1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hành nghề luật sư một số vấn đề lý luận và thực tiễn

76 314 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 7,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hợp đồng dịch vụ pháp lý cần phải được nghiên cứu có hệ thống nhằm giải quyết triệt để những vướng mắc giữa khách hàng và Luật sư liên quan đến dịch vụ tư vấn và tranh tụng để qua đó hoạ

Trang 2

VŨ QUỲNH ANH

HỢP ĐỒNG DỊCH vụ PHÁP ■ ■ ■ LÝ TRONG HÀNH NGHÊ LUẬT s ư■

MỘT SÔ VẤN ĐÊ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN■ ■ ■

Chuyên ngành: Luật Dân sự

THƯ VIỆ N

T R Ư Ờ N G Đ A i H Ọ C L Ỏ Â T H À N Ộ !

P H Ò N G Đ Ọ C - y ỷ A - í ệ ,

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

£7c£ rphùtH ị ^Vịutq ^7ộp

HÀ NỘI - 2006

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: MỘT s ố VÂN ĐỂ LÝ LUẬN VỂ HỢP ĐỔNG DỊCH

1.1.3 Phân biệt hợp đồng dịch vụ với một số hợp đồng thông dụng khác 131.2 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hành nghề

1.2.1 Khái niệm hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hành nghề Luật sư 151.2.2 Đăc điểm của hợp đồng dich vu pháp lý trong hành nghề Luât sư 181.3 Phân loại hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hành nghề Luật sư 20

CHƯƠNG 2: CÁC YÊU T ố c ơ BẢN CỦA HỢP ĐỔNG DỊCH v ụ

2.1 Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hành

2.1.2 Điều kiện về ý chí tự nguyện của chủ thể trong quan hệ

2.1.3 Điều kiện về nội dung của hợp đồng dịch vụ pháp lý 30

Trang 4

2.2.2 Quyền và nghĩa vụ của bên thuê Luật sư 432.3 Xác lập, thực hiện và chấm dứt hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hành

2.3.1 Xác lập hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hành nghề Luật sư 462.3.2 Thực hiện hợp đổng dịch vụ pháp lý trong hành nghề Luật sư 482.3.3 Chấm dứt hợp đồng dịch vụ pháp trong hành nghề Luật sư 50

CHƯƠNG 3: THỰC TIẺN á p d ụ n g p h á p l u ậ t VỂ h ợ p đ ổ n g

DỊCH VỤ PHÁP LÝ TRONG HÀNH NGHỂ l u ậ t s ư v à

PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỂ HỢP ĐỔNG DỊCH v ụ PHÁP LÝ 533.1 Thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hành nghề

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay đã nảy sinh những tranh chấp thuộc nhiều lĩnh vực vì quyền, lợi ích của các chủ thể trong quan hệ dân sự, thương mại, lao động , cũng phát sinh theo tỷ lệ thuận với sự phát triển kinh tế xã hội Do vậy, nghiên cứu hợp đồng dịch vụ nói chung và hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hành nghề Luật sư nói riêng là thật sự cần thiết bởi vì hoạt động Luật sư ở nước ta hiện nay đã phát triển theo nhu cầu của xã hội Do vậy, đòi hỏi Luật sư phải tự hoàn thiện mình trong hoạt động tư vấn và tranh tụng nhằm bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng Hợp đồng dịch vụ pháp

lý cần phải được nghiên cứu có hệ thống nhằm giải quyết triệt để những vướng mắc giữa khách hàng và Luật sư liên quan đến dịch vụ tư vấn và tranh tụng để qua đó hoạt động Luật sư ở nước ta ngày càng được coi trọng và là một loại hình dịch vụ không thể thiếu được trong việc giải quyết những tranh chấp dân sự, thương mại, lao động , phát sinh ngày một nhiều, nhất là trong giai đoạn hiện nay và tương lai

Hợp đồng dịch vụ pháp lý là một phương tiện để thể hiện vai trò của Luật

sư trên cơ sở thoả thuận hợp pháp với khách hàng, theo đó những quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng được làm sáng tỏ trên cơ sở Luật sư thực hiện đúng, đầy đủ những quyền và nghĩa vụ đã thoả thuận Hợp đồng dịch vụ pháp lý còn là căn cứ pháp lý để xác định rõ trách nhiệm của Luật sư thông qua hoạt động tư vấn và tranh tụng tuân theo pháp luật, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa và quyền lợi của khách hàng

Đây là một công trình khoa học đầu tiên ở nước ta nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về vấn đề này

Trang 7

Từ vấn đề nêu trên, tác giả cho rằng cần nghiên cứu, làm rõ để có nhận thức đầy đủ hơn về hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hành nghề Luật sư.

Vì vậy, tác giả đã chọn đề tài: “Hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hành

nghê luật sư - Một sô vấn đê lý luận và thực tiễn ” làm Luận văn tốt nghiệp

Thạc sỹ Luật học, chuyên ngành Luật Dân sự

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Tính đến thời điểm hiện nay, ở nước ta chưa có bất kỳ một công trình khoa học nào nghiên cứu có tính hộ thống về hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hành nghề Luật sư Đặc biệt, cũng chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu về những đề tài tương tự như đề tài của Luận văn này Đây chính là những khó khăn nhất định cho tác giả trong việc nghiên cứu đề tài

3 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

Mục đích : Nghiên cứu nhằm làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về

hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hành nghề Luật sư ở nước ta hiện nay để qua đó nhằm giải quyết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về loại hợp đồng đặc thù này

Qua nghiên cứu đề tài, cũng nhằm để xác định cơ sở lý luận trong việc xây dựng pháp luật quy định về loại hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hành nghề Luật sư và nhằm hoàn thiện thêm một bước những quy định của pháp luật về hợp đồng dịch vụ nói chung và hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hành nghề Luật

sư nói riêng

Nhiệm vụ : Từ mục đích nghiên cứu trên Luận văn có nhiệm vụ :

- Phân tích làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản của hợp đồng dịch vụ pháp

lý trong hành nghề Luật sư

- Phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hành nghề Luật sư Làm rõ những hạn chế và nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó

Trang 8

- Đề xuất những quan điểm về phương hướng và giải pháp để hoàn thiện pháp luật về hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hành nghề Luật sư.

4 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Nội dung luận văn chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực

tiễn về hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hành nghề Luật sư và thực trạng áp dụng

những quy định của pháp luật về loại hợp đồng này Còn những vấn đề liên quan

đến hoạt động của Luật sư như: Phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật và

Luật sư được chỉ định tham gia tranh tụng trước Toà án không thuộc phạm vi

nghiên cứu của Luận văn này

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của Luận văn

- Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin

và tư tưởng Hồ Chí Minh; các chủ trương đường lối chính sách của Đảng, pháp

luật của Nhà nước

- Phương pháp nghiên cứu của Luận văn dựa trên nguyên tắc duy vật biện

chứng; duy vật lịch sử; đi từ cái chung đến cái riêng, cái cụ thể; khảo sát, phân

tích, tổng hợp, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn , để thực hiện mục đích và nhiệm

vụ nghiên cứu

6 Những đóng góp mới về khoa học của Luận văn

Qua nghiên cứu đề tài, Luận văn có được những điểm mới sau đây:

- Xây dựng được một hệ thống các khái niệm về hợp đồng dịch vụ pháp lý

trong hành nghề Luật sư

- Đây là một Luận văn lần đầu tiên ở nước ta nghiên cứu toàn diện và có hệ

thống về mặt lý luận và thực tiễn về hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hành nghề

Luật sư

- Tính hệ thống của nội dung đề tài nghiên cứu trong Luận văn dựa trên

những cơ sở lý luận để phân biệt hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hành nghề Luật

Trang 9

sư với các loại hợp đồng dịch vụ khác Nêu ra những đặc điểm riêng của loại hợp đồng này.

- Qua nghiên cứu đã đánh giá những điểm còn bất hợp lý của pháp luật qui định về hợp đổng dịch vụ pháp lý trong hành nghề Luật sư và thực trạng áp dụng những qui định đó trong việc giao kết, thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hành nghề Luật sư

- Qua nghiên cứu đề tài đã chỉ ra những giải pháp hoàn thiện những qui định của pháp luật về hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hành nghề Luật sư ở nước ta hiện nay

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu thành 03 chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hành nghề Luật sư

Chương 2: Các yếu tố cơ bản của hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hành nghề Luật sư

Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hành nghề Luật sư và phương hướng hoàn thiện những quy định của pháp luật về hợp đồng dịch vụ pháp lý

Trang 10

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỂ LÝ LUẬN VỂ HỢP Đ ổN G DỊCH v ụ PHÁP LÝ

TRONG HÀNH NGHỂ LUẬT s ư

1.1 Khái quát chung về Hợp đồng dịch vụ (HĐDV)

Xét về bản chất thì con người là tổng hoà của các quan hệ xã hội Có những quan hệ chỉ đơn thuần nhằm gắn kết tình cảm, củng cố đời sống tinh thần,

có những quan hệ nhằm tạo ra của cải vật chất để phục vụ cho nhu cầu của chính mình và phát triển kinh tế - xã hội Quan hệ nhằm chuyển giao tài sản thực hiện hoặc không thực hiện một việc là giao dịch dân sự

Quan hệ hợp đồng dân sự được hiểu theo nghĩa hẹp là quan hệ nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng của chủ thể tham gia Quan hệ hợp đồng dân sự được hiểu theo nghĩa rộng còn bao gồm: thương mại và lao động

Trong giao dịch dân sự, các bên tham gia cùng bày tỏ ý chí của mình và đồng thuận nhằm đạt được mục đích nhất định, là hợp đồng

Hợp đồng dân sự (HĐDS) là “thoả thuận giữa các bên về việc xác lập,

thay đổi hoặc chấm díct quyền, nghĩa vụ dân sự ’ (Điều 388 BLDS năm 2005).

HĐDV là một loại hợp đồng dân sự thông dụng và ngày càng trở nên phổ biến, đáp ứng mọi nhu cầu trong sinh hoạt tiêu dùng, sản xuất và kinh doanh Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các loại hình dịch vụ rất đa dạng, phong phú tuỳ thuộc vào sự thoả thuận của các bên tham gia giao dịch

Thương mại dịch vụ được đánh giá là lĩnh vực đầy tiềm năng Các quốc gia

có nền kinh tế phát triển, dịch vụ chiếm hơn nửa tổng thu nhập quốc dân Ví dụ: Tại Hoa Kỳ theo thống kê, thu nhập từ dịch vụ chiếm tới 75% tổng thu nhập quốc nội [42, Tr 74]

Trang 11

Việc phát triển dịch vụ có tầưi quan trọng trong sự phát triển kinh tế của Việt Nam vì ngành dịch vụ có tính năng động, thu nhập cao và sử dụng được nhiều lao động, không phụ thuộc nhiều vào sự phát triển của khoa học - công nghệ.

Để hiểu rõ bản chất pháp lý của HĐDV, cần phải hiểu về thuật ngữ “dịch vụ” Thuật ngữ “dịch vụ” được sử dụng trong khoa học pháp lý và khoa học kinh

tế Theo từ điển tiếng Việt năm 2003, “dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho

những nhu cầu nhất định của sô' đông, có tổ chức và được trả công” Ví dụ như

dịch vụ du lịch, dịch vụ pháp lý, dịch vụ vận chuyển hành khách Hoạt động dịch vụ không trực tiếp tạo ra của cải vật chất nhưng tạo tiền đề cho quá trình sản xuất ra của cải vật chất, tinh thần của con người

Loại hình HĐDV ngày càng được các nhà làm luật chú ý nghiên cứu thể hiện vai trò của loại hợp đồng này Thuật ngữ “dịch vụ” đã được sử dụng phổ biến trong xã hội nhưng về HĐDV chỉ được qui định trong Pháp lệnh hợp đổng

Dân sự năm 1991 Tại Điều 1, Pháp lệnh Hợp đồng Dân sự qui định: “Hợp đồng

dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bền trong mua bán, thuê, vay, mượn, tặng cho tài sản, làm hoặc không làm một việc, dịch vụ hoặc cấc thoả thuận khác mà trong đó một hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng

Theo qui định của Pháp lệnh hợp đồng Dân sự năm 1991, phạm vi của hợp

đồng dàn sự có “dịch vụ” và giới hạn của loại hợp đồng này là “nhằm đáp ứng

nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng” Sự phát triển của nền kinh tế thị trường có sự quản

lý của Nhà nước đã thay đổi cách nhìn nhận về mục đích của giao dịch dân sự HĐDS không chỉ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng, mà còn là phương tiện pháp lý để phục vụ cho sản xuất, kinh doanh

Trang 12

Bộ luật Dân sự năm 1995 được ban hành đã khẳng định vị trí của HĐDV Tại các điều từ Điều 521 đến Điều 529 BLDS qui định đối tượng, quyền và nghĩa

vụ của các bên trong HĐDV

Bộ luật Dân sự năm 2005 cũng có những qui định về HĐDV, từ Điều 518 đến Điều 526

Tại Điều 521 BLDS năm 1995 qui định HĐDV: HĐDV là sự thoả thuận

giữa các bên, theo đố bên làm dịch vụ thực hiện công việc cho bên thuê dịch vụ, còn bên thuê dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên làm dịch vụ.

Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định tại Điều 518: HĐDV là sự thoả thuận

giữa các bên, theo đố bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên thuê dịch vụ, còn bên thuê dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ.

Như vậy, về bản chất pháp lý, HĐDV là sự thoả thuận giữa các bên Đây là vấn đề căn bản thể hiện rõ ý chí của các bên trong quan hệ HĐDS nói chung và HĐDV nói riêng

Trong nền kinh tế thị trường, sự phân công lao động là tất yếu Mỗi cá nhân không phải tự mình thực hiện hết mọi công việc để đáp ứng nhu cầu của bản thân mà có thể thông qua loại hình dịch vụ, nhu cầu của cá nhân được phục

vụ theo nhu cầu ở mức cao nhất

Bộ luật Dân sự năm 2005 có những quy định về chủ thể giao kết HĐDV gồm bên thuê dịch vụ và bên cung ứng dịch vụ Hợp đồng là quan hệ trực tiếp giữa bên thuê dịch vụ và bên cung ứng dịch vụ Các bên thỏa thuận xác lập quyền

và nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ vì lợi ích của bên thuê dịch vụ

Đối với những HĐDV có tính chất phức tạp là hợp đồng liên quan đến lợi ích của người thứ ba Bên cung ứng dịch vụ phải nhân danh mình để thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đổng mà không nhân danh bên thuê dịch

vụ để giao dịch với người thứ ba Bên cung ứng dịch vụ hoàn toàn chịu trách

Trang 13

nhiệm về việc thực hiện nghĩa vụ vì lợi ích của người thứ ba nếu các bên không

có thỏa thuận khác Trong giao dịch này, bên thuê dịch vụ và người thứ ba không

có mối quan hệ pháp luật với nhau

1.1.1 Các đặc điểm pháp lý của HĐDV

a) HĐDV là loại hợp đồng ưng thuận

Ưng thuận là đặc điểm cơ bản của một số HĐDS và HĐDV cũng thuộc loại hợp đồng này Các bên tự do định đoạt ý chí khi thoả thuận về nội dung của hợp đổng về: đối tượng của hợp đổng, quyền và nghĩa vụ, thời hạn, địa điểm và phương thức thực hiện hợp đồng Hợp đồng được xác lập và có hiệu lực bắt buộc đối với các bên Đặc điểm ưng thuận của HĐDV được thể hiện ở việc các bên giao kết hợp đồng bị ràng buộc trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ cho nhau, quyền yêu cầu của các bên thuê dịch vụ đối với bên cung ứng dịch vụ được xác định từ thời điểm HĐDV được giao kết Bên cung ứng dịch vụ phải thực hiện nghĩa vụ theo thoả thuận cho bên thuê dịch vụ Đăc điểm ưng thuận của HĐDV

là dấu hiệu khác biệt so với hợp đồng có đặc điểm thực tế như hợp đồng vay tài sản, hợp đồng gửi giữ tài sản

b) HĐDV là hợp đồng song vụ

Hợp đồng song vụ là “hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau”

theo qui định tại khoản 1 Điều 406 BLDS năm 2005

Tính chất song vụ trong HĐDV được thể hiện trong việc thực hiện quyền

và nghĩa vụ của các bên tham gia giao kết hợp đồng Đặc điểm song vụ của HĐDV thể hiện rõ trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ cho nhau giữa bên thuê dịch vụ và bên cung ứng dịch vụ Nghĩa vụ của bên thuê dịch vụ đến hạn trước, thì bên thuê dịch vụ phải thực hiện trước Ngược lại, nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ theo trình tự phải thực hiện trước, thì bên cung ứng dịch vụ có nghĩa

Trang 14

vụ thực hiện Đặc điểm song vụ của hợp đồng được thể hiện trong mối liên hệ giữa quyền và nghĩa vụ của các bên đối với nhau.

Đặc điểm này được thể hiện rõ nhất là “trả tiền thù lao” Khi bên cung ứng dịch vụ đã thực hiện một công việc theo yêu cầu cho bên thuê dịch vụ thì có quyền yêu cầu bên thuê dịch vụ thanh toán tiền thù lao có giá trị tương đương với giá trị công việc đã thực hiện hoặc đã thỏa thuận trong hợp đồng Ngược lại, bên thuê dịch vụ khi đã nhận được kết quả công việc từ bên cung ứng dịch vụ thì phải

có nghĩa vụ thanh toán một khoản tiền hay một lợi ích vật chất nào đó theo thỏa thuận cho bên cung ứng dịch vụ

c) HĐDV là hợp đồng có đền bù

Nguyên tắc chung của quan hệ pháp luật dân sự là nguyên tắc có đi có lại, đền bù ngang giá HĐDV thể hiện ở việc bên cung ứng dịch vụ thực hiện một công việc theo yêu cầu của bên thuê dịch vụ với mục đích nhận tiền công Bên thuê dịch vụ muốn được đáp ứng nhu cầu từ công việc dịch vụ thì phải trả một khoản tiền công cho bên cung ứng dịch vụ theo thỏa thuận

Trong trường hợp bên cung ứng dịch vụ thực hiện một công việc không nhằm mục đích nhận tiền công thì giao kết đó chỉ mang tính chất tương trợ giúp

Xác định về hình thức thể hiện thì HĐDV có thể được giao kết bằng miệng, bằng văn bản HĐDV được lập thành văn bản có chứng nhận của công

Trang 15

chứng Nhà nước, chứng thực của Uỷ ban nhân dân, hay phải đăng ký còn tùy thuộc đối tượng của hợp đồng là công việc có ý nghĩa nhất định về kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng hay đối tượng không có ý nghĩa nhiều về các lĩnh vực trên Những dịch vụ giản đơn được thực hiện và chấm dứt ngay sau đó hoặc giữa các chủ thể có quan hệ mật thiết, tin cậy, giúp đỡ lẫn nhau thì các bên có thể giao kết hợp đổng dưới hình thức miệng Hợp đồng miệng được coi là hình thức phổ biến nhất hiện nay Còn những giao dịch dịch vụ mang tích chất phức tạp hoặc pháp luật qui định phải thể hiện theo hình thức văn bản có công chứng, chứng thực hoặc đăng ký thì các bên tham gia hợp đồng phải tuân theo hình thức đó.

b) Đối tượng của HĐDV

Theo qui định tại Điều 519 BLDS năm 2005: “Đối tượng của HĐDV phải

là công việc có thể thực hiện được, không bị pháp luật cấm, không trái đạo đức

xã hội

Qui định giới hạn của đối tượng giao kết HĐDV nhằm tạo ra phạm vi giới hạn quyền tự do giao kết hợp đồng phù hợp với yêu cầu của xã hội, pháp luật của Nhà nước Những giao kết hợp đồng vi phạm quy định về đối tượng của hợp đồng

sẽ không có hiệu lực, khi có tranh chấp xảy ra không được pháp luật bảo vệ Ví dụ: Giao kết HĐDV vận chuyển trái phép chất ma túy

Đạo đức xã hội được hiểu là thuần phong, mĩ tục và được xem là chuẩn mực của các quan hệ xã hội nhằm lành mạnh hoá quan hệ xã hội; là giá trị nhân bản tồn tại trong qui tắc sống của mỗi dân tộc, của cộng đồng mỗi quốc gia Nhưng tất yếu cả nhân loại vẫn tồn tại một giá trị đạo đức chung, đó là căn cứ để đánh giá sự phù hợp giữa hoạt động của con người với chuẩn mực đạo đức xã hội Đối tượng của HĐDV trái đạo đức xã hội như: dịch vụ hành nghề mại dâm; dịch

vụ mua bán trẻ em, phụ nữ

Trang 16

c) Quyền và nghĩa vụ của các bên giao kết HĐDV

Ngoài những qui định chung về việc xác lập, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên giao kết HĐDS, HĐDV có một số đặc thù sau:

Về thực hiện công việc:

Ngoài nghĩa vụ chủ yếu của bên cung ứng dịch vụ là thực hiện công việc theo thỏa thuận, đúng chất lượng, số lượng, thời hạn, địa điểm, bên cung ứng dịch vụ còn có nghĩa vụ không được giao cho người khác thực hiện thay công việc, nếu không có sự đồng ý của bên thuê dịch vụ; bảo quản và phải giao lại cho bên thuê dịch vụ tài liệu và phương tiện được giao sau khi hoàn thành công việc; báo ngay cho bên thuê dịch vụ về việc thông tin, tài liệu không đầy đủ, phương tiện không bảo đảm chất lượng để hoàn thành công việc; giữ bí mật thông tin mà mình biết được trong thời gian thực hiện công việc; bồi thường thiệt hại cho bên thuê dịch vụ nếu làm mất mát, hư hỏng tài liệu, phương tiện được giao hoặc tiết

lộ bí mật thông tin (Điều 522 BLDS năm 2005)

HĐDV có đặc thù khi kết thúc thời hạn dịch vụ mà công việc chưa hoàn thành, bên cung ứng dịch vụ tiếp tục thực hiện công việc, còn bên thuê dịch vụ biết nhưng không phản đối thì HĐDV đương nhiên được tiếp tục thực hiện cho đến khi công việc hoàn thành (Điều 526 BLDS năm 2005)

Về thanh toán tiền dịch vụ:

Giá cả thù lao là yếu tố quan trọng trong HĐDV Trong thực tế đối với những dịch vụ giản đơn khách hàng thường tin vào sự ngay thẳng của bên cung ứng dịch vụ nên không thỏa thuận giá thù lao từ ban đầu Tuy nhiên, trong những dịch vụ có tính chất phức tạp, vấn đề thù lao không được xác định từ ban đầu có thể dẫn đến phỏng đoán rằng chưa có sự thỏa thuận dứt khoát giữa các bên

Trong quá trình thỏa thuận giá thù lao, có ba cách ấn định giá:

Trang 17

- Cách thứ nhất, ấn định một giá khoán nhất định ngay khi ihành lập hợp

đồng Cách này có những ưu và nhược điểm đối với hai bên giao kết hợp đồng

Ưu điểm đối với bên thuê dịch vụ là được biết trước số tiền phải trả khi công việc thực hiện xong Đối với bên cung ứng dịch vụ, nếu trong quá trình thực hiện dịch

vụ đúng theo thỏa thuận mà mức chi phí thấp hơn dự toán thì bên cung ứng dịch

vụ được lợi; nếu chi phí cao hơn thì bên cung ứng dịch vụ phải chịu thiệt, không được yêu cầu bên thuê dịch vụ bù chi phí tăng thêm Cách thức ấn định giá thù lao khoán xác định bên cung ứng dịch vụ không được tự ý thay đổi, thêm chi tiết

mà không được sự chấp thuận của bên thuê dịch vụ Trong trường hợp những thay đổi được sự đồng ý của bên thuê dịch vụ thì bên cung ứng dịch vụ có quyền yêu cầu thanh toán những phần không được dự tính ban đầu Tuy nhiên, vì lợi ích của bên thuê dịch vụ, bên cung ứng dịch vụ có thể thực hiện các thay đổi điều kiện dịch vụ vì lợi ích của bên thuê dịch vụ không cần có sự chấp thuận của bên thuê dich vụ trong trường hợp cấp bách mà nếu chờ ý kiến sẽ gây thiêt hai cho bên thuê dịch vụ, nhưng phải báo ngay cho bên thuê dịch vụ

- Cách thứ hai, là việc hai bên có thể thỏa thuận giá cả cho từng phần công

việc, giá cả sẽ tùy thuộc vào số lượng công việc đã được thực hiện Cách thức này

sẽ tránh rủi ro cho bên cung ứng dịch vụ trong trường hợp chi phí công việc tăng lên không được dự tính trước

- Cách thứ ba, là bên cung ứng dịch vụ thực hiện hoàn tất công việc theo

thỏa thuận Căn cứ vào kết quả công việc, bên thuê dịch vụ thanh toán thù lao Cách này sẽ khiến bên cung ứng dịch vụ phải thực hiện công việc đạt kết quả tốt nhất, không cẩu thả Nhưng bên thuê dịch vụ không biết trước được số tiền thù lao phải thanh toán

Trong trường hợp hai bên giao kết hợp đồng không thỏa thuận về giá dịch

vụ, phương pháp xác định giá dịch vụ và không có bất kỳ chỉ dẫn nào về giá dịch

Trang 18

vụ thì giá dịch vụ được xác định căn cứ vào giá thị trường của dịch vụ cùng loại tại thời điểm và địa điểm giao kết hợp đồng (khoản 2 Điều 524 BLDS năm 2005).

Về chấm dứt Hợp đồng dịch vụ:

HĐDV chấm dứt khi người cung cấp dịch vụ qua đời, người thừa kế của bên cung cấp dịch vụ được nhận giá trị của công việc đã thực hiện theo tỷ lệ giá cả trong hợp đổng từ bên thuê dịch vụ trong trường hợp công việc đã thực hiện có ích đối với bên thuê dịch vụ Nhưng nếu bên cung ứng dịch vụ là một cơ quan, tổ chức thì sự kiện người trực tiếp cung ứng dịch vụ chết không làm HĐDV chấm dứt, cơ quan, tổ chức tiếp tục thực hiện HĐDV đã giao kết (trừ trường hợp cơ quan, tổ chức không còn tổn tại theo quy định pháp luật)

Điều 525 BLDS năm 2005 cho phép bên thuê dịch vụ có quyền đơn phương chấm dứt HĐDV khi việc tiếp tục thực hiện công việc không có lợi cho bên thuê dịch vụ nhưng phải báo trước cho bên cung ứng dịch vụ biết trước một thời gian hợp lý và thanh toán tiền công theo phần dịch vụ đã thực hiện và bổi thường thiêt hại

1.1.3 Phân biệt HĐDV với một số hợp đồng thông dụng khác

a) Phân biệt Hợp đồng dịch vụ và Hợp đồng lao động (HĐLĐ)

Về phương diện lịch sử, Luật lao động được ban hành muộn so với Luật Dân sự cho nên lí luận về HĐLĐ chịu ảnh hưởng lớn của lí luận về HĐDS Đối với hệ thống pháp luật của các nước Cộng hoà Pháp, Liên bang Đức đều quan niệm HĐLĐ tương tự như một loại HĐDV dân sự Ví dụ Điều 611 BLDS Đức

qui định: “Thông qua hợp đồng bên đã cam kết thực hiện một hoạt động thì phải

thực hiện hoạt động đó, còn bên kia cố nghĩa vụ trả thù lao theo thỏa thuận”

Quan niệm về HĐLĐ trước năm 1954 ở Pháp thường dẫn chiếu khoản 1 Điểu

1779 BLDS năm 1804 về hợp đồng thuê dịch vụ và công nghệ: “Hợp đồng thuê

lao động để phục vụ một người nào đó” và Điều 1780 về hợp đồng thuê mướn gia

Trang 19

nhân và nhân công: “Chỉ dược cam kết phục vụ theo thời gian hoặc cho một công

việc nhất định” Vì vậy, trên thực tế dễ dẫn đến sự nhầm lẫn giữa HĐLĐ và

HĐDV Ví dụ: Hợp đồng thuê người giúp việc

Tại Điều 26 BLLĐ năm 2002 qui định: “HĐLĐ là sự thỏa thuận giữa

người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động

Theo qui định về HĐLĐ và những phân tích về HĐDV, có thể nhận thấy những sự khác biệt cơ bản giữa hai loại hợp đồng trên là sự độc lập pháp lý trong việc thực hiện công việc:

- Bên cung ứng dịch vụ của HĐDV được tự do lựa chọn cách thức thực hiện công việc để có hiệu quả nhất Tùy từng dịch vụ mà mức độ tự do, độc lập trong công việc của bên cung ứng dịch vụ khác nhau Ví dụ: nghề Luật sư, nghề Bác sĩ được độc lập hoàn toàn trong công việc; nghề liên quan đến xây dựng phải làm theo một mô hình nhất định hoặc chịu sự giám sát, kiểm tra của kiến trúc sư, giám sát thi công Chính vì tính chất tự do trong công việc của HĐDV nên bên thuê dịch vụ không phải chịu trách nhiệm về những tai nạn rủi ro, về lỗi của bên cung ứng dịch vụ trong quá trình thực hiện công việc Còn bên cung ứng dịch vụ phải tự gánh chịu rủi ro khi gặp phải trường hợp bất khả kháng trong quá trình thực hiện công việc mà không được yêu cầu bên thuê dịch vụ thanh toán tiền công đối với chi phí phát sinh

- Người lao động trong HĐLĐ luôn bị ràng buộc bởi Hợp đồng đã ký kết

và lệ thuộc vào người sử dụng lao động khi thực hiện công việc Tuy nhiên trong quá trình thực hiện công việc được giao, người lao động không phải gánh chịu rủi

ro trong trường hợp bất khả kháng và khi gây ra thiệt hại cho người khác

Trang 20

b) Phân biệt HĐDV và Hợp đồng ủy quyền

Theo quy định tại Điều 581 BLDS năm 2005 quy định: “//ọ'/? đồng ủy

quyền là sự thỏa thuận giữa các bên theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc và nhân danh bên ủy quyền, còn bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao, nếu có thỏa thuận và pháp luật có quy định

Như vậy, đặc điểm khác biệt cơ bản giữa HĐDV và Hợp đổng ủy quyền là phạm vi thực hiện công việc

Hợp đồng dịch vụ: Bên cung ứng dịch vụ chỉ yêu cầu thực hiện công việc

nhưng không bao gồm quyền đại diện tức là bên cung ứng dịch vụ không nhân danh người thuê dịch vụ khi thực hiện công việc Vì vậy bên thuê dịch vụ không phải chịu trách nhiệm về các hành vi của bên cung ứng dịch vụ đối với người thứ

ba cũng như thanh toán các chi phí ngoài thỏa thuận của bên cung ứng dịch vụ trong khi thực hiện công việc

Hợp đồng ủy quyền: Người được ủy quyền thực hiện một công việc nhân

danh người ủy quyền tức là đại diện cho người ủy quyền Người ủy quyền phải chịu trách nhiệm về các hành vi của người được ủy quyền đối với người thứ ba và phải thanh toán các chi phí mà bên được ủy quyền đã chi trong quá trình thực hiện công việc theo ủy quyền

1.2 Khái niệm và đặc điểm của Hợp đồng dịch vụ pháp lý (HĐDVPL)

trong hành nghề Luật sư.

1.2.1 Khái niệm HĐDVPL trong hành nghê Luật sư

Trước năm 1987, hoạt động dịch vụ pháp lý ở nước ta rất ít, chưa trở thành nhu cầu của xã hội và cũng chưa được thừa nhận là một loại hình dịch vụ nghề nghiệp có tiềm năng Thực hiện đường lối đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và tăng cường quản lý Nhà nước bằng pháp luật, hoạt

Trang 21

động dịch vụ pháp lý được xem là loại hình dịch vụ nghề nghiệp không thể thiếu trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta.

Căn cứ vào thực tế về dịch vụ pháp lý tại Việt Nam, có thể đánh giá loại hình dịch vụ mới này trong thời kỳ quá độ để phát triển Các nước có nền kinh tế phát triển đã chứng minh nhu cầu về dịch vụ pháp lý tăng sẽ dẫn đến doanh thu trong lĩnh vực này cũng tăng tương ứng Dịch vụ pháp lý có thể trở thành một lĩnh vực có doanh thu cao so với các ngành dịch vụ khác Vì hệ thống pháp luật Việt Nam còn chồng chéo, phức tạp nên các chuyên gia pháp lý có vai trò quan trọng cho sự phát triển lành mạnh, công bằng của xã hội Dịch vụ pháp lý có vai trò đặc biệt quan trọng cho sự phát triển kinh tế và thật sự cần thiết để hỗ trợ cho những ngành khác trong quá trình chuyển đổi kinh tế

Việt Nam đã là thành viên của tổ chức thương mại Thế giới (WTO), dịch

vụ pháp lý là một trong những lĩnh vực thuộc nội dung của những cam kết trong tiến trình hội nhập quốc tế Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ là mốc khởi đầu thuận lợi cho Việt Nam gia nhập WTO

Thuật ngữ “dịch vụ pháp lý” luôn gắn liền với nghề luật sư v ề mặt thuật

ngữ, “nghề luật sư ” được tổ hợp từ từ đơn “nghề’ và từ ghép “ Luật s i / \ chỉ

những người có điều kiện hành nghề ỉuật sư theo qui định pháp luật

Nghề luật sư là một nghề luật mà các Luật sư bằng kiến thức pháp luật của mình, độc lập thực hiện các hoạt động trong phạm vi hành nghề theo qui định của pháp luật và Quy tắc đạo đức nghề nghiệp nhằm mục đích bảo vệ công lý, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng, góp phần tích cực bảo vệ Pháp chế và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN [24, tr 81-82] Nghề luật sư có một số đặc trưng sau:

Thứ nhất, nghề luật sư là một nghề đặc biệt Theo kết quả khảo sát Học

viên nguồn đào tạo Luật sư khoá I của Học viện Tư pháp cho thấy 58,6% quan

Trang 22

niệm nghề luật ià một nghề đặc biệt vì hoạt động của Luật sư yếu tố uy tín nghề nghiệp, tính độc lập của mỗi cá nhân và phương thức hành nghề một cách tự do được thể hiện như một đặc điểm rất riêng của nghề này.

Luật sư là một chức danh Tư pháp nhưng không phải là một chức vụ được

đề cử, bổ nhiệm như nghề Thẩm phán, nghề Công tố, nghề Công an

Thứ hai, nghề luật sư mang tính chất dịch vụ Tính chất dịch vụ của nghề

luật sư là một loại dịch vụ đặc biệt, khác với dịch vụ thông thường thông qua hình thức pháp luật là HĐDV Trong bảng phân loại lĩnh vực dịch vụ của tổ chức thương mại Thế giới (WTO): dịch vụ pháp lý là một ngành của “dịch vụ nghề nghiệp” (professional services) thuộc lĩnh vực “dịch vụ kinh doanh” (bussiness services) Theo danh mục phân loại tạm thời các lĩnh vực dịch vụ của Liên hợp quốc thì dịch vụ pháp lý có mã số 861 và được phân chia thành nhiều tiểu phân ngành như:

- Dịch vụ tư vấn và đại diện liên quan đến pháp luật hình sự;

- Dịch vụ tư vấn và đại diện trong tố tụng tư pháp liên quan đến cáclĩnh vực khác của pháp luật;

- Dịch vụ tư vấn và đại diện trong các thủ tục hành chính, trọng tài;

- Các dịch vụ pháp lý khác [24, tr 85-86]

Là một loại hình dịch vụ nên khách hàng phải trả thù lao khi được cung ứng dịch vụ pháp lý từ Luật sư Đặc điểm dịch vụ của nghề luật sư thể hiện rõ hơn qua vai trò của Luật sư là người góp phần bảo vệ trật tự kinh tế thị trường, quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể kinh tế, tạo môi trường an toàn cho các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Thứ ba, nghê luật sư bảo vệ lễ phải, sự công bằng trong xã hội Luật sư là

những chuyên gia về pháp luật, do vậy hoạt động của Luật sư luôn nhằm đảm bảo

T H Ư vi ẹ N

T R Ư Ờ N G Đ A I H O C L Ứ Ã T h à n ò i

Trang 23

các quyền và lợi ích hợp pháp cơ bản cho công dân thông qua hoạt động tư vấn

và tham gia tranh tụng tại Toà án

Thứ tư, nghề luật sư hoạt động dựa trên pháp luật và Quỵ tắc đạo đức nghề nghiệp Pháp luật về Luật sư được coi là khuôn mẫu chung cho Luật sư hoạt động

với các quyền và nghĩa vụ cụ thể, còn Quy tắc đạo đức nghề nghiệp Luật sư điều chỉnh hành vi ứng xử của Luật sư trong hoạt động nghề nghiệp Thực tế, các tiêu chuẩn ứng xử thuộc phạm trù đạo đức và kỷ luật có sự tác động rất lớn đến uy tín, danh dự của Luật sư và chi phối đến chất lượng dịch vụ cung cấp cho khách hàng

Thứ năm, nghề luật sư là nghề hoạt động mang tính chất quốc tế Cùng với

quá trình hội nhập kinh tế, quốc tế, Luật sư các nước trên thế giới có điều kiện giao lưu, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động hành nghề Luật sư của tổ chức Luật sự nước ngoài tại Việt Nam, mở ra khả năng cạnh trạnh to lớn cho đội ngũ Luật sư Việt Nam trên trường Quốc tế

Dịch vụ pháp lý trong hành nghề luật sư được cung ứng thông qua hình thức pháp lý là HĐDVPL Từ những phân tích về đặc trưng của nghề luật nêu

trên, có thể đưa ra khái niệm về HĐDVPL như sau: “HĐDVPL là một loại hợp

đồng thuộc ngành dịch vụ nghề nghiệp, theo đố bên Luật sư cung cấp dịch vụ pháp lý cho bên thuê Luật sư, còn bên thuê Luật sư phải trả tiền thù lao theo thoả thuận

1.2.2 Đặc điểm của HĐDVPL trong hành nghề Luật sư

Đối tượng của HĐDVPL trong hành nghê Luật sư, là những công việc cụ

thể, có thể thực hiện được liên quan đến pháp luật Công việc theo yêu cầu của bên thuê dịch vụ pháp lý có thể chỉ đơn thuần là tư vấn pháp luật tức là yêu cầu được giải đáp ngay lập tức những vấn đề mà họ không hiểu không tự giải quyết được có liên quan đến pháp luật, có thể là công việc phức tạp hơn là tham gia tố

Trang 24

tụng để bào chữa về hình sự, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự về phi hình sự tại cơ quan tài phán.

Tóm lại, những yêu cầu cung ứng dịch vụ pháp lý phải là dịch vụ “có thể làm được”, “không bị pháp luật cấm”, “không trái đạo đức xã hội”

Chủ thể tham gia HĐDVPL trong hành nghề Luật sư, trong HĐDVPL,

bên cung ứng dịch vụ không phải là một chủ thể thông thường là cá nhân hay tổ chức pháp nhân, hộ gia đình hay tổ hợp tác Để có tư cách hành nghề cung ứng dịch vụ pháp lý, chủ thể đó phải đủ điều kiện hành nghề được gọi là Luật sư Chỉ

có Luật sư đã được cấp Chứng chỉ hành nghề và Thẻ luật sư mới được giao kết

và thực hiện công việc theo HĐDVPL Luật sư hành nghề trong một tổ chức hành nghề thuộc Đoàn Luật sư là Văn phòng Luật sư hoặc Công ty luật (gồm Công ty luật hợp danh và Công ty luật trách nhiệm hữu hạn) hoặc hoạt động với tư cách

cá nhân

HĐDVPL trong hành líghê Luật sư không tạo ra một vật mới HĐDVPL

trong hành nghề Luật sư được thể hiện ở việc nhằm bảo vệ quyền dân sự, quyền công dân hoặc xác định nghĩa vụ dân sự, trách nhiệm dân sự hoặc trách nhiệm pháp lý khác của bên thuê dịch vụ hoặc đáp ứng những nhu cầu phi vật chất khác của bên thuê dịch vụ trong các quan hệ thuộc các lĩnh vực pháp lý Hành vi của chủ thể thực hiện hợp đồng vì lợi ích của bên thuê dịch vụ hoặc vì lợi ích của người thứ ba, nhưng kết quả của hành vi cung ứng dịch vụ không tạo ra vật mới Hay nói cách khác, kết quả của hành vi thực hiện HĐDV không tạo ra bất

kỳ vật mới nào, là một đặc điểm có tính chất đặc thù của HĐDVPL trong hành nghề Luật sư

1.3 Phân loại HĐDVPL trong hành nghề luật sư

Theo định nghĩa của Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS), khái niệm dịch vụ pháp lý theo nghĩa rộng gồm dịch vụ tư vấn pháp luật

Trang 25

(advisory services), dịch vụ đại diện (representation services) và tất cả các hoạt động liên quan đến tư pháp như xét xử, công tố, bào chữa công .[24, tr 85].

Trên thế giới, một số quốc gia áp dụng hệ thống phân chia Luật sư thành

“luật sư tố tụng” (bamster) và “luật sư tư vấn” (solicitor) Sự phân chia này rất rõ ràng, không phải Luật sư nào tư vấn cũng có thể tham gia tranh tụng tại Tòa án khi được cá nhân, tổ chức nào yêu cầu Luật sư tranh tụng đòi hỏi phải có những hiểu biết pháp luật toàn diện, hành nghề chuyên nghiệp Thực tiễn, hoạt động của Luật sư tại Việt Nam chưa có sự phân chia rõ giữa “Luật sư tư vấn” và “Luật sư tranh tụng” Bất cứ Luật sư Việt Nam nào đủ điều kiện hành nghề theo quy định pháp luật có thể tham gia tranh tụng tại cơ quan tài phán Sau khi Việt Nam ký kết Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, đã có một sự phân chia dựa vào

tổ chức làm việc của Luật sư đó Nếu Luật sư làm việc tại một “Công ty tư vấn luật” thì chỉ có chức năng tư vấn mà không được tham gia tranh tụng tại Tòa án, Luật sư nào làm việc tại “Văn phòng Luật sư” thì được tư vấn đồng thời tham gia tranh tụng tại Tòa án khi có yêu cầu Song sự phân chia này chưa phân biệt được bản chất của Luật sư tranh tụng và Luật sư tư vấn Luật luật sư năm 2006 đã thu hẹp sự phân chia giữa Luật sư tư vấn và Luật sư tranh tụng qua qui định không phân biệt phạm vi hoạt động giữa Văn phòng Luật sư và Công ty luật

Hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý có hai mảng lớn quan trọng nhất là tư vấn và tranh tụng tại cơ quan tài phán Vì vậy, HĐDVPL cũng được chia thành hai loại: HĐDV tư vấn pháp luật và HĐDV tranh tụng

1.3.1 HĐDV tư vấn pháp luật

Tư vấn pháp luật là việc giải đáp pháp luật, hướng dẫn ứng xử đúng pháp

luật, nhằm giúp công dân, tổ chức thực hiện đúng pháp luật và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ Dịch vụ tư vấn pháp luật là một trong những chức năng hoạt

động của Luật sư lần đầu tiên được xác định trong Hiến pháp 1980: “Tổ chức luật

Trang 26

sư được thành lập để giúp các bị cáo và các đương sự khác vê mặt pháp lý" Tại

Pháp lệnh tổ chức Luật sư năm 1987, tư vấn pháp luật được cụ thể hóa là ‘7àm tư

vấn pháp luật cho các tổ chức kinh tế nhà nước, tập thể và tư nhân, kể cả cấc tổ chức kinh tế nước ngoài” Hoạt động này không nổi bật bằng tranh tụng nhưng

cũng rất phức tạp và mang tính cạnh tranh cao Khi có nhu cầu được cung cấp dịch

vụ tư vấn pháp luật, cá nhân hay tổ chức có thể ký HĐDV tư vấn pháp luật

HĐDV tư vấn pháp luật là sự thoả thuận giữa Luật sư và bên thuê Luật sư

về việc cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật, theo đó bên Luật sư thực hiện tư vấn theo yêu cầu, bên thuê Luật sư phải trả tiền thù lao dịch vụ.

HĐDVPL có thể được giao kết bằng miệng hoặc bằng văn bản HĐDV tưvấn miệng được xác lập nhanh chóng thông qua hình thức tư vấn miệng Quathực tiễn, hoạt động tư vấn miệng là một trong những hình thức phổ biến Đối với những vụ việc có tính chất giản đơn, khách hàng thường gặp Luật sư để tìm hiểu bản chất pháp lý của một vụ việc, Luật sư tư vấn phải trả lời ngay các yêu cầu của khách hàng Việc xác lập hợp đổng rất đơn giản, thông qua những câu hỏi của khách hàng, luật sư chấp nhận và đưa ra câu trả lời, giải thích cho khách hàng hiểu rõ vấn đề đang thắc mắc HĐDV tư vấn miệng kết thúc khi khách hàng trả tiền thù lao cho Luật sư theo thỏa thuận

Hợp đồng tư vấn bằng văn bản thường được tiến hành vì những lý do sau:

- Khách hàng không thể trực tiếp đến gặp luật sư để tư vấn bằng miệng;

- Khi khách hàng muốn khẳng định độ tin cậy của giải pháp thông quaviệc đặt câu hỏi và yêu cầu trả lời bằng văn bản;

- Kết quả tư vấn bằng văn bản có thể được khách hàng sử dụng vào mụcđích của họ

Trang 27

Khách hàng có thể gửi đơn, thư hoặc gặp trực tiếp luật sư để yêu cầu được tư vấn bằng văn bản Khi thực hiện tư vấn bằng văn bản, khách hàng và Luật sư phải ký hợp đồng tư vấn pháp luật với nội dung đầy đủ theo qui định của pháp luật.

1.3.2 Họp đồng dịch vụ tranh tụng

Hoạt động tranh tụng là những hoạt động của Luật sư trong quá trình tham gia

tố tụng nhằm bào chữa về hình sự, bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp cho cá nhân, tổ chức về dân sự, lao động, hôn nhân và gia đình, thương mại tại cơ quan tài phán

HĐDV tranh tụng là sự thoả thuận giữa Luật sư và bên thuê Luật sư về việc cung cấp dịch vụ tranh tụng theo đố bên Luật sư tham gia tố tụng để bào chữa về hình sự, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp về phi hình sự theo yêu cầu, bên thuê Luật sư phải trả tiền thù lao dịch vụ.

Hiện nay, người dân đã dần nhận thức rõ vai trò của Luật sư trong việc tác động, ảnh hưởng đến tiến trình tố tụng thông qua chức năng, nhiệm vụ của nghề nghiệp Luật sư, góp phần tạo lập công bằng xã hội và dân chủ hóa hoạt động tư pháp Vì vậy, nhu cầu của bị can, bị cáo trong án hình sự và các đương sự trong

án phi hình sự là rất lớn Dịch vụ tranh tụng chiếm phần lớn dịch vụ pháp lý tại Việt Nam hiện nay

Dịch vụ tranh tụng là loại dịch vụ rất phức tạp, đòi hỏi Luật sư phải là người có kinh nghiệm nghề nghiệp và phẩm chất đạo đức nghề nghiệp cao Tính chất công việc của dịch vụ tranh tụng liên quan đến sức khỏe, tính mạng và tài sản của con người Thời gian thực hiện công việc thường kéo dài hàng tháng, thậm chí hàng năm do vậy HĐDV tranh tụng luôn phải được lập thành văn bản với những điều khoản thỏa thuận rất chi tiết, cụ thể

Trang 28

CHƯƠNG 2 CÁC YẾU TỐ CỦA HỢP ĐỔNG DỊCH v ụ PHÁP LÝ

TRONG HÀNH NGHỂ LUẬT s ư

2.1 Điều kiện có hiệu lực của HĐDVPL trong hành nghề Luật sư

2.1.1 Điều kiện vê năng lực chủ thê

HĐDVPL chỉ có hiệu lực khi chủ thể tham gia hợp đồng có năng lực

hành vi dân sự Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là “khả năng của cá nhân

bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự” (Điều 17

BLDS năm 2005)

Điều kiện có hiệu lực của HĐDVPL phải tuân thủ theo những quy định chung về độ tuổi là người đã thành niên hay chưa thành niên Người thành

niên là người từ đủ 18 tuổi trở lên, tức là có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và

hoàn toàn độc lập đê xác lập, thực hiện giao dịch dân sự theo ý chí của mình, trừ trường hợp bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi hay hạn chế năng lực

hành vi dân sự Người chưa thành niên là người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ ì 8

tuổi, chỉ được thực hiện giao dịch khi có sự đồng ý của người đại diện theo

pháp luật trừ những giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi Riêng đối với những người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi được tham gia những giao dịch trong phạm vi tài sản riêng của mình

Đối với chủ thể là tổ chức (pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác), chủ thể tham gia giao dịch dân sự thông qua người đại diện (là đại diện theo pháp luật hoặc theo uỷ quyền)

Chủ thể giao kết HĐDVPL giữa bên thuê dịch vụ là khách hàng (cá nhân hoặc tổ chức nói chung) và bên cung ứng dịch vụ pháp lý là một cá nhân Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân (từ ngày 01/01/2007, khi Luật luật sư

có hiệu lực) hoặc Luật sư hành nghề trong một tổ chức hành nghề Luật sư

Trang 29

(như Văn phòng Luật sư hay Công ty Luật), nên ngoài những quy định chung

về năng lực của chủ thể theo quy định về HĐDS, năng lực chủ thể của cá nhân trong HĐDVPL cũng có những đặc trưng cơ bản sau:

Bên thuê dịch vụ trong HĐDVPL thường được gọi chung là khách

hàng Trong HĐDV tư vấn pháp luật và HĐDV tranh tụng, khách hàng đa phần là những người đã thành niên vì đối tượng của các hợp đồng này có tính chất phức tạp, liên quan đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân, thậm chí liên quan đến sức khỏe và tính mạng của con người

Riêng trong HĐDV tranh tụng về hình sự, khách hàng ]à những Bị can khi bị khởi tố đối với hành vi phạm tội; Bị cáo khi bị Tòa án đưa ra xét xử; Người bị hại trong vụ án, Nguyên đơn, Bị đơn dân sự trong vụ án hình sự Những người đã Ihành niên (từ đủ 18 tuổi trở lên theo luật định) có quyền được độc lập ký kết HĐDV tranh tụng để thuê Luật sư tham gia tố tụng, bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình trong vụ án hình sự Đối với những Bị can, Bị cáo chưa thành niên mà không yêu cầu trợ giúp pháp lý chỉ định Luật sư thì gia đình Bị can, Bị cáo (là người đại diện theo pháp luật) yêu cầu mời Luật sư thông qua HĐDV tranh tụng Đối với những vụ án hình sự

mà người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo là những người đã thành niên nhưng trong thời gian bị tạm giam, tạm giữ tại cơ quan Công an thì không thể tự liên lạc được với Luật sư Vì vậy, chủ thể trực tiếp giao dịch ký kết HĐDVPL với Luật

sư là những đối tượng khác như: người thân trong gia đình (bố mẹ, anh chị

em, cô dì chú bác), bạn bè, đồng nghiệp là chủ thể trực tiếp giao kết HĐDV tư vấn hoặc HĐDV tranh tụng để thuê Luật sư tham gia tố tụng bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo tại cơ quan tài phán Đây là trường hợp HĐDVPL được giao kết vì lợi ích của người thứ ba

Trong HĐDV tranh tụng về phi hình sự (gồm có án lao động, thương mại, dân sự, hôn nhân và gia đình), chủ thể giao kết HĐDVPL có thể là Nguyên đơn - người đi khởi kiện, Bị đơn - người bị kiện hoặc người có quyền

Trang 30

lợi, nghĩa vụ liên quan Tất cả những chủ thể nêu trên được gọi chung là đương sự Khi cần Luật sư tư vấn hoặc Luật sư tham gia tố tụng bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của mình tại cơ quan tài phán, các đương sự ký kết HĐDV tranh tụng thuê Luật sư tham gia tố tụng bảo vệ cho mình Đối với những đương sự là người chưa thành niên mà không có tài sản riêng để độc lập giao kết HĐDVPL (từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi) thì phải thông qua người đại diện theo pháp luật để ký HĐDV tranh tụng

Đối với những khách hàng là một pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình thì chủ thể tham gia ký kết HĐDVPL là người đại diện theo pháp luật hoặc theo

uỷ quyền

Theo qui định tại Điều 141 BLDS năm 2005, người đại diện theo pháp luật gồm:

- Cha, mẹ đối với con chưa thành niên;

Người giám hộ đối với người được giám hộ;

- Người được Toà án chỉ định đối với người bị hạn chê năng lực hành

vi dân sự;

- Người đứng đầu pháp nhân theo quy định của điều lệ pháp nhân hoặc quyết định của cơ quan nhà nước cố thẩm quyền;

- Chủ hộ gia đình đối với hộ gia đình;

- Tổ trưởng tổ hợp tác đối với tổ hợp tác;

- Những người khác theo quy định của pháp luật.

Bền cung ứng dịch vụ trong HĐDVPL luôn là Luật sư Luật sư cung cấp

dịch vụ pháp lý thông qua một tổ chức hành nghề Luật sư hoặc với tư cách cá nhân kể từ ngày 01/01/2007 Trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội nước

ta hiện nay, Luật sư đã bước đầu được đánh giá là những người hành nghề chuyên nghiệp về pháp luật có vai trò quan trọng trong việc tư vấn pháp luật

và tham gia tố tụng bảo vệ công lý và bảo vệ pháp chế XHCN

Trang 31

Về khái niệm Luật sư, hiện nay chưa có một khái niệm hoàn chỉnh Trên thực tế tồn tại nhiều tên gọi khác nhau cho nhóm người hoạt động trong

lĩnh vực dịch vụ pháp lý và bào chữa tại Tòa, trong đó khái niệm “luật gia” và

“luật sur” vẫn gây ra nhầm lẫn v ề khái niệm “luật gia”, theo cuốn Đại từ điển

tiếng Việt năm 1999 đưa ra khái niệm “luật gia là người chuyên nghiên cứu

pháp ỉuật”\ Theo Điều lệ của Hội luật gia Việt Nam thông qua ngày

26/5/1993, luật gia được hiểu là người đã hoặc đang làm công tác pháp luật

trong các cơ quan nhà nước, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức kinh tế xã hội, trong lực lượng vũ trang nhân dân, tán thành Điều lệ Hội, tự nguyện và tích cực tham gia hoạt động cho Hội.

Luật sư là “người có chức trách dùng pháp luật bào chữa cho Bị can

trước Tòa árí\ khái niệm do các tác giả của Trung tâm ngôn ngữ và văn học

Việt Nam thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo giải nghĩa; nhiều nhóm tác giả lại

giải nghĩa “Luật sư là trạng sư, người bệnh vực cho một can phạm trước Tòa

árt”; theo giải thích của các tác giả trong cuốn sách Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự, Luật sư là người hoạt động bào chữa chuyên nghiệp, hoạt động trong Đoàn Luật sư; trong cuốn Tập bài giảng đào tạo luật sư, Luật sư

được định nghĩa là thành viên của tổ chức luật sư, luật sư là người có kiến

thức và hiểu biết trong lĩnh vực luật pháp Bằng kiến thức này, luật sư trở thành người trợ giúp, tư vấn pháp luật cho tất cả các công dân trong xã hội trong việc thực hiện và bảo vệ các quyền công dân của mình [31, tr 40] Tại

khoản 1 Điều 1 Pháp lệnh luật sư năm 2001 qui định: “Luật sư là người có đủ

điểu kiện hành nghề theo quy định của Pháp lệnh này và tham gia hoạt động

tố tụng, thực hiện tư vấn pháp luật, các dịch vụ pháp lý khác theo yêu cầu của các cá nhân, tổ chức nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ theo qui định của pháp luật” Tuy nhiên định nghĩa này chưa làm rõ được về mặt lý

Trang 32

luận địa vị pháp lý của Luật sư trong hệ thống cơ quan tư pháp và trong đời sống xã hội.

Theo quan điểm của riêng tác giả, Luật sư là một chức danh tư pháp

được hành nghề độc lập khi cố đủ điều kiện theo quy định của pháp luật nhằm cung cấp các dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của khách hàng góp phần bảo vệ công bằng xã hội Khái niệm này đã khẳng định được đặc trưng hoạt động độc

lập và vai trò của Luật sư

Để trở thành một Luật sư có đủ tư cách hoạt động hành nghề theo quy định của pháp luật, tại Điều 10 Luật luật sư năm 2006 qui định tiêu chuẩn để

trở thành Luật sư là: “Công dân Việt Nam trung thành với TỔ quốc, tuân thủ

Hiến pháp và pháp luật, cố phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề Luật sư, đã có thời gian tập sự hành nghê Luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề Luật s ứ \

Như vậy, trước tiên để trở thành một Luật sư, người đó cần phải tốt nghiệp chương trình đào tạo Luật tại một trường Đại học, sau đó qua chương trình đào tạo nghiệp vụ Luật sư tại cơ sở đào tạo nghề Luật sư Ở Việt Nam hiện nay là Học viện Tư pháp, nơi đào tạo các chức danh Tư pháp trong đó có đào tạo nghề Luật sư Học viên tham gia khoá học được đào tạo kỹ năng hành nghề Luật sư trong thời gian là 6 tháng Sau thời gian học tập lý thuyết và những kỹ năng cơ bản tại Học viện Tư pháp, người đó phải trải qua một thời gian tập sự hành nghề Luật sư để có điều kiện được tiếp xúc với công việc thực tiễn Theo quy định của Pháp lệnh Luật sư năm 2001, sau khi tốt nghiệp khoá đào tạo Luật sư, người đó đăng ký gia nhập một Đoàn luật sư, Đoàn luật

sư sẽ phân công Luật sư tập sự về các tổ chức hành nghề thuộc Đoàn luật sư

để tập sự trong thời gian là 24 tháng Luật sư tập sự được thực hành nghiệp vụ Luật sư và được trực tiếp tham gia các phiên toà quận, huyện để bào chữa, bảo

vệ quyền lợi hợp pháp cho Bị can, Bị cáo, các đương sự dưới sự hướng dẫn của một Luật sư chính thức Chế định tập sự của Luật sư tập sự có sự thay đổi từ

Trang 33

ngày 01/01/2007, khi Luật luật sư có hiệu lực pháp luật, Luật sư tập sự được đổi tên thành “tập sự hành nghề Luật sư” Trong thời gian tập sự, người tập sự hành nghề Luật sư không phải gia nhập Đoàn Luật sư mà tự liên hệ xin thẳng vào một tổ chức hành nghề Luật sư thuộc một Đoàn luật sư Thời gian tập sự hành nghề Luật sư được rút ngắn xuống còn 18 tháng Trong thời gian 18 tháng, người tập sự hành nghề Luật sư bị hạn chế trong việc tiếp xúc công việc hơn Luật sư tập sự quy định tại Pháp lệnh Luật sư năm 2001 Người tập sự hành nghề Luật sư đơn thuần là một người học việc, đi theo học một Luật sư chính thức nhưng không được độc lập tiếp xúc, giải quyết công việc tại các Toà cấp quận, huyện mà bắt buộc phải có Luật sư hướng dẫn đi kèm.

Sau khi hết thời gian tập sự, Luật sư tập sự phải tham gia một kỳ kiểm tra kết quả tập sự hành nghề Luật sư do Bộ Tư pháp tổ chức Trên cơ sở kết quả kiểm tra, Bộ Tư pháp cấp Chứng chỉ hành nghề Luật sư, Đoàn Luật sư cấp Thẻ luật sư chính thức Luật sư chỉ được hành nghề Luật sư khi đã được cấp Chứng chỉ hành nghề và Thẻ Luật sư

Trong HĐDVPL, Luật sư tập sự không được độc lập ký kết HĐDV tranh tụng mặc dù là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự Chỉ Luật sư đã đủ điều kiện hành nghề theo quy định của pháp luật mới được độc lập ký kết HĐDVPL vì với tính chất của nghề Luật sư - là một nghề độc lập, làm việc trên cơ sở uy tín cá nhân Luật sư phải tự chịu trách nhiệm đối với nội dung công việc đã ký kết Luật sư tập sự chỉ được giao kết HĐDV tư vấn pháp luật trong phạm vi công việc mà Luật sư tập sự có thể thực hiện được

2.1.2 Điều kiện về ý chí tự nguyên của chủ thê trong quan hệ HĐDVPL

Nguyên tắc tự do cam kết, thoả thuận trong giao dịch dân sự là tự do ý chí và tự do bày tỏ ý chí của các bên trong giao kết hợp đồng Ý chí là khả năng của cá nhân tự xác định mục đích và hướng hoạt động của mình Tuy nhiên, ý chí chỉ là động lực bên trong do vậy ý chí cần phải được biểu lộ bên

Trang 34

ngoài thông qua hình thức bày tỏ ý chí Tự do ý chí và bày tỏ ý chí là hai điều kiện cần và đủ để biểu hiện sự tự nguyện Mọi giao dịch dân sự nói chung chỉ có hiệu lực pháp luật khi các bên tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện, không bị cưỡng ép, đe doạ, lừa dối Yếu tố tự nguyện của các bên chủ thể tham gia hợp đồng là tuyệt đối, không ai được quyền áp đặt ý chí đối với các bên.

Trong HĐDVPL, bên thuê Luật sư và bên Luật sư hoàn toàn tự nguyện trong việc giao kết HĐDVPL Luật sư tự do giao kết HĐDVPL sau khi xem xét những thông tin, tài liệu mà khách hàng cung cấp và yêu cầu của khách hàng đối với công việc Luật sư cân nhắc khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng để quyết định giao kết HĐDVPL Trong trường hợp khách hàng yêu cầu cung cấp những dịch vụ pháp lý không thể làm được, đối tượng của hợp đồng

bị pháp luật cấm, trái đạo đức xã hội thì Luật sư có quyền từ chối giao kết hợp đồng Về phía khách hàng, sau khi tìm hiểu về uy tín nghề nghiệp của một tổ chức hành nghề Luật sư hoặc một cá nhân Luật sư và những yêu cầu từ phía Luật

sư, khách hàng có quyền tự do quyết định xác lập hay không xác lập hợp đồng

Trong quá trình đàm phán giao kết HĐDVPL, bên thuê Luật sư và bên Luật sư không được đưa ra những thông tin thiếu chính xác để bên đối phương tưởng lầm dẫn đến giao kết hợp đồng Bên thuê Luật sư phải cung cấp những thông tin chính xác, tài liệu và các phương tiện liên quan Thực tế có nhiều trường hợp, khách hàng tìm đến Luật sư nhưng không cung cấp đầy đủ thông tin cần thiết mà chỉ cung cấp những thông tin có lợi về phía mình, Luật sư quyết định giao kết HĐDVPL thực hiện công việc theo yêu cầu của khách hàng Trong quá trình thực hiện công việc, Luật sư mới phát hiện ra những thông tin được cung cấp là bất lợi hoặc xác minh thông tin là sai sự thật Đối với bên Luật sư, cung cấp dịch vụ pháp lý sai quy định pháp luật hay hứa hẹn kết quả công việc trước với khách hàng để tạo lòng tin nhưng thực tế công việc không đạt được hiệu quả như đã hứa là vi phạm nghiêm trọng Quy tắc đạo đức hành nghề Luật sư Những trường hợp nêu trên đã vi phạm yếu tố tự

Trang 35

nguyện của chủ thể trong giao kết HĐDVPL vì hai bên đã đưa thông tin không chính xác để tạo lòng tin cho đối phương xác lập hợp đồng.

Riêng HĐDV tranh tụng về hình sự được giao kết vì lợi ích của người thứ ba, mặc dù khách hàng và Luật sư tự nguyện và trực tiếp giao kết HĐDVPL song việc Luật sư có thực hiện được công việc hay không còn phụ thuộc vào sự đồng ý của chính người được hưởng lợi ích là người bị tạm giữ,

Bị can, Bị cáo Việc thực hiện công việc theo HĐDVPL đã giao kết của Luật

sư còn gặp khó khăn hơn khi họ chưa có điều kiện được tiếp xúc, giải thích vai trò của mình cho thân chủ hiểu nhưng đã bị những người tiến hành tố tụng khuyên thân chủ không nên mời Luật sư vì Luật sư không giúp được gì Vì vậy, thân chủ sẵn sàng viết giấy từ chối sự tham gia tố tụng của Luật sư Đây chính là khó khăn lớn trong công việc của Luật sư Như vậy, mặc dù hai bên chủ thể tự nguyện giao kết HĐDVPL nhưng công việc lại không thể thực hiện được

2.1.3 Điều kiện vê nội dung của HĐDVPL trong hành nghề Luật sư

Mục đích của hai bên giao kết hợp đồng chính là lợi ích hợp pháp mà hai bên hướng tới Lợi ích đó chỉ được thừa nhận khi không xâm phạm tới lợi ích của người khác và lợi ích chung của xã hội Mục đích giao kết HĐDV tư vấn pháp luật của khách hàng nhằm được cung cấp những thông tin về pháp luật Mục đích của giao kết HĐDV tranh tụng của khách hàng là nhằm được bảo vệ quyền lợi hợp pháp tại cơ quan tài phán Luật sư được nhận tiền thù lao

từ khách hàng khi hoàn thành công việc theo hợp đồng Từ mục đích nêu trên, hai bên thoả thuận với nhau những nội dung cơ bản của hợp đồng Nội dung của HĐDVPL không bị pháp luật cấm và không trái đạo đức xã hội Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung của con người trong đời sống xã hội đã được cộng đồng thừa nhận

Nội dung công việc thực hiện theo HĐDVPL của Luật sư cũng thể hiện một phần vai trò của Luật sư trong hoạt động tố tụng đó là góp phần bảo vệ

Trang 36

công lý, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa Toàn bộ những nội dung được thoả thuận trong HĐDVPL chỉ có hiệu lực khi tuân thủ các quy định của pháp luật

Vì vậy, những HĐDVPL được xác lập nhằm trốn tránh pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội thì không phát sinh hiệu lực với hợp đồng đó

2.1.4 Hình thức của HĐDVPL trong hành nghê Luật sư

Hình thức của HĐDVPL là phương thức biểu hiện nội dung của hợp đồng và là căn cứ để bảo đảm việc thực hiện đúng những cam kết trong hợp đồng Trong HĐDV tư vấn pháp luật, khách hàng có thể giao kết hợp đồng bằng miệng hoặc bằng văn bản Dịch vụ tư vấn miệng Jà rất phổ biến, khách hàng tìm đến với Luật sư và yêu cầu được cung ứng dịch vụ ngay Tính chất công việc được yêu cầu của khách hàng thường là đơn giản vì vậy không cần thiết phải giao kết họp đồng bằng văn bản Trong trường hợp, việc yêu cầu tư vấn có tính chất phức tạp hơn, thời gian để giải quyết xong công việc dài ngày thì hai bên ký kết hợp đồng bằng văn bản Đối với HĐDV tranh tụng, các bên phải ký kết hợp đồng bằng văn bản vì tính chất công việc rất phức tạp Với án hình sự, công việc liên quan đến sức khoẻ, tính mạng, uy tín, nhân cách của con người Còn với án phi hình sự, công việc liên quan đến quyền sở hữu tài sản, quyền nhân thân của cá nhân, tổ chức Hơn nữa, công việc phải thực hiện trong HĐDV tranh tụng thường kéo dài hàng tuần, hàng tháng, thậm chí hàng năm phụ thuộc vào thời hạn tố tụng theo quy định của pháp luật Vì vậy, hai bên phải ký kết hợp đồng bằng văn bản để đảm bảo việc thực hiện hợp đồng Trong những trường hợp tính chất công việc đặc biệt phức tạp, HĐDVPL phải được công chứng, chứng thực theo qui định

Như vậy, có thể khẳng định HĐDVPL chỉ có hiệu lực khi đã đáp ứng đủ bốn điều kiện nêu trên Kể từ thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng, tất cả những cam kết trong hợp đồng buộc phải được thực hiện đúng và đầy đủ

Trang 37

2.2 Nội dung của HĐDVPL trong hành nghề Luật sư

Nội dung của HĐDVPL là sự tổng hợp các điều khoản mà các bên chủ thể tham gia giao kết hợp đồng thoả thuận Các điều khoản đã thoả thuận xác định những quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng HĐDVPL có những điều khoản cơ bản mà buộc các bên phải thoả thuận, nếu những điều khoản cơ bản này không được thoả thuận thì coi như HĐDVPL không được giao kết

2.2.1 Quyền và nghĩa vụ của bên Luật sư

2.2.1.1 Quyền của bên Luật sư

Thứ nhất, Luật sư có quyền yêu cầu bên thuê Luật sư phải cung cấp

thông tin, tài liệu và phương tiện để thực hiện dịch vụ pháp lý Khách hàng là bên chủ động tìm đến Luật sư yêu cầu thực hiện dịch vụ pháp lý qua những tìm hiểu về kỹ năng hành nghề và uy tín của mỗi Luật sư hay một tổ chức hành nghề Luật sư Để thực hiện được công việc, khách hàng phải cung cấp những thông tin, tài liệu ban đầu liên quan đến công việc, từ đó đưa ra yêu cầu

cụ thể của mình đối với công việc, Luật sư không thể thực hiện dịch vụ pháp

lý khi chưa biết thông tin gì về đối tượng của dịch vụ pháp lý sẽ thực hiện Vì vậy, thông qua việc tiếp xúc ban đầu với khách hàng, Luật sư có quyền yêu cầu khách hàng trình bày nội dung vụ việc Trong trường hợp khách hàng không thể tự trình bày nội dung công việc một cách hệ thống, đầy đủ, Luật sư chủ động đặt những câu hỏi gợi mở cho khách hàng để khách hàng cung cấp những thông tin đầy đủ nhất Trong trường hợp những thông tin đã được khách hàng cung cấp chưa đầy đủ để Luật sư thực hiện dịch vụ, Luật sư có quyền yêu cầu khách hàng tiếp tục cung cấp những tài liệu, phương tiện liên quan (nếu có) Việc cung cấp thông tin, tài liệu và phương tiện của khách hàng rất quan trọng cho việc thực hiện dịch vụ pháp lý của Luật sư Nếu khách hàng không cung cấp đầy đủ tài liệu, thông tin, hoặc cung cấp đầy đủ nhưng không trung thực có thể dẫn đến việc thực hiện dịch vụ pháp lý của Luật sư không có hiệu quả Trong trường hợp này, khách hàng phải tự chịu trách nhiệm về kết

Trang 38

quả dịch vụ pháp lý khi không đáp ứng đủ yêu cầu cung cấp thông tin của Luật sư.

Thứ hai, Luật sư được thay đổi điều kiện dịch vụ vì lợi ích của bên thuê

Luật sư mà không nhất thiết phải chờ ý kiến của bên thuê Luật sư nếu việc chờ

ý kiến của bên thuê Luật sư sẽ gây thiệt hại cho bên thuê Luật sư Trong quá trình thực hiện dịch vụ pháp lý, bên Luật sư hoàn toàn độc lập chuẩn bị những phương tiện, kỹ thuật như phương tiện đi lại, máy ảnh, máy ghi âm và lên phương án để thực hiện dịch vụ pháp lý đã giao kết HĐDVPL Đây cũng chính là một đặc trưng của hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý, Luật sư bằng những kiến thức pháp luật, kinh nghiệm nghề nghiệp của mình được hoàn toàn chủ động, tự do lên phương án thực hiện dịch vụ pháp lý để đạt được hiệu quả công việc tốt nhất cho khách hàng Do vậy, trong trường hợp cần thiết, Luật sư

có thể thay đổi điều kiện dịch vụ cho phù với khả năng của mình với điều kiện việc thay đổi đó không phương hại đến lợi ích của khách hàng nhưng phải thông báo ngay cho khách hàng Hoạt động hành nghề của Luật sư là tự do nhưng luôn phải nhằm hướng tới bảo vệ lợi ích của khách hàng Luật sư không được thay đổi điều kiện dịch vụ nếu việc thay đổi đó không mang lại lợi ích hay không nhằm đảm bảo lợi ích của khách hàng

Thứ ba, Luật sư có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng khi

có dấu hiệu gây hại cho khách hàng nếu tiếp tục thực hiện dịch vụ Luật sư là những chuyên gia về pháp lý trực tiếp thực hiện công việc vì vậy Luật sư có thể tìm hiểu, phát hiện những điểm còn chưa đầy đủ chứng cứ, cơ sở pháp luật còn yếu, nhìn thấy trước những hậu quả của việc tiếp tục thực hiện dịch vụ pháp lý mà bên khách hàng không biết hoặc không thể lường hết hậu quả Luật sư phải độc lập, kiên quyết không tiếp tục thực hiện dịch vụ pháp lý chỉ

để làm vừa lòng khách hàng Luật sư cần phải giải thích cho khách hàng biết

sự cần thiết phải chấm dứt hợp đồng để bảo vệ lợi ích của khách hàng mặc dù bên khách hàng không đồng ý chấm dứt hợp đồng Đây là một quyền của Luật

Ngày đăng: 24/01/2021, 20:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w