài là sự hiện thực hoá trách nhiệm pháp lý, hay nói cách khác, trách nhiệm pháp lý, suy cho cùng là áp dụng và thực hiện các chế tài pháp luật Quan điểm này có

lẽ xuất phát từ việc chế tài là dấu hiệu điển hình của trách nhiệm pháp lý, giữa chế tài và trách nhiệm có mối quan hệ trực tiếp và chặt chẽ Có thể nói đây là hai khái niệm cùng bậc và mỗi khái niệm tồn tại dựa vào khái niệm khác Mặc

dù vậy, chế tài và trách nhiệm pháp lý có nhiều điểm khác biệt cơ bản Thứ nhất, chế tài là khái niệm được nhìn chủ yếu từ góc độ pháp lý còn trách nhiệm, ngoài góc độ pháp lý còn được xem xét từ góc độ triết học, xã hội, đạo đức về mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội Thứ hai, chế tài ở trạng thái

"tĩnh" còn trách nhiệm ở trạng thái "động" Thứ ba, chế tài chỉ đui c ghi nhận trong các quy phạm vật chất, còn trách nhiệm pháp lý được cấu thành từ cả nhóm quy phạm vật chất và nhóm quy phạm thủ tục, trong đó có vấn đề sự cần thiết và trình tự, thủ tục áp dụng chế tài Do vậy, quan điểm cho rằng chế tài chính là trách nhiệm pháp lý của chủ thể vi phạm pháp luật là không hợp lý

Quan điểm thứ hai đồng nhất chế tài với cưỡng ché nhà nước Các nhà luật học đều thống nhất chế tài là các biện pháp cưỡng chế nhà nước, tuy nhiên không phải biện pháp cưỡng chế nhà nước nào cũng là chế tài

Từ điển tiếng Việt định nghĩa cưỡng chế là: "dùng quyển lực nhà nước bắt phải tuân theo" [28]

Theo đó, cưỡng chế được hiểu là biện pháp mang tính quyền lực nhà nước do cơ quan có thẩm quyền áp dụng, nhằm tác động lên tâm lý, tư tưởng, hành vi của công dân, buộc họ phải thực hiện các nghĩa vụ do pháp luật quy

Trang 13

định Cưỡng chế trong pháp luật theo nghĩa rộng thể hiện ở chỗ nhà nước quyết định có tính quyền lực về vấn đề nào đó có tính độc lập với ý chí của các cá nhân riêng biệt Còn cưỡng chế theo nghĩa hẹp là các biện pháp cưỡng chế cụ thể được áp dụng trong trường hợp có vi phạm pháp luật Như vậy, chỉ

có thể đồng nhất khái niệm chế tài với cưỡng chế nhà nước nếu hiểu cưỡng chế theo nghĩa hẹp Nhưng trong khơa học luật, khái niệm cưỡng chế vẫn thường được hiểu theo nghĩa rộng Mặt khác, có một số biện pháp cưỡng chế nhà nước được áp aụng ngay cả khi không xay ra vi phạm pháp luật - điều kiện tiên quyết để áp dụng chế tài, ví dụ như các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn hoặc trưng thu, trưng dụng tài sản nào đó vì lý do an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng

Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật của Khoa Luật - Trường Đại học Quốc gia định nghĩa: "Chế tài là một bộ phận của quy phạm pháp luật nêu lên những biện pháp tác động mà nhà nước dự kiến áp dụng đối với chủ thể không thực hiện đúng mệnh lệnh của nhà nước đã nêu trong bộ phận quy định của quy phạm pháp luật" [14] Xem xét quan điểm này, có thể khẳng định rằng không thể đồng nhất mọi biện pháp tác động của nhà nước với chế tài pháp luật bởi vì có rất nhiều biện pháp tác động của nhà nước đối với chủ thể vi phạm pháp luật không phải là chế tài Chẳng hạn, trong pháp luật hành chính, chế tài hành chính bao gồm các hình thức xử phạt chính và các hình thức xử phạt bổ sung; còn các biện pháp xử lý hành chính khác không được coi là chế tài như giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, quản chế hành chính

Bên cạnh đó, lại có quan điểm cho rằng chế tài là biện pháp trừng phạt của nhà nước Có thể thấy rằng, quan niệm này quá nghiêng về khía cạnh trừng trị của chế tài pháp luật Chế tài được áp dụng nhằm nhiều mục đích, tuy nhiên trừng phạt không phải là mục đích cuối cùng và quan trọng nhất Trong

Trang 14

hàng loạt các chế tài của hệ thống pháp luật, có những chế tài mang tính trừng phạt nhưng còn một phần không nhỏ chủ yếu mang tính cảnh cáo hoặc nhằm khắc phục, đền bù thiệt hại, thậm chí một số ít khác lại khó xác định dù chỉ một trong các mục đích trên Chính vì vậy, trong hệ thống chế tài pháp luật nói chung có sự phân hoá các biện pháp cưỡng chế tương ứng với mức độ nghiêm trọng của hành vi vi phạm pháp luật chứ không phải chỉ là các biện pháp trừng phạt nghiêm khắc Do vậy, khi xây dựng và áp dụng chế tài, dường như không thể không tính đến một quan điểm đã được thừa nhận chung, đó là

đề cao ý nghĩa giáo dục của việc áp dụng chế tài

Từ sự phán tích một số quan điểm về chế tài pháp luật, khái niệm chế tài dưới góc độ thứ hai cũng dần dần được làm rõ Theo quan điểm có tính truyền thống, phổ biến thì chế tài pháp luậl là những biện pháp cưỡng chế nhà nước áp dụng với chủ thể vi phạm pháp luật Ở đây, điều quan trọng nhất là chỉ ra hậu quả pháp lý bất lợi của việc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, được thể hiện bằng việc áp dụng đối với chủ thể đó những biện pháp cưỡng chế nhà nước do pháp luật quy định Hậu quả bất lợi này thực chất là gây cho chủ thể những thiệt hại nhất định về vật chất hoặc tinh thần

Như vậy, có thể đưa ra khái niệm tổng quát về chế tài pháp luật như sau:

C hế tài pháp luật là bộ phận của quy phạm pháp luật, xác định những biện pháp cưỡng chế nhà nước mà nhà nước dự kiến áp dụng đối với chủ thể

vi phạm pháp luật, được bảo đảm thực hiện băng quyền lực nhà nước, nhằm phòng ngừa và loại bỏ vỉ phạm pháp luật, đáp ứng yêu cầu về công bằng

xã hội và công lý.

1.2 Đặc điểm của chẽ tài pháp luật

Trên cơ sở khái niệm chế tài pháp luật, có thể rút ra những đặc điểm cơ bản của chế tài pháp luật như sau:

Trang 15

1.2.1 Chê tài ỉà bộ phận "động" nhất của quy phạm pháp luật, phụ thuộc bộ phận quy định của quy phạm pháp luật

Trong ba bộ phận có quan hệ hữu cơ, chặt chẽ của quy phạm pháp luật

là giả định, quy định và chế tài, thì chế tài được coi là bộ phận "động" nhất Nếu như bộ phận giả định và quy định có tính khái quát và ổn định tương đối, thì chế tài có thể được áp dụng một cách linh hoạt đối với các vi phạm pháp luật xảy ra rất phong phú, đa dạng trong đời sống xã hội mà không phí thay đổi quy phạm pháp luật Việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước ở các mức độ khác nhau mà các loại chế tài pháp luật xác định làm tăng hiệu quả của quy phạm pháp luật, đưa quy phạm đi vào thực tiễn dễ dàng hơn Điều này có thể thấy rõ nhất ở loại chế tài tương đối dứt khoát hoặc chế tài lựa chọn Ví dụ: Khoản 1 Điều 102 BLHS năm 1999 quy định: "Người nào thấy người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, tuy có điều kiện

mà không cứu giúp dẫn đến hậu quả người đó chết, thì bị phạt canh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm" Ở đây, điều luật đưa ra ba hình phạt khác nhau để chủ thể áp dụng pháp luật lựa chọn, cho thấy sự linh hoạt của bộ phận chế tài

Bên cạnh đó, chế tài lại phụ thuộc vào bộ phận quy định Mức độ, tính chất nghiêm khắc của biện pháp cưỡng chế mà chế tài nêu lên phụ thuộc vào tính chất của nghĩa vụ mà chủ thể phải thực hiện được nêu trong phần quy định Nghĩa vụ càng quan trọng thì biện pháp cưỡng chế càng nghièm khắc

1.2.2 C hế tài là biện pháp cưỡng chế do pháp luật quy định

Để thiết lập trật tự xã hội, có nhiều dạng quy phạm xã hội cùng tham gia điều chỉnh, tương ứng với chúng là các dạng trách nhiệm xã hội phong phú vcd các hình thức xử lý chủ thể không tuân thủ cũng rất đa dạng Nhưng trong các hình thức đó, chỉ có chế tài là được pháp luật quy định và điều chỉnh Chỉ

có nhà nước mới có quyền quy định hành vi nào là hành vi vi phạm pháp luật (tách chúng ra khỏi phạm vi những hành vi vi phạm nói chung) Bằng việc quy

Trang 16

định đó, nhà nước đã chỉ ra những quan hệ xã hội quan trọng nhất cần được bảo vệ bằng pháp luật Đồng thời, nhà nước quy định hậu quả pháp lý bất lợi đối với chủ thể xâm phạm những quan hệ đó, đó chính là các chế tài pháp luật Mật khác, chế tài thể hiện trách nhiệm nghiêm khắc nhất, tác động trực tiếp đến nhân thân hoặc tài sản của chủ thể gánh chịu nên cần và chỉ được pháp luật quy định Chính vì vậy, hệ thống chế tài phụ thuộc rất lớn vào ý chí của nhà nước Thông qua pháp luật, nhà nước xác định một cách cụ thể điều kiện, thẩm quyền, thủ tục áp dụng từng loại chế tài và các bảo đảm để các chế tàỉ

đó được thực hiện trên thực tế

1.2.3 C h ế tài pháp luật xác định hậu quả pháp lý bất lợi mà chủ thể

vỉ phạm pháp luật phải gánh chịu

Trong một xã hội, nhất là xã hội xã hội chủ nghĩa, tự do của mỗi người

là điều kiện để phát triến tự do của người khác Mỗi cá nhân được tự do hành động nhưng đó là sự tự (ỉo trong khuôn khổ, tự do nhưng không xâm phạm đến lợi ích của nhà nưóc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Pháp luật chính là ranh giới của sự cho phép, vượt ra ngoài ranh giới đó, trong đa số các trường hợp là phải gánh ch Ịu hậu quả bất lợi Hậu quả bất lợi này là biểu hiện cụ thể của thái độ của nhà nước, xã hội đối với hành vi bất hợp pháp mà chủ thể vi phạm pháp luật đã thực hiện Hậu quả bất lợi ở đây có thể là sự tước đoạt hoặc hạn chế về quyền, lợi ích đối với chủ thể Các hình thức này khá đa dạng, phù hợp với tính đặc thù của mỗi loại vi phạm Vi phạm càng nghiêm trọng thì chế tài càng nghiôm khắc

1.2.4 C h ế tài pháp luật được bảo đảm thực hiện bằng quyền lực nhà nước

Pháp luật do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện Nó có sức mạnh của quyền lực nhà nước và có thể tác động đến tất cả mọi người Chế tài là một bộ phận của pháp luật, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, nên cũng

Trang 17

không nằm ngoài đặc trưng đó Đây cũng là điểm khác biệt giữa chế tài với các hình thức xử lý chủ thể vi phạm của các loại quy phạm xã hội khác Các quy phạm xã hội khác được bảo đảm thực hiện bằng dư luận xã hội hay quy định nội bộ của nó, tính bắt buộc và nghiêm khắc không cao như chế tài

pháp luật

Khi nhà nước áp dụng chế tà- - biện pháp cưỡng chế đối với chủ thể vi

phạm pháp luật, nghĩa là nhà nước quyết định có tính quyền lực về vấn đề đó

độc lập vói ý chí của chủ thể Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã

chỉ ra rằng, quyền lực xã hội, mà quyền lực nhà nước là một dạng đặc biệt, là

chức năng xã hội vốn có trong mọi xã hội Bản chất của nó là ở chỗ ý chí của

một bên buộc bên kia phải tuân theo, mặt khác, nó bao hàm cả ý nghĩa phục

tùng [11] Chế tài buộc chủ thể vi phạm phải chịu những hậu quả bất lợi, mà

"bất lợi" thì không chủ thể nào mong muốn, cho nên trong nhiều trường hợp,

chủ thể không tự giác thực hiện Trong trường hợp đó, nhà nước - với những

sức mạnh đặc thù riêng có củ L mình, sẽ tác động đến chủ thể vi phạm để bảo

đảm chế tài được thực hiện Đó là sự thể hiện của luận điểm khòng có tranh

luận của chủ nghĩa Mác - Lênin rằng: pháp luật không là cái gì nếu thiếu bộ

máy có khả năng cưỡng chế đối với sự tuân thủ các quy phạm pháp luật

và công lý

Công bằng là một giá trị to lớn vĩnh cửu mà loài người hướng tói Luật

là công bằng, thực thi luật là thực thi công lý Nhà nước quản lý xã hội bằng

pháp luật, nắm trong tay công cụ có sức mạnh đặc biệt để thay mặt toàn thể xã

hội tlnết lập và giữ gìn trật tự công; đồng thời, bảo vệ các quyền, lọi ích chính

đáng của các chủ thể trong xã hội Tuy nhiên, trong xã hội ấy, có một mặt tiêu

cực luôn tồn tại, đó là vi phạm pháp luật Chế tài là công cụ để nhà nước đối

phó, phán xử, triệt tiêu vi phạm pháp luật nhằm đạt được mục đích nói trên

Các chế tài thể hiện thái độ của nhà nước đối với các vi phạm, thể hiện hậu

Trang 18

quả bất lợi mà chủ thể vi phạm phải gánh chịu do hành vi sai trái của mình

Thái độ của nhà nước, hậu quả bất lợi có tương xứng với tính chất, mức độ của

hành vi vi phạm, với quan hộ xã hội bị xâm hại, với nhân thân người vi phạm

thì mới có thể đạt được công bằng

Công bằng xã hội và công lý đối vói việc phòng chống vi phạm pháD

luật có mối quan hộ chặt chẽ, gắn bó và trong điều kiện hiện nay, công bằng

xã hội để đạt được công lý là yêu cầu vô cùng quan trọng đối với chế tài

1.3 Vai trò của chẽ tài pháp luật

pháp luật, ấn định các biện pháp cưỡng chế nhà nước bảo đảm cho nghĩa

vụ trong quy định dược thực hiện

Cùng với giả định và quy định, chế tài là yếu tố không thể thiếu để pháp

luật thực hiện tác động, điểu chỉnh các quan hệ xã hội Mỗi yếu tố điều chỉnh

tuy thực hiện chức năng độc lập tương đối, nhưng chúng nằm trong mối liên

hệ và phụ thuộc lẫn nhau Theo cấu trúc phổ biến nhất của một quy phạm

pháp luật thì giả định chỉ ra các điều kiện, chủ thể, không gian, thòi gian có

hiệu lực của quy L^nh; quy định xác định nội dung của quy tắc hành vi dưới

dạng quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hộ xã hội được điều chỉnh

Còn chế tài ấh định các biện pháp cưỡng chế nhà nước bảo đảm cho nghĩa vụ

trong quy định được thực hiện và luôn gắn với vi phạm pháp luật

Trong khoa học pháp lý, trước đây đa số các nhà nghiên cứu cho rằng

quy phạm pháp luật bắt buộc gồm 3 yếu tố nói trên Nhưng hi ên nay đã có

những quan điểm khác với cách hiểu truyền thống này [12] và trên thực tế

cũng dễ dàng thấy rất nhiều quy phạm pháp luật cấu tạo không có bộ phận chế

tài Tuy nhiên, không phải vì thế mà nghĩa vụ trong quy định không được bảo

đảm thực hiện Thực chất, chúng được bảo đảm ở điều luật hoặc văn bản luật

khác và như vậy chế tài vẫn khẳng định được vai trò của mình

Trang 19

1.3.2 Vai trò bảo đảm công bằng xã hội, duy trì công lý

Để khẳng định được vai trò cốt lõi, đích thực của chế tài pháp luật, cần xem xét mối liên hộ giữa chế tài với vai trò xã hội của chế tài Nói đến hình phạt - loại chế tài nghiêm khác nhất, C.Mác quan niệm: "không là cái gì khác hơn ngoài phương tiện tự bảo vệ mình của xã hội chống lại các vi phạm điều kiện tồn tại của nó" [7] Khái quát của C.Mác đã thể hiện vai trò và những đặc tính của hình phạt dưới góc độ xã hội học Khi C.Mác nói "hình phạt là phương tiện tự bảo vệ mình của xã hội" là đã nhấn mạnh tính xã hội của hình phạt Mở rộng ra, cũng có thể hiểu tương tự về vai trò xã hội của chế tài

Vai trò của pháp luật nói chung và chế tài nói riêng là ở việc bảo đảm các điều kiện cần thiết mà trước hết là trật tự xã hội, để xã hội tồn tại và phát triển Trật tự pháp luật - bộ phận cơ bản nhất của trật tự xã hội, chỉ có thể được củng cố, bảo đảm trên cơ sở đấu tranh chống và phòng ngừa những hành vi vi phạm pháp luật, x ử lý kịp thời, nghiêm minh các vi phạm pháp luật, khắc phục nhanh chóng và kịp thời những hậu quả do những hành vi đó gây nên thì trật tự pháp luật mới được bảo đảm Trật tự pháp luật được bảo đảm là cơ sở để duy trì trật tự xã hội Trật tự xã hội được thiết lập và duy trì mới bảo đảm cho mọi ngưòi trong xã hội có một cuộc sống chung trật tự, ổn định và bền vững; bảo đảm cho sự hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức, các giá trị xã hội ngày càng được nâng cao

Vai trò cốt lõi đó xuất phát từ mục đích mà chế tài hướng tới là bảo đảm công bằng xã hội và phòng ngừa vi phạm pháp luật Công bằng xã hội chẳng những cho phép mà còn đòi hỏi chế tài phải có tính trừng trị và chẳng những trừng trị, mà phải trừng trị đích đáng, nghiêm minh Nói cách khác, đó là việc

tái lập công bằng, xác lập công lý Điều này hoàn toàn phù hợp với chức năng

của cả hộ thống pháp luật nói chung cũng như rủa từng ngành luật Chẳng hạn, trong luật dân sự, việc tái lập lại trật tự thông qua chế tài bồi thường thiệt hại là yếu tố cơ bản Nguyên tắc về công bằng xã hội, yêu cầu về công lý đã

Trang 20

không loại trừ khả năng tước quyền sống của người phạm tội trong những trường hợp hậu quả nguy hiểm mà người đó gây ra cho xã hội là đặc biệt nghiêm trọng Song, đó không phải là sự trừng trị mang tính trả thù, mà là sự trung trị mang tính nhân đạo sâu sắc nếu xét đến lợi ích chung của cộng đồng

xã hội, xét nó như một phương tiện tác động nhà nước làm cho chủ thể vi phạm và những ngưòi khác nhận thức đúng đắn giá trị xã hội của pháp luật

Do vậy, công bằng xã hội vừa là xuất phát điểm, vừa là giới hạn của trừng trị trong chế tài

1.3.3 Vai trò phòng ngừa vi phạm pháp luật

Công bằng xã hội và công lý, một mặt được bảo đảm bằng cách lập lại khi nó bị phá vỡ, nhưng mặt khác, phương pháp tối ưu lại là bảo đảm bằng cách không để nó bị phá vỡ, nói cách khác là ngăn ngừa, phòng ngừa vi phạm

công bằng xã hội Đây cũng chính là vai trò cốt lõi thứ hai cúa chế tài: phòng

ngừa vi phạm pháp luật Chế tài trừng trị chủ thể vi phạm nhưng cũng giữ vai

trò giáo dục chủ thể Biện pháp cưỡng chế mang tính chất trừng phạt mà chủ thể vi phạm pháp luật phải gánh chịu không chỉ hạn chế về nhân thân hay tài sản của người đó mà còn tác động đến ý thức CLia chủ thể, giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống chung xã hội Và không chỉ tác động trực tiếp đến chủ thể vi phạm pháp luật, chế tài còn ngăn ngừa, răn đe tất cả những chủ thể khác trong xã hội, khiến họ phải kiềm chế, giữ mình không vi phạm pháp luật Điểu này trước hết có tác dụng với những chủ thể

"không vững vàng" trong xã hội Trong trường hợp này, các biện pháp cưỡng chế được áp dụng làm cho những chủ thể "không vững vàng" thấy trước được hậu quả pháp lý bất lợi nếu họ cố tình vi phạm pháp luật Dưới tác động của các chế tài pháp luật, bằng sự lên án và đánh giá xấu của nhà nước và xã hội đối với hành vi vi phạm sẽ làm diễn ra quá trình tâm lý ở người vi phạm và những người khác, tạo ra sự củng cố, thay đổi nhất định về quan điểm, tình cảm, thói quen, hành vi pháp ỉuật Họ sẽ thấy được sự cần thiết phải tuân theo

Trang 21

pháp luật, kiềm chế, từ bỏ ý định phạm pháp hoặc thận trọng hơn trong cách

xử sự để tránh xử sự của mình trở thành vi phạm pháp luật Mặt khác, áp dụng chế tài còn tác động đến tất cả các chủ thể khác trong xã hội theo hai hướng Trước hết, biện pháp cưỡng chế được áp dụng có tác dụng giáo dục ý thức tôn trọng và thực hiện pháp luật nghiêm minh, tạo điều kiện cho mọi người tránh những hành vi vi phạm pháp luật Bên cạnh đó còn làm cho mọi người nhận thức đúng sự công bằng, nhân đạo và tính tất yếu của chế tài, tin tướng vào công lý, tích cực đấu tranh phòng và chống vi phạm pháp luật, hạn chế đến mức thấp nhất hiện tượng vi phạm pháp luật Qua đó hướng tới hoàn thiện con người, hình thành những công dân tự giác tôn trọng và tuân thủ pháp luật

Như vậy, theo chúng tôi, vai trò cốt lõi của chế tài là bảo đảm công

bằng xã hội, duy trí công lý và phòng ngừa vi phạm pháp luật Giữa hai vai trò

này có mối liên hệ chặt chẽ, bổ sung, hỗ trợ cho nhau Trong điều kiện hiện nay, công bãng xã hội để đạt cho được công lý là yêu cầu quan trọng hàng đầu đối với chế tài Việc quy định và áp dụng chế tài trước hết phải nhằm bảo đảm công bằng và cồng lý Nó đòi hỏi chế tài phải tương xứng với tính chất, mức

độ nguy hiểm của hành vi vi phạm Vi phạm điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả phòng ngừa vi phạm pháp luật Một chế tài không công bằng, không nghiêm minh sẽ ít có tác dụng giáo dục, cải tạo chủ thể vi phạm và tác dụng răn đe, giáo dục chung đối với xã hội lại càng hạn chế Phòng ngừa vi phạm pháp luật, nhất là phòng ngừa chung, chỉ có thể đạt hiệu quả cao khi chế tài đáp ứng nguyên tắc công bằng

Ở đây, cũng cần nhấn mạnh rằng không nên tuyệt đối hoá vai trò của chế tài Pháp luật không chỉ có chế tài để bảo đảm công bằng, duy trì công lý

và phòng ngừa vi phạm Và xã hội cũng không phải chỉ có pháp luật để thực hiện những vai trò này Bên cạnh pháp luật còn có đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật , pháp luật chỉ là quan trọng và hữu hiệu nhất mà thôi Nhận thức đúng

về vai trò của chế tài pháp luật, mới có thể vận dụng tốt và hiện thực hoá những vai trò đó

Trang 22

1.4 Phân loại chế tài pháp luật

Chế tài pháp luật có nhiều loại và có nhiều tiêu chí để phân loại Dưới đây xin được trình bày một vài cách phân loại chế tài theo những tiêu chí

cơ bản

1.4.1„ Theo các dạng vi phạm pháp luật cơ bản

Đây là cách thức phân loại phổ biến và có tính truyền thống trong khoa học pháp lý Pháp luật hiện hành quy định các loại vi phạm pháp luật cơ bản sau: tội phạm (vi phạm pháp luật hình sự), vi phạm pháp luật hành chính, vi phạm kỷ luật, vi phạm pháp luật dân sự Tương ứng với các loại vi phạm pháp luật đó, chế tài được chia thành: chế tài hình sự, chế tài hành chính, chế tài kỷ luật, chế tài dân sự Sau đây xin được trình bày về khái niệm và một số đặc điểm riêng của từng loại chế tài pháp luật theo cách phân loại này

Chế tài hình sự có một số đặc điểm riêng sau:

- Chế tài hình sự là các biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất là hình phạt - biện pháp tước bỏ hoặc hạn chế ở chủ thể vi phạm một số quyển hoặc lợi ích hợp pháp Đây là hậu quả pháp lý bất lợi của việc thực hiện hành vi phạm tội Hậu quả này chỉ phát sinh khi có người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật hình sự cấm hoặc không thực hiện những nghĩa vụ ma pháp luật hình sự yêu cầu phải thực hiện

- Chế tài hình sự chỉ có thể được áp dụng bằng trình tự đặc biệt theo quy định của pháp luật mà các cơ quan tiến hành tố tụng có nghĩa vụ phải thực hiện

Trang 23

- Trách nhiệm thực hiện hình phạt của người phạm tội là trách nhiệm đối với nhà nước chứ không phải đối với chủ thể mà quyền và lợi ích của họ bị hành vi phạm tội trực tiếp xâm hại.

- Chế tài hình sự chỉ áp dụng đối với cá nhân thực hiện hành vi phạm tội

- Chế tài hình sự được xác định trong bản án hay quyết định có hiệu lực pháp luật của toà án

1.4.12 Chế tài hành chính

Chế tài hành chính là các biện pháp cưỡng chế nhà nước được quy định trong pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, mà cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật hành chính phải gánh chịu, được bảo đảm thực hiện bằng quyền lực nhà nước, đáp ứng yêu cáu về công bằng xã hội và công lý

Chế tài hành chính có các đặc điểm riêng sau:

- Chế tài hành chính áp dụng với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính

- Trách nhiệm thực hiện chế tài hành chính của cá nhân, tổ chức vi phạm là trách nhiệm trước nhà nước

- Chế tài hành chính được áp dụng ngoài trình tự xét xử của toà án Việc

áp đụng các chế tài hành chính được các chủ thể có thẩm quyển thực hiện theo thủ tục hành chính, trên cơ sở các quy định của pháp luật hành chính

- Thiệt hại Ihực tế không phải là dấu hiệu bắt buộc để áp dụng chế tài hành chính

1.4.13 C hế tài kỷ luật

Chế tài kỷ luật là các biện pháp cưỡng chế nhà nước được pháp luật quy định mà người vi phạm phải gánh chịu, được bảo đảm thực hiện bằng quyền lực nhà nước, đáp ứng yêu cầu vể công bằng xã hội và công lý

Chế tài kỷ luật có những đặc điểm riêng sau:

- Chế tài kỷ luật có thể được áp dụng đồng thời với các dạng chế tàikhác

Trang 24

- Chế tài kỷ luật có hai dạng chính là chế tài kỷ luật hành chính và chế tài kỷ luật lao động.

- Giữa đối tượng bị áp dụng chế tài kỷ luật với chủ thể có thẩm quyền

áp dụng chế tài bao giờ cũng có quan hệ lệ thuộc về tổ chức

- Chế tài kỷ luật không áp dụng với tập thể

1.4.1.4 C h ế tài dân sự

Chế tài dân sự là các biện pháp cưỡng chế nhà nước được quy định trong pháp luật dần sự mà chủ thể vi phạm pháp luật dân sự phải gánh chịu, được bảo đảm thực hiện bằng quyền lực nhà nước, đáp ứng yêu cầu về công bằng xã hội và công lý

Chế tài dân sự có những đục điểm ricng sau:

- Việc thực hiện chế tài dân sự của các tổ chức, cá nhân là nghĩa vụ của

họ trước một tổ chức, cá nhân cụ thể có các quyền, lợi ích dân sự bị xâm hại

- Trong khuôn khố quy định của pháp luật, bên bị vi phạm có toàn quyền lựa chọn và quyết định biện pháp cưỡng chế áp dụng với bên vi phạm

- Chế tài dân sự có thể được áp dụng với chủ thể không trực tiếp thực hiện hành vi vi phạm hoặc không có lỗi

- Chế tài dân sự hầu hết đều mang tính tài sản

Trên đây là các loại chế tài pháp luật được phân loại theo các hình thức

vi phạm pháp luật cơ bản Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu cho rằng cách phân loại này, cho đến nay có thể nói là "chưa hoàn toàn đầy đủ và cần được xem xét thêm" [17] Khoa học pháp lý đang rất quan tâm đến một dạng chế tài khác được pháp luật quy định, đó là chế tài theo luật hiến pháp Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về chế tài pháp luật, chúng tôi cũng mạnh dạn đưa vấn đề chưa được thừa nhận rộng rãi này vào luận văn để tiếp cận vấn đề đầy đủ hơn

Hiến pháp là đạo luật gốc, là văn bản xác lập khuôn khổ pháp lý cho việc tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước Nếu cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân nào vi phạm Hiến pháp thì đều phải chịu trách nhiệm về hành vi của

Trang 25

mình Và mặc dù là chủ thể ban hành ra pháp luật song nhà nước cũng có nghía vụ tuân thủ pháp luật và là chủ thể tham gia các quan hệ pháp luật Kha năng nhà nước để xảy ra vi phạm là hoàn toàn có thể Trách nhiệm đó của nhà

nước và của các cơ quan, tổ chức, cá nhân nêu trên chính là trách nhiệm pháp

lý theo luật hiến pháp Khi đã xuất hiện trách nhiệm pháp lv, tức là sẽ có chế

tài tương ứng, và do đó, có một ớ ing chế tài chưa được đề cập rộng rãi: chế tài

hiến pháp

Chế tài được quy định trong luật hiến pháp hết sức đặc thù Nghiên cứu

các văn bản pháp luật thuộc ngành luật hiến pháp, có thể nhận thấy một loạt

các biện pháp mang tính chế tài như: bãi nhiệm, cách chức, giải tán hội đồng

nhân dân, bãi bỏ văn bản pháp luật, huỷ bỏ kết quả bầu cử, tước quốc tịch

được áp dụng trong quan hệ với hành vi vi phạm pháp luật Các chế tài này

không thể xếp vào bất cứ loại chế tài nào đã được thừa nhận rộng rãi (hình sự,

hành chính, kỷ luật, dân sự) Do vậy, chế tài này phải được xếp vào loại riêng

biệt - chế tài luật hiến pháp Đây là vấn đề đang đòi hỏi phải đưi 1 c nghiên cứu

đầy đủ hơn, sâu sắc hơn

1.4.2.1 C hế tài phạt

Chế tài phạt xác định các biện pháp cưỡng chế nhà nước áp dụng với

chủ thể vi phạm pháp luật bằng cách lên án (có tính quyền lực nhà nước), hoặc

tước, hạn chế quyền, lợi ích về nhân thân, tài sản của chủ thể hay đặt ra nghĩa

vụ mới bổ sung Ví dụ: Khoản 1 Điều 98 BLHS năm 1999 quy định: "Người

nào vô ý làm chết người thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm"

Nhóm chế tài phạt có một số đặc điểm sau:

- Nội dung của phạt chủ yếu mang tính trừng trị, bằng cách lên án (có tính quyền lực nhà nước); hạn chế quyền, lợi ích hoặc bổ sung thêm nghĩa vụ

mới

Trang 26

- Chế tài phạt bảo vệ các quy phạm pháp luật một cách gián tiếp, thông qua sự trừng trị chủ thể vi phạm, để phòng ngừa các vi phạm mới.

- Các hình thức phạt, mức phạt luôn tương ứng với tính chất, mức độ vi phạm trên nguyên tắc ngang bằng

- Đa số các biện pháp phạt được áp dụng trong thời hạn nhất định do pháp luật ấn định, chỉ có một số trường hợp đặc biệt theo quy định của luật hình sự là không có thời hiệu áp dụng

1.4.2.2 C hế tài khôi phục

Chế tài khôi phục là các biện pháp cưỡng chế nhà nước áp dụng với chủ thể vi phạm pháp luật, thực hiện chức năng giải quyết hậu quả do vi phạm pháp luật gây ra bằng cách khôi phục lại quan hệ pháp luật cụ thể đã bị

vi phạm V í dụ: Điều 12 Nghị định số 175/2004/NĐ-CP ngày 10/10/2004 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại quy định: chủ thể vi phạm quy định về kinh doanh dịch vụ cấm kinh doanh, ngoài hình thức phạt tiển còn bị "buộc tiêu liuỷ vật phẩm gây hại cho sức khoẻ con người, sản phẩm văn hoá phẩm phan động, đồi truỵ, mê tín dị đoan hoặc có hại tới giáo dục nhân cách trẻ em"

Nhóm chế tài khôi phục có một số đạc điểm sau:

- Nội dung của chế tài khôi phục đơn giản hơn so với chế tài phạt Việc

áp dụng chúng cũng trên cơ sở vi phạm pháp luật, song không đòi hỏi phải cân nhắc các tình tiết vi phạm kỹ lưỡng như các chế tài phạt

- Nội dung bảo vệ của chế tài khôi phục trùng với quy định của quy phạm pháp luật Tuy nhiên, chế tài khôi phục buộc chủ thể thực hiện nghĩa vụ ghi trong quy định dưới sự cưỡng chế nhà nước và luôn liên quan với vi phạm pháp luật

- Chế tài khôi phục bảo vệ trực tiếp quan hệ xã hội đã bị vi phạm

Trang 27

- Chế tài khôi phục nhằm thực hiện thực tế nghĩa vụ không được

tuân thủ

- Các chế tài khôi phục thường được quy đinh dưới dạng chế tài xác định

tuyệt đối

bồi hoàn của chủ th ể vi phạm

1.4.3.1 C hế tài vật chất

Chế tài vật chất xác định các hậu quả pháp lý bất lợi mang tính tài sản

với chủ thể vi phạm pháp luật Chế tài vật chât liên quan chặt chẽ với hậu quả

của hành vi vi phạm pháp luật về mặt tài sản, nhưng không phải nó chỉ áp

dụng khi có hậu quả về tài sản Trong nhiều trường hợp, chế tài vật chất được

áp dụng khi mà hậu quả và thiệt hại của vi phạm là yếu tố phi tài sản Hậu quả

bất lợi mang tính tài sản thường thể hiện ở việc nộp một khoản tiển phạt, nộp

tiền bồi thường hay những chi phí cần thiết Ví dụ: Điều 629 BLDS năm

2005 quy định: "Cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác gây thiệt hại đến mồ mả

của người khác phải bồi thường thiệt hại Thiệt hại do xâm phạm mồ mả gồm

chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại"

1.4.3.2 C hế tài phi vật chất

Chế tài phi vật chất xác định hậu quả pháp lý bất lợi mà chủ thể vi

phạm pháp luật phải gánh chịu không mang tính vật chất Cũng giống như chế

tài vật chất, chế tài phi vật chất được áp dụng cả trong những trường hợp thiệt

hại do hành vi vi phạm gây ra liên quan đến tài sản Ví dụ: Điều 94 Bộ luật

Lao động năm 2002 quy định: "Khi cơ quan có thẩm quyền kết luận về quyết

định xử lý kỷ luật của người sử dụng lao động là sai, thì người sử dụng lao

động phải huỷ bỏ quyết định đó, xin lỗi công khai, khôi phục danh dự và mọi

quyền lợi vật chất cho người lao động"

Trang 28

1.4.4 Theo góc độ kỹ thuật lập pháp

1.4.4.1 C hế tài tuyệt đối dứt khoát

Chế tài tuyệt đối dứt khoát xác định chính xác, cụ thể biện pháp cưỡng chế sẽ áp dụng với chủ thể vi phạm pháp luật Loại chế tài này được sử dụng nhiều trong các văn bản luật của chế độ phong kiến Ví dụ: Điểu 479 Bộ luật Hồng Đức quy định: "Đánh chết người thì xử tội giảo, đánh chết không phải bằng mũi nhọn và không phải cố ý giết người thì xử tội lưu đi châu xa" [25]

Pháp luật hiện hành rất ít quy định chế tài tuyệt đối dứt khoát do nó không có tính linh hoạt, phù hợp với từng hành vi vi phạm, không phát huy được vai trò của chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật

1.4.4.2 Chế tài tương đối dứt khoát

Chế tài tương đối dứt khoát chỉ xác chnh mức tối thiểu và tối đa của biện pháp cưỡng chế được áp dụng, tuỳ trường hợp cụ thể mà chủ thể có thẩm quyẻn áp dụng pháp luật sẽ quyết định mức cụ thể Loại chế tài này rất phổ biến trong quy định của các ngành luật, đặc biột là luật hình sự và luật hành chính Ví dụ: Khoản 3 Điều 16 Nghị định số 45/2005/NĐ-CP ngày 06/4/2005 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế quy định:

"Phạt tiền từ 20.000.000 đống đến 30.000.000 đồng đối vói hành vi sản xuất thuốc lá có hàm lượng các chất Tar, Nicotin vượt quá mức quy định"

1.4.4.3 C hế tài lựa chọn

Chế tài lựa chọn cho phép chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật lựa chọn biộn pháp cưỡng chế và mức độ cụ thể cho phù hợp với điều kiện, hoàn

cảnh của từng vụ việc trên cơ sở những biện pháp mà chế tài đã nêu ra.

Ví dụ: Điểm a Khoản 1 Điều 7 Nghị óitih số 175/2004/NĐ-CP ngày 10/10/2004 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại quy định: Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 50.000 đồng đến 200.000 đồng đối với hành vi cho thuê, cho mượn giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

Trang 29

1.5 Tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của hệ thống chế tài pháp luật

Nghiên cứu lý luận về chế tài pháp luật, không thể không đề cập đến một

vấn đề rất quan trọng, đó là tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của hệ thống chế

tài Có nhiều tiêu chí khác nhau đế đánh giá mức độ hoàn thiện của hệ thống chế

tài pháp luật, tuỳ theo quan điểm của các nhà nghiên cứu chọn lọc và đặt chúng ở

vị trí quan trọng khác nhau Theo chúng tôi, để đánh giá mức độ hoàn thiện của

một hệ thống chế tài pháp luật, có các tiêu chí cơ bản sau:

1.5.1 Tính hệ thống và đồng bộ

Các dạng chế tài cần được xác lập như một hệ thống, v ề mặt nội dung,

các chế tài cần được xác định rõ vị trí, các mối liên hệ, quan hệ giữa chúng Vị trí

và các mối liên hệ, quan hệ đó ph n ánh phương thức tác động khác nhau của

nhà nước phù hợp vói đặc điểm của các vi phạm pháp luật khác nhau Đặc điểm

chủ yếu của hệ thống chế tài là tính nhất quán về mặt pháp lý Tmh nhất quán

này thể hiện ở mặt bên trong và mặt bên ngoài của hệ thống Mặt bên ngoài đòi

hỏi hệ thống không được có những quy định mâu thuẫn, không nhất quán Mặt

bên trong đòi hỏi hệ thống phải có sự thống nhất, hoàn chỉnh và toàn hệ thống

phải tuân theo nhũng nguyên tắc pháp lý cơ bản, đó là: công bằng, nhân đạo,

bảo đảm pháp chế và kết hợp thuyết phục vói cưỡng chế, trừng trị

Một hệ thống chế tài pháp luật có tính hệ thống và đồng bộ mới có khả năng

phòng ngừa và đấu tranh có hiệu quả bằng pháp luật với các hành vi vi phạm hết

sức đa dạng, phong phú trên nhiều phương diện xã hội

1.5.2 Tính ổn định

Tính ổn định có nghĩa là tính vững chắc, tính không thay đổi, tính cố định,

việc giữ một trạng thái hoặc một mức độ nhất định trong một thời gian dài

PGS.TS Võ Khánh Vinh quan niệm:

Trang 30

Tính ổn định của luật là trạng thái cúa văn bản quy phạm pháp luật ( ) có các thuộc tính thể hiện: ở tính quyết định xã hội, ( tính hiệu quả vững chắc của việc điều chinh các quan hệ xã hội nhằm giải quyết đầy đủ hoặc thoả đáng các nhiệm vụ được đặt ra khi soạn thảo luật; ở việc không có các mâu thuẫn

có thể dẫn đến việc bãi bỏ, sửa đổi từng phần văn bản; ở tổng thể các thuộc tính

cơ bản phản ánh các phẩm chất đầy đủ của luật, quyết định khả năng của luật trong việc làm thoả mãn các nhu cầu và lợi ích cưa xã hội, của công dân; và ở chất lượng cao, trình độ kỹ thuật soạn thảo và ngôn ngữ của luật [29]

Định nghĩa của PGS.TS Võ Khánh Vinh có tính khái quát toàn diện và đầy

đủ các thuộc tính của tính ổn đinh c 'a luật Từ đinh nghĩa này, xét ở cấp độ nhỏ hcm - một bộ phận của quy phạm pháp luật, một phần nhỏ của hệ thống pháp luật

là chế tài, có thể rút ra những điểm chính về tính ổn đinh của hệ thống chế tài pháp luật: Tính ổn đinh của chế tài pháp luật là trạng thái của chế tài có các thuộc tính thể hiện: ở tính quyết định xã hội, ở tính hiệu quả vững chắc của việc điểu chỉnh các quan hệ xã hội ìửiằm giải quyết đáy đủ hoặc thoả đáng các nhiệm

vụ được đặt ra khi xây dựng chế tài; ở việc không có các mâu thuẫn có thể dẫn đến việc bãi bỏ, sửa đổi; ở chất lượng cao và kỹ thuật pháp lý tốt

Có thể nói, hộ thống chế tài có tính ổn định cao là thể hiện của một nền lập pháp tiến bộ Nó tạo ra "nề nếp" trong áp dụng pháp luật, trong tâm lý của công dân, tạo ra hiệu lực trong khoảng thời gian tương đối dài của việc điều chỉnh các quan hệ xã hội đang phát triển, tức là sự kịp thời, sự không lạc hậu của

nó Việc bổ sung, thay thế hoặc loại b-) chế tài nào đó hoặc mối liên hệ giữa các chế tài không phải do ý chí chủ quan của nhà làm luật mà ngược lại, do những dòi hỏi của thực tiễn đấu tranh với vi phạm pháp luật và các quá trình khách quan cua đời sống xã hội

1.5.3 Tính phân hoá

Hệ thống chế tài pháp luật hoàn thiện phải có tính phân hoá, đáp ứng yêu cầu tương xứng vcd vi phạm pháp luật Tương xứng ở mức độ tổng thể, tương

Trang 31

xứng đối với từng loại vi phạm pháp luật và tương xứng với từng hành vi vi phạm

cụ thể Tương xứng với tính chất, mức độ vi phạm, đặc điểm của quan hệ xã hội

bị vi phạm và cả nhân thân người vi phạm Các vi phạm pháp luật xảy ra đa dạng, liên tục, tinh vi trong đcd sống xã hội cho nên hộ thống chế tài phải có khả năng

áp dụng thích ứng, linh hoạt Theo quan điểm như vậy, hệ thống cần bao gồm các hình thức chế tài đa dạng và trong đa số các trường hợp phải có khả năng áp dụng linh hoạt, thay thế nhau trên nguyên tắc ngang bằng (hoặc tương đương) .Mặt khác, nguyên tắc ngang bằng cũng chỉ ra rằng: Không nên tuyệt đối hoá vai trò của chế tài pháp luật trong việc giữ vững, củng cố trật tự pháp luật Bởi vì, để có được trật tự pháp luật mong muốn, chế tài chỉ là một phương tiộn, còn có các phương tiện khác như giáo dục, thuyết phục Nếu chế tài quá nghiêm khắc có thể làm xuất hiện phản ứng chống đối từ phía chủ thể vi phạm và những người khác Nếu chế tài quá nhẹ sẽ dẫn đến tâm lý coi thường pháp luật, phát sinh vi phạm pháp luật

Tuy nhiên, bên cạnh tính phân hoá, linh hoạt, các chế tài đồng thòi phải có tính xác định cao Hiện nay, khi ý thức pháp luật của ngưòi có thẩm quyền áp dụng chế tài chưa phải là cao, không phải lúc nào cũng hành động đúng pháp luật

và lương tâm, thì vân để này hết sức quan trọng Làm sao để linh hoạt nhưng không tuỳ tiộn, không lạm dụng Các chế tài cần được xác lập có khả năng hạn chế đến mức thấp nhất các sai sót, tuỳ tiện từ phía người áp dụng pháp luật Tính xác định của hệ thống chế tài càng cao (tất nhiên vẫn giữ nguyên tính quy phạm của chúng) về điều kiện áp dụng chế tài, sự lựa chọn về mức độ áp dụng của mỗi chế tài sẽ làm giảm đi vai trò tự do xét định của chủ thể áp dụng Điều này cũng có nghĩa là làm cho việc áp dụng pháp luật tăng lên về độ chính xác, bảo đảm pháp chế hơn

1.5.4 Tính khả thi

Có thể nói, đây là tiêu chí mang tính chất "hệ quả" của các tiêu chí nói trên Một hệ thống chế tài có tính hệ thống và đồng bộ, có tính ổn định, có sự

Trang 32

phân hoá cao chắc chắn sẽ có tính khả thi cao và ngược lại, nếu không đạt được tiêu chí về tính khả thi thì tất cả các tiêu chí đã xây dựng ở trên, dù đạt được ở cấp độ nào, cũng chỉ nằm trên giấy, bất kỳ chế tài nào cũng trở nên vô nghĩa Để

có tính khả thi cao thì hệ thống chế tài pháp luật phải đáp ứng được những tiêu chí chủ yếu sau:

+ Hệ thống chế tài phải được xây dựng một cách khoa học, cân đối và hợp

lý để làm cơ sở cho v iệc áp dụng chính xác, phù hợp trong thực tiễn

+ Hệ thống chế tài phải phù họp, phản ánh thực tại khách quan, mà trước hết là phản ánh vi phạm pháp luật trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định Chế tài

là hệ quả pháp lý của hành vi vi phạm pháp luật, vì vậy, hệ thống chế tài còn phải phan ánh đúng tình hình và cơ cấu của vi phạm pháp luật trong thời kỳ, giai đoạn

xã hội đó Tuy nhiên, cũng như pháp luật nói chung, trong những trường hợp cần thiết, chế tài không chỉ phản ánh hiện thực, hiện tại mà còn thực hiện chức năng phản ánh vượt trưóe Đó là mức độ năng động cần thiết của chế tài

+ Chế tài được ban hành dựa trên sự đánh gi í kỹ lưỡng về tính cần ttũết của việc ban hành, về nhu cầu điều chỉnh của quan hệ xã hội Các chế tài được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu đầy đủ các nhân tố xã hội quyết định nhu cầu của việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với các quan hệ xã hội tương ứng, cân nhắc các nhân tố kinh tế, địa lý học - tự nhiên, pháp lý - chính tộ, xã hội, văn hoá, dân tộc, quốc tế và các nhân tố khác

+ Hệ thống chế tài được xây dựng ở trình độ kỹ thuật pháp lý cao Cách biểu đạt bằng ngôn ngữ pháp lý phải bảo đảm tính cô đọng, lôgic, chính xác, dễ hiểu và một nghĩa

Trên đây là một số tiêu chí cơ b;<n đế đánh giá mức độ hoàn thiện của hệ thống chế tài pháp luật Ngoài các tiêu chí nói trên, nhiều nhà nghiên cứu còn đưa ra khá nhiều tiêu chí khác và đây là vấn đề chưa đạt được sự thống nhất cao Tuy nhiên, sự phân biệt cũng chỉ là tương đối, cần phải nhìn nhận rằng, các tiêu chí đều có mối liên quan, bổ sung cho nhau và không thể tuyệt đối hoá vai trò của tiêu chí nào

Trang 33

Như vậy, toàn bộ chương này đã tiếp cận những vấn đề lý luận cơ bản về chế tài pháp luật Trên cơ sở các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của hệ thống chế tài đã xây dựng, chương sau sẽ tiếp cạn chế tài pháp luật ở góc độ khác: thực trạng hệ thống chế tài pháp luật Việt Nam hiện nay và một số giải pháp hoàn thiện hệ thống chế tài.

Ngày đăng: 24/01/2021, 22:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng các yêu cẩu của nhà nước pháp quyền XHCN của dân, dodân, vì dân, (2006), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và hoàn thiện hệ thốngpháp luật đáp ứng các yêu cẩu của nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do"dân, vì dân
Tác giả: Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng các yêu cẩu của nhà nước pháp quyền XHCN của dân, dodân, vì dân
Năm: 2006
8. Hoàng Thị Quỳnh Chi, (2006), "Hoàn thiện các biện pháp bảo vệ nhà đầu tư chứng khoán", Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 11, tr.48) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện các biện pháp bảo vệ nhà đầu tư chứng khoán
Tác giả: Hoàng Thị Quỳnh Chi
Năm: 2006
9. Thuỳ Dương, (2008), "Xử phạt vi phạm hành chính về dân số - kế hoạch hoá gia đình: Có cũng như không!", Báo Pháp luật Việt Nam số 361, tr.7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xử phạt vi phạm hành chính về dân số - kế hoạch hoá gia đình: Có cũng như không
Tác giả: Thuỳ Dương
Năm: 2008
11. F. Ảngghen - Lênin, (1995), Bàn về quyền uy, NXB Sự thật, Hà Nội, tr.5 12. Nguyễn Quốc Hoàn, (2004), "Vấn đề cơ cấu của quy phạm pháp luật", Tạp chí Luật học số 2, tr.32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề cơ cấu của quy phạm pháp luật
Tác giả: F. Ảngghen - Lênin, (1995), Bàn về quyền uy, NXB Sự thật, Hà Nội, tr.5 12. Nguyễn Quốc Hoàn
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 2004
13. Phan Văn Khải, Đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững, Báo cáo tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khoá X Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững
14. Khoa Luật- Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, (2004), Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Hà Nội, tr. 294 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Khoa Luật- Trường Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
15. Lê Vương Long, (2004), "Một số vấn đề hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính", Tạp chí Luật kọc số đặc san về xử lý vi phạm hành chính, tr.40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính
Tác giả: Lê Vương Long
Năm: 2004
16. Dương Tuyết Miên, (2006), "Sự mâu thuẫn giữa hình phạt tiền quy định tại Khoản 1 Điều 30 BLHS với một số tội phạm cụ thể và những bất cập của hình phạt này", Tạp chíToà án nhân dân số 15, tr.6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự mâu thuẫn giữa hình phạt tiền quy định tại Khoản 1 Điều 30 BLHS với một số tội phạm cụ thể và những bất cập của hình phạt này
Tác giả: Dương Tuyết Miên
Năm: 2006
17. Hoàng Thị Ngân, (2001), "Về trách nhiệm pháp lý", Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 1, tr.46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về trách nhiệm pháp lý
Tác giả: Hoàng Thị Ngân
Năm: 2001
24. Dẫn theo Hoàng Thị Kim Quế, (2006), "Các mối liên hệ của pháp luật và những vấn đề đặt ra trong đòi sống pháp luật", Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 9, tr. 19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các mối liên hệ của pháp luật và những vấn đề đặt ra trong đòi sống pháp luật
Tác giả: Dẫn theo Hoàng Thị Kim Quế
Năm: 2006
25. Quốc triều hình luật, (1995), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 175 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc triều hình luật
Tác giả: Quốc triều hình luật
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1995
26. Trường Đại học Luật Hà Nội, (2005), Giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật, Hà Nội, tr.391 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Năm: 2005
27. Trường Đại học Luật Hà Nội (2006 ), Trách nhiệm pháp lý - Những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, tr.152,153 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm pháp lý - Những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay
28. Viện ngôn ngữ học, (2001), Từ điển tiếng Việt, Hà Nội - Đà Nẵng, tr.233 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Viện ngôn ngữ học
Năm: 2001
31. Bùi Ngọc Sơn, (2003), "Trách nhiệm hiến pháp", Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 4, tr.20] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm hiến pháp
Tác giả: Bùi Ngọc Sơn
Năm: 2003
32. Hồ Sỹ Sơn (2007), Nguyên tắc nhân đạo trong Luật Hình sự Việt Nam, Luận án tiến sỹ Luật học, Viện Nhà nước và pháp luật, Hà Nội, tr.142 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc nhân đạo trong Luật Hình sự Việt Nam
Tác giả: Hồ Sỹ Sơn
Năm: 2007
33. Vũ Thư, (2003), "Trách nhiệm pháp lý theo luật hiến pháp", Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 12, tr.33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm pháp lý theo luật hiến pháp
Tác giả: Vũ Thư
Năm: 2003
2. Báo điện tử VietNamnet, xuất bản lúc 20:46 ngày 01/3/2008 Khác
5. Bộ luật Hình sự năm 1999 và toàn bộ các văn bản hướng dẫn thi hành đến năm 2005, (2005), NXB Tư pháp, Hà Nội Khác
7. C.Mác và Ph.Ảngghen toàn tập, tập 8, (1993), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.673 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w