1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan trong môi trường kỹ thuật số một số vấn đề lý luận và thực tiễn

77 71 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 9,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

hoặc một số ngăn cấm các hành vi phi pháp cụ thể, vì lợi ích của các tác giả, chủ sở hữu QTG khác, người biểu diễn, những nhà sản xuất bản ghi âm, những tổ chức phát sóng, nhàm bảo đảm n

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI• t • •

QUAN TUẢN AN

BẢO HỘ QUYỂN TÁC GIẢ, QUYỂN l i ê n q u a n

TRONG MÔI TRƯỜNG KỸ THUẬT s ố ,

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC CHUYÊN NGÀNH: LUẬT DÂN s ự

MÃ SỐ: 60 38 30 NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS PHẠM VĂN TUYẾT

THƯ Vi EN

T R Ư Ơ N G Đ Ạ I H Ọ C L Ũ Ậ Ĩ HÀ NỔI _P H Ò N G Đ O C

HÀ NỘI, NĂM 2009

Trang 3

Mỏ’ đầu

Chương 1: C ơ sỏ’ lý luận về bảo hộ quyền tát £iả, quyền liên quan

trong điều kiện chung và trong môi Íí ívòng kỹ thuật số

/ 1 Một số vẩn đề chung về bảo hộ quyền tác giá !’') quyền liên quan

1.1.1 Khái niệm quyển tác giả

1.1.2 Khái niệm quyền liên

qncrn-1.2 Quyền tác giả, quyền liên quan trong môi trường kỹ thuật số

1.2.1 Mội sổ khái niệm liên quan

1.2.1.1 Kỹ thuật số

1.2.1.2 Môi trường kỹ thuật số

1.2.2 Sự cần thiết của việc bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan

trong môi trường kỹ thuật so 1.2.3 Khái niệm quyền tác giả, quyền liên quan trong môi trường

kỹ thuật số

1.3 Bảo bộ quyền tác giả, quyền liên quan trong môi truvĩĩg kỹ thuật số

Chương 2: Pháp luật Việt N am hiện hành về bảo hộ quyền tác giả,

quyền liên quan trong môi trường kỹ thuật số

2.1 Pháp luật Việt N am về bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan

trong m ôi trường kỹ thuật số

2.2 Chủ thể quyền tác giả, qựị ’ền tiên quan ừong mòi trường kỹ thuật số

2.3 Các quyền của chù thể

2.4 Phương thức bảo vệ quyền tác giả, quyền Hên quan trong m ôi

trường kỹ thuật số

2.5 Giới hạn quyền tác giả, quyền ỉỉên quan trong m ôi trường kỹ thuật sổ

Chương 3: Thực tiễn bảo hộ quyến tác giả, quyền liên quan trong môi

trường kỹ thuật số và phương hircmg hoàn thiện

Trang 4

3.3 N hững m ặt hạn ch ế 67

3.4.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật 68

Trang 5

STT Từ viết tắt Nghĩa

1 BLDS Bộ Luật Dân sự 2005

2. GDP Tổng sản phẩm Quốc nội

3. WIPO Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới

4 Hiệp ước WCT Hiệp ước của WIPO về quyền tác già

5 Hiệp ước WPPT Hiệp ước của WIPO về biểu diễn và ghi âm

6 Công ước Beme Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn

học nghệ thuật

7 Công ước Rome Công ước Rome về bảo hộ người biểu diễn,

nhà sản xuất bản ghi âm và tổ chức phát sóng

8 Hiệp định TRIPs Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến

thương mại của quyền sở hữu trí tuệ

9 Công ước u c c Công ước quyền tác giả toàn cầu

10 Luật SHTT Luật Sẻ hữu trí tuệ

11 MTKTS Môi trường kỹ thuật số

12 QLQ Quyền liên quan

Trang 6

Kỹ thuật số, công nghệ số cùng với sự phát triển nhanh, mạnh, không ngừng của nó tác động đến mọi mặt, mọi khía cạnh trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh

tế, văn hoá - xã hội và đời sống Trên phương diện QTG, QLQ thì cuộc cách mạng

kỹ thuật số đã đưa đến cơ hội đồng thời cũng là các thách thức trong thể hiện mới các hoạt động sáng tạo văn học, nghệ thuật, khoa học, trong cách thức lưu trữ và truyền đạt tác phẩm, làm phong phú phương thức đưa tác phẩm đến với công chúng, làm thay đổi nhu cầu và cách thức hưởng thụ tác phẩm Kỹ thuật số và công nghệ số với đặc tính không biên giới của nó đã làm nhoà đi đặc tính tuyệt đối về mặt lãnh thổ của QTG truyền thống, bổ sung vào các quan điểm, khái niệm trên cơ sở nguyên

lý định dạng kỹ thuật số bên cạnh nguyên lý định dạng tương tự trước đó

Vấn đề bảo hộ QTG nói chung đã được pháp điển hóa chi tiết đầu tiên trong Nghị định 142/HĐBT ngày 14/11/1986 của Hội Đồng Bộ trưởng về bảo hộ QTG, tiếp đến là Pháp lệnh bảo hộ QTG ngày 10/12/1994 của ủ y ban Thường vụ Quốc hội, BLDS ngày 28/10/1995, BLDS sửa đổi ngày 14/06/2005 và Luật SHTT ngày 29/11/2005 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành Bên cạnh các văn bản pháp luật trong nước, Việt Nam đã ký kếl và gia nhập một số điều ước quốc tế song phương

và đa phương về QTG, QLQ, nhưng chưa tham gia bắt kỳ một điều ước quốc tế đặc thù nào về bảo hộ QTG, QLQ trong lĩnh vực công nghệ số, kỹ thuật số Các điều ước quốc tế song phương gồm: Hiệp định giữa Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Họp chủng quốc Hoa Kỳ về thiết lập quan hệ QTG - BCA (có hiệu lực từ ngày 26/12/1997); Hiệp định giữa Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Liên bang Thụy Sĩ về Bảo hộ sở hữu trí tuệ và hợp tác trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ (có hiệu lực từ ngày 08 tháng 6 năm 2000); Hiệp định giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam V? Hợp chủng quốc Hoa Kỳ

về quan hệ thương mại - BTA (có hiệu lực từ ngày 10/12/2001) Các điều ước quốc

tế đa phương gồm: Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật (có hiệu từ ngày 26/10/2004); Công ước Geneva về Bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm

Trang 7

chống lại việc sao chép trái phép (Có hiệu lực từ ngày 06/7/2005); Công ước Brussels về bảo hộ các tín hiệu mang chương trình mã hóa truyền qua vệ tinh (Có hiệu lực từ ngày 12/1/2006); Công ước Rome về bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, tổ chức phát sóng (có hiệu lực từ ngày 01/3/2007); Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hứu trí tuệ - Hiệp định TRIPs (có hiệu lực từ ngày 11/1/2007) Các văn bản pháp luật trong nước cũng như các điều ước quốc tế có vai trò pháp lý quan trọng trong việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực này nói chung, QTG, QLQ trong MTK.TS nói riêng.

Trên thực tế, vấn đề QTG, QLQ trong MTKTS hiện còn tương đối mới mẻ đối với Việt Nam Tình trạng xâm phạm QTG, QLQ trong MTKTS xảy ra một cách tinh vi gây thiệt hại không nhỏ cho chủ thể sáng tạo, chủ thể sở hữu QTG, QLQ cũng như các chủ thể khác có liên quan

Nghị quyết Hội nghị lần thứ Tư Ban Chấp hành TW Đảng khoá X đã xác định rõ: chúng ta cần “đẩy mạnh thực thi pháp luật bảo vệ sở hữu trí tuệ, tạo môi trường thuận lợi cho sáng tạo các giá trị tinh thần của xã hội” Như vậy, sở hữu trí tuệ thuộc lĩnh vực QTG, QLQ nói riêng là một trong những vấn đề luôn dành được

sự quan tâm lớn của Đảng và Nhà nước ta

Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã lựa chọn dề tài: “Bảo hộ QTG, QLQ trong MTKTS - một số vấn đề lý luận và thực tiễn ” cho luận văn tốt nghiệp cao

học luậl của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Quyền sở hữu trí tuệ nói chung, QTG nói riêng được rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Đã có nhiều luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ nghiên cứu về QTG như: Nghiên cứu về cơ chế điều chỉnh bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của tác giả Lê Xuân Thảo (Luận án Tiến sĩ năm 1996), Nghiên cứu về một số vấn đề về QTG trong Luật Dân sự Việt Nam của tác giả Kiều Thị Thanh (luận văn thạc sĩ năm 1999), Hoàn thiện pháp luật về bảo hộ QTG ở Việt Nam hiện nay của tác giả Hoàng Minh Thái (luận văn thạc sĩ năm 1999), QTG đối với loại hình tác phẩm viết trono

Trang 8

pháp luật dân sự Việt Nam của tác giả TrầnThanh Bình năm 2005 (luận văn thạc sĩ), QTG đối với phần mềm máy tính của tác giả Phạm Minh Sơn năm 2006 (luận văn thạc sĩ)

Tuy nhiên, chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu về QTG, QLQ trong MTKTS

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu về QTG, QLQ trong MTKTS theo pháp luật Việt Nam và có đối chiếu, tham khảo pháp luật các quốc gia và các điều ước quốc tế về QTG, QLQ đề cập đến lĩnh vực này Bên cạnh đó, luận văn cũng xem xét thực trạng bảo hộ QTG, QLQ trong MTKTS ở Việt Nam trong thời gian qua và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa việc bảo hộ QTG, QLQ trong MTKTS

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lich sử của triết học Mác - Lênin Trên cơ sở đó, luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của khoa học xã hội nói chuns, cũng như khoa học pháp lý nói riêng như là phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, hệ thống, quy nạp, diễn giải, so sánh để làm sáng tỏ những vấn đề cần nghiên cứu

5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài• • • o

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm sáng tỏ các qui định của pháp luật Việt Nam về QTG, QLQ trong MTKTS, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực còn mới mẻ này

Để đạt được mục đích đó, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về QTG, QLQ trong MTKTS;

- Phân tích vai trò của kỹ thuật số, sự cần thiết của việc bảo hộ QTG, QLQ trong MTKTS;

- Phân tích những nội dung cơ bản về bảo hộ QTG, QLQ trong MTKTS theo pháp luật của Việt Nam; Quá trình phân tích có đối chiếu với các qui định pháp luật

Trang 9

của một số quốc gia và các điều ước quốc tế có liên quan đến bảo hộ QTG, QLQ trong MTKTS.

- Tìm hiểu thực trạng bảo hộ QTG, QLQ trong MTKTS ở nước la trong giaiđoạn hiện nay và đề ra những giải pháp khắc phục cũng như phương hướng hoànthiện pháp luật về bảo hộ QTG, QLQ trong MTKTS

6 Nhũng kết quả nghiên cứu mói của luận văn

- Luận văn là công trình khoa học đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu chuyênsâu về bảo hộ QTG, QLQ trong MTKTS;

- Luận văn đề xuất những kiến nghị, giải pháp và phương hướng hoàn thiện pháp luật về bảo hộ QTG, QLQ trong MTKTS trong điều kiện Việt Nam là thành viên của năm điều ước quốc tế và trong điều kiện hội nhập quốc tế

7 Co cấu của luận văn

Ngoài phần Lời nói đầu, Ket luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu bởi 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan trongđiều kiện chung và trong môi trường kỹ thuật số

Chương 2: Pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo hộ quyền tác giả, quyền liênquan trong môi trường kỹ thuật số

Chương 3: Thực tiễn bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan trong môi

trường kỹ thuật số và phương hướng hoàn thiện

Trang 10

CHƯƠNG 1

C ơ SỞ LÝ LUẬN VÈ BẢO H ộ QTG, QLQ TRONG ĐIÈU KIỆN CHUNG VÀ TRONG MTKTS 1.1 MỘT SỐ VẤN ĐÈ CHƯNG VỀ BẢO H ộ QTG VÀ QLQ

1.1.1 Khái niệm QTG

Mục đích chung nhất của hoạt động bảo hộ QTG, QLQ là khuyến khích các hoạt động sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học Sản phẩm của quá trình này là các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học, các đối tượng của QLQ như là cuộc biểu diễn, bản ghi âm và chương trình phát sóng Vì vậy, hoạt động bảo hộ QTG, QLQ một cách tương xứng và có hiệu quả trong một quốc gia sẽ

có vai trò quan trọng trong việc làm giàu và phong phú nền di sản văn hóa đất nước, góp phần đáng kể vào công cuộc phát triển kinh tế, thương mại, văn hóa, giáo dục quốc gia Thực tế đã chứng minh là tại các quốc gia có nền công nghiệp bản quyền phát triển thì đều có đóng góp rất lớn vào nền kinh tế quốc dân, có khi chiếm tỉ trọng tới 10% GDP Vì thế mà khuyến khích hoạt động sáng tạo trí tuệ, phổ biến các sáng tạo đó là điều kiện thiết yếu đối với quá trình phát triển kinh tế số lượng sáng tạo trí tuệ của một quốc gia càng nhiều thì quốc gia đó càng có nhiều điều kiện

để phổ biến các giá trị trí tuệ đó trong và ngoài nước Ihông qua việc phát triển các ngành công nghiệp sách báo, băng đĩa ghi âm, ghi hình, công nghiệp giải trí v.v thu hút một số lượng lớn nhân lực chuyên nghiệp thực hiện việc phổ biến và quảng

bá cho những sáng tạo trí tuệ đó như những người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi

âm, tổ chức phát sóng, v.v

Do vậy, cùng với việc khuyến khích hoại động sáng tạo, hoạt động bảo hộ còn dành sự khích Ịệ xứng đáng, cổ vũ cho nguồn nhân lực chuyên nghiệp thực hiện việc phổ biến và quảng bá các sản phẩm trí tuệ, đã có sự đầu tư thời gian, và các nguồn lực tài chính khác phục vụ cho công việc đó

Pháp luật có vai trò quan trọng trong hoạt động bảo hộ QTG, QLQ Hoạt động bảo hộ QTG, QLQ được hiểu là việc quy định thông qua pháp luật các quyền,

Trang 11

hoặc một số ngăn cấm các hành vi phi pháp cụ thể, vì lợi ích của các tác giả, chủ sở hữu QTG khác, người biểu diễn, những nhà sản xuất bản ghi âm, những tổ chức phát sóng, nhàm bảo đảm những quyền lợi hợp lý và chính đáng của các chủ thể nhất định đối với tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, chương trình phát sóng của

họ, đặc biệt là trong Irường họp các chủ thể khác trong xẳ hội sử dụng các dối tượng này Bảo hộ pháp lý QTG, QLQ một cách hoàn chỉnh nhất cũng có nghĩa là trao hiệu lực cho các quyền nói trên thông qua các chế tài phù hợp và áp dụng các biện pháp thi hành trong hoạt động tố tụng chống vi phạm đối với những hành vi trái pháp luật xâm hại đến những quyền lợi hợp pháp của các chủ thể quyền (Công ước BERNE, Điều 1, Công ước QTG Toàn cầu (UCC), Điều I, Công ước ROME, Điều

1, Công ước Bản ghi âm, Điều 3, Công ước Vệ tinh, Điều 6, Mau Tunis, Điều 1, Mầu ROME, Điều 2(5))

QTG nói chung được hiểu là quyền độc quyền được pháp luật trao cho tác giả đối với một tác phẩm là kết quả của hoại động sáng tạo của chính mình, gồm: quyền sao chép tác phẩm và quyền phân phối hoặc phổ biến tác phẩm đến công chúng bằng bất kỳ phương thức hoặc bất kỳ phương tiện nào, và cũng còn được hiểu là quyền về việc cho phép người khác sử dụng tác phẩm theo những cách thức

cụ thể

Hầu hết pháp luật về QTG của các quốc gia đều phân biệt rõ giữa quyền kinh

tế và quyền tinh thần Hai loại quyền này hợp lại thành QTG Thông thường có những hạn chế nhất định do luật pháp đặt ra như là về loại hình tác phẩm đủ tiêu chuẩn bảo hộ và như là về việc thực thi các quyền của các tác giả bao hàm trong QTG Khái niệm này được đề cập đến tại Công ước BERNE, Điều 2(3), Công ước QTG Toàn cầu (ƯCC), Điều I, Công ước ROME, Điều I, Công ước bản ghi âm, Điều 3, Mầu Tunis, Điều 11(2) Mầu ROME, Điều 7

Theo luật QTG, các quyền thuộc QTG gồm các quyền cấu thành nội tại của QTG đối với tác phẩm về các phương thức hoặc các khía cạnh khác nhau của việc

sử dụng tác phạm Nó được xác định rõ trong Luật QTG về các hành vi quan trọng nhất mà dựa vào đó chủ sở hữu QTG cần phải được bảo hộ Thông qua việc thi

Trang 12

hành các quyền đó, chủ thể sở hữu quyền có thể tự khai thác tác phẩm hoặc cho phép những chủ thể khác trong xã hội làm công việc đó Ngoài các quyền kinh tế và quyền tinh thần này, cũng có các QLQ tới cả hai loại quyền đó, như là các quyền về phóng tác và về dịch, thuộc nhóm quyền làm tác phẩm phái sinh, phản ánh các quyền lợi tinh thần liên quan tới sự toàn vẹn của tác phẩm gốc và các quyền lợi kinh

tế về việc khai thác tác phẩm đó dù là các dưới hình đã được phóng tác, cải biên,

1.1.2 Khái niệm QLQ

QLQ hay còn gọi là quyền kề cận được qui định trong hệ thông pháp luật các nước với sổ lượng ngày càng tăng để bảo hộ các lợi ích của những người biểu diễn, các nhà sản xuất bản ghi âm và các tổ chức phát sóng liên quan tới các hành vi của

họ trong mối quan hệ tới việc sử dụng công cộng các tác phẩm của các tác giả, tất

cả các dạng trình bầy của các nghệ sỹ hoặc việc truyền thông tới công chúng các sự kiện, thông tin, và bất kỳ âm thanh hoặc hình ảnh nào.ịcác loại quyền quan trọng nhất là: quyền của những người biểu diễn cấm việc định hình hoặc phát sóng hoặc truyền thông trực tiếp tới công chúng các trình diễn của họ mà không được sự đồng

ý của họ; quyền của các nhà sản xuất bản ghi âm cho phép hoặc ngăn cấm việc sao chép các bản ghi âm của họ và nhập khẩu và phân phối bản sao không được phép của bản ghi âm đó; quyền cùa các tổ chức phát sóng cho phép hoặc ngăn cấm việc tái phát sóng, định hình và sao chép các chương trình phát sóng của họ Ngày càng

Trang 13

tăng số nước đã bảo hộ một số hoặc tất cả các quyền này thông qua các quy định thích hợp, chủ yếu được pháp điển hoá trong khuôn khổ của các luật QTG của nước mình Một vài nước cũng còn cấp một dạng quyền tinh thần cho những người biểu diễn Một số nước cũng đã chuẩn bị bảo hộ các lợi ích của các tổ chức phát sóng tới phạm vi là ngăn cấm việc phân phối trên hoặc từ lãnh thổ của họ bấl kỳ tín hiệu mang chương trình nào thông qua nhà phân phối mà các tín hiệu phái đến hoặc chuyển tiếp qua vệ tinh không chủ định dành cho người đó Không một sự bảo hộ bất kỳ QLQ nào có thể được diễn giải đến sự hạn chế hoặc xâm hại sự bảo hộ được bảo đảm dành cho các tác giả hoặc những người được hưởng QLQ khác theo luật quốc gia hoặc các công ước quốc tế.

Theo qui định tại Khoản 3, Điều 4, Luật SHTT thì: “QLQ đến QTG (sau đây gọi là QLQ) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa.”

1.2 QTG, QLQ TRONG M TKT8

1.2.1 Một số khái niệm liên quan

1.2.1.1 Khải niệm kỹ thuật so

Kỹ thuật số là kiểu tín hiệu và định dạng dữ liệu trong ngành điện tử, sử dụng các trạng thái rời rạc khác với tương tự, dùng những thay đổi liên tục của tín hiệu

- Các tín hiệu số tồn tại như các chuỗi số theo thời gian Thường sử dụng các bit (số) "0" và "1"

- Bit (viết tắt là b) là đơn vị thông tin Bit có thể nhận 2 giá trị: 0 hoặc 1 Nó

có thể được biểu diễn theo nhiều cách khác nhau Có thể là trạng thái đóng hay mở của mạch điện, một vệt khắc bằng tia laser trên bề mặt đĩa CD v.v Các bit có thể dùng để thể hiện số tự nhiên trong hệ nhị phân

- Từ số còn dùng để chi phương pháp lưu trữ dữ liệu ở dạng số (nhị phân) Ví

dụ hình ảnh kỹ thuật số - nghĩa là hình được lưu trữ ở dạng số, tức các màu được

mô tả bằng các bit

Trang 14

- Hệ nhị phân (hay hệ đếm cơ số 2) là một hệ đếm dùng hai ký tự để biểu đạt

một giá trị sổ, bàng tổng số các lũy thừa của 2 Hai kỷ tự đó thường là 0 và 1; chúng

thường được dùng để biểu đạt hai giá trị hiệu điện thế tương ứng (có hiệu điện thế,

hoặc hiệu điện thế cao là 1 và không có, hoặc thấp là 0) Do có ưu điểm tính toán

đơn giản, dễ dàng thực hiện về mặt vật lý, chẳng hạn như trên các mạch điện tử, hệ

nhị phân trở thành một phần kiến tạo căn bản trong các máy tính hiện nay.

1.2.1.2 MTKTS

MTKTS hiểu theo nghĩa phổ quát nhất là chỉ tất cả tổ họp các yếu tố bên

ngoài, bao trùm của một hệ thống kiểu tín hiệu và định dạng dữ liệu dựa trên thuật

số, ở dạng nhị phân với đơn vị là các bit, dùng hai ký tự để biểu đạt một giá trị số

(số), "0" và " 1", trên cơ sở tổng sổ các lũy thừa của 2, để định dạng các kiểu tín hiệu

và dữ liệu được mô tả bằng các bit Chúng tác động lên hệ thống này và xác định xu

hướng và tình trạng tồn tại của nó

Hiện nay, kỹ thuật số đã thâm nhập và ứng dụng vào hầu hết các lĩnh vực

kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội: máy lính cá nhân - PC, máy tính xách tay -

Laptop, máy ảnh kỹ thuật số - Digital camera, máy nghe nhạc kỹ thuật số - Ipod,

máy quay phim kỹ thuật số, điện thoại kỹ thuật số Iphone, TDMA, máy chơi

Games, máy xem phim kỹ thuật số, truyền hình kỹ thuật số, Internet, thư điện tử, trò

chuyện trực tuyến, công cụ tìm kiếm trực tuyến, chia sẻ dữ liệu trực tuyến, âm nhạc,

truyền hình trực tuyến, thương mại điện tử - eCommerce, giáo dục điện tử -

eEducation, giáo dục từ xa - distance leaming, các phương tiện sao lưu giữ kỹ thật

số, các thiết bị kỹ thuật số, ngôi nhà số v.v tất cả đã thâm nhập và chiếm lĩnh mọi

mặt của đời sống

1.2.2 Sự cần thiết của việc bảo hộ QTG, QLQ trong MTKTS

Sự phát triển như vũ bão của khoa học tiên tiến đã cho thấy cần thiết phải có

những cách nhìn và phương thức mới trong việc bảo hộ QTG, QLQ Bảo hộ QTG,

QLQ trong MTKTS xuất phát từ những lý do sau đây:

Trang 15

- Thứ nhất: Sự hình thành và phát triển của pháp luật về QTG nói riêng và quyền sở hữu trí tuệ nói chung luôn gắn chặt với sự phát triển của khoa học và công nghệ.

- Thứ hai: Kỹ thuật số, công nghệ số mang đến cơ hội mới trong cách thức thể hiện tác phẩm

- Thứ ba: Kỹ thuật số, công nghệ số đã làm thay đổi cách thức lưu giữ tác phẩm, bản ahi âm, chương trình phát sóng, dạng vật chất chứa đựng tác phẩm thay đổi Các quan niệm về bản gốc, bản sao, tác phẩm đã được thêm vào các khái niệm mới

- Thứ tư: Kỹ thuật số, công nghệ số làm thay đổi nhu cầu, cách thức hưởng thụ tác phẩm, bản ghi âm, chương trình phát sóng

- Thứ sáu: Kỹ thuật số, công nghệ số đã làm nhoà đi đặc tính tuyệt đối về mặt

- Thứ bảy: Một nguyên nhân không kém phần quan trọng cho thấy cần thiết phải bảo hộ QTG, QLQ trong MTKTS là sự ra đời của Internet

Ngoài ra, sự bảo hộ QTG, QLQ trong MTKTS còn do đòi hỏi của sự phát triển của các phương tiện sao lưu kỹ thuật số, do sự phát triển của công nghệ nén dữ

1.2.3 Khái niệm QTG, QLQ trong MTKTS

Đứng trước các thách thức to lớn và mạnh mẽ như vậy của công nghệ kỹ Ihuật số thì pháp luật QTG đã có những đổi mới gì để đáp lại đầy đủ những tiến bộ khoa học, kỹ thuật đó mà vẫn đảm bảo được các giá trị pháp lý truyền thống và sự cân bằng tốt đẹp hiện có giữa các nhà sáng tạo, đầu tư với công chúng sử dụng Liệu trong môi trường kỹ thật số có thực sự cần thiết mở rộng khái niệm hay nội hàm các quyền thuộc QTG, QLQ tương ứng với việc mở rộng các hạn chế và ngoại

lệ đổi với các quyền mới này hay không Có cần thiết phải xây dựng một văn kiện quốc tế mới điều chình hoại động khai thác, sử dụng tác phẩm và các đối tượng của QLQ trong môi trường mới mẻ và phức tạp này ở cấp độ quốc tế không

lãnh thổ của quyền tác giả

liệu

Trang 16

bùng nổ của công nghệ Ihông tin số hóa từ các công tác trù bị cho việc soạn thảo Văn kiện mới về vấn đề này.

Trong môi trường kỹ thật số các tác phẩm, đối tượng của QLQ rất dễ dàng bị

vi phạm và tước đoạt nếu chúng được đưa vào và truyền thông qua các hệ thống mạng kỹ thuật số tương tác Câu hỏi về đặt tính pháp lý của các hành vi bao hàm trong các hoạt động đó đã đặt ra các thách thức lớn đối với QTG và QLQ Công đồng QTG hiện tại mong muốn khai thác các sản phẩm trí tuệ của mình theo cách thức mà họ có thể đưa các sản phẩm này sẵn có trực tuyến trong khi bảo vệ được các quyền của mình và thu hồi lại vốn đầu tư Trong chừng mực nào đó việc thu hút các dịch vụ sở hữu trí tuệ trên cơ sở có thu phí phụ thuộc rất nhiều vào việc quản lý

có hiệu quả các quyền này, cũng như các tác phẩm có giá trị sẵn có và các biện pháp bảo đảm các khoản Ihanh toán siêu nhỏ cho phép thanh toán theo từng đơn vị mua, và xây dựng niềm tin khách hàng về an ninh thanh toán trực tuyến, về quyền riêng tư và bảo vệ người tiêu dùng Đồng thời về phía các nhà sáng tạo và các chủ thể nắm giữ quyền sở hữu trí tuệ cũng cần được đảm bảo là họ có thể bảo vệ được các quyền của mình trước sự vi phạm cũng như kiểm soát việc sử dụng chúng trước khi họ sẵn sàng đưa sản phẩm của họ sẵn có trực tuyến

Hai Hiệp ước mới của WIPO được trình bầy dưới đây đã tiếp nhận với các sửa đổi thích họp các quy phạm quốc tế về QTG và QLQ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc phổ biến các tư liệu được bảo hộ trong MTKTS Tuy nhiên điều này phụ thuộc rất nhiều vào việc thực thi các quyền này như thế nào trong môi trường

kỹ thật số Một khi đã được khởi động thì mô hình kinh doanh khai thác nào sẽ được áp dụng để thuyết phục được các chủ thể đăng ký sử dụng, đặt mua hoặc tiếp cận với các tác phẩm và các đổi tường của QLQ họp pháp thay vì dựa vào các thị trường phi pháp

1.3 BẢO H ộ QTG, QLQ TRONG M TKTS

1.3.1 Các Công ước quốc tế về bảo hộ QTG, OLQ trong MTKTS

Trang 17

hiện đại nhất bởi vì ngoài việc nó đưa vào nghĩa vụ áp dụng các quy định thực chất của Công ước Berne, Hiệp ước này còn đưa vào các quy định thực chất của Hiệp định TRIPs, nhưng không phải bằng việc trích dẫn mà bằng việc chép lại các quy định tương ứng với sự thay đổi một số từ ngữ đã được coi là sự cụ thể hóa và mở rộng sự bảo hộ của Công ước Berne Đó là điều khoản về bảo hộ chương trình máy tính và cơ sở dữ liệu, và về công nhận quyền cho thuê đối với các loại hình tác phẩm tương tự và theo các điều kiện như là trong Hiệp định TRIPs Tiếp theo là Hiệp ước WCT này quy định một số yếu tố mới cần thiết về bảo hộ QTCi liên quan đến “chương trình nghị sự kỹ thuật số” Đó là thừa nhận một cách rõ ràng quyền phân phối bản sao đối với tất cả các loại hình tác phẩm Điều này trước đây theo Công ước Beme rõ ràng là chỉ quy định quyền này đối với tác phẩm điện ảnh, và dành điều khoản quy định về cạn kiệt quyền này cho pháp luật quốc gia lựa chọn quy định định trong pháp luật nước mình và quy định thời hạn bảo hộ tương tự đối với tác phẩm nhiếp ảnh như thời hạn bảo hộ đối với các loại hình tác phẩm khác Kết quả là Hiệp ước WCT đưa ra sự đáp ứng thích hợp trước các thách thức của công nghệ số, kể cả của Internet thông qua việc làm rõ việc áp dụng các các quy phạm hiện hành của Công ước Berne kết hợp với việc hiện đại hóa hệ thông bảo hộ bản quyền quốc tế bằng các quy định phù hợp trước các đòi hỏi và yêu cầu của MTKTS.

Mối quan hệ giữa “Văn kiện mới” sau là là Hiệp ước WPPT với Công ước Rome được được quy định theo cách thức tương tự như mối quan hệ giữa Hiệp định TRIPs và Công ước Rome Điều đó có nghĩa là: thứ nhất, nhìn chung việc áp dụng các quy định thực chất của Công ước Rome không phải là nghĩa vụ của các bên ký kết Thứ hai là chỉ một số quy định cụ thể của Công ước Rome được đưa vào dẫn chiếu trong hiệp ước Đó là các Điều 3 Khoản 2 và 3 về các tiêu chuẩn đủ điều kiện bảo hộ Thứ ba là Điều 1 Khoản 2 của hiệp ước đưa ra nguyên tắc áp dụng tương ứng thích hợp (mutantis mutandis) và một Điều khoản tương tự như Điều 2.2 của

Trang 18

Hiệp định TRIPs với quy định là: “với điều kiện là không một điều khoản nào trong Hiệp ước này có thể làm giảm đi các nghĩa vụ hiện có của các bên ký kết đã có với nhau theo Công ước Rom e” Mức độ bảo hộ quy định trong Hiệp ước WPPT nhìn chung là tương đương mức độ bảo hộ theo Công ước Rome và Hiệp định TRIPs Tuy nhiên, Hiệp ước WPPT không mở rộng quyền quyền của tổ chức phát sóng cũng như các quyền của người biểu diễn mà chỉ mở rộng đến sự tôn trọng hình ảnh biểu diễn và định hình của biểu diễn trên bản ghi âm Ngoài ra, Hiệp ước WPPT cũng đưa vào các yếu tố mới trong nội dung các quy định đã được bàn thảo tại

“chương trình nghị sự kỹ thuật số” của công tác trù bị và Hội nghị ngoại giao

Phần tiếp theo của “chương trình nghị sự kỹ thuật số” nói về cả hai hiệp ước WCT và WPPT cũng như giải pháp do Hội nghị ngoại giao quyết định Nó gồm bốn vấn đề chính sau:

Một là việc áp dụng quyền sao chép trong MTKTS;

Hai là quyền hoặc các quyền có thổ được áp dụng trong truyền dẫn tương tác

kỹ thuật số;

Ba là giới hạn và ngoại lệ trong môi trường kỹ thật số; và

Bốn là các nghĩa vụ về bảo hộ các biện pháp công nghệ và thông tin quản

lý quyền

1.3.1.2 Áp dụng quyền sao chép trong MTKTS

Vấn đền này được quy định trong dự thảo tại Điều 7 Hiệp ước WCT và Điều

7 và Điều 14 Hiệp ước WPPT Sự đồng thuận về nội dung văn bản hiện tại trong hai hiệp ước là kết quả của một loại phiên họp tư vấn và thảo luận về việc làm rõ phạm

vi áp dụng của quyền sao chép trong dự thảo Điều này liên quan đến vấn đề thực tế

là trong quá trình truyền dẫn trong hệ thống mạng kỹ thuật số, hàng loạt sự sao chép tạm thời, trong chớp nhoáng diễn ra và việc sử dụng tác phẩm, các đối tượng của QLQ theo nhu cầu kể cả trong trường hợp chỉ duyệt qua nội dung thông tin thì cũng

đã bao hàm việc tạo ra ít nhất là các bản sao tạm thời trong máy tính tiếp nhận

Khoản 1 Điều 7 trong dự Ihảo Hiệp ước WCT quy định: “quyền độc quyền dành cho các tác giả tác phẩm văn học và nghệ thuật tại Điều 9 Khoản 1 của công

Trang 19

ước về cho phép sao chép tác phẩm của mình sẽ bao gôm sao chép trực tiếp và gián tiếp tác phẩm không phụ thộc vào việc cố định hay tạm thời, dưới hình thức nhất định hoặc theo cách thức nào” Khoản 1 Điều 7 của Hiệp ước WPPT cũng được quy định một cách tương tự: “người biểu diễn được hưởng quyền độc quyền cho phép sao chép trực tiếp và gián tiếp không phụ thuộc vào việc’ cố định hay tạm thời, dưới hình thức nhất định hay theo cách thức nào: cuộc biểu diễn âm nhạc định hình trong bản ghi âm hoặc buổi biểu diễn được định hình dưới bất kỳ dạng bản ghi nào Điều

14 quy định cơ bản tương tự như vậy về bản ghi âm

Khoản 2 của cả ba Điều trên quy định về các hạn chế và ngoại lệ chung tương ứng, quy định về khả năng giới h ạ n Q o n g trường hợp tạo bản sao tạm thời nhằm mục đích duy nhất là làm cho tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm có thể cảm nhận hoặc nghe được hoặc trong trường hợp sự sao chép là tạm thời và ngầu nhiên, với điều kiện là sự sao chép này diễn ra trong phạm vi sử dụng tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm được tác giả, ngưòi biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm cho phép hoặc được phép theo quy định của pháp luật

Sự thật là việc lưu trữ tác phẩm trong bộ nhớ điện tử là một hành vi sao chép

đã được thừa nhận từ lâu và không còn gây tranh cãi nữa v ấ n đề này đã được ủ y ban chuyên gia liên chính phủ của WIPO/UNESCO về các vấn đề nẩy sinh từ việc

sử dụng máy tính truy cập hoặc sáng tạo tác phẩm họp đầu tháng 6 năm 1982 nêu rõ trong phần khuyến nghị của mình, như sau: “việc lưu trữ trong và truy lại từ hệ thống máy tính (nhập và xuất) các tác phẩm được bảo hộ có thể bao hàm, tùy thuộc vào trường họp cụ thể, ít nhất là các quyền của tác giả được quy định tại các công ước quốc tế hoặc pháp luật quốc gia về bản quyền hoặc cả hai hệ thống này các quyền sau: quyền sao chép bất kỳ tác phẩm nào”

Vấn đề nẩy sinh liên quan đến phạm vi sao chép trong MTKTS thực tế không hẳn liên quan đến việc lưu trữ dưới hình thức điện tử nói chung, nhưng có thể chỉ liên quan đến một số đạng lưu trữ nhất định dưới hình thức nhớ đệm hoặc ngẫu nhiên của việc sao chép tạm thời, dạng nêu tại khoản 2 của ba Điều trên

Trang 20

Những dạng sao chép như vậy rõ rạng là không nêu đưa vào trong phạm vi quyền dộc quyền cho phép sao chép.

Trong quá trình tiến hành công tác trù bị, ba trường phái đã nêu ra quan điểm của mình về việc vận dụng quyền sao chép đối với việc sao chép đệm hoặc ngẫu nghiên Theo quan điểm của trường phái thứ nhất thì không cần thiết phải có thêm hạn chế và ngoại lệ nào khác bởi vì tính linh hoạt của quy định chung về hạn chế và ngoại lệ dựa trên nguyên lý phép thử ba bước nêu tại Điều 9 Khoản 2 của Công ước Beme là đã đầy đủ khung pháp lý cần thiết Theo quan điểm của trường phái thứ hai thì có quá nhiều sự sao chép đệm và ngẫu nghiên, cho nên đơn giả là loại trừ việc này ra khỏi khái niệm sao chép Nhưng họ cũng chỉ ra là: thứ nhất, loại trừ ra một

số việc sao chép dựa trên cơ sở thời gian sao chép thì mới có thể có khả năng khả thi (Nhưng trên thực tế, giới hạn thời gian bao nhiêu là đủ thì lại rất khó xác định: chẳng hạn như vài giờ, vài phút, vài giây hay vài phần triệu giây!); thứ hai, nếu như các hành vi đó được loại trừ ra khỏi khái niệm về sao chép thì có thể sẽ xung đột với Điều 9 Khoản 1 Công ước Berne khi mà điều khoản này quy định rõ ràng là “sao chép dưới bất kỳ hình thức hoặc cách thức nào” Do vậy, hiển nhiên là quan điểm của trường phái thứ ba ủng hộ cho việc không loại trừ hành vi sao chép tạm thời ra khỏi khái niệm sao chép, vì khi đó nó sẽ mâu thuẫn với Công ước Berne Nhưng một quy định giới hạn thích hợp đối với quyền sao chép nên được đưa vào liên quan đến sự sao chép đệm hoặc ngẫu nhiên khi mà hoạt động này là chính đáng Vì thế, ý kiến này đã được tiếp thu trong dự thảo hiệp ước

Vấn đề thường được đặt ra khi trình bầy về khái niệm sao chép là nó được nêu như thế nào Công ước Berne đã không đưa ra được định nghĩa chi tiết, nhưng theo biên bản của các Hội nghị ngoại giao khác nhau thì nói rõ là việc định hình tác phẩm là yếu tố cơ bản của khái niệm Như vậy, vấn đề cũng vẫn chưa được giải quyết khi mà lại liên quan đến một thuật ngữ mới về định hình Rất may là đối với thuật ngữ này đã có sự nhất trí ở mức độ quốc tế Đó là: sự định hình có nghĩa là sự

cố định dưới một hình thức đủ bền vững cho phép những gì đã được ghi trên đó có thể được cảm nhận, được sao chép hoặc được truyền đạt khác Điều này cũng được

Trang 21

gi trong báo cáo của ủ y ban chuyên gia liên chính phủ của WIPO/ƯNESCO nói trên Báo cáo nêu rõ là: “Hình thức đủ bền vững, là hình thức mà trên đó tác phẩm

đã được định hình, có thể được xem xét dưới khía cạnh về công năng theo nghĩa là tác phẩm có thể được cảm nhận, sao chép hoặc truyền đạt khác tới công chúng với

sự trợ giúp của hệ thống máy tính”

Điều này được tái khảng định tại Điều 2(c) của Hiệp ước WPPT: “định hình”

có nghĩa là “sự thể hiện các âm thanh hoặc hiện diện của các âm thanh mà từ đó chúng có thể được cảm nhân, được sao chép hoặc truyền đạt khác thông qua các thiết bị.” Điều này chỉ ra là Hội nghị ngoại giao đã thừa nhận yếu tố cơ bản nêu Irên của khái niệm định hình và thông qua khái niệm đó là khái niệm sao chép Song vấn

đề còn hết sức khó khăn vì kể cả khi mà việc lưu trữ đệm hoặc ngẫu nhiên tác phẩm hoặc các đối tượng của QLQ trong bộ nhớ điện tử theo các khái niệm này thi chúng

có đủ bền vững tới mức nào trên cơ sở các tiêu chí là các tác phẩm hoặc đối tượng của QLQ có thể được cảm nhận, sao chép hoặc truyền đạt sau đó

Vì thể, có lẽ việc sử dụng hệ thống hạn chế và ngoại lệ với phép thử ba bước quy định tại Điều 9 Khoản 2 của Công ước Beme vận dụng đối với quyền sao chép trong các trường hợp lưu trữ tạm thời là đủ đáp ứng thỏa mãn các điều kiện, sẽ là thích hợp so với việc cố gắng loại trừ hành vi sao chép này khỏi khái niệm sao chép

và tạo ra sự xung đột không cần thiết với Công ước Beme

Dầu vậy, Hội nghị ngoại giao đã không chấp thuận hai Điều 7 của dự thảo Hiệp ước WCT và WPPT và Điều 14 của dự thảo Hiệp ước WPPT Vì một số đoàn đại biểu thì ủng hộ các quy định này trong khi một số khác lại cổ động cho việc loại trừ hành vi sao chép đệm và ngẫu nhiên ra khỏi khái niệm sao chép và cũng có một

số đoàn đại biểu thì về nguyên tắc đã chấp nhận các quy định này nhưng với sự khác biệt lớn về việc áp dụng các giới hạn nêu tại khoản 2 của cả ba điều trên liên quan đến khả năng dành cho các quốc gia ký kết ban hành quy định về ngoại lệ này hay là coi đó là nghĩa vụ của các quốc gia ký kết Cuối cùng Hội nghị ngoại giao đã không thể đạt được sự thống nhất chung về các quy định đó và 3 điều khoản này đã

Trang 22

bị loại ra khỏi văn bản của hai hiệp ước Và như vậy cũng loại bỏ luôn trường phái giới thiệu hạn hoặc chế ngoại lệ cụ thể trong MTKTS.

Đồng thời Hội nghị ngoại giao đã chấp thuận một tuyên bố chung như sau:

“quyền sao chép nêu tại Điều 9 của Công ước Berne và các ngoại lệ được phép, sẽ

áp dụng một các toàn diện trong MTKTS, đặc biệt là đối với việc sử dụng các tác phẩm dưới hình thức kỹ thuật số Điều này được hiểu là việc lưu trữ tác phẩm được bảo hộ dưới hình thức kỳ thuật số trong môi trường lưu trữ điện tử là sự sao chép theo nghĩa của Điều 9 Công ước Berne.” Tuyên bố chung tương tự được cũng được thông qua về Hiệp ước WPPT

Câu đầu tiên của bản tuyên bố đồng thuận đã được thống nhất thông qua Tiếp theo đó là về Điều 9 Khoản 1 của Công ước Berne được áp dụng một cách đầy

đủ và toàn diện, có nghĩa là khái niệm sao chép theo điều khoản này mở rộng tới sự sao chép dưới bất kỳ hình thức nào, theo bất kỳ cách thức nào và không bị giới hạn chỉ vì đó là sự sao chép dưới hình thức kỹ thật số thông qua việc lưu trữ trong bộ nhớ điện tử hoặc chỉ vì sự sao chép đó là tạm thời Đồng thời, câu tiếp theo lại tiếp tục khẳng định là Điều 9 Khoản 2 của Công ước Berne được áp dụng một cách đầy

đủ và toàn diện, nhằm đưa ra cơ sở phù hợp cho việc vận dụng các ngoại lệ hợp lý írong các trường hợp sao chép đệm hoặc ngẫu nhiên trong pháp luật quốc gia, kết hợp hài hòa với phép thử ba bước quy định tại điều khoản này của Công ước

Câu thứ hai của băn tuyên bố dồng thuận đã không được thống nhất thông qua, nhưng được thông qua với đa số phiếu, có nghĩa là phải có trên hai phần ba đa

số phiếu tán thành thông qua văn bản của hiệp ước Sở dĩ câu này không được thống nhất thông qua bởi vì nó liên quan đen sự không nhất trí trong việc giải thích Điều 9 Công ước Berne về sao chép, số ít các bên không nhất trí cho rằng việc lưu trữ tác phẩm trong mộ nhớ điện tử không phải là sao chép Nếu như điểm này được đưa vào bản tuyên bố thì cũng khône đạt được sự nhất trí chung và cũng không thể lấy làm cơ sở cho việc giải thích các hiệp ước này vì khi đó nó sẽ xung đột với khái niệm sao chép trong hai hiệp ước dựa trên Điều 9 Khoản 1 Công ước Berne

T HƯVI Ẹ N

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LỎẬT HÀ NỘI PHÒNG Đ Ọ C _

Trang 23

Cho nên vấn đề tiếp theo là thảo luận về việc pháp luật quốc gia của bên ký kết hai hiệp ước nên công nhận là việc lưu trữ tác phẩm trong bộ nhớ điện tử là sao chép và nên quy định trừ khi các hạn chế hoặc ngoại lệ được áp dụng thì quyền độc quyền sao chép cũng sẽ mở rộng đến việc lưu trữ tạm thời hoặc sao chép tạm thời khác Đồng thời các bên ký kết có thể cho phép các hạn chế và ngoại lệ trong trường hợp lưu trữ tạm thời hoặc sao chép tạm thời khác trong các trường hợp cụ thể, với điều kiện là nó không ảnh hưởng tới sự khai thác bình thường tác phẩm và đối tượng của QLQ và không xâm phạm bất hợp lý tới quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể sở hữu quyền (ba điều kiện đặt ra trong phép thử ba bước) Chẳn hạn, một số lượng lớn các sự sao chép tạm thời ngẫu nhiên diễn ra trong trona quá trình truyền dẫn kỹ thuật số trên mạng Internet là hết sức cần thiết trên phương diện kỹ thật và không thuộc quan niệm khai thác lư liệu được bảo hộ và lợi ích hợp pháp của chủ thể sở hữu quyền vì thế nên đưa vào ngoại lệ Tại một số quốc 2Ìa thì không cần thiết phải ban hành quy định mới về vấn đề này bởi vì ngoại lệ đó vốn đã tồn tại trên cơ sở của nguyên lý sử dụng hợp lý hoặc sử dụng ngay tình, học thuyết mặc định câp phép cho các sử dụng loại đó.

Tuy nhiên điều này khôns có nghĩa là tất cả các dạng sao chép tạm thời đều được phép ngoại trừ Ví dụ như trường hợp đưa một chương trình máy tính, với điều khoản được phép sao chép cho một cá nhân, sẵn có lên hệ thống mạng nội bộ của một công ty lớn để có thể tạo ra bản sao tạm thời tại các cổng kết nối mà không được sự cho phép chỉ có thể là ngoại lệ khi mà không ảnh hưởng tới sự khai thác bình thường chương trình máy tính của chủ thể sở hữu quyền đối với chương trình máy tính đó

1.3.1.3.Quyền hoặc các quyền áp dụng trong truyền dẫn tương tác, “giải pháp trọn gói - ô”

Trong quá trình thực hiện công tác trù bị, các ủ y ban của WID0 đã đạt được thỏa thuận về việc coi việc truyền dẫn tác phẩm hoặc các đối tượno, của QLQ trên mạng Internet hoặc các hệ thống mạng tương tự khác là thuộc phạm vi độc quyền cho phép của chủ thể sở hữu quyền vớiỊngoại lệ tương ứng thích hợp Tuy nhiên,

Trang 24

các Uy ban này lại không có được sự thống nhất về việc lựa chọn quyền nào trong hai quyên: truyền đạt tới công chúng và quyền phân phối làm tiêu chí để xác định phạm vi độc quyền cho phép cũng như các ngoại lệ tương ứng thích hợp Vì vậy, nẩy sinh một vấn đề là áp dụng một trong hai quyền này hay là cả hai quyền này trong hoạt động truyền dẫn trên hệ thống mạng kỹ thật số Mặc dù chúnc, ta đều cônu nliận là có sự sao chép diễn ra trong và thông qua hệ thôn ti mạnụ kỳ thật số này nhưng việc vận dụng chỉ riêng quyền sao chép không thì dường như chưa lột tả một cách đầy đủ Nó sẽ không phản ánh được một cách toàn diện sự bùng nổ mạnh

mẽ của kiểu hệ thống mạng Internet, hơn nữa, nó sẽ không đáp ứng và không tạo ra được khả năng thực thi trên thực te trong việc quy trách nhiệm pháp lý đối với các chủ thổ có hành vi đưa tác phẩm và các đổi tượng của QLQ sẵn có trên các hệ thống mạng này

Việc làm cho có sẵn tác phẩm hoặc các đối tượng của QLỌ tới công chúng trên hệ thống mạng điện tử tương tác ít nhiều mô tả được nội dung cua hành vi hoặc một loạt các hành vi diễn tả hiện tượng này Vì vậy, ý tưởng về quyền hao hàm các hành vi trên đã nẩy sinh, quyên làm cho có săn công cộng tác phẩm hoặc các đôi tượng của QLQ

Tuy nhiên, chúng ta đều biết là không thể tùy tiện trong vấn đề này Bởi vì thật khó mà có thể bỏ đi hệ thốne các loại hình tác phẩm, các quyền và các ngoại lệ vốn đang lon tại trong hệ thống các hiệp ước và pháp luật quốc gia Cũng như không thể quên đi thực tiễn thực hiện hệ thống này trong nhiều năm qua dựa trên các loại hình tác phẩm, các quyền và các ngoại lệ hiện có và các cam kết, ràng buộc cùng các mối quan hệ đã được hình thành trên cơ sở hệ thống đó

Thông thường, cả trên phương diện quốc gia và cấp độ quốc tế thì các nhà làm luật và áp dụng pháp luật đều cố gẳng vận dụng các quy phạm pháp lý hiện có

để điều chỉnh một hiện tượng mới nẩy sinh, v ề vấn đề mới này, cliúng ta đang đối mặt với một thực tế là không có một quyền kinh tế nào hiện có trong hệ thống quy phạm pháp luật quốc tế đủ rộng tới mức như là quyền làm cho có sẵn tác phẩm hoặc các đối tưọỊỊg của QLQ tới công chúng Một khía cạnh khác về khái niệm này đã

Trang 25

tồn tại trong quy phạm quốc tế nhưng trôn phương diện khác Đó là quy định tại Điều 7 Khoản 2 và Khoản 3 của Công ước Berne về cách tính thời hạn bảo hộ dựa trên hành vi công bố lần đầu tác phẩm tới công chủng và khái niệm công bố I rên phương diện này thì vẫn còn có sự khác nhau trong pháp luật quốc gia quy định vó các quyên rộng lớn này.

Ở cấp dộ quốc tế và theo đa số pháp luật các nước thì các hành vi làm cho cỏ sẵn tác phẩm hoặc đổi tượng của QLQ tới công chúng được chia theo cách thức truyên thống thành hai nhóm quyên: nhóm các quyền có liên quan đên bản sao và nhóm các quyền không liên quan đến bản sao

Ở nhóm các quyền có liên quan đến bản sao như quyền phân phối, quyền cho thuê hoặc cho thuê công cộng tùy vào sự công, nhận của pháp luật quốc gia bao hàm các hành vi mà thông qua đó các bản sao luôn có sẵn cho công chúng tiếp nhận, lựa chọn, với đặc thù là để sử dụng tiếp theo sau này các bản sao đó Giữa hành vi tạo ra sự sẵn có và sự cảm nhận của công chúng qua việc nghiên cứu theo dõi hoặc lắng ghe các ký hiện, các hình ảnh và các âm thanh mà tác phẩm thể hiện hoặc diễn tả trone các đổi lượng của QLQ có sự khác biệt về thời gian Nhưng

nhóm quyền không liên quan đến bản sao như quyền biểu diễn công cộng, quyền pháp sóng hoặc quyền truyền đạt công cộng hữu tuyến thì lại bao hàm các hành vi

mà thông qua đó tác phẩm hoặc các đối tượng của QLQ chỉ hiện hữu một cách trực tiếp chứ không thể để sử dụng tiếp theo sau này như cảm nhận, nghiên cứu, theo dõi, lắng nghe sau khi hoạt dộng biểu diễn phát sóng hoặc truyền đạt công cộng này chấm dứt

Hoạt động truyền dẫn kỹ thuật sổ tương tác đã hòa đồng sự phân loại truyền thống này, pha trộn các đặc tính và đưa hai loại quyền này sích lại gầy nhau Biểu hiện đó được thể hiện ở hai khía cạnh Thứ nhất là việc phổ biến các tư liệu được bảo hộ mang tính chất thương mại qua hệ thống mạng kỹ thuật số được thực hiện với việc áp dụne các biện pháp công nghệ chỉ cho phép các chủ thể nhất định có thô tiếp cận các tư liệu này khi mà các điều kiện cần thiết được đáp ứng Chẳng hạn như trong trường hợp phần mềm phong bì thư, các phong bì diện tứ này có một số các

Trang 26

thông tin miễn phí đối với công chúníi mà không có sự can thiệp của các biện pháp công nghệ như là mã khóa Nó đưònu như tương tự như trong trường hợp phong bì truyên thông trên dó có một sô các thônạ, tin nhưng nội dung bên trong của bức thư chỉ để đáp ứng cho chủ thể có quyền mớ nó Trong trường hợp phong bì điện tử, nó gồm các thông tin định tính tư liệu, chủ the sở hữu quyền và các điều kiện cấp phép

sử dụng Các chủ thể khác tronti xã hội muốn truy cập vào tư liệu nàv thi trước hết

họ phải nhập mã số thành viên hoặc trong một hệ thống mở, họ phải nhập mã số thẻ tín dụng Sau đó họ có thể xem xét đến các cách thức sử dụng nêu trên phong bì thư điện tử Họ có thể nghiên cứu một số nội dung nhất định và không phải thanh toán

gì cho việc duyệt qua nội duno; các mục hay cùng lấm họ chỉ phải trả tối thiểu là phí dịch vụ đường truyền Để có thể xem xét được nhiều hơn, như xem hình tĩnh hoặc đoạn phim hoặc nghe nhạc hoặc các âm thanh khác của tư liệu đó họ sẽ phải trả nhiều hơn Để tải tư liệu về các thiết bị cố định, họ sẽ phải thanh toán nhiều hơn Do

đó, quyết định sử dụng nội dung thưc tể không diễn ra vào thời điếm làm có sẵn tư liệu (thời điểm đăng tải chúng) và đỏ cũng không phải là quyết định của cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi đưa sằn có tư liệu Quyết định nội dung sử dụng thực tế tư liệu thuộc về cône, chúng, các chủ thể thông qua thưong lượng trực tiếp với hệ thống này, xác định phạm vi sử dụng, cũng như việc có sử dụng để làm tư liệu sau này không, chứ không dừng lại ỡ bản sao tạm thời hoặc là sử dụng trực tiếp theo nghĩa là xem xét dữ liệu trực tuyến, xem phim trực tuyến, nghe nhạc trực tuyến

Thứ hai, truyền đẫn kỹ thật số làm nấy sinh ra tính chất lưỡne tính của việc cung cấp sẵn sàng bản sao mà không dựa trên ranh giới trước đó về tính chất có liên quan đến bản sao và không liên quan đến bản sao Vì rõ ràng là các sử dụng trực tuyển trên các hệ thống kỹ thuật số bao hàm các bước cần thiết để có các bản sao tạm thời Song khi bắt tay vào nghiên cứu vấn đề về liệu các quyền hiện tại nào mà

có thể bao hàm cả các truyền dẫn kỹ thật số thì các quốc eia khác nhau đã không thể nhất định đứng về cùng một phía rang giới giữa các quyền có liên quan đến bản sao

và các quyền không liên quan đến bẳn sao

Trang 27

Có hai xu hướng chính nổi nên: đó là đưa ra giải pháp trên cơ sở của quyển phân phối và phía bên kia thì có xu hướng giải thích nó theo quyền truyền đạt công cộng nói chung tuy nhiên có sự kết hợp với việc vận dụng quyền sao chép trong các trường hợp phù hợp tương ứng Hoa Kỳ ủng họ cho phương án thứ nhất trong khi Cộng đồng Châu Âu thì tỏ ra thích phương án thú' hai hơn sau khi đã thử ý tưởng vận dụng quyền cho thuê.

Điều này không phải là ngẫu nhiên khi mà quốc gia này ủng hộ giải pháp này hoặc quốc gia kia ủng hội giải pháp kia mà bản chất của câu trả lời nằm ở hệ thống pháp luật quốc gia hiện có về hệ thống các quyền và phạm vi các quyền được cấp dựa trên hệ thống thực tiễn áp dụng pháp luật đã được thiết lập trên hệ thống các quyền đó và vị trí của nó trong hệ thống luật đó và sau đó là lợi ích của các quốc gia có liên quan

Cộng đồng QTG quốc tế hiện phải đối diện với hai khả năng lựa chọn: vận dụng quyền sao chcp cùng với quyền phân phối hoặc là vận dụng quyền sao chép với quyền truyền đạt công cộng, và tất nhiên còn có một số khả năng lựa chọn tù những sự kết hợp khác các quyền này nhưng một thực tế là việc vận dụng các lựa chọn này cũna không dễ dàng gì và cũng không dễ gì quyết định và sau đó phần còn lại của hệ thống sẽ tự điều chỉnh theo được không

Trước hết, khái niệm hiện tại về phân phối và truyền đạt công cộng không được áp dụng một cách trực tiếp mà không có mội số tiêu chí quan trọng cụ thể kèm theo Tại rất nhiều quốc gia, khái niệm phân phối có mối liên hệ mật thiết với sự chuyển giao tài sản và/hoặc sự chiếm hữu bản sao hữu hình Vì thế mà nếu quyền phân phối được vận dụng, nó phải được thừa nhận và cụ thể hóa thành phân phối thông qua sao chép bang truyền dẫn trực tiếp Điều đỏ có nghTa là việc làm cho có sẵn bản sao bằng việc tạo ra các bản sao đó thông qua truyền dẫn các tín hiệu điện

tử tại các máy tính tiếp nhận hoặc các cổng nội bộ như cổng nối máy in đều phải thuộc phạm trù phân phối Phân tích tương tự về khái niệm truyền đạt công cộng là cần thiết Đầu tiên là khái niệm này không chì bao hàm các hành vi do chính các tố chức truyền thông hoặc truyền dẫn thực hiện, (các hành vi mà kết quả của nó là các

Trang 28

tác phẩm hoặc các đổi tượng cua QLQ được thực sự đưa tới công chúng và công chúng không phải làm gì hơn là bật các thiết bị cần thiết đế tiếp nhận), mà còn tới các hành vi không đơn thuần là dưa các tác phẩm hoặc các đối lượng của QLQ tiếp cận tới công chúng vì trong trường hợp đó các cá nhân các chủ thể vẫn còn phải làm cho hệ thống thực hiện các chức năng để thực sự tiếp cận Phân tích liếp theo về từ công chú nụ cũng là cần thiết, chính xác hơn là từ công chúng trong làm cho có sẵn (tiếp cận) tới công chúne, thì cũng khó mà có thể quy “truyền dẫn theo nhu” cầu gắn với cụm từ này được.

Thứ hai là trong các quy phạm quốc tể có liên quan từ trước tới nay cũng không được cụ thể hóa một các đầy đủ Công ước Berne không quy định quyền phân phối đối với tất cả các loại hình tác phẩm mà chỉ đối với các tác phẩm điện ảnh (Điều 14(l)(i) và Điều 14 bis(l)) và cũng có quy định về quyền truyền đạt công cộng (Điều 11(1 )(ii), 11 bis(l), 14(1 )(ii) và 14 bis(l)) nhưng lại quá rộng và vẫn chưa đề cập đến tất cả các loại hình tác phẩm dưới mọi hình thức Hướng tới một giải pháp có thể thực hiện được đồng thời loại bỏ lỗ hổng trong các quy phạm quốc

tế thì nội hàm của các quyền có liên quan phải được xây dựng hoàn thiện

Thứ ba là rất khó đối với các quốc gia khác nhau triển khai một eiải pháp cụ thể mà không được nhìn nhận là giải pháp lựa chọn phù hợp pháp luật Đây cũng chính là vấn đề khó khăn nhất gặp phải Trone khi đó, các quốc gia đều thừa nhận chung là phải đưa hành vi vào phạm trù quyền độc quyền mà sự khác biệt chỉ liên quan đến các đặc tính pháp lý cụ thể của các hành vi đó

Vì thế mà giải pháp thống nhất được đề xuất: hành vi truyền dẫn kỹ thuật số

sẽ được quy định theo một cách thức mới, độc lập với các đặc thù pháp lý cụ thể, như là: làm cho có sẵn tác phẩm tới công chúng để tiếp nhận thông qua các phương tiện hữu tuyến hoặc vô tuyến, và quy định này sẽ không mana đặc thù về công nghệ, đồng thời nó phải thể hiện rõ ràng tính chất tương tác của truyền dẫn kỹ thật

số với ý nghĩa là nó phải cụ thể hóa việc tác phẩm được coi là đã đưọc làm cho đáp ứng có sẵn tới công chúng cũng có nghĩa là cá nhân các chủ thế trong xã hội có thể tiếp cận tác phẩm từ các nơi khác nhau và vào các thời điểm khác nhau, v ề đặc

Trang 29

điểm quyền độc quyền, việc vận dụng thực tế áp dụng quyền hoặc các quyền nào sẽ hoàn toàn thuộc chủ quyền của các pháp luật quốc gia có liên quan Và cuối củng là

lỗ hổng trong Công ước Berne liên quan tới quyền mới này là quyền truyền đạt công cộng và quyền phân phối sẽ được bị kín

Vỉ thế mà giải pháp này được gọi là “giải pháp ồ” Hiệp ước WCT áp dụng cách giải quyết này rất cụ thể Vì đa số các quốc gia lựa chọn áp dụng quyền truyền đạt cône cộng tác phẩm, cho nên hiệp ước trước hết mở rộng khả năng áp dụng quyền truyền dạt công cộng đối với tất cả các loại hình tác phẩm và tiếp theo là chỉ

rõ quyền này cũng sẽ bao hàm cả sự truyền dẫn trong các hệ thống tương tác quy định theo cách thức tự do tùy thuộc vào nét đặc thù pháp lý quốc gia Nó được thể hiện tại Điều 8 Hiệp ước WCT như sau; “Không trái với các quy định tại Điều

1 l(l)(ii), 11 bis( ] )(i) và (ii), 11 ter(l)(ii), 14(l)(ii) và 14 bis(l) của Công ước Berne tác giả tác phẩm văn học nghệ thuật sẽ được hưởng độc quyền cho phép bất kỳ sự truyền đạt cône cộng nào các tác phẩm của mình bằng các phương tiện hữu tuyến hoặc vô tuyến kể cả việc làm cho tác phẩm có sẵn đáp ứng công chúng theo cách thúc mà công chúng có thể tiếp cận tác phẩm tại bất kỳ nơi nào và vào bất kỳ thời điểm nào do cá nhân họ quyết định” Đoạn tiếp theo về: “các bên ký kết được tự do thực hiện nghía vụ trao độc quyền cho phép làm cho có sẵn công cộng đó thông qua việc áp dụng quyền không phải là quyền truyền đạt công cộng hoặc thông qua việc kết hợp các quyền khác nhau miễn là các hành vi làm cho có sẵn công cộng này chắc chắn được đưa vào nội dung quyền độc quvền (với các ngoại lệ thích hợp) Trước hết, quyền khác ở đây ngụ ý ià quyền phân phối nhưng nói chung thì quyền làm cho có sẵn công cộng quy định tại Điều 10 và 14 Hiệp ước WPPT sẽ được bàn

ở dưới đây có thể cũng có thể là quyền khác

Hiệu lực của tuyên bố trích dẫn trên là không thể chất vấn, không chỉ vì không có đoàn đại biểu nào tham gia hội nghị ngoại giao phản đối mà còn vì nó làm hài hòa với thực tiễn áp dụng pháp luật già cỗi được tiếp thu từ các nước thành viên liên hiệp Berne tro nu việc áp dụng các quyền khác nhau do công ước quy định, hiển nhiên là trên cơ sở cân nhắc khả năng thích hợp của thực tiễn áp dụng pháp luật phù

Trang 30

hợp với Công ước Berne, mà chủ yếu là: dặc thù pháp lý của quyền, sự lựa chọn áp dụng quyền, thông thường không giống nhau trong pháp luật các quốc gia quy định theo Công ước Berne.

Trong trường hợp quyền phân phối, Hiệp ước WCT cũng bịt kín lồ hồng tồn tại trong Công ước Berne Điều 6(1) của Hiệp ước WCT quy định về dộc quyền cho phép làm cho có sẵn công cộng bản gốc và bản sao các tác phẩm thônu qua việc bán hoặc chuyển nhượng quyền sở hữu khác là thuộc phạm vi quyền độc quyền phân phối Như đã trình bầy trên đây, theo Công ước Berne, quyền này được nói rõ là chỉ

áp dụng đối với các tác phẩm diện ảnh mà thôi Theo một số quan điếm, quyền này, tồn tại ít nhất cho tới khi bán lần thứ nhất bản sao, được coi là có nguồn gốc từ quyền sao chép như là hệ quả tất yểu của quyền đó, và trong một số hệ thống pháp luật quốc gia, một quyền như vậy được thừa nhận thực tế trên cơ sở đó Tuy nhiên, một số học giả lại có quan điểm khác và rất nhiều quốc gia đã không di theo giải pháp dựa trên cơ sở của quan niệm thừa nhận ngầm như vậy về quyền này Vì vậy, quy định này của Hiệp ước WCT được coi là chuẩn tối thiểu, cụ thể hóa nghĩa vụ theo Công ước Berne sẽ có tác dụng tích cực Điều này cũng đúng đối với Hiệp định TRIPs với việc dẫn chiếu các quy định tương ứng của Công ước Berne Nhưng

có lẽ là thỏa đáng hơn nếu coi quy định này như là các yếu tố Berne cộng - TRIPS cộng

Khái niệm “truyền đạt công cộng” như định nghĩa tại Điều 2(g) của Hiệp ước WPPT không mở rộng tới hành vi “là cho có sẵn” Quyền phát sóna và truyền đạt công cộng tại Điều 6 và Điều 15 và quyền phân phối tại Điều 8 và Điều 12 (được quy định tương tự như Điều 6 của Hiệp ước WCT) cũng được đặt lại 2 điều tách biệt Các nước ký kết, tùy thuộc vào đặc thù pháp lý của nước mình, được tự do lựa chọn và đưa hành vi nói trên vào phạm vi quyền hoặc các quyền để vận dựng trong thực tiễn nước mình tương tự như theo Hiệp ước WCT

1.3.2 Pháp luật một sổ quốc gia về bào hộ ỌTG, QLQ tronẹ MTKTS

* Pháp luật cùa Hoa Kỳ:

Trang 31

Pháp luật của Hoa Kỳ có một số công cụ hữu hiệu dành cho các chủ thể sở hữu QTG, QLQ đổi với việc thực thi các quyên của mình chống lại các vi phạm diễn ra trong MTKTS và Internet Nó gồm ba phần quan trọng, dược quy định cụ thể ngay trong đạo luật số 17 của Bộ luật Hợp chủng quốc Hoa Kỳ: Luật Q T G 1 Phần thứ nhất là sự bảo hộ pháp lý về các biện pháp bảo hộ công nghệ hay còn eọi

là 'T P M s 5' và thông tin quản lý các quyền hay còn e,ọi là “R M r , nghĩa vụ trong việc tải lên và tải xuống dữ liệu có nội dung được bảo hộ QTG Phần thứ hai là nghĩa vụ trực tiếp và gián tiếp đối với việc vi phạm bản quyền Phần thứ ba là hộ thống “thông báo và triệt hạ” của các nhà cung cáp dịch vụ Internet hay còn gọi là các ISP

* Cộng đồng Châu Âu

Ngày 22.5.2001 Cộng đồng Châu Âu đã thông qua Chỉ thị về làm hài hòa một số khía cạnh của QTG, QLQ trong xã hội thông tin (Chỉ thị về bản quyền) Chỉ thị về bản quyền này cụ thể hóa một số quy định của các hiệp ước W1P0 gồm các vấn đề về QTG có liên quan đến quyền sao chép, quyền truyền thông công CỘ112, và quyềiì phân phối cùng như các quy định về cám dỡ bỏ các biện pháp công nghệ và thông tin quản lý quyền Ở cấp các ủ y Ban của Công đồng Châu Âu, trước khi thông qua Chỉ thị bản quyền, vấn đề dỡ bỏ các biện pháp công nghệ đã được quy định trong ba chỉ thị trước đó giải quyết các vấn đề về bảo hộ chương trình máy tính, điều kiện truy cập và thương mại điện tử

Mục tiêu của các Chỉ thị về bản quyền này là làm hài hòa về mặt pháp luật giữa các nước thành viên Nguyên tắc của Chỉ thị này là bắt buộc các nước thành viên phải chuyển hóa một cách tương ứng vào pháp luật nước mình Trên phương diện đó, Chỉ thị có một số chỗ quy định thiếu chi tiết so với DMCA, cụ thể là phần

về các miễn trừ, nó chỉ vạch ra ranh giới miễn trừ cơ bản mà phải dược đưa vào trong pháp luật của các nước thành viên Thời hạn cho việc nội luật hóa này là ngày

22.12.20 0 2.

* Pháp luật Nhật bàn

1 Đạo luật số 17: Luật quyền tác t>iả cùa Hợp chùng qu ố c Hoa Kỳ đ ược sứa đối bởi Luật quyền tác già tro nu

kỷ nguyên kỹ thuật số ( D M C A ) imày 28.10.1998 đề thực thi hai Hiệp ước Interner cùa WIPO.

Trang 32

Tại Nhật bản, các quy định về chống dỡ bỏ của hai Hiệp ước Internet của WIPO đã được thực hiện từ năm 1999 thông qua việc sửa đổi Luật QTG và Luật chống cạnh tranh không lành mạnh và một số luật khác Luật QTG diễn giải hành vi

dỡ bỏ công nghệ bảo hộ chốne, lại các vi phạm bản quyền Sửa đổi Luật chống cạnh tranh không lành mạnh cấm cả việc dỡ bỏ các biện pháp côníi nghệ kiểm soát sao chép và kiếm soát truy cập mà theo cách tiêp cận pháp lý của Nhật bản được coi là

để bảo hộ các biện pháp cône nghệ nêu tại Hội nghị ngoại giao của WIPO Các luật khác của Nhật bản cố gắn dành bảo hộ pháp lý đổi với hệ thống thông tin quản lý quyền kỹ thật số và các công nghệ truy cập có điều kiện khác Chắn hạn như Luật phát sóng cấm bất kỳ người nào thu các dịch vụ phát sóng có thu tiền cho tới khi ký kết hợp đồng với tổ chức phát sóng

Trang 33

VÉ BẢO H ộ QUYÈN TÁC GIẢ, QUYÈN LIÊN QUAN

TRONG MÔI TRƯỜNG KỸ THUẬT SỐ 2.1 PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO H ộ Q I C, QLQ TRONG MTKTS

Pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chuna và bảo hộ QTG ỌLQ nói riêng được quy định tại Phần thứ sáu của BLDS ngày 14.6.2005 Với tư cách là Bộ luật tổng hợp 20C điêu chỉnh tổng hoà tất cả các mối qua hệ trong xã hội về mặt dân sự, Bộ luật chỉ quy định các vẩn đề hết sức cơ bản

về QTG, QLQ tại Chương XXXIV gồm 14 điều từ Điều 736 đến Điều 749 để dành việc quy định cụ thể hoá, chi tiết tại các quy phạm pháp lý điều chỉnh các vấn đề về bảo hộ QTG, QLQ trong Luật SHTT và các vãn bản hướng dẫn thi hành Ị^uậl SHTT ngày 29.11.2005 bao gồm các quy phạm pháp lý nền tảng cho công tác bảo

hộ QTG, QLQ ở nước ta hiện nay Luật gồm 222 Điều, ngoài các quy định chung, còn cỏ 36 điều khoản quy định riêng về QTG QLQ cùng với 22 điều khoản quy định về bảo vệ QTG, QLQ chung với các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp và giống cây trồng Luật SHTT được xây dựng và hoàn thành trong bối cảnh Việt Nam đang gấp rút hoàn thiện hệ thống pháp luật trong quá trình đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), là Luật được hoàn thành nhanh nhất trong lịch sử lập pháp của Quốc Hội, nhờ sự kế thừa một cách khoa học các quy phạm pháp luật về QTG, QLQ trước đó từ văn bản đầu tiên là Nghị định 142 HĐBT ngày 14/11/1986 của Hội Đồng Bộ trưởng về bảo hộ QTG, tiếp đến là Pháp lệnh bảo hộ QTG ngày 10/12/1994 của ủ y ban Thường vụ Quốc hội và BLDS ngày 28/10/1995, kết hợp với sự tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quí báu các các nước trong khu vực và trên thế giới trong lĩnh vực này, trên cơ sở tuân thủ các điều ước quốc tế song phương và đa phương về QTG, QLQ mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia và chuẩn mực, thực tiễn pháp luật quốc tế

Trang 34

Miện nay, Việt Nam đã ký kết các điều ước quốc té song phương, gôm: Hiệp định giữa Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ về thiết lập quan hệ QTG - BCA (có hiệu lực từ ngày 26/12/1997); Hiệp định giữa Chính phủ Cộng hoả xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Liên bang Thụy Sĩ về Bảo hộ sờ hữu trí tuệ và hợp tác trong lĩnh vực sờ hữu trí tuệ (có hiệu lực từ ngày 08 tháng 6 năm 2000); Hiệp định giữa Cộnụ hoà xã hội chủ nghĩa Việl Nam và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ về quan hệ thương mại - B IA (có hiệu lực từ naày 10/12/2001) và gia nhập các công điều ước quốc tể đa phương, gồm: Công ước Bern về bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật (có hiệu từ ngày 26/10/2004); Công ước Geneva về Bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống lại việc sao chép trái phép (Có hiệu lực từ ngày 06/7/2005); Công ước Brussels về bảo hộ các tín hiệu mang chương trình mã hóa truyền qua vệ tinh (Có hiệu lực từ ngày 12/1/2006); Công ước Rome về bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, tổ chức phát sóng (có hiệu lực từ ngày 01/3/2007); Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ - Hiệp định TRlPs (có hiệu lực từ ngày 11/1/2007).

Tuy nhiên, nếu đối chiếu quá trình hình thành và phát triển về lý luận và thực tiễn của hoạt động bảo hộ QTG, ỌLQ trên thế giới vào Việt Nam thì thấy rõ ràng là còn rất mới mẻ, non trẻ v ấ n đề càng trở nên phức tạp, khó khăn gấp bội phần khi

đề cập tới hoạt động này trong MTKTS Chính sách đổi mới, mở rộng quan hệ đối ngoại của Việt Nam được phát động vào năm 1986, 100 năm sau khi phong trào bảo

hộ QTG ở quy mô quốc tế được ghi nhận với sự ra đời của công ước Berne vào năm

1886 Việt Nam kết nối Internet toàn cầu lần đầu tiên năm 1997 hai năm sau khi các quy định về bảo hộ QTG trong BLDS được xân dựng và ban hành năm 1995 Vì vậy, các vấn đề về bảo hộ ỌTG, QLQ trong MTKTS chỉ thực sự được đặt ra tại BLDS năm 2005 mà thực chất tại Luật SHTT năm 2005 Nó đánh dấu bước ngoặt

về lý luận và thực tiễn trong hoạt động bảo hộ QTG, QLQ nói chung và trong môi trường kỹ thật số nói riêng

Trong Luật SHTT năm 2005, chúng ta đã đưa vào một số quy dịnh mới về bảo hộ ỌTG, QLQ trong MTKTS, mặc dù Việt Nam như trình bầy ớ phần trên

Trang 35

chưa gia nhập Hiệp ước WCT cũng như Hiệp ước WPPT Đó là kết quả của quá trình hiện đại hóa, cập nhật và chỉnh lý hoàn thiện các quy phạm pháp luật về QTG, QLQ đáp ứng yêu cầu của hoạt động bảo hộ trong kỷ nguyên công ntỉhệ số dang phát triển mạnh mẽ ở nước ta và trên thế giới Tuy nhiên, các quy định về bảo hộ QTG, QLQ trong MTKTS trong Luật Si ITT hiện tại chỉ là các quy định nền lảng, mang tính chất eiới thiệu, định hướng đế điều chỉnh các mối quan hệ mói về QTG, QLQ trong môi trường năng động, đang phát triển mạnh mẽ này Trong quá trình soạn tháo và xây dựng Luật SHTT, Ban soạn thảo, trên cơ sở nghiên cứu hai hiệp ước Internet của WIPO, Luật mẫu về QTG, QLQ và tiếp thu các ý kiến đóng góp của các chuyên gia hàng đầu của WIPO và các tổ chức quốc tế khác của khu vực va thế giới như ĨFBI, CISAC, đã nội luật hoá một số quy định về bảo hộ các biện pháp công nghệ, và thông tin quản lý quyền, mở rộng khái niệm sao chép cho phù hợp với các điều kiện khai thác, sử dụng tác phẩm và các đổi tượng của QLQ trong MTKTS và các biện pháp phòng ngừa áp dụng đối với các phương tiện, thiết bị có tính năng phá huỷ hoặc vô hiệu hoá các biện pháp kỳ thuật do các chủ thể quyền thực hiện Tuy nhiên, Luật SHTT đâ không, đưa vào phàn quy phạm điều chỉnh nghĩa vụ của các nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) với lý do là sẽ đưa vấn đề này vào điều chỉnh trực tiếp tại các luật chuyên ngành khác Đó là Luật Công nghệ Thông Tin đana được soạn thảo song hành với Luật SHTT.

Trong Luật Công nghệ Thông tin ngày 29.6.2006 và các văn bản hướng dẫn thi hành có một số điều khoản điều chỉnh trách nhiệm, quyền hạn và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin, trong đó có các nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) Tuy nhiên, chủ trương pháp điểm hoa nghĩa vụ của các ISP này đã không được cụ thể hoá như mong mỏi ban đầu Vấn đề này sẽ được bàn tới tại phần sau

Tóm lại, đề cập đến pháp luật Việt Nam về bảo hộ QTG, QLQ trong MTKTS

là đề cập đến nguồn quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ pháp luật trong lĩnh vực này Tại Việt Nam hiện nay, n^yồn quy phạm pháp luật điều chỉnh nội dung hoạt động bảo hộ QTG QLQ trong MTKTS trước hết phải kể đến là BI DS

Trang 36

năn 2005, Luật SIITT, Luật Công nghệ Thông tin 2006, Luật Báo chí, Luật điện ảnh, Bộ luật hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành, các điều ước quốc tê song phương và đa phương mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập Ngoài ra phần nguôn quy phạm pháp luật điều chỉnh về mặt nội dung của hoạt động này còn có phần nguồn quy phạm pháp luật điều chỉnh về mặt hình thức, trình tự thủ tục thực thi rải rác trong Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, Bộ luật 10 lụng dân sự, Bộ luật tố tụng hình sự, và các vãn bản hướng dẫn thi hành.

2.2 CHỦ THÈ QTG, QLQ TRONG MTKTS

Vấn đề chủ thể QTG ỌLQ trong MTKTS dưới các giác độ tiếp cận khác nhau chúng ta sẽ có các cách phàn loại khác nhau Dưới góc độ nguồn gốc nguyên thuỷ phát sinh quyền sở hữu QTG, QLQ chúng ta có thể phân chia thành hai nhóm: nhóm chủ thể QTG, QLQ nguyên thuỷ với cơ sở phát sinh quyền từ hoạt động đầu

tư, lao động sáng tạo trực tiếp tạo ra tác phẩm, đối lượng của QLQ gồm: các tác giả (các đồng tác giả) trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm, người biếu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và tổ chức pháp sóng; nhóm chủ thể QTG, QLQ phái sinh, gồm; cá nhân, tổ chức giao nhiệm vụ, giao kết hợp đồng sáng tạo với tác giả, được thừa kế hoặc được chuyển giao quyền

Với góc độ tiếp cận chù thể QTG, QLQ trong MTKTS (dieital) đối chiếu với chủ thể QTG, QLQ trong môi trường kỳ thuật tương tự (analog) thì chúng ta thấy là MTKTS, như phân tích tại phần trên, là môi trường thể hiện mới, mở rộng hơn so với môi trường kỹ thuật tương tự truyền thống nhờ sự phái triển của công nghệ kỹ thuật hiện đại ứng dụng vào các ngành công nghiệp có liên quan đến hoạt động khai thác, phổ biến, quảng bá việc sử dụng tác phẩm và các đối tượng của QLQ, đặc biệt

là ngành công nghệ thông tin, công nghiệp sản xuất các sản phẩm điện tử tiêu dùng dân dụng v.v cho phép các hoạt dộng khai thác, sử dụng tác phẩm, các đối tượng của QLQ vượt ra ngoài phạm vi các hình thức khai thac, sử dụng các đối tượng này theo cách thức truyền thống Mặt khác, như chúng ta đã biết: đặc thù của sở hữu trí tuệ nói chung và QTG nói ricníi (sở hữu tài sản vô hình) và sở hữu tài sản hữu hình

ở một số đặc tính về chiếm hữu và sử dụng và định đoạt, ớ QTG QLQ tính chát

Trang 37

các quyền năng này của chủ sở hữu tài sản vô hình, tài sản thuộc quyên sở hữu in' tuệ do pháp luật quy định dưới các hình thức được ghi nhận, cụ thê hoá trong pháp luật Ngoài các hình thức đó đều không thuộc phạm vi điều chỉnh của chế định quyền sở hữu đối với tài sản vô hình, tri tuệ Với nghĩa là chủ thê QT(Ì QLQ, trên phương diện chủ sở hữu các quyền đối với tác phẩm hoặc các đối lượn í! của QLQ, với cách tiếp cận này, thì có- các quyền năng gì mà pháp luật cấp hay dành cho các chủ thể này trong quan hệ pháp luật về QTCỉ, QLQ trong môi trường, kỹ thuật tương

tự truyền thống, được mở rộng áp dụne trong MTKTS Các chủ thể QTG, QLQ trên phương diện này gồm có các đối tượng chủ thế sau:

Trang 38

phẩm Tính nguyên thủy trên một số khía cạnh có thể được hiếu là tính mới của tác phẩm Song, tính mới của lác phàm trong lĩnh vực QTG, QLQ khác với tính mới trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp và giống cây trồng Tính mới trong quyền sở hữu côn2, nụhiệp được xác định trên cơ sỡ trình tự về mặt thời gian, mang tính chất có trước, có sau, xác lập trên cơ sở quyên ưu liên theo đơn xin cấp văn bằng bảo hộ nộp tại cơ quan nhà nước có thấm quyền Tính mới trong quyền sở hữu công nghiệp

có thể không dựa trên thời điểm thực tế phát minh, sáng chế, sáng tạo mà mang tính luật định trên cơ sở ghi nhận của cơ quan nhà nước có thâm quyền Trong khi tính tính mới trong QTG, QLQ mang tinh chất thực tiễn hơn, kể cả trong trường hợp sáng tạo một tác phẩm có sự thể hiện tương tự như một tác phẩm đã có trước đó miễn là tác giả của tác phẩm sau này không được biết và không thể biết tới sự tồn tại của tác phẩm trước đó Điều này vẫn không ảnh hưởng tới tính nguyên thuỷ của

sự sáng tạo độc lập Trường hợp tác phẩm phái sinh, tính nguyên thuỷ nằm trong phương pháp phóng tác cá nhân tác phẩm hiện có giữa những phóng tác khác, như được đề cập tới tại Điều 9 Luật Mêxicô Đòi hỏi về tính nguyên thuỷ như là điều kiện bảo hộ QTG được thể hiện trong rất nhiều luật QTG quốc gia bằng việc xác định các tác phẩm đáng được bảo hộ phải là gốc ( ví dụ như Hy Lạp, Điều 1; Pháp, Điều 5; Ấn độ, Điều 13(a); Nigeria, Điều l(2)(a); Sê Nê Gan, Điều 1; Liên hiệu Vương quốc Anh, Điều 2(1); Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ, Điều 102 V.V.) Nghĩa của việc gán "gốc" không được nhầm lẫn với nghĩa của thuật ngữ này khi được sử dụng

đế đôi chiếu các tác phẩm gốc là các tác phẩm hiện có với các tác phẩm phái sinh Tiêu chí này được quy định trong pháp luật Việt Nam tại Khoản 3 Điều 14 Luật SHTT

Hai là tiêu chí về định hình dưới một dạng vật chất nhấl định: đây là một tiêu chí tiên quyết có ý nghĩa và vai trò hết sức quan trong trong việc xác lập quyền đối với tác phẩm Irong đó có quyền dược công nhận làm tác giả cũng như tư cách chủ thế quyền để có thể tiến hành các yêu cầu bảo hộ trước các hành vi xâm phạm QTG

Ngày đăng: 24/01/2021, 22:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
22. Hoàng Minh Thái, (2001), Hoàn thiện pháp luật về bảo hộ quyền tác giả ở Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Luật học chuyên ngành Lý luận Nhà nước và pháp quyền Khác
23. Kiều Thị Thanh, (1999), vấn đề đảm bảo quyền tác giả, quyền của chù sở hữu tác phẩm trong pháp luật Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học chuyên ngành Luật dân sự Khác
24. Lê Nét, (2005), Quyền sở hữu trí tuệ - Tài liệu bài giảng, Nxb Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh Khác
25. Phùng Trung Tập, (2004), Các yếu tố của quyền sở hữu trí tuệ, Nxb Tư pháp, Hà Nội, Tr 43, 48, 192 Khác
26. Trần Thị Thanh Bình. (2005), Quyền tác giả đối với tác phẩm viết trong pháp luật dân sự Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn Thạc sĩ Luật học chuyên ngành Luật dân sự Khác
27. Trần Lan Hương, (2004), Quyền tác già đối với loại hình tác phẩm nghe nhìn theo pháp luật Việt Nam và CH Pháp, Luận văn Thạc sĩ Luật học chuyên ngành Luật dân sự Khác
28. Trường Đại học Luật Hà Nội, (2003), Giáo trình Luật dân sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội.IV SÁCH, BÁO, TẠP CHÍ Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w