Đẻ bảo vệ lợi ích của người mua trong trường hợp hàng được giao không phù hợp với hợp đồng, hầu hết các hệ thống pháp luật đều giành cho người mua quyền yêu cầu người bán thực hiện các c
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TRƯỜNG ĐẠI HỌC TỒNG HỢP LUND
TRÀN THỦY LĨNH
BÒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO HÀNG HÓA KHÔNG PHÙ
HỢP VỚI HỢP ĐÒNG THEO QUY ĐỊNH CỦA CÔNG ƯỚC
VIÊN 1980 -S O SÁNH VỚI PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Quốc tế và Luật So sánh
Mã số: 60 38 60
THƯ VIỆN
TRƯỜNG ĐẠI HỌ C LỨẬT HÀ NÒI
!HÔNGĐ0 C _ Ì j 3 j £ i
Người hướng dẫn khoa học:
Ass Prof Eva Lindell - Frantz TS.Nông Quốc Bình
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm biết ơn sâu sắc, trước hết, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới hai giáo viên hướng dẫn, Phó giáo sư Eva Lindell-Frantz, Khoa Luật Đại học tổng hợp Lund, Thụy Điển và TS Nông Quốc Bình, Khoa Pháp luật Quốc tế, Đại học Luật Hà Nội vì những lời khuyên quý báu, sự chỉ bảo, hướng dẫn tận tình của các thầy cô đã giúp tôi hoàn thành Luận văn này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, khoa Sau đại học, phòng Quan hệ Quốc tế trường Đại học Luật Hà Nội, Ban chủ nhiệm khoa Luật - Đại học tổng họp Lund, Thụy Điển đã tạo những điều kiện tốt nhất cho tôi trong thời gian học tập, nghiên cứu tại Đại học Luật
Hà Nội cũng như tại khoa Luật Đại học Lund Thụy Điển Xin cảm ơn các thầy cô giáo Việt Nam cũng như các thầy cô giáo Thụy Điển, bằng nhiệt huyết và tình cảm của mình đã truyền tải cho chúng tôi những kiến thức khoa học quý báu Tôi cũng luôn nhớ đến các cô bác, anh chị làm viêc tai Thư viên Đai hoc Luât Hà Nôi và Thư viên Khoa Luât, Đai hoc• • » • é • 7 • I
Lund Thụy Điến đã dành cho tôi sự giúp đỡ nhiệt tình trong quá trình tra cứu thông tin
Cuối cùng nhưng không thể thiếu được, xin gửi lời cảm ơn tới gia đình tôi, cảm ơn bố mẹ, anh chị em đã luôn động viên cổ vũ tôi, cảm ơn chồng tôi đã kiên nhẫn động viên và chia sẻ, đỡ đần cùng tôi những khó khăn trong cuộc sống, cảm ơn con gái Bảo Linh đã luôn là nguồn động viên to lớn về tinh thần Nếu thiếu sự động viên, cổ vũ của người thân tôi
sẽ không thể hoàn thành được bản Luận văn của mình
Trang 4Mục lục
LÒI CẢM Ơ N 1
MỤC LỤC 2
DANH MỤC CÁC CHỮ VIÊT TẮT 4
1 PHÀN MỞ ĐÂU 5
1.1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề t à i 5
1.2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 7
1.3 Phương p h á p n g h iên cứu đề tà i 8
1.4 Phạm vi nghiên cứu đề t à i 8
1.5 Nguồn luật là đối tượng nghiên cứu của Luận văn 8
1.5.1 Công ước Viên về mua bán hàng hóa quốc tế 8
1.5.2 Pháp luật Việt Nam về mua bán hàng hóa quốc tế 10
2 MỘT SỐ VÁN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BÔI THƯỜNG THIỆT HẠI DO HÀNG HOÁ KH Ô NG PHÙ HỢP VỚI HỢP ĐÒNG 11
2.1 Khái quát về hợp đồng và vi phạm hợp đồng 11
2.1.1 Hợp đồng và hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 11
2.1.2 Vi phạm hợp đồng 15
2.2 Hàng hóa không phù hợp với hợp đ ồ n g 19
2.2.1 Khái niệm hàng hóa không phù hợp với hợp đ ồn g 19
2.2.2 Quyền của người mua phát sinh do hành vi giao hàng không phù hợp với hợp đồng 22
2.3 Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng 24
2.3.1 Bồi thường thiệt hại nói chung và bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng 24
2.3.2 Thiệt hại và phân loại thiệt hại 30
3 BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO HÀNG HOÁ KHÔNG PHÙ HỢP VỚI HỢP ĐÔNG DƯỚI GÓC Đ ộ s o SÁNH GIỮA CÔNG ƯỚC VIÊN VÀ PHÁP LUẬT VIỆT N A M 33
3.1 Quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại 33
3.1.1 Cơ sở pháp lý của quyền yêu cầu bồi thường thiệt h ạ i 33
3.1.2 Các căn cứ áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại 34
3.1.3 Quan hệ với các hình thức trách nhiệm khác 37
3.2 Tính toán mức bồi thường thiệt h ạ i 38
Trang 53.2.1 Nguyên tắc bồi thường toàn b ộ 38
3.2.2 Những khoản thiệt hại được bồi thường 40
3.3 Những giới hạn của yêu cầu bồi thường thiệt hại 45
3.3.1 Nguyên tắc thiệt hại phải có thể dự đoán 45
3.3.2 Nghĩa vụ thông báo và giới hạn về thời g ia n 47
3.3.3 Nghĩa vụ chứng minh 50
3.4 Bồi thường thiệt hại trong trường hợp hợp đồng bị hủy bỏ 52
3.5 Nghĩa vụ hạn chế thiệt hại 55
3.6 Các trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại 57
4 MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ RÚT RA TỪ VIỆC s o SÁNH VÀ KIẾN NGHỊ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT N A M 61
4.1 Một số đánh giá và kết luận rút ra từ việc nghiên cứu so sánh 61
4.2 Một số kiến nghị nhàm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bồi thường thiệt hại do hàng hóa không phù họp với hợp đồng trong thương mại quốc tế 65
4.2.1 Tham gia Công ước V iên 65
4.2.2 Sừa đổi, bổ sung một số quy định của pháp luật Việt Nam 66
KÉT L U ẬN 71
DANH MỤC TẢI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 6Luật thương mại Việt Nam 2005Luật Thương mại Việt Nam 1997
Bộ luật dân sự Việt Nam 2005
ủ y ban của Liên hợp quốc về Luật Thương mại quốc tế
Trang 71 Phần mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Hai thập niên vừa qua, Thé giới đã chứng kiến bước phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực thương mại quốc tế đánh dấu bằng sự xuất hiện của nền kinh tế toàn cầu Trong hoạt động thương mại quốc tế, mua bán hàng hóa là hình thức đầu tiên và quan trọng nhất Mua bán hàng hóa ngày càng phát triên nhanh chóng với việc mở cửa một loạt thị trường mới ở các nước đang phát triển dẫn tới tranh chấp giữa các bên trong hợp đồng gia tăng cả về số lượng, phạm vi và mức độ phức tạp
Hành vi giao hàng không phù hợp với hợp đồng (hàng hóa bị khiếm khuyết) của người bán là một dạng vi phạm điển hình trong thực
tiền mua bán hàng hóa quốc tế Theo Hondius, “The sale o f goods, it has been said, is the single most important contract, and delivery o f defective goods is the sỉngle most important complication”] (iạm dịch là: mua bán
hàng hóa là loại hợp đồng riêng biệt quan trọng nhất, và hàng hóa bị khiếm khuyết là hiện tượng riêng biệt phức tạp nhất) Đẻ bảo vệ lợi ích của người mua trong trường hợp hàng được giao không phù hợp với hợp đồng, hầu hết các hệ thống pháp luật đều giành cho người mua quyền yêu cầu người bán thực hiện các chế độ trách nhiệm do hành vi vi phạm nghĩa vụ của họ, trong đó quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại là rất quan trọng Bồi thường thiệt hại là một hình thức trách nhiệm phức tạp nhưng rất phổ biến cả ở các nước theo hệ thống pháp luật Anh - Mỹ và cả ở các nước theo hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa Bên bị vi phạm có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại ngay cả khi đã áp dụng các hình thức trách nhiệm khác như thực hiện thực sự, đình chỉ hay hủy bỏ hợp đồng
Trên thực tế việc áp dụng hình thức trách nhiệm bồi thường thiệt hại giữa các bên trong các giao dịch quốc tế gây rất nhiều tranh cãi Nguyên nhân trước hết chính là do bản chất phức tạp của hình thức trách nhiệm này, bên cạnh đó, pháp luật điều chỉnh hành vi của các bên trong giao dịch quốc tế thường thuộc các hệ thống pháp luật khác nhau nên có những quy định không giống nhau về cùng một vấn đề cũng là một nguyên nhân rất quan trọng Từ thực tiễn trên đặt ra nhu cầu nhất thể hóa
‘Trích Sivesand (2005), trang 7
Trang 8các quy định về mua bán hàng hóa quốc tế nói chung và các quy định về bôi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nói riêng.
Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế (“CISG”) được soạn thảo bởi ủ y ban của Liên Hợp Quốc về Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL) trong một nỗ lực hướng tới việc thống nhất nguồn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Tính đến thời điểm hiện nay, với hơn 70 quốc gia là thành viên, điều chỉnh các giao dịch ước tính chiếm đến hai phần ba thương mại hàng hoá Thế Giới2 Công ước áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế giữa các bên có trụ sở kinh doanh ở các quôc gia khác nhau khi các quốc gia này là các quốc gia thành viên của Công ước hoặc khi các quy tắc tư pháp quốc tế dẫn đên việc áp dụng luật của một nước thành viên Công ước này,3 tuy nhiên việc áp dụng theo nguyên tắc trên không mang tính bắt buộc,4 trong nhiều trường hợp Công ước được áp dụng khi các bên có thỏa thuận trong hợp đồng CISG đã trở thành công ước được áp dụng rộng rãi nhất trong số các điều ước quốc tế đa phương về mua bán hàng hóa quốc tế5 Các nước là bạn hàng lớn của Việt Nam đều đã gia nhập công ước như như Pháp, Mỹ, Italia, Liên bang Nga, Canada, Đức, Hà Lan, Australia, Trung Quốc , trong khi Việt Nam vẫn chưa là thành viên của Công ước này Các quy định về sự phù hợp của hàng hóa đổi với hợp đồng và vấn
đề trách nhiệm do vi phạm hợp đồng (bao gồm các quy định về bồi thường thiệt hại) chiếm số lượng đáng kể và có vị trí quan trọng trong CISG
Pháp luật Việt Nam cũng có những quy định khá cụ thể về vấn đề bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng, tuy nhiên các quy định đó được áp dụng chung cho nhiều loại hợp đồng (không kế đó có phải ià
2 Nguyên văn tiếng Anh: “the uniíorm sales law in countries that account for more than two third o f all vvorld trade” - xem trên trang chủ cơ sở dữ liệu điện tử cùa CISG
<http://cisg.law.pace.edu/>
3 Xem Điều 1(1) Công ước Viên 1980
4 Xem Điều 6, Điều 95 Công ước Vien 1980
5 Nguyễn Minh Hằng (2006)
Trang 9hợp đồng mua bán hàng hóa hay không cũng như đó là hợp đồng trong nước hay hợp đồng có tính quốc tế).
Vậy khái niệm “hàng hóa không phù hợp với họp đồng” có được hiêu thống nhất trong các hệ thống pháp luật khác nhau? Trong trường hợp hàng hóa được giao không phù hợp với hợp đồng, bên bị vi phạm thực hiện quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của CISG có
gì giống và khác so với áp dụng theo các quy định của pháp luật Việt Nam?
Đe giải đáp cho những câu hỏi nêu trên tôi đã chọn đề tài luận văn
Cao học của mình là “Bồi thường thiệt hại do hàng hóa không phù hợp vói hợp đồng theo quy định của Công ước Viên 1980 -S o sánh với Pháp luật Việt Nam”
1.2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là so sánh các quy định của Công ước Viên 1980 và pháp luật Việt Nam về bồi thường thiệt hại do giao hàng không phù hợp với hợp đồng, rút ra những nhận xét đánh giá
để từ đó đề xuất những giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về vấn đề này, xem xét kiến nghị Việt Nam có nên gia nhập công ước Viên
- Phân tích, đối chiếu, so sánh các quy định về bồi thường thiệt hại
do hàng hóa không phù hợp với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của pháp luật Việt Nam; Công ước Viên 1980
- Đe xuất phương hướng nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bồi thường thiệt hại do hàng hóa không phù họp với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, xem xét có nên kiến nghị Việt Nam gia nhập công ước Viên 1980 hay không
Trang 101.3 Phương pháp n g h iên cứu đề tài
Trước hêt tác giả sẽ vận dụng phương pháp miêu tả và phân tích
để mang đến một cái nhìn toàn diện về các quy định của CISG và pháp luật Việt Nam về vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của luận vãn Mỗi một vấn đề không chỉ được phân tích qua ngôn ngữ văn bản luật mà thông qua các tình huống thực tiễn liên quan Phương pháp tổng hợp cũng được sử dụng nhằm đưa ra những kết luận, đánh giá, quan điểm sau khi phân tích các vấn đề Đe tài của luận văn là so sánh hai hệ thống pháp luật khác nhau, bởi vậy phương pháp so sánh sẽ là phương pháp chủ đạo và xuyên suốt mọi giai đoạn
1.4 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam và công ước Viên 1980 về bồi thường thiệt hại do hàng hóa không phù hợp với hợp đồng Hợp đồng thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn
là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Đó là một hình thức biểu hiện của các giao dịch thương mại, luận văn không nghiên cứu các giao dịch giữa các chủ thể kinh doanh với người tiêu dùng hay giữa những người tiêu dùng với nhau Luận văn chỉ xem xét một hình thức trách nhiệm là bồi thường thiệt hại và một dạng vi phạm hợp đồng là giao hàng không phù hợp với hợp đồng Luận văn không xem xét vấn đề bồi thường thiệt hại do vi phạm các nghĩa vụ khác ngoài hợp đồng, chẳng hạn bồi thường thiệt hại do xâm phạm lợi ích người tiêu dùng thuộc lĩnh vực luật bảo vệ người tiêu dùng Đ ối tượng nghiên cứu của luận văn giới hạn trong các quy định của Công ước Viên 1980 và pháp luật hiện hành của Việt Nam
về bồi thường thiệt hại do hàng hóa không phù hợp với hợp đồng
1.5 Nguồn luật là đối tượng nghiên cứu của Luận văn
1.5.1 Công ước Viên về mua bán hàng hóa quốc tế.
Công ước của Liên hợp quốc về mua bán hàng hóa quốc tế (thường gọi là Công ước Viên 1980, sau đây gọi tắt là Công ước) được thông qua tại một hội nghị ngoại giao ở Viên, Áo năm 1980 Công ước là
Trang 11sự hợp nhất và phát triển các quy định của hai Công ước trước đó về mua bán hàng hóa quốc tế là hai Công ước được ký tại LaHay năm 1964 Hai Công ước này đã bị chỉ trích là chỉ thể hiện truyền thống pháp lý và điều kiện kinh tế của các nước Tây Âu lục địa (thuộc hệ thống pháp luật Civil Law).6 Công ước Viên có hiệu lực ngày 1 tháng 1 năm 1988 sau khi có 10 quốc gia gia nhập Hiện tại, có hơn 70 quốc gia thuộc các hệ thống pháp luật khác nhau, đến từ các khu vực khác nhau trên Thế Giới
đã gia nhập Công ước Viên Do đó, có thể nói rằng, Công ước Viên 1980
là một Công ước thực sự thành công.7
Công ước Viên chỉ áp dụng cho hoạt động mua bán quốc tế.8 Việc giới hạn các quy tắc áp dụng cho hoạt động mua bán trong phạm vi các giao dịch quốc tế là cần thiết bởi vì các quy tắc này thể hiện trong nội dung Công ước được thiết kế hướng đến mục đích được thừa nhận trên phạm vi toàn cầu 9 Công ước được chia thành 4 phần Phần 1 quy định phạm vi áp dụng và các quy định chung của Công ước; Phần 2 bao gồm các nguyên tắc điều chỉnh việc giao kết họp đồng; Phần 3 quy định về các quyền và nghĩa vụ của bên bán và bên mua phát sinh từ hợp đồng; Phần 4 quy định về điều khoản cuối cùng của Công ước v ấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của Luận văn này liên quan chủ yếu đến Phần 3 của Công ước
Các nguyên tắc chung về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng được quy định tại Điều 74 của Công ước, nhưng liên quan đến vấn
Trang 12Điều 79 quy định về nguyên tắc và trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại;
Điều 78 quy định quyền đòi tiền lãi sẽ không ảnh hưởng đến quyền yêu cầu bồi thường thiệthại theo Điều 74;
Và một số các điều khoản khác cũng liên quan đến vấn đề bồi thường thiệt hại, như điều 5 chỉ ra ràng Công ước không áp dụng cho trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với trường họp hàng hóa gây thiệt hại tính mạng hoặc làm bị thương một người nào đó Trong phạm vi luận văn này, tác giả sẽ tập trung phân tích các quy định từ Điều 74 đến 77 và Điều 79 của Công ước
1.5.2 Pháp luật Việt Nam về mua bán hàng hóa quốc tế
Pháp luật Việt Nam về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đã trải qua nhiều giai đoạn với những đặc điểm khác nhau về điều kiện kinh tê -
xã hội Trong giai đoạn đầu của thời kỳ Đổi mới, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được điều chỉnh bởi Quy chế tạm thời số 4794 (ban hành ngày 31 tháng 07 năm 1991) hướng dẫn việc ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa ngoại thương Sau đó, khi Luật Thương mại 1997 (LTM 1997) ra đời, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế chính thức được điều chỉnh bởi một Luật chuyên ngành Hiện nay, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được điều chỉnh bởi Luật Thương mại Việt Nam 2005 (LTMVN 2005) và Nghị định của Chính phủ số 12/2006/NĐ-CP ngày
23 tháng 01 năm 2006 quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài Tuy nhiên, với tư duy coi
Bộ luật dân sự là “đạo luật mẹ” bao trùm lên cả các lĩnh vực kinh tế - thương mại, hôn nhân và gia đình, lao động thì hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế còn chịu sự điều chỉnh của Bộ luật dân sự 2005 Liên quan đến vấn đề bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng, Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu các quy định liên quan của Luật Thương mại 2005, chủ yếu là các quy định tại chương VII Luận văn cũng sẽ nghiên cứu các quy định liên quan có trong Bộ luật dân sự 2005 Mối quan hệ giữa các quy định của Bộ luật dân sự Việt Nam và Luật thương mại Việt Nam là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng Bộ luật dân sự và Luật thương
Trang 13mại cùng được thông qua ngày 14 tháng 06 năm 2005 và cùng có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2006 So sánh với các quy định trong các văn bản trước đây thì các quy định về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế hiện nay đã tiếp cận gần hơn với các quy định và thông lệ quốc tế
hoá không phù họp với họp đồng
2.1 Khái quát về hợp đồng và vi phạm hợp đồng.
2.1.1 Hợp đồng và hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
Hợp đồng Ở hầu hết các hệ thống pháp luật trên Thế giới, hợp
đồng được coi là hình thức phổ biến nhất trong các giao dịch dân sự và
là căn cứ chủ yếu làm phát sinh nghĩa vụ dân sự Trong các hệ thống pháp luật khác nhau, khái niệm hợp đồng, mặc dù được thể hiện bằng những ngôn từ khác nhau nhưng về bản chất được hiểu khá thống nhất
Theo Bộ luật Thương mại thống nhất Hoa Kỳ (UCC), hợp đồng là tổng hợp các nghĩa vụ pháp lý là kết quả của sự thỏa thuận giữa các bên theo quy định của đạo luật này và các quy định khác của pháp luật.10 Theo bộ luật dân sự Pháp (thường gọi là bộ luật Naponeon), điều 1101 định nghĩa hợp đồng là thỏa thuận của hai hay nhiều người về việc chuyển giao vật, làm hay không làm một việc nào đó.11
Theo Bộ luật dân sự Việt Nam 2005, “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự” 12 Giáo sư Treitel G.H trong cuốn “An Outline o f the Law o f Contract” cũng đưa ra định nghĩa về hợp đồng, theo đó một hợp
Nguyên Văn bằng tiểng Anh “Contract means the total legal obligation which results from the parties’ s agreement as affected by this Act and any other applicable rules o f law”
11 http://www.napoleon-series.or£/research/government/code/book.3/c title03.html#chapter 1 Nguyên văn bằng tiếng Anh “A contract is an agreement which binds one or more persons, towards another or several others, to give, to do, or not to do som ething’'
12 Điều 388 Bộ luật Dân sự V iệt Nam 2005
Trang 14đồng có thể được xác định như là một sự thỏa thuận được pháp luật đảm bảo và thừa nhận như là những quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên.13
Như vậy có thể định nghĩa hợp đồng là một sự thỏa thuận mang tính ràng buộc pháp lý theo đỏ quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên phát sinh từ thỏa thuận đó sẽ được pháp luật ghi nhận và đảm bảo.
Hợp đồng là một sự thỏa thuận hay cam kết song phương mà kết quả của nó là làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên chủ thê hay nói cách khác, nội dung của hợp đồng chính là các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên Ở hầu hết các hệ thống pháp luật trên Thế giới, hợp đồng được thừa nhận về mặt pháp lý khi đáp ứng các yêu cầu sau14:
Thứ nhất, hợp đồng phải thể hiện được sự tự do ý chí của các bên tham gia ký kết
Thứ hai, hợp đồng phải là tập hợp những cam kết được pháp luật thừa nhận, ủng hộ và bảo vệ
Thứ ba, hợp đồng phải là những ưng thuận, thỏa thuận, cam kết phản ánh sự thống nhất ý chí thực sự của các bên tham gia hợp đồng
Họp đồng có thể liên quan đến một hoặc nhiều giao dịch như mua bán, tuyển dụng ỉao động, vận chuyển, cho thuê, cho vay, cầm cố Pháp luật các nước đều có những quy định chung áp dụng cho mọi loại họp đồng không kể đến nội dung hay đối tượng của nó là gì Bên cạnh đó, mỗi loại giao dịch cụ thể cũng phải chịu sự điều chỉnh của những quy định đặc thù dành riêng cho nó Trong phạm vi đề tài này, tác giả chỉ đề cập đến những quy định riêng điều chỉnh quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Họp đồng mua bán là loại
hợp đồng nằm trong số những hợp đồng phổ biến nhất được biết đến.15 Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cũng là loại hợp đồng thông dụng nhất trong giao dịch quốc tế
13 Treitel (2004), trang 1, nguyên văn bằng tiếng Anh: “A contract may be deíĩned as an agreement w hich is either eníbrced by law or recognised by law as affecting legal rights or duties
o f the parties”
14 TS Lê Thị Bích Thọ (2004), trang 10
15 Poole (2006), trang 19
Trang 15Khác với khái niệm hợp đồng nói chung, khái niệm họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế không được hiểu thống nhất trên phạm vi toàn cầu.16 Công ước Viên về mua bán hàng hóa quốc tế cũng không đưa ra một khái niệm chính thức, rõ ràng về mua bán hàng hóa quốc tế nhưng chúng ta có thể xác định được nội hàm của khái niệm này thông qua việc tìm hiểu các quy định của Công ước Điều 1 Công ước quy định:
1 Công ước này áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau:
a) Khi các quốc gia này là các quốc gia thành viên của Công ước hoặc,
b)Khi theo các quy tắc tư pháp quốc tế thì luật được áp dụng là luật của nước thành viên Công ước này.
2 Sự kiện các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau không tính đến nếu sự kiện này không xuất phát từ hợp đồng, từ các mối quan hệ đã hình thành hoặc vào thời điểm ký hợp đồng giữa các bên hoặc là từ việc trao đổi thông tin giữa các bên.
3 Quốc tịch của các bên, quy chế dân sự hoặc thương mại của họ, tính chất dân sự hay thương mại của hợp đồng không được xét tới khi áp dụng Công ước này.
Như vậy, theo quy định của Công ước, yếu tố duy nhất để xác định tính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa là chủ thể của hợp
đồng là các bên có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau, không cần
thêm bất cứ yếu tố nước ngoài nào nữa, kể cả những yếu tố mà trong pháp luật của nhiều quốc gia, một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tể vẫn thường phải có như hàng hóa phải được vận chuyển từ nước này sang nước khác, hàng hóa được giao ở một quốc gia khác với quốc gianơi hợp đồng được ký kết Khái niệm trụ sở kinh doanh của các bênđược làm rõ trong Điều 10 của Công ước
(a) N ếu một bên có nhiều hơn một trụ sở kinh doanh thì trụ sở kinh doanh là trụ sờ
có mối liên hệ chặt chẽ nhất đối với hợp đồng và việc thực hiện hợp đồng đó,
có tính tới những tình huống mà các bên đều biết hoặc đều dự đoán được vào bất kỳ thời điểm nào trước hoặc vào thời điểm giao kết hợp đồng;
(b) N ếu một bên không có trụ sờ kinh doanh thì sẽ lấy nơi cư trú thường xuyên cùa họ.
16 Fawcell, Harris, Bridge (2005), trang 2.
Trang 16Công ước cũng không đưa ra khái niệm “mua bán” thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước Tuy nhiên, điều 2 công ước đã loại trừ những hình thức mua bán mà không thuộc phạm vi điều chỉnh của công ước như bán đấu giá, việc mua bán được thực hiện để thi hành án hoặc thực hiện bởi cơ quan công quyền, đó là những hình thức mua bán hoặc là không vì mục đích thương mại, hoặc là liên quan đến những hàng hóa đặc biệt mà đòi hỏi phải có quy chế mua bán riêng Điều 3(2) cũng loại trừ những hợp đồng mà phần lớn nghĩa vụ của bên cung cấp hàng hóa là cung ứng lao động hoặc thực hiện các dịch vu khác Ngược lại Điều 3(1) lại chỉ rõ rằng những hợp đồng mà cung cấp hàng hóa phục vụ cho sản xuất hoặc chế tạo sẽ được coi là hợp đồng mua bán hàng hóa trừ khi bên đặt hàng có nghĩa vụ cung cấp phần lớn các nguyên liệu cần thiết cho việc chế tạo hay sản xuất hàng hóa đó Công ước cũng không đề cập thế nào là hàng hóa Tuy nhiên, căn cứ vào những quy định mang tính loại trừ ở Điều 2 và các quy định khác của Công ước có thể đưa ra cách giải thích cho khái niệm này Rõ ràng là hàng hóa theo quy định của Công ước phải là những tài sản hữu hình chứ không phải là những quyền tài sản như cổ phiếu, cổ phần mà Điều 2 đã loại trừ, điều đó có nghĩa là việc mua bán quyền sở hữu trí tuệ như quyền tác giả, phát minh, sáng chế, nhãn hiệu hàng hóa, Know-how, cũng không thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước.
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được quy định trong LTMVN 2005 và Nghị định 12/2006/NĐ -C P của Chính Phủ ngày 23/01/2006 quy định chi tiết thi hành Luật thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài Theo Điều 27 khoản 1 LTMVN 2005 thì
“ Mua bán hàng hóa quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu” Như vậy, theo pháp luật Việt Nam hiện hành thì yếu tố quổc tế của hợp đồng mua bán được xác định căn cứ vào sự dịch chuyển qua biên giới hay vùng lãnh thổ hải quan của hàng hóa là đối tượng của hợp đồng Theo điều 3 khoản 2, hàng hóa bao gồm:
a) Tất cả các loại động sản, kể cả động sàn hình thành trong tương lai; b) Những vật gắn liền với đất đai.
Trang 17Theo luật TMVN 2005, hàng hóa là đổi tượng của họp đồng mua bán hàng hóa phải là tài sản hữu hình Cũng giống như Công ước, các tài sản vô hình như quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ không là đối tượng của hợp đồng mua bán do LTMVN 2005 điều chỉnh Tuy nhiên, khái niệm hàng hóa theo LTMVN 2005 có nội hàm rộng hơn khái niệm hàng hóa theo Công ước Hàng hóa theo LTMVN 2005, không chỉ là động sản hữu hình, mà còn có thể là những vật gắn liền với đất đai, mà theo Điều 174 (c) BLDS 2005, được quy định là bất động sản Cũng tại
điều 3, khoản 8 định nghĩa: “Mua bán hàng hoá là hoạt động thương
mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận” Như vậy, mua bán hàng hóa trước hết phải là hoạt động thương mại, tức là vì mục đích lợi nhuận
Rõ ràng khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế không được hiểu thống nhất giữa Công ước và pháp luật Việt Nam Trong khi Công ước dựa trên chủ thể của hợp đồng (các bên có trụ sở kinh doanh ở các quốc gia khác nhau), pháp luật Việt Nam lại dựa trên sự chuyển dịch của hàng hóa là đối tượng của hợp đồng để xác định tính quốc tế; khái niệm hàng hóa trong pháp luật Việt Nam cũng được hiểu rộng hơn khái niệm hàng hóa theo Công ước, bao gồm cả các quyền tài sản mà theo điều 2 của Công ước không nằm trong phạm vi điều chỉnh của Công ước
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được coi là loại hợp đồng cơ bản nhất có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế toàn cầu Nó là nhân tố quan trọng để thúc đẩy thương mại quốc tế, xóa nhòa sự khác biệt về chính trị, kinh tế và văn hóa giữa các quốc gia và khu vực trên Thế giới
Bất kỳ hợp đồng nào được thỏa thuận hợp pháp cũng làm phát sinh nghĩa vụ pháp lý của ít nhất một bên tham gia hợp đồng Hợp đồng đơn vụ chỉ làm phát sinh nghĩa vụ của một bên hợp đồng Nhưng phần lớn các hợp đồng trong thực tế là hợp đồng song vụ, theo đó các bên
Trang 18tham gia hợp đồng đều có nghĩa vụ tương ứng đối với nhau.17 Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là loại hợp đồng song vụ, cả bên bán và bên mua đều có những nghĩa vụ nhất định phát sinh từ hợp đồng Đối với người bán đó là nghĩa vụ giao hàng và các chứng từ có liên quan đến hàng hóa Các hệ thống pháp luật khác nhau đều ghi nhận người bán có nghĩa vụ giao hàng phù hợp với hợp đồng Còn đối với người mua, đó là nghĩa vụ nhận hàng và trả tiền Nói chung, các bên xác lập hợp đồng thực hiện các cam kết hay những điều đã “mặc cả” được với nhau đều với mục đích làm tăng giá trị tài sản của mỗi bên Tuy nhiên không phải mọi hợp đồng đều đi được đến đích mà các bên mong muốn bởi sự vi phạm của một hoặc cả hai bên Theo giáo sư Poole, một bên bị coi là vi phạm hợp đồng nếu, không kể trường hợp được miễn trách nhiệm, không thực hiện hoặc từ chối không thực hiện hoặc thực hiện có khiếm khuyết hoặc bản thân anh ta không đủ tư cách, năng lực để thực hiện nghĩa vụ của mình phát sinh từ hợp đồng.18
Khái niệm vi phạm hợp đồng, theo điều 45 và 61 của Công ước là
“không thực hiện bất kỳ nghĩa vụ nào theo hợp đồng hoặc theo quy định của Công ước” N hư vậy, khái niệm vi phạm hợp đồng theo Công ước bao gồm tất cả những hành vi nào mà vi phạm những nghĩa vụ phát sinh
từ hợp đồng không phân biệt đó là nghĩa vụ chính hay nghĩa vụ bổ sung, nghĩa vụ phụ Nghĩa vụ theo cách hiểu của Điều 45 và 61 không chỉ bao gồm những nghĩa vụ do các bên thỏa thuận mà mà còn bao gồm cả những nghĩa vụ phát sinh theo quy định của Công ước, như nghĩa vụ cung cấp thông tin về vấn đề bảo hiểm theo Điều 32 khoản 3 hay nghĩa
vụ thông báo liên quan đến vấn đề vận chuyển hàng hóa theo khoản 1 Điều 32 Với những điều kiện nhất định một vi phạm hợp đồng sẽ được coi là vi phạm cơ bản theo Điều 25 Công ước
Một sự vi phạm hợp đồng do một bên gây ra là vi phạm cơ bản nếu nó gây thiệt hại cho bên kia đến mức mà bên bị thiệt hại, trong một chừng mực đáng kể, bị mất đi lợi ích mà họ có quyền mong đợi từ họp đồng, trừ trường hợp bên vi phạm không tiên liệu được và một người có lý trí binh
17 Treitel (2004) trang 312
18 Poole (2006), trang 319
Trang 19thường cũng sẽ không tiên liệu được hậu quả nểu họ cũng ở vào địa vị và hoàn cảnh tương tự.
Theo điều 3(12) luật thương mại Việt Nam “Vìphạm hợp đồng là
việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thoả thuận giữa các bên hoặc theo quy định của Luật này” Định nghĩa trên đã thể hiện được bản chất của vi phạm hợp đồng là xử sự của các chủ thể hợp đồng không phù hợp với các nghĩa vụ quy định trong hợp đồng và các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về hợp đồng, về cơ bản, vi phạm hợp đồng theo cách hiểu của Công ước và theo quy định của Luật Thương mại Việt Nam 2005 là tương tự nhau Hành vi vi pham hợp đồng của người bán, theo điều 45 của Công ước là việc không thực hiện bất kỳ nghĩa vụ nào của người bán theo quy định của hợp đồng hoặc theo quy định của Công ước “Không thực hiện bất kỳ nghĩa vụ nào” như quy định của Công ước có thể hiểu tương ứng với “không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ” như cách quy định của điều 3(12) luật TMVN
2005 Cả Công ước và LTMVN 2005 đều ghi nhận những nghĩa vụ cơ bản của người bán là giao hàng và chứng từ liên quan đến hàng hóa Hành vi phạm nghĩa vụ của người bán có thể là không giao hàng, chậm giao hàng hoặc giao hàng không phù họp với hợp đồng
Cơ sở pháp lý để xác định một hành vi là vi phạm hợp đồng là những cam kết trong họp đồng có hiệu lực pháp luật và những quy định của pháp luật hợp đồng Nghĩa vụ của các bên phát sinh từ hợp đồng phụ thuộc chủ yếu vào ngôn ngữ được thể hiện trong hợp đồng Việc thực hiện nghĩa vụ phải phù hợp với sự thỏa thuận của các bên thể hiện qua ngôn ngữ của họp đồng Bởi vậy, hợp đồng phải quy định một cách rõ ràng nghĩa vụ của các bên, đặc biệt là nghĩa vụ giao hàng của người bán vốn chứa đựng nhiều vấn đề phức tạp
Vi phạm hợp đồng là một hình thức vi phạm dân sự và trong phần lớn các trường hợp vi phạm hợp đồng chỉ làm phát sinh trách nhiệm dân
sự Trách nhiệm hợp đồng, trong đa số các trường hợp là loại trách nhiệm tuyệt đối, nó phát sinh khá độc lập với yếu tố lỗi của bên vi
Trang 20phạm.19 Chỉ cần có hành vi vi phạm, có thiệt hại xảy ra là hậu quả của hành vi vi phạm thì bên vi phạm bị suy đoán là có lỗi và phải chịu trách nhiệm hợp đồng, muốn giải thoát khỏi trách nhiệm hợp đồng thì bên vi phạm phải chứng minh mình rơi vào các trường hợp được miễn trách (tức là không có lỗi) Trong trách nhiệm hợp đồng có những đặc điểm cơ bản là: (i) Được áp dụng trên cơ sở hành vi vi phạm hợp đồng có hiệu lực pháp luật; (ii) Nội dung gắn liền với việc thực hiện các nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc trách nhiệm về tài sản; (iii) Do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền áp dụng hoặc do bên bị vi phạm áp dụng trên cơ sở pháp luật.20
Tuy nhiên, không phải mọi hành vi không thực hiện hợp đồng lúc nào cũng là vi phạm hợp đồng Không thực hiện hợp đồng không bị coi
là vi phạm hợp đồng nếu rơi vào các trường hợp được miễn trách nhiệm theo quy định của pháp luật hoặc theo quy định của hợp đồng
Khi có vi phạm hợp đồng, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm bồi thường thiệt hại, nghiêm túc thực hiện hợp đồng hoặc thậm chí khởi kiện đến tòa án Trong từng trường họp cụ thể anh ta có thể áp dụng cùng lúc nhiều hình thức trách nhiệm Mỗi hợp đồng khi được xác lập đều có những “lí do” riêng của nó, mỗi bên tham gia hợp đồng đều hướng đến những lợi ích nhất định có được khi giao dịch mà họ xác lập thông qua hợp đồng thành công Tuy nhiên lợi ích mà một bên hướng đến khi tham gia hợp đồng chỉ có thể đạt được thông qua việc bên còn lại nghiêm túc thực hiện những nghĩa vụ đã cam kết từ hợp đồng Hành
vi vi phạm hợp đồng của một bên sẽ xâm phạm đến lợi ích của bên còn lại mà không phải lợi ích nào bị xâm phạm đều có thể khôi phục lại được Phải thừa nhận một thực tế là có rẩt nhiều thiệt hại mà không gì có thể bù đắp nổi, đó chính là những thiệt hại không thể khôi phục được Vì vậy, không phải mọi thiệt hại trong thực tế đều là những thiệt hại được ghi nhận trong pháp luật Phạm vi của loại thứ hai nhỏ hơn và nằm trong phạm vi của loại thứ nhất.21
19 Treitel (2004), trang 314 N guyên văn bằng tiếng Anh “Contractual liability is in many cases strict: that is, it arises quite independently o f fault”
20 TS Nguyễn Thị D ung (chủ biên): P háp luật về hợp đồn g trong thương m ại và đầu tư -
những vấn đề p h á p lý c ơ hàn, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia (2008), trang 57
21 Hale, W illiam, B (1896), trang 7
Trang 212.2 Hàng hóa không phù họrp vói hợp đòng
2.2.1 Khái niệm hàng hóa không phù hợp với hợp đằng
Pháp luật về mua bán hàng hóa quốc tế thực chất là một bộ phận của luật nghĩa vụ liên quan đến trách nhiệm của các bên trong hợp đồng.22Một cách khái quát, nghĩa vụ của người bán theo pháp luật mua bán bao gồm, nghĩa vụ giao đúng hàng, đúng địa điểm, đúng thời gian, theo giá cả đã thỏa thuận Trong phạm vi luận văn này, tác giả chỉ đề cập đến nghĩa vụ quan trọng đầu tiên, nói cách khác, đó là vấn đề về sự phù hợp của hàng hóa đối với hợp đồng
Phần lớn các tranh chấp phát sinh từ các họp đồng mua bán quốc
tế đều liên quan đến tranh cãi giữa các bên về nghĩa vụ của người bán như số lượng, chất lượng hàng hóa và những yêu cầu khác đổi với việc thực hiện nghĩa vụ của anh ta Liên quan đến vấn đề này, giáo sư Honnold đã đưa ra nhận định “ Đa phần những tranh chấp về mua bán hàng hóa đều xuất phát từ vấn đề hàng hóa có phù hợp với hợp đồng hay không”23Trong thực tiễn giao dịch mua bán quốc tế, vì lí do khoảng cách, người mua thường ký kết hợp đồng mà không xem trước hàng hóa Người mua phải dựa phần lớn vào những thông tin trong hợp đồng và những thông tin do người bán cung cấp về hàng hóa Người bán trở thành “đôi mắt” của người mua và chính vì vậy, đặc điểm của hàng hóa chính là một vấn đề nằm trong phạm vi ảnh hưởng của người bán Người bán phải đáp ứng được chính những thông tin về hàng hóa do anh ta đưa
ra mà được cả hai bên đồng ý.24
Điều 35(1) của Công ước quy định rõ ràng về nghĩa vụ của người bán phải giao hàng đúng số lượng, chất lượng, đúng chủng loại và được đóng gói theo đúng yêu cầu của hợp đồng Điều 35(2) cũng quy định rằng, hàng hóa được coi là không phù họp với hợp đồng trừ phi chúng thỏa mãn được bốn yêu cầu sau đây (giả thiết là các bên không có thỏa thuận khác):
22 Hanschel (2005), trang 23
23 Honnold (1999), trang 252
24 Hanschel (2005), trang 66
Trang 22c) Thích họp cho các mục đích sử dụng mà hàng hóa cùng loại vẫn thường đáp ứng;
d) Thích hợp cho bất kỳ mục đích cụ thể nào mà người bán đã biết một cách rõ ràng hoặc tự hiểu vào lúc giao kết hợp đồng, trừ trường hợp hoàn cảnh cụ thể chỉ ra rằng người mua đã không dựa vào hoặc không hợp lý để dựa vào kỹ năng và ý kiến của người bán;
e) Có các phâm chât của hàng mâu hoặc mô hình mà người bán đã cung cấp cho người mua;
f) Được chứa đựng hay đóng gói theo cách thông thường cho loại hàng hóa đó hoặc nếu không có cách thông thường, thì theo cách thích hợp để gìn giữ và bảo quản hàng hóa đó.
Luật Thương mại Việt Nam 2005 sử dụng thuật ngữ khá gần với cách quy định của Công ước về vấn đề này Điều 39, chỉ rõ nếu hợp đồng không có quy định cụ thể thì hàng hóa được coi là không phù hợp với hợp đồng khi hàng hóa đó thuộc một trong các trường hợp sau đây:
(a) Không phù hợp với mục đích sử dụng thông thường của các hàng hoá cùng chủng loại;
(b) Không phù họp với bất kỳ mục đích cụ thể nào mà bên mua đã cho bên bán biết hoặc bên bán phải biết vào thời điểm giao kết hợp đồng;
(c) Không bảo đàm chất lượng như chất lượng của mẫu hàng hoá mà bên bán đã giao cho bên mua;
(d) Không được bào quản, đóng gói theo cách thức thông thường đối với loại hàng hoá đó hoặc không theo cách thức thích hợp để bảo quản hàng hoá trong trường hợp không có cách thức bảo quản thông thường.
Như vậy, yêu cầu về sự phù hợp của hàng hóa đổi với hợp đồng theo điều 39 LTMVN 2005 không bao gồm yếu tố số lượng Cách diễn giải, quy định vấn đề của LTMVN 2005 là phủ định, ngược lại với cách quy định của Công ước Công ước đưa ra khái niệm và mô tả các trường
hợp hàng hóa được coi là phù hợp với hợp đồng, các trường hợp còn lại
hàng hóa sẽ được coi là không phù hợp với hợp đồng còn LTMVN 2005
lại đưa ra các trường hợp để chỉ ra hàng hóa không phù hợp với hợp đồng các trường hợp còn lại sẽ là hàng hóa phù hợp với hợp đồng.
Trang 23Rõ ràng là về vấn đề xác định thế nào là hàng hóa phù hợp với hợp đồng, cách giải quyết của LTMVN 2005 tương tự như Công ước Viên Ngoại trừ việc khái niệm của Công ước còn bao gồm cả yếu tố số lượng của hàng hóa và cách tiếp cận vấn đề là điểm khác biệt giữa hai hệ thống như đã nói ở trên thì các yếu tố còn lại cấu thành khái niệm hàng hóa phù hợp với hợp đồng của Công ước và LTMVN 2005 cơ bản là như nhau Cả điều 35(2)Công ước và điều 39(1)LTMVN 2005 đều xác định
3 yếu tổ Mục đích sử dụng của hàng hóa căn cứ vào mục đích sử dụng
thông thường của hàng hóa cùng chủng loại hoặc căn cứ vào mục đích
cụ thể của hàng hóa mà người bán có thể biết vào thời điểm giao kết hợp
đồng; Chất lượng của hàng hóa căn cứ vào chất lượng của hàng hóa mẫu; Quy cách bảo quản đóng gói căn cứ vào quy c á ch bảo quản đóng gói thông thường của hàng hóa đó hoặc căn cứ vào nguyên tắc thích hợp Mặc dù không coi sự phù hợp về mặt số lượng là một bộ phận cấu thành nên khái niệm hàng hóa phù hợp với hợp đồng nhưng tại điều 41 LTMVN 2005 quy định nguyên tắc chung trong việc khắc phục trong trường hợp giao thiếu hàng, giao hàng không phù hợp với hợp đồng Điều 34(1) quy định “bên bán phải giao hàng, chứng từ theo thỏa thuận trong hợp đồng về số lượng, chất lượng, cách thức đóng gói, bảo quản và các quy định khác trong hợp đồng” Rõ ràng các quy định này đã cho thấy mặc dù theo cách hiểu của điều 39 giao thiếu hàng không nằm trong khái niệm giao hàng không phù hợp với hợp đồng nhưng xét về tổng thể
sự không phù hợp về số lượng có thể coi là một yếu tố cấu thành khái niệm hàng hóa không phù hợp với hợp đồng
Tóm lại, hàng hóa bị coi là không phù hợp với hợp đồng khi chúng không thỏa mãn một trong các yếu tố sau:
Đảm bảo yêu cầu về số lượng theo hợp đồng
Đảm bảo chất lượng của hàng hóa theo thỏa thuận hoặc theo chất lượng của hàng hóa mẫu;
Đảm bảo mục đích sử dụng của hàng hóa như đã được trao đổi giữa các bên hoặc căn cứ vào mục đích sử dụng thông thường của hàng hóa cùng chủng loại;
Trang 24Được đóng gói, bảo quản đúng quy cách theo hợp đồng hoặc theo cách thức thông thường hoặc cách thức thích hợp trong trường hợp không có thỏa thuận.
2.2.2 Quyền của người mua phát sình do hành vi giao hàng không
phù hợp với hợp đồng
Pháp luật luôn tồn tại với mục đích thiết lập và bảo vệ các quyền pháp lý Quyền pháp lý là quyền mà pháp luật trao cho một người và để đảm bảo quyền lợi của họ, pháp luật buộc một chủ thể hay nhiều chủ thể khác có nghĩa vụ tương ứng (làm hoặc không được làm những việc nhất định) Khi pháp luật trao cho chủ thể một quyền nào đó, pháp luật cũng quy định các hình thức trách nhiệm áp dụng khi quyền đó bị xâm phạm Việc quy định các hình thức trách nhiệm vừa nhằm ngăn chặn các hành
vi xâm phạm quyền, vừa nhằm khôi phục những thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền gây ra
Quyền của một chủ thể được áp dụng các hình thức trách nhiệm được xem như là giải pháp, đặc biệt trong trường hợp hợp đồng bị vi phạm Tuy nhiên, trách nhiệm pháp lý là một trong những vấn đề phức tạp và được quy định rất khác nhau trong các hệ thống pháp luật.25
Quyền áp dụng các hình thức trách nhiệm của người bán và người mua theo quy định của Công ước được soạn thảo dựa trên kinh nghiệm của cả hệ thống Common Law và Civil Law Chúng nhằm đến mục đích mang lại cho các bên những lợi ích có được do sự thỏa thuận của họ và đặt họ vào vị trí kinh tế mà đáng ra họ có được nếu hợp đồng không bị vi phạm Công ước cũng hướng đến việc tiếp cận theo hướng thống nhất cho các hình thức trách nhiệm do vi phạm hợp đồng Tức là tạo ra một
mô hình chung cho các hình thức trách nhiệm, áp dụng giống nhau trong
cả hai trường hợp áp dụng cho vi phạm của người bán hay áp dụng cho
vi phạm của người mua
Theo điều 45 của Công ước, trong trường hợp người bán vi phạm nghĩa vụ, người mua có quyền áp dụng các quyền quy định tại các điều
từ 46 đến 52 đó là quyền yêu cầu người bán phải thực hiện nghĩa vụ
:5 Trích trong Chengwei (2003)
Trang 25(thực hiện thực sự), tuyên bố hủy hợp đồng, yêu cầu giảm giá hàng Người mua cũng có quyền đòi bồi thường thiệt hại theo quy định tại các điều 74 đến 77 Tuy nhiên, căn cứ vào các điều 46(2), 46(3), 50, thì có những hình thức trách nhiệm chỉ được áp dụng trong trường hợp người bán giao hàng không phù hợp với hợp đồng Điều 46(2) quy định, nếu hàng hóa không phù hợp với hợp đồng và sự không phù hợp đó cấu thành một vi phạm cơ bản thì người mua có quyền yêu cầu người bán phải giao hàng thay thế Điều 46(3) quy định nếu hàng hóa không phù hợp với họp đồng, người mua có quyền yêu cầu người bán khắc phục sự không phù hợp đó, trừ khi điều này là không hợp lý xét theo hoàn cảnh
cụ thể Quyền yêu cầu người bán giao hàng thay thế, khắc phục sự không phù họp (sửa chữa) hàng hóa thực chất là hai dạng cụ thể của quyền yêu cầu người bán phải thực hiện nghĩa vụ Theo điều 50, quyền yêu cầu giảm giá hàng cũng được áp dụng trong trường hợp hàng hóa không phù hợp với hợp đồng Quyền đòi bồi thường thiệt hại theo quy định từ điều
74 đến 77 được áp dụng chung cho vi phạm của người bán cũng như của người mua, đối với vi phạm của người bán, nó cũng được áp dụng không
kể đó là vi phạm do giao hàng chậm, không giao hàng hay giao hàng không phù hợp với hợp đồng Đối với quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, khoản 2 điều 45 Công ước quy định người mua không mất quyền đòi bồi thường thiệt hại khi đã áp dụng các hình thức chế tài khác
Theo Luật Thương mại Việt Nam 2005 (Điều 292), ngoại trừ các
hình thức trách nhiệm do các bên thỏa thuận không trái với nguyên tắc
cơ bản của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và tập quán thương mại quốc tế, có sáu hình thức trách nhiệm sau đây áp dụng cho các hành vi vi phạm trong thương mại nói chung và trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng:
Trang 266 Huỷ bỏ hợp đồng.
Như vậy, so với Công ước LTMVN 2005 không có quy định về hình thức giảm giá hàng nhưng quy định thêm hình thức trách nhiệm phạt vi phạm, tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng Luật Thương mại Việt Nam cũng quy định trong thời gian áp dụng các chế tài khác bên bị vi phạm vẫn có quyền đòi bồi thường thiệt hại Hình thức trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quy định từ điều 302- 307 LTMVN 2005 Như vậy, trong trường họp giao hàng không phù hợp với hợp đồng, với tư cách là một hành vi vi phạm trong thương mại, người bán có quyền áp dụng các hình thúc trách nhiệm nêu trên
Tóm lại, cả hai hệ thống pháp luật đều trao cho bên bị vi phạm quyền được áp dụng các hình thức trách nhiệm nhất định nhằm bảo vệ lợi ích của bên bị vi phạm, mặc dù còn tồn tại một số khác biệt nhưng cả hai hệ thống đều ghi nhận bồi thường thiệt hại không chỉ áp dụng trong trường hợp giao hàng không phù hợp với hợp đồng mà có thể áp dụng cho bất kỳ hình thức vi phạm hợp đồng nào Bồi thường thiệt hại được xem là hình thức phức tạp nhất trong các hình thức trách nhiệm hợp đồng Trong trường hợp hàng hóa được giao không phù hợp với hợp đồng, việc áp dụng hình thức bồi thường thiệt hại lại càng điển hình và phức tạp hơn trong các trường hợp khác, vì các thiệt hại gián tiếp do hàng hoá được giao không phù hợp với họp đồng rất khó dự đoán và chứng minh được Trong phạm vi luận văn này, tác giả sẽ tập trung phân tích hình thức trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp hàng hóa được giao không phù hợp với hợp đồng
2.3 Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đổng.
2.3.1 Bồi thường thiệt hại nói chung và bồi thường thiệt hại do vi
phạm hợp đồng.
Nói chung, bồi thường thiệt hại là việc bồi thường bằng tiền mà pháp luật buộc bên vi phạm phải thực hiện đổi với bên phải chịu những thiệt hại do hành vi vi phạm của bên vi phạm gây ra.26
26 Hale, Wiltiam B , (1896) H and book on the Law o f dam ages, trang I
Trang 27Quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại có ý nghĩa kinh tế quan trọng, bởi vậy không ngạc nhiên khi chúng ta có thể tìm thấy các quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại có trong rất nhiều các văn bản pháp luật Bồi thường thiệt hại được chia thành bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (do hành vi trái pháp luật gây thiệt hại) và bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng.
Nguyên tắc cơ bản và nhất quán của bồi thường thiệt hại là giá trị bồi thường phải được quy đổi bàng tiền Bồi thường, chứ không phải là hồi phục, giá trị, chứ không phải giá cả, là những nguyên tắc để xác định giá trị bồi thường Trong quan hệ pháp luật dân sự, cái mà pháp luật trao cho người bị vi phạm là quyền được hưởng một khoản bồi thường cho những thiệt hại mà anh ta phải chịu do hành vi của bên vi phạm chứ không phải là một sự trừng phạt cho bên vi phạm, cho dù việc bồi thường đó là ngoài hợp đồng hay trong hợp đồng.27 Tuy nhiên, đối với bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong các trường hợp do hành vi lừa đảo, gian lận, do cẩu thả hay cố ý gây thiệt hại thì đôi khi hình thức trách nhiệm bồi thường thiệt hại được áp dụng còn với mục đích trừng phạt người vi phạm Trong những trường hợp như vậy, việc bồi thường thiệt hại là không giới hạn trong phạm vi số tiền đủ để đền bù cho những thiệt hại mà bên bị vi phạm phải gánh chịu, mà có thêm một khoản nhàm răn
đe, trừng phạt trong tiếng Anh gọi là “exemplary damages”, hay
“punitive damages”
Mặc dù về mặt lý thuyết và mục đích của các quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại phải là bồi thường bằng tiền, không phải mọi hậu quả của hành vi vi phạm là một yếu tố trong tính toán bồi thường thiệt hại Một người bị thương chỉ có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại cho những thiệt hại trực tiếp và có thế tính toán được là hậu quả của hành vi vi phạm
Bồi thường thiệt hại là một kết quả của sự kết hợp giữa vấn đề của Luật và Thực tiễn Phạm vi của những thiệt hại gây ra bởi một hành vi vi phạm, và do đó khoản bồi thường thiệt hại cần thiết cho bên bị vi phạm,
là một vấn đề của thực tế, nhưng điều đó không cho phép các quan tòa
27 Andrevv Buưovvs, trang 29
Trang 28suy xét tùy tiện theo ý mình Các quy định về phạm vi và mức bồi thường được xác định trong bất kỳ trường hợp nào là một vấn đề của luật pháp, và các quan tòa bị ràng buộc bởi các quy định đặt ra cho Tòa án Mỗi hệ thống pháp luật đều có những cách phân loại Bồi thường thiệt hại nhưng dưới góc độ quốc tế, cách phân loại sau được thừa nhận rộng rãi Căn cứ vào mục đích, bồi thường thiệt hại có thể được chia thành Bồi thường thiệt hại không kèm mục đích trừng phạt (Compensatory Damages) và Bồi thường thiệt hại có mục đích trừng phạt (Examplary hay Punitive Damages) Compensatory Damages, trong ý định của pháp luật là bồi thường một khoản vừa đủ để bồi thường cho những thiệt hại
mà người bị vi phạm phải gánh chịu Exemplary Damages hoặc punitive Damages là khoản cộng thêm, bổ sung với khoản bồi thường để trừng phạt bên vi phạm, và như là một cảnh báo, răn đe cho những đối tượng khác
Trong hầu hết các hệ thống pháp luật, có một sự phân biệt quan trọng giữa bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và bồi thường thiệt hại do
vi phạm hợp đồng Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có cơ sở, căn cứ pháp lý cho trách nhiệm bồi thường là việc xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp ngoài hợp đồng của các cá nhân, thể nhân hoặc các chủ thể khác trong khi bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng có căn cứ để áp dụng trách nhiệm là những hành vi vi phạm hợp đồng Việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nhằm mục đích chủ yếu là đưa bên bị thiệt hại do hành
vi trái pháp luật gây ra trở lại vị trí mà đáng lẽ anh ta đã có nếu hành vi trái pháp luật không xảy ra Việc bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng nhằm mục đích chủ yếu là đảm bảo cho các bên đạt được lợi ích
mà họ hướng đến khi tham gia hợp đồng, tức là đưa bên bị vi phạm đạt được vị trí mà đáng lẽ anh ta đã có nếu hợp đồng đựoc thực hiện nghiêm túc Do đó, việc bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài họp đồng sẽ mang lại những kết quả khác nhau.28 Chẳng hạn, khi một người mua một chiếc xa ôtô, người bán đã lừa dối và đưa ra một bảo đảm trong họp đồng rằng, chiếc xe mới qua sử dụng 01 năm,
28 Andrevv Burrows, trang 34
Trang 29nhưng thực tế, xe đã qua sử dụng 4 năm Người bán đã phải trả 5,000 Bảng Anh trong khi giá thị trường cho chiếc qua sử dụng 1 năm là 5,500 Bảng Anh và giá thị trường cho chiếc xe mà anh ta thực tế mua (với tuổi thật của nó) là 4,000 Bảng Anh Nếu người mua vẫn giữ lại chiếc xe và yêu cầu bồi thường vì bị lừa dối thì thiệt hại của anh ta sẽ là 5,000 -4,000 = 1,000 Bảng Anh Nhưng nếu anh ta yêu cầu bồi thường trên cơ
sở bên bán đã vi phạm họp đồng giao hàng (xe) không phù hợp với điều khoản tuổi của chiếc xe, thiệt hại anh ta được bồi thường có thể là 5,500
- 4,000 = 1,500 Bảng Anh Bồi thường thiệt hại trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này là bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng
Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng Luật hợp đồng dù là
pháp luật quốc gia hay pháp luật quốc tế đều có rất ít các quy định bắt buộc, do đó, các bên đều có khuynh hướng mô hình hóa các điều kiện hợp đồng của riêng mình.29 Một trong những vấn đề chính của luật hợp đồng là xác định các bên sẽ được áp dụng các hình thức trách nhiệm nào trong trường có vi phạm hợp đồng Giải pháp cho vấn đề này được quy định không giống nhau giữa các hệ thống pháp luật khác nhau
Có sự khác nhau giữa hệ thống Common Law và Civil Law trong việc lựa chọn hình thúc trách nhiệm áp dụng đầu tiên, chủ yếu cho vi phạm hợp đồng Ở các nước theo hệ thống Common Law, bồi thường thiệt hại là hình thức trách nhiệm áp dụng phổ biến cho các vi phạm hợp
đồng Ngược lại, ở nhiều quốc gia thuộc hệ thống Civil Law, khi một vi
phạm hợp đồng xảv ra, hình thức trách nhiệm được ưu tiên áp dụng đầu tiên là thực hiện thực sự (speciíic períòrmance), mặc dù nhiều của các quốc gia này đang ngày càng cho phép áp dụng bồi thường thiệt hại như
là một hình thức được ưa thích Bồi thường thiệt hại trong các nước Civil Law, bởi vậy, đang được xem như là một hình thức trách nhiệm được ưu tiên áp dụng thứ hai Tuy nhiên, trong một số quốc gia thuộc hệ thống Civil Law, bên bị vi phạm hoặc tòa án có thể lựa chọn các hình thức trách nhiệm Trong cả hệ thống Common Law và Civil Law, các quy
29 Blase and Hottler, “Remarks on the Damages Provisions in the CISG, Principle o f European Contract Law (PECL) and ƯNIDROIT Principles o f International Commercial Contracts (UPPIC), địa chi truy cập http://www c 1 sg la w pace ■ edu/c i sg/b i b I i o/b 1 ase3 h tm I
Trang 30định liên quan đến bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng rất phức tạp
và không giống nhau giữa các quốc gia khác nhau.30
Pháp luật các nước thuộc hệ thống Common Law, chẳng hạn như pháp luật Anh31 mục đích của bồi thường thiệt hại không phải là để trừng phạt mà là “đưa bên phải chịu thiệt hại về cùng điều kiện mà đáng lẽ anh
ta có được trong trường hợp hợp đồng đã được thực hiện, trong chừng mực việc bồi thường bằng tiền có thể làm được điều đó” Vì vậy, nói chung quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại nhằm để bảo vệ lợi ích kỳ vọng (expectation interest) của bên bị thiệt hại
Hệ thống Common Law phân loại bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thành ba loại: nominal damages (tạm dịch: việc bồi thường thiệt hại danh nghĩa, hình thức), general damages (bồi thường thiệt hại chung) và special damages (bồi thường thiệt hại đặc biệt) Nominal damages là trường hợp bên vi phạm nhận trách nhiệm đối với hành vi vi phạm hợp đồng mặc dù bên bị thiệt hại không thể chứng minh thiệt hại thực tế General damages là việc bồi thường cho những thiệt hại “được coi là kết quả của việc xâm phạm một quyền hoặc nghĩa vụ pháp lý nào đó” Những thiệt hại đó được xác định là kết quả có thể và hiển nhiên của các vi phạm cụ thể và bao gồm cả thiệt hại bồi thường được bằng tiền và thiệt hại không bồi thường được bằng tiền Special damages phát sinh từ "trường hợp đặc biệt hoặc bất ngờ khả năng dự đoán hợp lý của các bên" và có thể không được chấp, trừ khi "những sự kiện đặc biệt đã được trao đổi giữa các bên."
Tòa án Anh đã rút ra một số khác biệt giữa genaral damages và special damages Special damages phải được chứng minh một cách cụ thể Ngược lại, nói chung là general damages có thể đạt được mà không cần bằng chứng về thiệt hại, và chỉ cần bên bị thiệt hại có xác nhận rằng
đã phải chịu thiệt hại
Bồi thường thiệt hại theo hệ thống Civil Law dựa trên hai khái niệm về bồi thường Đó là damnum emergens, có nghĩa là, bồi thường
30 Gotanda, John Y , “Recovering Loss Profit in International Dispute”
Địa chỉ truy cập http://www.cisg.law.pace.edU/cise/biblio/gotanda2.htm l#ii
31 Poole (2006), trang 307
Trang 31cho thiệt hại thực tế phải gánh chịu Khái niệm thứ hai là lucrum cessans, hay những khoản lợi thực tế bị mất Khái niệm này liên quan đến các kỳ vọng mà sự thỏa thuận hay mặc cả của các bên có thể mang lại nếu hợp đồng được thực hiện tốt Cũng như ở các quốc gia thuộc hệ thống Common Law, mục tiêu của damnum emergens và lucrum cessans là đưa bên phải chịu thiệt hại về cùng điều kiện mà đáng lẽ anh ta có được trong trường hợp hợp đồng đã được thực hiện.
Luật pháp một số nước Civil Law phân loại bồi thường thiệt hại
do vi phạm hợp đồng thành hai loại được gọi là positive interest và negative interest Positive interest đặt bên bị vi phạm vào vị trí kinh tế
mà đáng lẽ nó đã có trong trường hợp hợp đồng đã được thực hiện Khoản bồi thường này có thể bao gồm bất kỳ khoản lợi nhuận nào bên bị
vi phạm đã có thể nhận được nếu vi phạm đã không xảy ra Ngược lại, mục đích của negative interest là để khôi phục lại cho bên bị vi phạm vị trí nó đã có trước khi giao dịch diễn ra
Pháp luật tất cả các quốc gia đều đặt ra những yêu cầu và giới hạn cho việc áp dụng bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng Các yêu cầu này có thể bao gồm nguyên tắc nhân quả (causation), nguyên tắc thiệt hại phải có thể dự đoán trước (foreseeability), nguyên tắc lỗi (fault), Các yêu cầu và hạn chế này và cũng có thể áp dụng cho việc bồi thường những khoản lợi nhuận đã mất, nhưng việc áp dụng bồi thường thiệt hại cho lợi nhuận đã mất có thể khác bồi thường thiệt hại nói chung
Các bên cũng có thể thỏa thuận các hình thức trách nhiệm áp dụng cho vi phạm hợp đồng Chẳng hạn, các bên có thể giới hạn phạm vi trách nhiệm trong trường hợp một bên chấm dứt hợp đồng vì một số trường họp nhất định Ngoài ra, các bên có thể thỏa thuận một khoản bồi thường nhất định (liquidated damages), xác định số tiền được bồi thường phải trả nếu một bên vi phạm thoả thuận Tuy nhiên, một số hệ thống pháp luật không cho phép áp dụng những điều khoản như vậy khi số tiền phải bồi thường thiệt hại như vậy là quá không cân xứng với thiệt hại thực tế hay những thiệt hại mà có thể phát sinh hợp lý theo các trường hợp có thể áp dụng điều khoản phạt vi phạm
Điều 74 Công ước quy định nguyên tắc chung trong việc áp dụng hình thức trách nhiệm bồi thường thiệt hại, theo đó “Bồi thường thiệt hại
Trang 32do vi phạm hợp đồng một khoản tiền tương ứng với các thiệt hại, bao gồm khoản lợi bị bỏ lờ, .tiền bồi thường thiệt hại này không được cao hơn tổn thất mà bên vi phạm đã dự liệu ” Như vậy rõ ràng là Công ước không thừa nhận punitive hay exemplary damages, điều này cũng phù hợp với mục đích của bồi thường thiệt hại theo Công ước là “không đưa bên bị vi phạm vào vị trí tốt hơn mà đáng lẽ ra nó đã có nếu hợp đồng được thực hiện nghiêm túc”
Luật TMVN 2005, tại điều 302 quy định “Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu
do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm” Bên cạnh đó, LTMVN
2005, tại các điều 292 và 300 đã thừa nhận hình thức trách nhiệm phạt vi phạm, mặc dù hình thức phạt vi phạm chỉ được áp dụng nếu trong hợp đồng có thỏa thuận Hình thức trách nhiệm phạt vi phạm trong LTMVN
2005, thực chất chính là punitive hay examplary damages, bởi mục đích của nó là trừng phạt bên vi phạm do hành vi vi phạm hợp đồng bằng cách buộc bên bị vi phạm phải trả một khoản tiền nhất định Như vậy, pháp luật Việt Nam về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng, ngoài việc đương nhiên áp dụng compensatory damages còn thừa nhận cả punitive damages
2.3.2 Thiêt hai và phân loai thiêt hai. • • JT ỉ • •
Vấn đề chủ yếu có liên quan đến việc tính toán thiệt hại, phổ biến đối với nhiều hệ thống pháp luật, là những lợi ích nào từ hợp đồng được bảo vệ hay những loại thiệt hại nào do vi phạm hợp đồng được bồi
thường Nói chung, thiệt hại là sự mất mát hoặc giảm sút về lợi ích vật chất hoặc tinh thần được pháp luật bảo vệ,32 hay có thể định nghĩa bằng một cách khác thì thiệt hại bao gồm bất kỳ sự tổn hại nào cho người hoặc tài sản của bên bị vi phạm, và bất kỳ sự tổn hại nào cho địa vị kinh
tế của anh ta.33 Trách nhiệm dân sự nói chung cho phép bồi thường cả
những thiệt hại thực tế về tài sản, những tổn thất về tinh thần (dẫn đến
32 Nguyễn Thị Dung (2001), trang 60
33 Treitel (1995), trang 842
Trang 33thiệt hại về tài sản hoặc không dẫn đến thiệt hại về tài sản) Tuy nhiên,
do bản chất của quan hệ hợp đồng là các quan hệ tài sản nên khi áp dụng trách nhiệm hợp đồng pháp luật chỉ cho phép tính toán những thiệt hại vật chất Tại điều 5, Công ước cũng đã chỉ rõ “ Công ước này không áp dụng cho trách nhiệm của người bán trong trường họp hàng hóa gây thiệt hại về tính mạng hoặc làm bị thương một người nào đó”, thiệt hại theo cách hiểu của Công ước chỉ là những thiệt hại hay tổn thất về lợi ích vật chất.34 Tại khoản 2 điều 302 LTMVN 2005 xác định “ giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp và khoản lợi trực tiếp ”, thiệt hại thực tế được hiểu là sự biến đổi theo chiều hướng xấu trong tài sản của bên bị vi phạm thể hiện ở những tổn thất thực tế tính được bàng tiền mà bên đó phải gánh chịu Trong thực tiễn thương mại quốc tế, bên bị vi phạm thường yêu cầu bồi thường cho những thiệt hại sau:
Loss o f bargain or expectation interest {Khoản lợi ích mà bên bị vi phạm kỳ vọng) được coi như là “hòn đá tảng” của pháp luật về bồi
thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng Lợi ích kỳ vọng được bồi thường một cách hoàn hảo sẽ đặt bên bị thiệt hại ở vào tình trạng giống nhau giữa vi phạm và không vi phạm hợp đồng.35Lợi ích kỳ vọng bao gồm khoản lợi bị bỏ lỡ được bồi thường sẽ đặt bên bị vi phạm vào cùng một điều kiện kinh tế mà họ sẽ có được trong trường hợp hợp đồng đã được thực hiện.36 Nói cách khác bên bị vi phạm có quyền được bồi thường cho những lợi ích là kết quả từ việc thực hiện hợp đồng, từ những điều các bên đã “mặc cả” được với nhau nhưng đã bị mất do sự vi phạm hợp đồng của bên kia Việc bảo vệ lợi ích kỳ vọng của bên bị vi phạm khác với việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng ở chỗ: mục đích của việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ đơn giản là để đưa bên nguyên đơn trở lại điều kiện mà anh ta đáng lẽ có được, nếu không có hành vi vi phạm pháp luật Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trong nhiều trường hợp, nguyên đơn có thể yêu cầu bồi thường cho những khoản lợi ích
34 Chengvvei (2003)
35 Chengvvei (2003)
36 Saidov, D„ (2001)
Trang 34mong đợi như các thiệt hại về các khoản thu nhập được dự kiến nhưng bị mât do nguyên đơn bị thương tích là hậu quả của hành vi vi phạm pháp luật của bị đơn, nhưng những lợi ích mong đợi tồn tại khá độc lập với hành vi vi phạm pháp luật mà làm cho những lợi ích đó bị mất Lợi ích
kỳ vọng của một bên quan tâm sẽ thể hiện cho giá trị thực tế của việc thực hiện hợp đồng đối với bên đó
Relỉance loss (Khoản chi ph í bên bị vi phạm đã bỏ ra) Mục tiêu
của việc bồi thường cho những thiệt hại là reliance loss là để đưa bên bị
vi phạm trở lại tình trạng mà anh ta đáng lẽ đã có nếu hợp đồng chưa từng được hình thành bằng cách bồi thường cho những khoản chi phí mà bên bị vi phạm đã bỏ ra để thực hiện phần nghĩa vụ của anh ta theo hợp đồng vì anh ta đã tin tưởng là hợp đồng sẽ được thực hiện.37 Những chi phí loại này thường là những khoản bên bị vi phạm phải chi do việc thực hiện phàn nghĩa vụ của anh ta từ hợp đồng, tuy nhiên, đôi khi bên bị vi phạm vẫn có thể bồi thường cho những khoản chi phí mà không buộc phải có theo hợp đồng nhưng được chi thực tế do anh ta tin tưởng vào việc thực hiện hợp đồng của phía bên kia
Restitution loss Một ví dụ đơn giản của restitution loss là, một
người bán đã được trả tiền trước và sau đó không có khả năng cung ứng Người bán sẽ bị buộc phải hoàn trả lại theo giá của hàng hóa và kết quả
là để cả hai bên trở lại vị trí mà họ đã có nếu hợp đồng đã không được thực hiện Nói một cách chính xác yêu cầu bồi thường đối với restitution loss không phải là một loại bồi thường thiệt hại; với mục đích của nó không phải là để đền bù cho bên bị vi phạm một mất mát, mà để tước của bên vi phạm một lợi ích hay nói cách khác nó ngăn cản bên vi phạm đạt được lợi ích từ hành vi vi phạm
Ba loại thiệt hại kể trên không hoàn toàn độc lập với nhau, trong một số trường hợp chúng bao hàm nhau Chẳng hạn, một người phải bỏ
ra những chi phí nhất định khi thương lượng hợp đồng sẽ cho rằng nếu anh ta đạt được họp đồng và nó được thực hiện nghiêm túc, anh ta sẽ bù
'7 Trich trong Chengwei (2003)
Trang 35lại được khoản chi phí đó và thu được lời Như vậy, expectation interest (khoản lợi kỳ vọng) sẽ bao gồm cả reliance interest.38
họp đồng dưới góc độ so sánh giữa Công ước Viên và pháp luật Việt Nam.
3.1 Quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại.
3.1.1 Cơ sở pháp lý của quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại
Trong trường họp hàng hóa không phù hợp với hợp đồng, có rất nhiều vấn đề nảy sinh với tư cách là hậu quả của hành vi vi phạm Chẳng hạn, hàng hóa là máy móc bị khuyếm khuyết sẽ không thể hoạt động đúng chức năng; hàng hóa là nguyên vật liệu được giao không phù hợp với hợp đồng có thế gây ra nhiều vấn đề rắc rối trong nhà máy của bên mua; hàng hóa được mua để bán lại mà không phù hợp với hợp đồng thì người mua có thể phải chịu sự phàn nàn và khiếu nại của người mua lại Trong những trường hợp như vậy, người mua có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại dựa trên nguyên tắc chung quy định rằng yêu cầu bồi thường thiệt hại có thể dựa trên bất kỳ trường hợp vi phạm hợp đồng nào Bên bị
vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại bất cứ khi nào anh ta phải chịu thiệt hại từ hành vi vi phạm hợp đồng của phía bên kia.39
Theo Công ước, Điều 45 quy định rằng, nếu người bán không thực
hiện bất kỳ nghĩa vụ của mình theo hợp đồng hoặc Công ước, bên kia có thể "yêu cầu bồi thường thiệt hại như quy định trong điều 74 đến 77" (Điều 45 (1) ( b ) ) Hơn nữa, bên có quyền "không bị tước quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại do việc áp dụng các hình thức trách nhiệm khác" (Điều 45 (2))
38 G oode (2004), trang 67
39 Com m ent and Notes to the PECL, Art 9:501,
địa chỉ truy cập < http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/text/peclcornp74.htm l>
Trang 36Quyên yêu câu bôi thường thiệt hại, như các hình thức trách nhiệm khác, phát sinh từ thực tế là có hành vi vi phạm Bên bị vi phạm đơn giản chỉ cần chứng minh là có hành vi vi phạm của phía bên kia là
đủ Không cần thiết phải chứng minh rằng hành vi vi phạm là do lỗi của bên vi phạm Quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại có thể được áp dụng bất luận những vi phạm hợp đồng là cố ý hay cẩu thả hay trong bất kỳ cách nào khác Đe thực hiện quyền đó, bên bị vi phạm có thể yêu cầu bồi thường một cách độc lập hoặc cùng với các hình thức trách nhiệm khác như quyền yêu cầu sửa chữa hoặc thay thế hàng hóa
Theo luật Việt Nam, không có bất kỳ điều khoản nào trực tiếp quy
định riêng về quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại của người mua hoặc trong trường hợp hàng hóa không phù họp hợp đồng Quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại được quy định chung, không kể đó là quyền của người mua hoặc người bán, hành vi vi phạm là chậm giao hàng, không giao hàng hoặc giao hàng có khuyếm khuyết Điều 302 LTMVN 2005 định nghĩa " Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm ", Điều 303 quy định về Càn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại Như vậy, trong trường hợp người bán cung cấp hàng hoá không phù với hợp đồng
và hành động này của người bán là nguyên nhân gây thiệt hại cho người mua, người mua có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại cho những mất mát hay thiệt hại bị gây ra bởi việc giao hàng không phù hợp của người bán Lỗi của bên vi phạm không được đề cập đến Như vậy bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng theo pháp luật Việt Nam, cũng như Công ước Viên, có thể được áp dụng bất luận những vi phạm hợp đồng là cố ý hoặc do sơ xuất hay do bất cứ cách nào Bên bị thiệt hại không phải chứng minh hành vi vi phạm là do lỗi của bên vi phạm
3.1.2 Các căn cứ áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Những yêu cầu về các điều kiện áp dụng của trách nhiệm pháp lý
là đặc biệt quan trọng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Con người cần phải chịu trách nhiệm nhưng là chỉ đổi với những hậu quả do hành vi của anh ta gây ra Đó chỉ là một biểu hiện của nguyên tắc công
Trang 37băng và lẽ phải như, nói xét về góc độ kinh tế, thiệt hại phải được bồi thường bởi chính những người có trách nhiệm cho sự xuất hiện của nó.
Và quan trọng nhất là, những yêu cầu về các điều kiện áp dụng trách nhiệm, không chỉ là một phương pháp hạn chế trách nhiệm pháp lý cho việc bồi thường thiệt hại trong nhiều hệ thống pháp luật, mà còn là nền tảng, cơ sở cho các quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại
Theo quy định của Công ước, ở câu đầu tiên của Điều 74: "thiệt
hại do vi phạm hợp đồng bởi một bên .,mà bên kia phải gánh chịu như
là một hậu quả của việc vi phạm" Vì vậy, Điều 74 đặt ra ba điều kiện của trách nhiệm pháp lý:
(a)Vi phạm hợp đồng do người bán hoặc người mua;
(b)Thiệt hại do bên kia phải gánh chịu;
(c) Có mối quan hệ nhân quả giữa (a) và (b)
Vì vậy, bên vi phạm chỉ chịu trách nhiệm cho các thiệt hại mà bên
bị vi phạm phải gánh chịu như là một hậu quả của những vi phạm Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và những thiệt hại Mối quan hệ nhân quả sẽ xác định phạm vi của các sự kiện Điều 74 chỉ rõ trong câu đầu tiên rằng nếu một bên vi phạm hợp đồng, thì phải bồi thường “một khoản tiền tương ứng với thiệt hại” Điều này là rất rõ ràng, nhận thức một cách logic, nguyên tẳc nhân quả có thể được áp dụng để xác định chính xác những thiệt hại nào xảy ra do những vi phạm hợp đồng Công ước không quy định yếu tố lỗi của bên vi phạm là một căn
cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Thiệt hại theo Điều 74 phải là thiệt hại thực tế, cụm từ "một khoản tiền tương ứng với thiệt hại" thể hiện điều đó một cách rõ ràng Vì chỉ thiệt hại thực tế mới có thể được xác định bằng một khoản tiền nhất định Tuy nhiên, Công ước không chỉ ra một cách rõ ràng, bên vi phạm chỉ chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại mà bên bị vi phạm phải gánh chịu như là hậu quả trực tiếp của hành vi vi phạm hay anh ta phải chịu trách nhiệm cả với những thiệt hại gián tiếp Những câu trả lời có thể được tìm thấy bằng cách vận dụng nguyên tắc thiệt hại phải có thể dự đoán trước: bên vi phạm thậm chí sẽ phải chịu trách nhiệm cho cả những thiệt hại gián tiếp gây ra cho bên kia nếu những thiệt hại này đã có thể
Trang 38được bên vi phạm dự đoán tại thời điểm ký kết hợp đồng Vì vậy, bên vi phạm phải chịu trách nhiệm đối với cả thiệt hại trực tiếp và gián tiếp.
Theo pháp luật Việt Nam , Điều 303 Luật Thương mại quy định
những căn cú cho việc áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Trừ các trường họrp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có đủ các yếu tố sau đây:
1 Có hành vi vi phạm hợp đồng;
2 Có thiệt hại thực tế;
3 Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại.
v ề Cơ bản, Luật Thương mại Việt Nam 2005 cũng đặt ra ba điều kiện áp dụng trách nhiệm tương tự như của Công ước Điều 303 quy định rõ ràng hơn về phạm vi của thiệt hại có thể được bồi thường Nó phải là thiệt hại thực tế và là những hậu quả trực tiếp của vi phạm hợp đồng Tuy nhiên, mối quan hệ giữa các bên Vi phạm (chủ thể của các hành vi vi phạm trong hợp đồng) và bên bị vi phạm (bên phải gánh chịu thiệt hại) là không được thể hiện rõ ràng như Công ước (Cụm từ " thiệt hại do bên kia gánh chịu" thể hiện rõ mối quan hệ đó Luật thương mại
2005, đã bỏ yếu tố lỗi của bên vi phạm khi xác định các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại (vốn được coi là một căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo LTMVN 1997), trong khi điều
308 Bộ luật Dân sự 2005 quy định người vi phạm nghĩa vụ dân sự thì phải chịu trách nhiệm dân sự khi có lỗi Vì trong Bộ luật dân sự 2005, vấn đề trách nhiệm dân sự được quy định chung cho cả trách nhiệm dân
sự trong hợp đồng và trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng, như vậy bộ luật dân sự đã ngầm quy định lỗi là một căn cứ làm phát sinh trách nhiệm dân sự nói chung và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng nói riêng Rõ ràng bộ luật dân sự và luật thương mại chưa có
sự thống nhất về căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
do vi phạm hợp đồng
Tuy nhiên, cả Công ước và Luật Thương mại Việt Nam 2005 đều
có quy định về các trường hợp miễn trách nhiệm (là những trường hợp nằm ngoài khả năng kiểm soát của bên vi phạm) cho nên sự thiếu vắng yếu tố lồi của bên vi phạm không có nghĩa là yếu tố lỗi không được tính