1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giấy tờ có giá một loại tài sản trong quan hệ pháp luật dân sự

76 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 6,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, với mong muốn tìm hiểu những vấn đề pháp lý của giấy tờ có giá để góp phần làm rõ tính đặc thù của giấy tờ có giá giúp cho việc xây dựng các quy định pháp lý cho giấy tờ có giá d

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ ANH THƠ

Trang 3

Tôi xin trân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo đ ã trang bị cho tôi những kiến thức quí báu trong quá trình đào tạo tại Trường Đại học Luật H à N ội, cảm ơn các bạn bề và đồng nghiệp đ ã giúp đỡ, động viên và cung cấp nhiều thông tin, tài liệu có liên quan cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn.

Những lời cảm ơn trân trọng nhất của tôi xin được gủi đến Thầy giáo

TS Đ inh Trung Tụng, người đ ã tận tình hướng dẩn tôi hoàn thành bản luận văn này.

Trang 4

Lời nói đ ầ u 1

Chương 1: Một sỗ vân đề lý luận về giấy tờ có g iá 6

* • 1 ■ Khái niệm tài sản và phân loại tài s ả n 6

l-l-l- Khái niệm tài s ả n 6

1.1.2 Phân loại tài s ả n 11

^ 2 ^ Khái niệm giấy tờ có giá và các loại giấy tờ có g iá 12

1-2-1- Khái niệm, đặc điểm giấy tờ có g iá 12

1.2.1.1 Khái niệm giấy tờ có g iá 12

1.2.1.2 Đặc điểm giấy tờ có g i á 15

1.2.2 Các loại giấy tờ có g i á 15

1.2.2.1 Các loại giấy tờ có giá theo nghĩa rộng \ 15

1.2.2.2 Giấy tờ có giá với tư cách là một loại tài sản trong pháp luật dân sự 18

1-3 Phân biệt giấy tờ có giá và các loại tài sản khác> 19

1.3.1 Giấy tờ có giá và v ậ t 19

1.3.2 Giấy tờ có giá và tiề n 20

1.3.3 Giấy tờ có giá và quyền tài s ả n 20

1.4 Khái quát sự hình thành và phát triển của giấy tờ có giá và pháp luật về giấy tờ có g i á 21

Chương 2: Giấy tờ có giá trong quan hệ pháp luật dân s ự 26

2.1 Chủ thể phát hành giấy tờ có giá 26

2.2 Chủ sở hữu giấy tờ có giá 31

2.3 Nội dung quyền sở hữu giấy tờ có g iá 33

2.3.1 Quyền chiếm h ữ u 34

2.3.2 Quyền sử d ụ n g 36

2.3.3 Quyền định đ o ạ t 37

2.4 Một số giao dịch liên quan đến giấy tờ có g iá 37

Trang 5

hoàn t h iệ n 48

3.1 Thực trạng pháp luật về giấy tờ có g i á 483.2 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về giấy tờ có g iá 593.2.1 Yêu cầu của việc hoàn thiện các quy định pháp luật về giấy tờ

có g i á 593.2.2 Một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về giấy

tờ có g iá 62

Kết lu ậ n 67

Danh mục tài liệu tham k hảo 69

Trang 6

Bộ luật dân sự của Cộng hoà Pháp, năm 1804

Bộ luật dân sự của Việt Nam, năm 1995

Bộ luật dân sự của Việt Nam, năm 2005Luật các công cụ chuyển nhượng, năm 2005Luật ngân hàng Nhà nước Việt Nam, năm 1997 Công ước về Công nhận và Thi hành Quyết định Trọng tài nước ngoài

Công hoà xã hội chủ nghĩa Viêt Nam

Trang 7

1 Tính cấp thiết của luận văn

Pháp luật V iệt N am được xây dựng trên nguyên tắc bảo vệ tốt nhất có thể các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Đ ặc biệt là khi nền kinh tế chuyển từ cơ c h ế quản lý tập trung sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, có sự điều tiết của N hà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thì các quan hệ dân sự được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả kinh doanh, thương

m ại ngày càng phát triển, nhu cầu phải được pháp luật điều chỉnh nói chung

và nhất là đối với tài sản nói riêng thông qua các quy định của pháp luật với những ch ế tài hữu hiệu ngày càng trở nên cấp thiết

Tài sản, theo Đ iều 163 BLDS 2005 bao gồm: Vật, tiền, giấy tờ cố giá

và các quyền tài sản G iấy tờ có giá - dưới góc độ kinh tế được điều chỉnh ở

nhiều văn bản pháp luật m à gần đây nhất, Luật Các công cụ chuyển nhượng

đã được Q uốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa V iệt N am thông qua ngày 29/11/2005 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2006), Luật Chứng khoán được Quốc hội thông qua ngày 29/06/2006 (có hiệu lực từ 01/7/2007) và các đạo luật khác đã cho thấy sự bảo hộ, khuyến khích việc hình thành, phát triển và sử dụng các loại giấy tờ có giá trong đời sống kinh tế xã hội của đất nước

Tuy nhiên, giấy tờ có giá được xác định là loại tài sản có tính chất đặc biệt, là đối tượng trong giao lưu dân sự, là m ột công cụ không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường nhưng lại thiếu những quy định cụ thể dẫn đến có nhiều cách hiểu không thống nhất về bản chất pháp lý của giấy tờ có giá Trong các văn bản pháp luật vừa thiếu tính đồng nhất về khái niệm giấy tờ có giá, vừa thiếu nội dung cơ bản của khái niệm , gây khó khăn khi áp dụng pháp luật

Trang 8

Vì vậy, với mong muốn tìm hiểu những vấn đề pháp lý của giấy tờ có giá để góp phần làm rõ tính đặc thù của giấy tờ có giá giúp cho việc xây dựng các quy định pháp lý cho giấy tờ có giá dưới góc độ là một loại tài sản trong pháp luật dân sự Việt Nam, nhận thấy rằng nghiên cứu giấy tờ có giá với tư cách là m ột loại tài sản trong quan hệ pháp luật dân sự là cần thiết.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài.

Giấy tờ có giá đã được nghiên cứu dưới góc độ tín dụng ngân hàng (tín dụng giữa các ngân hàng với khách hàng) Có nhiều tác giả đã nghiên cứu nội hàm của từng loại giấy tờ có giá dưới dạng các công cụ thanh toán, tức là nghiên cứu giấy tờ có giá trong m ột số hình thức cụ thể (cổ phiếu, hối phiếu, lệnh phiếu hay séc )- Dưới góc độ pháp luật kinh tế, giấy tờ có giá đã được

đề cập một phần trong một số luận án, luận văn, các bài viết của một số tác giả Có thể kể đến một số nghiên cứu cụ thể sau:

- Luận án Thạc sỹ luật học của tác giả Đoàn Thái Sơn, bảo vệ thành công

năm 1999, nghiên cứu về: “Những vấn đ ề cơ bản trong viêc xây dưng và

hoàn thiện pháp luật về thương phiếu ở Việt N a m ”.

- Luận án Thạc sỹ luật học của tác giả Phạm Thị Giang Thu, bảo vệ thành

công năm 1997, nghiên cứu về: “M ộí s ố vấn đê vê khung pháp luật cho thị

trường chứng khoán Việt N am ”.

- Bài viết về M ột s ố vấn đ ề pháp lý cơ bản v ề thương phiếu và việc áp dụng

nó ở Việt N am , đăng trên tạp chí Luật học số 4, năm 2000.

Bên cạnh đó, giấy tờ có giá còn được nghiên cứu dưới góc độ là một công cụ đầu tư trong các bài nghiên cứu - trao đổi được đăng tải trong một số tạp chí chuyên ngành về tài chính Có thể kể đến như:

Trang 9

- Bài tìm hiểu về Hệ thống thông tin thị trường chứng khoán của tác

giả Lê Thị Hằng Ngân - Học viện tài chính, đăng trên tạp chí Thông tin Tài chính số 19, tháng 10/2005

- Bài viết: “C ổ phiếu ngân hàng - hấp dẫn nhà đầu tư?” của tác giả

Song M inh đăng trên tạp chí Thông tin Tài chính số 5, tháng 3/2005

Ngoài ra, còn có m ột số bài báo cũng đề cập một vài nội dung nhỏ lẻ,

ở mức độ liên quan nhất định đến các loại giấy tờ có giá

Tuy nhiên, Vì những mục đích nghiên cứu khác nhau, các công trình nghiên cứu và những bài viết trên mới chỉ đề cập đến m ột số loại giấy tờ có giá trong nền kinh tế thị trường, xem xét nó như là những công cụ tài chính

mà chưa xem xét nó dưới góc độ là một tài sản trong giao lưu dân sự Khi nói đến giấy tò có giá là người ta đề cập đến m ột tài sản tài chính có thể mua đi bán lại, chuyển nhượng, cầm cố, thế chấp, chiết k h ấ u , nó khác với các loại giấy tờ minh chứng cho quyền tài sản thông thường

Như vậy, cho đến nay có thổ nói chưa có nghiên cứu chi tiết nào xem xét một cách toàn diện và chuyên sâu về giấy tờ có giá dưới góc độ là một loại tài sản trong quan hệ pháp luật dân sự, việc nghiên cứu bản chất pháp lý của giấy tờ có giá cho phép khắc phục những hạn chế về nội dung và sự chung chung trong các quy định của pháp luật Vì vậy, đây chính là điều thúc đẩy việc lựa chọn đề tài nghiên cứu được đề cập tại luận văn này

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài.

Mục đích nghiên cứu đề tài nhằm làm sáng tỏ m ột số vấn đề lý luận về giấy tờ có giá; đánh giá thực trạng các quy định về giấy tờ có giá và thực tiễn

áp dụng các quy định đó; trên cơ sở đó đề xuất m ột số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này

Trang 10

T ừ m ụ c đích nêu trên, luận văn đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứii sau:

- Đưa ra khái niệm giấy tờ có giá dưới góc độ là một loại tài sản trong quan hệ pháp luật dân sự

- Nghiên cứu về lịch sử hình thành giấy tờ có giá, chức năng của nó

- So sánh đặc điểm pháp lý của giấy tờ có giá với vật; giấy tờ có giá với tiền; giấy tờ có giá với quyền tài sản

- Tìm hiểu giấy tờ có giá trong pháp luật của một số nước trên thế giới

- N ghiên cứu m ột số giao dịch liên quan đến giấy tờ có giá

- Đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về giấy tờ có giá

4 Phạm vi nghiên cứu.

Tập trung phân tích, đánh giá bản chất pháp lý của giấy tờ có giá trên

cơ sở quy định của Bộ luật Dân sự 2005 và các văn bản pháp luật có liên quan, trong đó có pháp luật về thương mại, ngân hàng, chứng khoán Đồng thời, nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về vấn đề này, từ đó phát hiện những tổn tại, bất cập để có hướng khắc phục

5 Phương pháp nghiên cứu.

Luận văn được xây dựng trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa M ác-Lê nin để làm sáng tỏ các vấn đề pháp lý trong mối liên hệ với các vấn đề kinh tế, xã hội Ngoài ra, để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn còn sử dụng m ột cách kết hợp các phương pháp nghiên cứu truyền thống như: Hệ thống, so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp

Trang 11

6 Những nghiên cứu mới của luận văn

Qua quá trình tìm hiểu pháp luật Việt Nam và thực tiễn áp dụng pháp luật trong quan hệ dân sự liên quan đến giấy tờ có giá, luận văn có được một

số điểm mới sau:

- Luận văn trình bày một cách khoa học và có hệ thống những vấn đề

cơ bản về giấy tờ có giá dưới góc độ là một loại tài sản trong quan hệ pháp luật dân sự

- Luận văn phân tích, đánh giá thực trạng các quy định hiện hành về giấy tờ có giá và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật liên quan đến giấy tờ có giá

- Luận văn đề xuất các phương hướng hoàn thiện pháp luật về tài sản nói chung và giấy tờ có giá nói riêng nhằm góp phần xây dựng những quy định về giấy tờ có giá mang tính khả thi

7 Bố cục và nội dung cơ bản của luận văn

Ngoài Phần m ở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được bố trí theo kết cấu ba phần chính như sau:

CHƯƠNG 1: Một số vấn đề lý luận về giấy tờ có giá

CHƯƠNG 2: Giấy tờ có giá trong quan hệ pháp luật dân sự

CHƯƠNG 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về giấy tờ có giá và một

số kiến nghị

Trang 12

MỘT SỐ VÂN ĐỂ LÝ LUẬN VỂ GIẤY TỜ CÓ GIÁ

Trong đời sống kinh tế-xã hội, nếu tài sản luôn được coi là điều kiện vật chất để duy trì các hoạt động trong lĩnh vực kinh tế và trong đời sống của con người thì sự sự tồn tại của các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan

hệ liên quan đến tài sản lại được coi là điều kiện cần thiết để giải quyết các tranh chấp liên quan đến các tài sản đó Tuy nhiên, trải qua các giai đoạn, vật nào được xem là tài sản như nô lệ, đất đai, các sản phẩm của tư tưởng, của trí

tu ệ là thể hiện sự phát triển văn minh của xã hội loài người Trong BLDS

2005, tài sản được quy định trong Điều 163 bao gồm: “Vậí, tiền, giấy tờ có

giá và các quyền tài s ả r ì\ Trong bối cảnh hệ thống pháp luật Việt Nam đang

có nhiều thay đổi để theo kịp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, các khảo cứu mang tính lý luận về tài sản nói chung và giấy tờ có giá nói riêng trong chương này sẽ là tiền đề cần thiết cho việc xem xét bản chất pháp lý của giấy

tờ có giá với tư cách là một loại tài sản trong pháp luật dân sự

1.1 Khái niệm tài sản và phản loại tài sản

1.1.1 Khái niệm tài sản

Khái niệm tài sản chắc đã cổ xưa như chính lịch sử loài người Từ hàng nghìn năm nay, pháp luật về tài sản của các quốc gia đã hình thành dựa trên các tập quán, lối suy nghĩ và hành động khác nhau Luật tài sản phương Tây hiện đại có lẽ khởi nguồn từ cổ luật La Mã Từ cuộc cách m ạng công nghiệp cuối thế kỷ XVII, người ta đã tạo ra các quy định và thiết chế mới về tài sản đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế tư bản, mà vẫn dựa trên những tư duy cổ xưa, mang đậm dấu ấn của luật tục Chính vì vậy, nếu pháp luật về hợp đồng,

Trang 13

thương mại, séc, hối phiếu, tín dụng của các quốc gia đã có xu hướng hài hoà hoá với những quy chuẩn nhất định, thì pháp luật về tài sản vẫn vô cùng đa dạng và rất khó hoà đồng [7, tr 42].

Hiện nay, luật tư được các học giả thừa nhận là một ngành luật cơ bản, trong sự khác biệt với luật công, luôn luôn gắn bó với đời sống của con người Được sinh ra từ mối quan hệ cơ bản và bình thường của con người từ thời thượng cổ, nó ít bị biến đổi theo các trào lưu chính trị mà chỉ tự làm cho

m ình phù hợp với các hoàn cảnh xã hội cụ thể bằng cách bồi đắp hay cập nhật thêm những điểm mới hoặc gọt giũa đi những điểm đã già cỗi nhưng cái gốc của nó vẫn nguyên vẹn như thủa mới sinh

Luật dân sự - nền tảng căn bản của luật tư mà ở đó Nhà nước chỉ đóng vai trò trọng tài - có liên quan tới con người, tới hành vi của con người và quan hệ của con người đối với nhau liên quan đến tài sản Trong các hệ thống pháp luật, thông thường người ta mượn các khái niệm và các giải pháp của Luật La Mã để giải quyết các mối quan hệ đó Tuy nhiên, về kỹ thuật pháp điển hoá hay ứng dụng cụ thể, các hệ thống pháp luật có thể có những cách lựa chọn khác nhau

Chính vì tài sản là công cụ của đời sống xã hội nên khái niệm về tài sản không phải là một khái niệm thuần tuý có tính cách học thuật mà là một khái niệm có tính mục đích rất cao Nó là m ột khái niệm động, khái niệm này phải đáp ứng được các nhu cầu cần thiết của xã hội và không thể xem xét

nó tách rời các giá trị xã hội [1]

Dưới góc độ luật học, khi nghiên cứu m ột vấn đề, chúng ta không thể

bỏ qua các khái niệm pháp iý về vấn đề đó được thể hiện qua pháp luật thực định Như vậy, không thể không nghiên cứu về khái niệm tài sản trước khi đi

Trang 14

vào nghiên cứu nội hàm của nó Và, muốn nghiên cứu vấn đề này, trước hết cần phải khảo sát các quan niệm về tài sản.

BLDS 1804 của Pháp, một công trình pháp điển hoá hiện đại đầu tiên trên thế giới, đã không đưa ra một định nghĩa cụ thể nào về tài sản Nhưng theo các đặc tính căn bản của pháp luật La M ã - Đức về việc giải thích các quy tắc pháp lý hay khái niệm pháp lý, người ta có thể hiểu được rằng: Tài sản nói trong Bộ luật này bao gồm hai loại là bất động sản và động sản, mà trong đó bất động sản được chia thành bất động sản do tính chất, bất động sản do mục đích sử dụng và bất động sản do có đối tượng gắn liền với nó; và động sản bao gồm động sản do tính chất và động sản do luật định Quyển thứ hai của Bộ luật này đã toát lên rằng, tài sản bao gồm vật, các vật quyền và các tố quyền nhằm đòi lại tài sản

Tuy nhiên, trong BLDS của Pháp có sự phân biệt giữa tài sản và sản nghiệp nhưng khái niệm sản nghiệp không được nhắc tới ở luật thực định mà chỉ được nói tới trong các học thuyết Nó là một tập hợp các tài sản có và tài sản nợ, có nghĩa là một hệ thống các quan hệ về tài sản thuộc một ai đó [1]

Dựa vào hình mẫu của BLDS 1804, BLDS của Q uébec (Canada) xác định: “tài sản, hoặc hữu hình hoặc vô hình, được chia thành bất động sản và động sản” (Điều 899) Căn cứ vào các quy định này, tài sản bao gồm bốn phân loại chính là: Bất động sản hữu hình, động sản hữu hình, và bất động sản vô hình, động sản vô hình Ở đây, tài sản hữu hình là các vật chất liệu, còn tài sản vô hình liên quan tới các quyền Các luật gia Canađa cho rằng Quyển thứ hai của BLDS này nói về luật tài sản mà chủ yếu là các quyền đối với vật chất liệu, tức là các vật quyền

Trang 15

BLDS Đức năm 1900 bằng một kỹ thuật pháp điển hoá khác với hình mẫu của Pháp đã tách những vấn đề pháp lý chung nhất của luật dân sự để tập hợp trong quyển I của Bộ luật này mang tên phần chung, bao gồm 240 điều mà trong đó có m ột chương nói về vật Tiếp đó bộ luật này còn chứa đựng Quyển III về luật tài sản quy định chi tiết các vật quyền Tuy không có định nghĩa cụ thể về tài sản trong Bộ luật này, nhưng người ta có thể hiểu rằng, tài sản theo nghĩa pháp lý không chỉ là vật chất liệu, mà chủ yếu là các quyền [1].

Theo hình mẫu này, Nhật Bản đã cấu tạo một chương riêng trong Quyển I của BLDS 1896 nói về vật, và dành Q uyển II nói về các vật quyền

Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy rằng, các nước thuộc Họ pháp luật

La M ã-Đức dù tiếp nhận luật thống nhất ở châu Âu lục địa bằng cách nào đi nữa, thì vẫn có quan niệm, vật chất không phải là tiêu chuẩn tối cao của luật tài sản, mà nói tới luật tài sản là nói tới các vật quyền Vậy, vật quyền là một

bộ phận quan trọng của khái niệm tài sản

Những nhận thức trên của Họ pháp luật La Mã-Đức không khác quá

xa với nhận thức của Họ pháp luật Anh - Mỹ Các luật gia Hoa Kỳ cho rằng, tài sản là các quyền giữa mọi người có liên quan tới vật, hay nói cách khác, bao gồm m ột hệ thống các quyền được thừa nhận về mặt pháp lý do ai đó thủ đắc trong mối liên hệ với những người khác m à liên quan tới vật

BLDS Nga, Điều 128 quy định: “các đối tượng của Luật dân sự bao gồm toàn bộ các vật, kể cả tiền và các giấy tờ trị giá bằng tiền, các tài sản khác trong đó có quyền tài sản, các công việc và dịch vụ, thông tin, kết quả của hoạt động trí óc, kể cả các quyền sở hữu trí tuệ và các tài sản vô hình” Điều 132, khoản 1 quy định: “Doanh nghiệp với tư cách là m ột tổng thể tài

Trang 16

sản cũng được coi là bất động sản” Quy định này thể hiện quan điểm theo đó bất động sản là những tài sản quý giá nhất [8, tr 271].

Trong BLDS Việt Nam 2005, Điều 163 xác định: “ Tài sản bao gồm

vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài s ả r ì\ Trong đó, quyền tài sản được

định nghĩa tại Điều 181: “ Là quyền trị giá được bằng tiền và có th ể chuyển

giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ” Các điều từ Điều

164 đến Điều 173 quy định các vấn đề liên quan đến quyền sở hữu đối với tài sản

Như vậy, tài sản - với tính cách là khách thể của quyền sở hữu, nó có thể là đối tượng của thế giới vật chất hoặc là kết quả của các hoạt động sáng tạo tinh thần Trong đó, vật được hiểu là đối tượng của thế giới vật chất theo nghĩa rộng bao gồm cả động vật, thực vật, vật với ý nghĩa vật lý ở mọi trạng thái (rắn, lỏng, khí) Tuy nhiên, chỉ khi đáp ứng được một nhu cầu vật chất nào đó của con người và phải nằm trong sự chiếm hữu của con người, có đặc trưng giá trị và trở thành đối tượng của giaơ lưu dân sự thì vật đó mới được coi là tài sản Được xác định là tài sản không chỉ những vật tồn tại hiện hữu

mà còn bao gồm cả những vật chắc chắn sẽ có (vật hình thành trong tương lai) Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, khái niệm vật trong khoa học pháp lý cũng được mở rộng (chẳng hạn như phần mềm trong

m áy tính cũng được coi là vật) [6]

Tiền và giấy tờ có giá cũng được xác định là những loại tài sản có tính chất đặc biệt M ỗi loại có những đặc điểm pháp lý riêng, chúng khác nhau và khác với các loại tài sản khác

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế-xã hội, nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội

Trang 17

chủ nghĩa ở nước ta, phạm vi tài sản với tính cách là khách thể của quyền sở hữu là không hạn chế Chúng bao gồm toàn bộ các tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng trong xã hội N ghĩa là quyền sở hữu có thể được xác lập với bất kỳ

m ột loại tài sản nào, miễn là pháp luật không cấm lưu thông dân sự

Khái niệm về tài sản trong BLDS mang tính chất liệt kê Bởi vì pháp luật thường đi sau sự phát triển của thực tiễn nên việc liệt kê sẽ rất có thể là không đầy đủ hoặc không theo kịp sự phát triển của khoa học và đời sống

Ngày nay, tài sản có thể được hiểu là bất cứ thứ gì có giá trị nằm trong

sự chiếm hữu của m ột chủ thể, một khái niệm rộng và không có giới hạn, luôn được bồi đắp thêm bởi những giá trị mới mà con người nhận thức ra

1.1.2 Phân loại tài sản

Tài sản là một chế định quan trọng của Luật dân sự mà trong đó việc phân loại tài sản có ý nghĩa rất lớn, bởi lẽ tài sản là công cụ của đời sống xã hội Nó liên quan tới hàng loạt các vấn đề pháp lý như: thuế, đảm bảo nghĩa

vụ dân sự, thừa kế, hiệu lực của hợp đồng, thương mại, bảo hiểm, tư pháp quốc t ế

Xem xét tới các đặc tính vật lý thực tế của tài sản, trong khoa học pháp

lý, theo các căn cứ khác nhau, người ta có nhiều cách phân loại tài sản khác nhau như: V ật tiêu hao và vật không tiêu hao, vật chia được và vật không chia được, vật cùng loại và vật đặc định, vật chính và vật p h ụ Hay căn cứ vào nhu cầu quản lý người ta có thể phân loại tài sản thành tài sản tư, tài sản cộng đồng và tài sản công Nhưng quan trọng nhất và trên hết tất cả là cách phân loại tài sản truyền thống và theo thông lệ cũng như tập quán quốc tế, tài sản được chia thành bất động sản và động sản

Trang 18

ở Việt Nam, Trước ngày ban hành BLDS, trong hệ thống pháp luật của chúng ta rất ít khi sử dụng khái niệm bất động sản và động sản Trong pháp luật kinh tế chúng ta chỉ sử dụng khái niệm tài sản cố định để phân biệt với tài sản lun động Tài sản lưu động là tài sản dùng trong quá trình sản xuất được chuyển toàn bộ giá trị của nó vào thành phẩm trong m ột lần.

Để phân biệt hai loại tài sản chủ yếu trong luật dân sự, BLDS Việt Nam 2005 dựa vào thuộc tính tự nhiên của tài sản và tính có thể dịch chuyển

cơ học để làm tiêu chí phân loại Theo Điều 174, bất động sản là các tài sản bao gồm: đất đai; nhà, các công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; các tài sản khác gắn liền với đất đai; các tài sản khác do pháp luật quy định (như quyền sử dụng đất) Còn động sản là những tài sản không phải là bất động sản (có thể kể đến như: vật

di dời, tiền, giấy tờ có giá, quyền đòi nợ)

Như vậy, ta không thấy có các quy định về các vật quyền trên bất động

sản m à việc liệt kê được mở rộng vô cùng bởi nó bao gồm “cấc tài sản khác

do pháp luật quy định” Việc quy định nhằm tránh sự liệt kê không đầy đủ

này sẽ khiến cho người dân không thể tiếp cận m ột cách dễ dàng với pháp luật đồng thời tạo ra sự không minh bạch của pháp luật quốc gia

N goài ra, căn cứ vào tính chất có thể tiếp cận được, người ta chia tài sản thành hai loại: Tài sản hữu hình (gồm vật không di dời, vật di dời được, tiền, giấy tờ có giá) và tài sản vô hình (quyền tài sản: quyền đòi nợ, quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ )

1.2 Khái niệm giấy tờ có giá và các loại giấy tờ có giá

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm giấy tờ có giá

1.2.1.1 Khái niệm giấy tờ có giá

Trang 19

Để có thể tìm hiểu về bản chất chung của giấy tờ có giá, chúng ta hãy điểm qua một số loại giấy tờ có giá cụ thể sau:

Hối phiếu (Bill o f Exchange) được định nghĩa là một lệnh thanh toán bằng văn bản, được một người phát hành ký và gửi cho người khác, yêu cầu người này trả khi có yêu cầu hoặc sau một thời gian có thể xác định trong tương lai một khoản tiền nhất định cho một người xác định hoặc theo lệnh của người này hoặc cho người cầm hối phiếu (Điều 3 Luật Hối phiếu Anh năm 1882) [3]

“Hối phiếu là lệnh bằng văn bản của người lập ra lệnh cho một người khác trả một số tiền nhất định cho người có tên” hoặc “Hối phiếu là một loại công cụ có thể chuyển nhượng, trong đó người lập cam kết trả một số tiền xác định tại một thời điểm nhất định (Từ điển Luật của Steven H Giffis năm

1 9 9 1 -M ỹ ) [3]

Theo Điều 408 Bộ luật Thương mại Sài Gòn năm 1972, thương phiếu (gồm hối phiếu, lệnh phiếu và chi phiếu) là một thứ phiếu có thể chuyển dịch được, dùng để xác nhận cho người cầm phiếu một trái quyền ngắn hạn

Trong Quy ch ế phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng để huy động vốn trong nước (Ban hành kèm theo QĐ số 02/2005/QĐ-NHNN ngày 4/1/2005 của Thống đốc N gân hàng Nhà nước), giấy tờ có giá được hiểu là chứng nhận của tổ chức tín dụng phát hành để huy động vốn trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ m ột khoản tiền trong m ột thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa tổ chức tín dụng và người mua Giấy tờ có giá ngắn hạn được hiểu là giấy tờ có giá có thời hạn dưới một năm bao gồm kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, tín phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác Giấy tờ có giá dài hạn là giấy tờ có thời hạn từ một năm trở lên kể từ khi phát hành đến khi hết hạn, bao gổm trái phiếu, chứng chỉ

Trang 20

tiền gửi dài hạn và các giấy tờ có giá dài hạn khác Giấy tờ có giá ghi danh là giấy tờ có giá phát hành theo hình thức chứng chỉ hoặc ghi sổ có ghi tên người sở hữu Giấy tờ có giá vô danh là giấy tờ có giá phát hành theo hình thức chứng chỉ không ghi tên người sở hữu Giấy tờ có giá vô danh thuộc quyền sở hữu của người nắm giữ giấy tờ có giá.

I Công cụ chuyển nhượng (hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc và

các công cụ chuyển nhượng khác) được hiểu là giấy tờ có giá ghi nhận lệnh thanh toán hoặc cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định vào một thời điểm nhất định [27, Đ4 K l]

Chứng khoán là chứng từ được ghi trên giấy hoặc thẻ điện tử có thể chuyển nhượng, xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành Với tư cách là một loại giấy tờ có giá trị, chứng khoán xác nhận quyền sở hữu m ột khoản tiền mà chủ sở hữu đã ứng ra và có quyền hưởng lợi tức nhất định theo những kỳ hạn nhất định Chứng khoán có thể được sử dụng làm tài sản thế chấp, trả nợ tiền vay hoặc có thể mua, bán, chuyển nhượng theo quy định áp dụng với mỗi loại chứng khoán

Chứng chỉ và giấy tờ có giá là hai khái niệm rất khác nhau không những về nội dung, tính chất mà còn về giá trị của nó nữa Khi nói đến giấy

tờ có giá là người ta đề cập đến một tài sản tài chính (financial assets) có thể mua đi, bán lại, chuyển nhượng, cầm cố, thế chấp, chiết k h ấ u ngược lại khi nói đến chứng chỉ (docum ents) chỉ là một chứng thư đơn thuần

Theo nghĩa rộng, giấy tờ có giá nói chung, được hiểu là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, trong đó xác nhận quyền tài sản của một chủ thể nhất định (tổ chức, cá nhân) xét trong mối quan hệ pháp lý với các chủ thể khác [4,

tr 89]

Trang 21

Tuy nhiên, trong số giấy tờ minh chứng cho quyền tài sản đó, có một

số giấy tờ đặc biệt có thể chuyển giao được, ai đánh mất nó là mất quyền, ai

có nó thì có quyền, thì những giấy tờ này mới được coi là giấy tờ có giá với

tư cách là một loại tài sản trong quan hệ pháp luật dân sự

1.2.1.2 Đặc điểm giấy tờ có giá

Dưới góc độ pháp lý, giấy tờ có giá với tư cách là một hình thức pháp

lý của tài sản trong quan hệ pháp luật dân sự có các đặc điểm cơ bản sau:

T h ứ nhất, xét về mặt hình thức giấy tờ có giá là một chứng chỉ được

lập theo hình thức, trình tự luật định

J T hứ hai, nội dung thể hiện trên giấy tờ có giá là thể hiện quyền tài sản,

giá của giấy tờ có giá là giá trị quyền tài sản và quyền này được pháp luật bảo vệ

T h ứ ba, giấy tờ có giá có tính thanh khoản và là công cụ có thể chuyển

nhượng với điều kiện chuyển nhượng toàn bộ một lần, việc chuyển nhượng một phần giấy tờ có giá là vô hiệu

Ngoài ra còn có thể kể thêm các đặc điểm khác của giấy tờ có giá như tính có thời hạn, tính có thể đưa ra yêu cầu, tính rủi r o

1.2.2 Các loại giấy tờ có giá

1.2.2.1 Các loại giây tờ có giá theo nghĩa rộng

- Với chức năng ỉà m ột công cụ tín dụng - thanh toán phục vụ cho hoạt

l’(tí ị '7 ,'

động thương mại hối phiếu nhận nợ, hối phiếu đòi nợ, séc được hiểu là giấy

tờ có giá Tuy nhiên, chuyển nhượng chỉ là m ột thuộc tính của các giấy tờ có giá nói trên và cũng không phải bất kỳ hối phiếu nào cũng có thể tự do chuyển nhượng nếu như chúng là loại giấy tờ có giá định danh, không theo lệnh thì chúng không được chuyển nhượng

Trang 22

Hối phiếu đòi nợ là giấy tờ có giá do người ký phát lập, yêu cầu người

bị ký phát thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời điểm nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng [27, Đ4 K2]

Hối phiếu nhận nợ là giấy tờ có giá do người phát hành lập, cam kết thanh toán không điều kiện m ột số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời điểm xác định trong tương lai cho người thụ hưởng [27, Đ4 K3]

Séc là giấy tờ có giá do người ký phát lập, ra lệnh cho người bị ký phát

là ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được phép của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trích một số tiền nhất định từ tài khoản của mình

để thanh toán cho người thụ hưởng [27, Đ4 K4]

N hư vậy nhìn từ góc độ hình thức có thể nói hối phiếu đòi nợ đơn thuần chỉ như “giấy đòi tiền” còn hối phiếu nhận nợ như “giấy nhận nợ” và quan hệ này do pháp luật chung về dân sự điều chỉnh Vậy thì sự cần thiết của các quy định pháp luật cụ thể về các công cụ chuyển nhượng là gì nếu như chúng ta đã có Bộ luật dân sự?

Thực tế, xét dưới bản chất pháp lý thì chúng cần phải được điều chỉnh bằng văn bản pháp luật riêng biệt vì những chức năng mang tính lịch sử của chúng Nếu như “giấy đòi tiền”, “giấy nhận nợ” đơn thuần chỉ là những giấy

tờ xác nhận quan hệ vay mượn, nghĩa vụ chi trả giữa chủ thể này với chủ thể khác thì loại giấy tờ có giá này không chỉ đóng vai trò xác nhận quan hệ tín dụng thương mại mà còn là phương tiện thanh toán và xét dưới góc độ nào đó còn là phương tiện đầu tư hiệu quả Ngoài ra người ta còn nhận thấy chúng còn khác “giấy đòi tiền” , “giấy nhận nợ’ theo pháp luật chung về dân sự ở một số điểm như: Tính hình thức, tính được phép chuyển nhượng, tính nhận

Trang 23

nợ hoặc thanh toán vô điểu k iện v à quan trọng là chúng là chứng từ có giá

trị bằng tiền

M ặc dù có đặc điểm chung đều là phương tiện thanh toán chứa đựng

lệnh yêu cầu thanh toán và là công cụ độc lập với quan hệ gốc nhưng trong

quan hệ phát hành và thanh toán séc, ngân hàng luôn là người bị ký phát và

chỉ thị yêu cầu thanh toán luôn luôn được gửi cho ngân hàng Còn trong quan

hệ phát hành và thanh toán thương phiếu, người bị ký phát có thể là ngân

hàng hoặc không và séc thường chỉ được sử dụng để thực hiện nghĩa vụ thanh

toán giữa người m ua và người bán Do vậy, séc không thể được sử dụng trong

quan hệ ba bên giữa các thương gia như hối phiếu Ngày nay trong giao dịch

ngân hàng hiện đại thông qua việc cho phép chuyển nhượng séc, séc có thể

được người thụ hưởng sử dụng làm phương tiện thanh toán thực hiện nghĩa vụ

trả tiền của m ình đối với người thứ ba Tuy nhiên, việc chuyển nhượng séc

không được người thụ hưởng thực hiện một cách phổ biến vì thời hạn hiệu

lực của séc quá ngắn

- Với chức năng là công cụ tài chính, giấy tờ có giá gồm có: cổ phiếu

và trái phiếu, c ổ phiếu gồm có: c ổ phiếu ưu đãi và cổ phiếu thường Trái

phiếu bao gồm: Trái phiếu Chính phủ - công trái, tín phiếu kho bạc, trái

phiếu kho bạc, trái phiếu đẩu tư, trái phiếu huy động vốn cho từng công trình,

trái phiếu huy động vốn cho Quỹ hỗ trợ phát triển và trái phiếu công ty Cả

cổ phiếu và trái phiếu đều được chia thành hai loại chính, đó là ghi danh và

không ghi danh

Nói chung, trái phiếu không ghi danh là trái phiếu không mang tên trái

chủ cả trên chứng chỉ cũng như trên sổ sách của người phát hành Những

phiếu trả lãi đính theo tờ chứng chỉ và đến khi trả lãi, người giữ chứng chỉ chỉ

THƯ VIỆN

ĨRƯƠNG ĐAI HOC LŨÃT HA NỘI

P H Ò N G G V _

Trang 24

việc xé ra và mang đến ngân hàng nhận lãi, khi trái phiếu đáo hạn người nắm

giữ nó m ang đến ngân hàng để nhận lại khoản cho vay

Trái phiếu ghi danh là loại trái phiếu ghi tên và địa chỉ của chủ sở hữu

trái phiếu trên chứng chỉ và trên sổ gốc của người phát hành Hình thức ghi

danh có thể chỉ thực hiện cho phần vốn gốc, cũng có thể ghi danh toàn bộ, cả

gốc lãn lãi Dạng ghi danh toàn bộ mà đang ngày càng phổ biến là hình thức

ghi sổ Trái phiếu ghi sổ hoàn toàn không có dạng vật chất, quyền sở hữu

được xác định bằng việc lưu giữ tên và địa chỉ của chủ sở hữu trên máy tính

- Với chức năng là phương tiện tín dụng - là các loại hàng hoá được ghi giá trên thị trường tài chính, bao gồm các phương tiện ngắn hạn như các

chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, kỳ phiếu, và các phương tiện tín dụng dài hạn

( chứng chỉ tiền gửi dài hạn, tín phiếu ngân hàng)

1.2.2.2 Giấy tờ có giá với tư cách là một loại tài sản trong pháp luật dân

sự

Dưới góc độ pháp luật dân sự, những loại giấy tờ có giá ghi danh và

cấm chuyển nhượng không được coi là giấy tờ có giá với tư cách là một loại

tài sản trong giao lưu dân sự bởi lẽ, mất chúng không phải là mất tiền, chúng

chỉ đơn giản là những loại giấy tờ có giá trị minh chứng cho quyền sử dụng,

quyền yêu cầu, quyền định đoạt hay quyền sở hữu nói chung mà thôi Chỉ

những giấy tờ có giá không ghi danh, có thể chuyển giao, cầm cố, thế c h ấ p

và mất nó coi như là m ất tiền mới được coi là giấy tờ có giá với tư cách là

một loại tài sản trong pháp luật dân sự

N hư vậy, trong số các giấy tờ có giá kể trên, chỉ những loại không ghi

danh, hay nói cách khác những giấy tờ minh chứng cho quyền tài sản vô

danh mới được coi là giấy tờ có giá với tư cách là m ột loại tài sản trong giao

Trang 25

lưu dân sự Có thể kể đến như: cổ phiếu, công trái, hối phiếu, séc, kỳ phiếu, tín phiếu và m ột số hoá đơn vận chuyển đường biển.

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sổ tiết kiệm , thẻ rút tiền là những giấy tờ minh chứng cho quyền tài sản; sổ bảo hiểm xã hội là giấy tờ minh chứng cho quyền yêu cầu không phải là giấy tờ có giá

1.3 Phân biệt giấy tờ có giá và các loại tài sản khác

1.3.1 G iây tờ có giá và vật.

Giấy tờ có giá và vật đều được xác định là tài sản trong quan hệ pháp luật dân sự, đều là động sản trong cách phân loại tài sản thành bất động sản

và động sản và đều là tài sản hữu hình

Tuy nhiên, đối với vật chúng ta có thể khai thác công dụng hữu ích từ chính vật đó (dùng nhà để ở, làm việc; TV để xem, các nguyên liệu dùng vào sản xuất, ch ế b iến ) Còn đối với giấy tờ có giá thì không thể khai thác công dụng hữu ích từ chính loại giấy tờ có giá đó Quyền sử dụng chỉ được

áp dụng m ột cách trọn vẹn cho vật chứ không áp dụng được cho giấy tớ có

V ật thông thường có thể do rất nhiều chủ thể khác nhau tạo ra còn giấy

tờ có giá thì chỉ m ột số chủ thể được quyền phát hành do luật định

Vật được xác định số lượng bằng những đơn vị ^ lưrmg thông dụng còn giấy tờ có giá lại không thể xác định như vậy được Có loại giấy tờ có giá được xác rìinh giá tri thông qua giá trị ghi trên loại siấv tờ có giá đó (Hối phiếu nhận nợ, hối phiếu đòi nợ, séc), nhưng có loại giá trị của nó có thể cao hơn hoặc thấp hơn giá trị bề mặt của nó (cổ p h iế u )

* Chủ sở hữu vật được toàn quyền đối YỚi vật thuộc sở hữu của mình, còn chủ sở hữu giấy tờ có giá không được quyền sửa chữa, tẩy xoá, thay đổi hình dạng, kích thước, làm g iả

Trang 26

1.3.2 Giấy tờ có giá và tiền.

Pháp luật V iệt N am coi tiền là một loại tài sản riêng biệt, loại tài sản này có những đặc điểm pháp lý khác với các loại tài sản khác, khác với giấy

tờ có giá

Tiền thực hiện ba chức năng chính là: công cụ thanh toán đa năng, công cụ tích luỹ tài sản và công cụ định giá các loại tài sản khác Giấy tờ có giá bao gồm nhiều loại, m ỗi loại lại có m ột chức năng khác nhau, có loại là công cụ thanh toán nhưng không bao giờ là công cụ thanh toán đa năng, có loại là công cụ đầu tư nhưng nó không phải là công cụ tích luỹ theo nghĩa rộng vì giá trị của nó không phải là vô thời hạn, và nó cũng không phải là công cụ để định giá các loại tài sản khác như tiền

Giấy tờ có giá được phát hành bởi m ột số chủ thể có thể là Nhà nước,

có thể là chủ thể khác do pháp luật quy định, nhưng tiền lại do N hà nước độc quyền phát hành Việc phát hành tiền được coi là m ột trong những biểu hiện của chủ quyền của mỗi quốc gia, còn việc phát hành giấy tờ có giá lại là biểu hiện của quan hệ tín dụng thương mại hoặc là biểu hiện của thị trường v ố n

Việc sử dụng tiền dưới góc độ kinh tế được hiểu thông qua hành vi đầu

tư tiền vào các hoạt động kinh doanh hay tiêu dùng, còn việc sử dụng giấy tờ

có giá không bao giờ được coi là hành vi đầu tư trực tiếp cho nhu cầu tiêu dùng cả

1.3.3 G iấy tờ có giá và quyền tài sản.

Ta thấy, quyền tài sản theo nghĩa rộng có thể hiểu là cách ứng xử của con người đối với nhau liên quan đến tài sảo, bản chất của quyền tài sản là sự phân chia giới hạn kiểm soát tài nguyên khan hiếm Trong quyền tài sản bao

Trang 27

giờ cũng có hàm ý tập trung quyền kiểm soát cho người này và giới hạn hoặc loại trừ quyền đó đối với người khác [7, tr 43] và như đã đề cập ở trên, theo nghĩa hẹp chỉ m ột số loại quyền tài sản có thể chuyển giao được mới được coi là tài sản trong giao lưu dân sự Chẳng hạn, đối với các tài sản công, nó khác với tài sản tư bởi tính không loại trừ M ột khi dịch vụ m ôi trường đô thị

đã được cung cấp, bất kỳ người dân nào sống trong đô thị đó đều được hưởng

và không thể ngăn cản người khác sử dụng tiện ích đó và không thể chuyển giao trong giao lưu dân sự thì tài sản công đó không thuộc đối tượng điều chỉnh của Bộ L uật Dân sự

Q uyền tài sản và giấy tờ có giá giống nhau ở chỗ đều trị giá được bằng

tiền (giá của giấy tờ có giá là giá trị của quyền tài sản) và đều chuyển giao được, sự khác nhau giữa hai loại tài sản này là ở chỗ: giấy tờ có giá là tài sản hữu hình còn quyền tài sản là tải sản vô hình Đối với giấy tờ có giá thì ta có thể thực hiện được quyền chiểm hữu và quyền định đoạt, còn đối với quyền tài sản ta không thực hiện được chức năng này

G iấy tờ có giá với tư cách là m ột loại tài sản trong giao lưu dân sự chính là giấy tờ m inh chứng cho quyền tài sản vô danh, giá trị của giấy tờ có giá bằng với giá trị của quyền tài sản đó

1.4 Khái quát sự hình thành và phát triển của giấy tờ có giá và pháp luật về giấy tờ có giá

G iấy tò' có giá được hình thành ở hình thức sơ khai dựa trên sự tồn tại của quan hệ m ua bán chịu hàng hoá, m ua bán hàng trả chậm dẫn đến việc sử dụng các chứng thư nợ như là bằng chứng ghi nhận khoản nợ của các thương nhân m à ngày nay chúng ta gọi là tín dụng thương mại

Trang 28

Cùng với sự phát triển của các quan hệ thương mại, nhu cầu sử dụng các chứng thư này ngày càng gia tăng Tuy nhiên, việc áp dụng các tập quán thương mại về phát hành và sử dụng các chứng thư này không đảm bảo được quyền, lợi ích của các bên liên quan đã đòi hỏi nhà nước phải quy phạm hoá quan hệ nợ nần trên cơ sở mua bán chịu.

Năm 1603, văn bản đầu tiên về hối phiếu - Pháp lệnh Humburg - đã được ban hành trên cơ sở của các tập quán thương mại về phát hành và sử dụng thương phiếu Năm 1874, pháp lệnh chung về hối phiếu Đức đã được tập hợp hoá từ 55 pháp lệnh hối phiếu của từng bang riêng rẽ Tiếp theo Đức, năm 1882, Vương quốc Anh đã ban hành Luật Hối phiếu (Bill of Exchange Act 1882) Đầu thế kỷ XX, đặc biệt là sau năm 1930, năm ký kết công ước Giơ-ne-vơ về hối phiếu một loạt quốc gia đã lần lượt ban hành luật hối phiếu của quốc gia mình cho dù có gia nhập hay không gia nhập Công ước 1930 về hối phiếu

Từ cuối thế kỷ thứ XIX, hối phiếu đã được sử dụng rộng rãi trong quan

hệ thương m ại quốc tế Nhưng do các quy định về hối phiếu của mỗi quốc gia có sự khác nhau nên trong quá trình sử dụng hối phiếu đã phát sinh nhiều tranh chấp do xung đột về pháp luật M ột thời gian dài sau đó, Hiệp ước thống nhất về hối phiếu đòi nợ và hối phiếu nhận nợ quốc tế đã được u ỷ ban Luật Thương mại Liên hợp quốc (gọi tắt là UNCITRAL) soạn thảo và được Đại Hội đồng Liên hợp quốc thông qua trong khoá họp toàn thể lần thứ 43 ngày 9/12/1988 Hiệp ước này có hiệu lực sau khi được 10 quốc gia ký kết phê chuẩn chính thức [3]

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhu cẩu và tích luỹ trong xã hội không ngừng tăng lên và ngày càng trở nên phong phú, đa dạng hơn Trong

xã hội xuất hiện m ột số người cần vốn cho mục đích tiêu dùng hay đầu tư,

Trang 29

đồng thời lại có một số người khác có vốn nhàn rỗi tạm thời muốn cho vay để lấy lãi Ban đầu những người này thường tìm gặp nhau một cách trực tiếp, dựa trên quan hệ quen biết cá nhân để giải quyết nhu cầu về vốn của mình Tuy nhiên, sau đó khi cung và cầu vốn không ngừng tăng lên thì hình thức vay và cho vay trực tiếp dựa trên quan hệ cá nhân tỏ ra không đáp ứng được nữa, thực tế khách quan đòi hỏi phải có một thị trường cho cung và cầu vốn gặp nhau, đáp ứng các nhu cầu tài chính của nhau Thị trường đó chính là thị trường chứng khoán - là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán quyền

sử dụng các nguồn tài chính thông qua những phương thức giao dịch và các công cụ tài chính nhất định là tổng hoà các quan hệ cung - cầu về vốn

Như vậy, thị trường chứng khoán với tư cách là một hiện tượng lịch sử,

nó không ra đời từ khi con người sinh ra, cũng không xuất hiện khi xuất hiện Nhà nước - TTCK là một thị trường đặc biệt, lưu hành m ột loại hàng hóa đặc biệt, đó là chứng khoán Chứng khoán được chỉ ra như là m ột sự chứng thực

về quyền sở hữu hoặc nợ Chứng khoán là các công cụ: thổ hiện quyền sở hữu trong một công ty đó là cổ phiếu; thể hiện quyền chủ nợ đối với một công ty, chính phủ hay chính quyền địa phương là trái phiếu; và các công cụ công cụ phái sinh khác

ở Việt Nam, thời kỳ trước năm 1975, sau khi Nhà nước ta tiến hành cải tạo công thương nghiệp, do yêu cầu của hoàn cảnh, Nhà nước tiến hành xây dựng nền kinh tế tập trung, mệnh lệnh để góp phần xây dựng chủ nghĩa

xã hội ở miền Bắc và đấu tranh"giải phòng miền Nam Thời kỳ này nền kinh

tế nước ta được xây dựng và vận hành theo cơ chế k ế hoạch hoá tập trung với hai thành phần kinh tế chủ yếu là kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể Các quan hệ hàng hoá - tiền tệ trong xã hội vận hành theo cơ ch ế kế hoạch hoá tập trung nên quan hệ tín dụng thương mại chưa được thừa nhận Do vậy,

Trang 30

pháp luật dân sự cũng chỉ tồn tại trong một số văn bản của Nhà nước và các quy định về giấy tờ có giá không xuất hiện trong giai đoạn này, ngoại trừ tồn tại một số loại tem phiếu có giá trị để mua các tiêu chuẩn phân phối tại các cửa hàng mậu dịch quốc doanh.

Từ năm 1986 trớ lại đây, cùng với việc thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế-xã hội của đất nước, nền kinh tế nước ta đã chuyển từ

cơ chế k ế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Hoạt động trong cơ chế thị trường, quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được đề cao, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế thị trường Các quan hệ hàng hoá-tiền tệ ngày càng trở nên sôi động và phong phú, sự chu chuyển của đồng vốn ngày càng trở nên đa dạng, phức tạp Bên cạnh đó, quyền sở hữu tài sản của công dân ngày càng được ghi nhận và thể chế hoá trong các văn bản của Nhà nước Bằng việc lần lượt ban hành nhiều đạo luật, pháp lệnh, văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ mới phát sinh trong nền kinh tế thị trường Giấy tờ có giá dưới hình thức là các loại hối phiếu, chứng k h o á n đã tồn tại hàng trăm năm ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển, nhưng ở nước ta đó vẫn là những vấn đề mới mẻ

Sau các loại công trái xây dựng tổ quốc, giao dịch phát hành giấy tờ có giá của ngân hàng (cụ thể là trái phiếu ngân hàng) được quy định lần đầu tiên tại Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước và Pháp lệnh Hợp tác xã tín dụng và công

ty tài chính ngày 24/5/1990, sau đó giao dịch phát hành trái phiếu ngân hàng

và các giấy tờ có giá khác lại được tiếp tục quy định trong Luật các tổ chức tín dụng ban hành ngày 12/12/1997 (được sửa đổi, bổ sung m ột số điều năm 2004) và được cụ thể hóa bằng các văn bản dưới luật nhằm điều chỉnh các hoạt động phát hành giấy tờ có giá của các tổ chức tín dụng để huy động vốn

Trang 31

Năm 1995, BLDS đầu tiên của nước Việt Nam ra đời ghi nhận quyền

sở hữu hợp pháp của công dân Điều 172 quy định tài sản bao gồm vật có

thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản Như vậy, giấy

tờ có giá chính thức được pháp luật thừa nhận, bảo hộ và khuyến khích trong giao lưu dân sự

Năm 1999, Pháp lệnh về thương phiếu ra đời ghi nhận thêm một loại giấy tờ có giá trong lĩnh vực thương mại, ngân hàng và trong pháp luật dân sự

Đến BLDS 2005, tài sản được quy định tại Điều 163 gồm có: Vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản cùng với BLDS 2005, cho đến nay Luật CCCCN, Luật Chứng khoán đã lần lượt được Quốc hội thông qua, góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật trong nền kinh tế thị trường nói chung

và pháp luật về giấy tờ có giá nói riêng

Trang 32

C H Ư Ơ N G 2 GIẤY TỜ CÓ GIÁ TRONG QUAN HỆ PHÁP LUẬT DÂN s ự

Cũng như các loại tài sản khác, giấy tờ có giá không tồn tại độc lập mà bao giờ cũng phải đi cùng với một quan hệ thể hiện quyền hoặc nghĩa vụ của một chủ thể nhất định Chính vì vậy, giấy tờ có giá đồng thời chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự, pháp luật kinh tế, các quy chế pháp lý của luật chuyên ngành như pháp luật ngân hàng, pháp luật chứng k h o á n

Ở nước ta, trước khi BLDS 1995 ra đời, khái niệm giấy tờ có giá được hiểu theo nghĩa rất hẹp, chỉ bao gồm các phiếu nợ do ngân hàng phát hành dưới dạng chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, trong đó xác định quyền chủ nợ của người sở hữu phiếu nợ và nghĩa vụ trả m ột số tiền nhất định của ngân hàng phát hành vào m ột thời điểm ghi trên phiếu nợ Có thể nói các văn bản pháp luật ngân hàng đã đặt nền móng đầu tiên cho việc xác lập và thực hiện các quan hệ giao dịch liên quan đến giấy tờ có giá Điểu 172, BLDS 1995 chỉ làm nhiệm vụ ghi nhận nó là một loại tài sản trong pháp luật dân sự Điều

163, BLDS 2005 cũng chỉ sửa đổi câu chữ cho phù hợp chứ bản chất giấy tờ

có giá và giấy tờ trị giá được bằng tiền là như nhau

Trên cơ sở các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, trong chương này giấy tờ có giá sẽ được nghiên cứu về chủ thể phát hành (2.1), chủ

sở hữu (2.2), nội dung quyền sở hữu (2.3) và một số giao dịch liên quan đến giấy tờ có giá (2.4)

2.1 Chủ thể phát hành giấy tờ có giá.

Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội mang tính chất ý chí, ý chí của Nhà nước thông qua các quy phạm pháp luật mà nội dung của chúng được xác định dựa trên các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội tồn tại trong xã hội

Trang 33

đó vào một thời điểm lịch sử nhất định Ngoài ra, các quan hệ pháp luật còn mang ý chí của các chủ thể tham gia vào quan hệ đó.

Xuất phát từ các quan hệ mà Luật dân sự điều chỉnh là những quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân - những quan hệ phát sinh trong đời sống thường nhật của các cá nhân cũng như trong các tập thể, trong tiêu dùng cũng như hoạt động sản xuất, kinh doanh Cho nên cá nhân, tổ chức và Nhà nước với tư cách là chủ thể đặc biệt đều là những chủ thể tham gia các quan hệ dân sự Các chủ thể tham gia quan hệ này độc lập với nhau về tổ chức và tài sản, được quyền tự định đoạt khi tham gia vào các quan hệ nhưng buộc phải thực hiện các nghĩa vụ khi đã tham gia vào các quan hệ đó

Địa vị pháp lý của các chủ thể dựa trên cơ sở bình đẳng, không bị phụ thuộc vào các yếu tố xã hội khác song các bên tham gia là các chủ thể đối lập nhau trong việc phân định quyền và nghĩa vụ: M ột bên mang quyền, một bên gánh nghĩa vụ và thông thường, trong quan hệ dân sự, các bên đều có quyền

và nghĩa vụ đối nhau Khi thực hiện quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hộ pháp luật dân sự, các bên không được áp đặt ý chí của mình để buộc bên kia thực hiện nghĩa vụ mà tạo điều kiện cho họ lựa chọn cách thức thực hiện các quyển và nghĩa vụ sao cho có lợi nhất cho các bên Lợi ích, trước tiên là lợi ích kinh tế, là tiền đề trong phần lớn các quan hệ dân sự Cho nên đảm bảo bằng tài sản là đặc trưng để buộc bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ của họ

và bên có quyền có thể thông qua các biện pháp bảo đảm này để thoả mãn các quyền tài sản của mình Các biện pháp cưỡng ch ế đa dạng không chỉ do pháp luật quy định mà có thể tự các bên quy định về các biện pháp cưỡng chế

cụ thể, về hình thức áp dụng các biện pháp cưỡng chế đó

Về nguyên tắc, hầu hết pháp luật của các nước đều quy định điều kiện chủ thể phát hành giấy tờ có giá phải có những điệu kiện nhất định, đối với

Trang 34

cá nhân phải là người có năng lực pháp luật và năng lực hành vi; còn chủ thể tham gia quan hệ pháp luật dân sự liên quan đến giấy tờ có giá nó chung được thực hiện dưới nhiều tư cách khác nhau nhưng độc lập với nhau Do đó,

có trường hợp chủ thể tham gia quan hệ dân sự liên quan đến giấy tờ có giá không đủ năng lực chủ thể thì không ảnh hưởng đến hiệu lực của việc tham gia quan hệ

K hoản 1, Đ iều 14 BLDS 2005 quy định: “N ăng lực p háp luật dân sự

của cá nhân là khả năng của cá nhân cố quyền dân sự và cố nghĩa vụ dân

sự ” N ăng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng, tiền đề, điều kiện

cần thiết để công dân có quyển, có nghĩa vụ; là thành phần không thể thiếu được của cá nhân với tư cách chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự, là một

m ặt của năng lực chủ thể N ăng lực pháp luật dân sự của cá nhân được N hà nước ghi nhận trong các văn bản pháp luật m à nội dung của nó phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế, chính trị, xã h ộ i N ăng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm đứt khi người đó chết [26, Đ14 K3] Với quy định như vậy, pháp luật thừa nhận năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là thuộc tính gắn liền với cá nhân suốt đời và không bị ảnh hưởng bởi trạng thái tinh thần, tuổi tác, hoàn cảnh, tài s ả n

Tuy nhiên, tư cách chủ thể của cá nhân chỉ đầy đủ, hoàn thiện, độc lập khi họ có đầy đủ năng lực hành vi dân sự , ngoài năng lực pháp luật dân sự vốn là thuộc tính được pháp luật ghi nhận cho mọi cá nhân, “năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng cá nhân bằng hành vi của m ình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự” [26, Đ 17] N ếu năng lực pháp luật dân sự là tiền đề, là quyển dân sự khách quan của chủ thể , thì năng lực hành vi là khả năng hành động của chính chủ thể để tạo ra các quyền, thực hiện quyền và nghĩa vụ của họ N goài ra, năng lực hành vi dân sự còn bao hàm cả năng lực

Trang 35

tự chịu trách nhiệm dân sự khi vi phạm nghĩa vụ dân sự Cùng với năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự là thuộc tính của cá nhân, tạo thành tư cách chủ thể độc lập của cá nhân trong các quan hệ dân sự.

Giấy tờ có giá là một loại tài sản đặc biệt, có thể do các chủ thể khác nhau phát hành như: Nhà nước, các tổ chức ngân hàng, các doanh nghiệp hoặc thương nhân phát hành theo trình tự nhất định Có nhiều loại giấy tờ có giá khác nhau với những quy chế pháp lý khác nhau: công trái, trái phiếu, kỳ phiếu, cổ phiếu, séc Chính vì vậy, mọi quan hệ pháp luật liên quan đến giấy

tờ có giá đều thể hiện mối liên hệ pháp lý giữa các chủ thể tham gia vào các quan hệ đó được biểu hiện dưới dạng quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia Tuỳ từng trường hợp các chủ thể tham gia có thể bao gồm người phát hành, người bị ký phát (người chấp nhận), người thụ hưởng

Chủ thể phát hành giấy tờ có giá bao gồm:

(i) N gân hàng thương mại Việt Nam và các ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt nam là những chủ thể có quyền phát hành các giấy tờ có giá dài hạn và ngắn hạn để huy động vốn bằng cách

“bán” các giấy tờ có giá này cho người đầu tư dưới hình thức chứng chỉ Kể

từ khi xuất hiện giấy tờ có giá, các chủ thể phát hành đã xuất hiện trước tất cả các loại chủ thể khác Khi phát hành giấy tờ có giá cho người đầu tư là tổ chức, cá nhân thì các tổ chức tín dụng thông qua việc phát hành đó tiếp nhận vốn đầu tư với tư cách là người vay và phải trả cho người đầu tư một khoản lãi cộng vào gốc khi giấy tờ có giá đến hạn thanh toán

(ii) Người phát hành là người lập và ký phát giấy tờ có giá trong quan

hệ hối phiếu đòi nợ, người phát hành có thể là người bán hàng lập hối phiếu

Trang 36

để đòi nợ người mua hoặc là người mua lập và ký phát hối phiếu yêu cầu

ngân hàng phục vụ mình trả tiền cho người bán Trong quan hệ hối phiếu

nhận nợ, người phát hành là người mua lập và ký phát hối phiếu thừa nhận

nghĩa vụ nợ của mình và cam kết thanh toán hối phiếu khi đến hạn Người

phát hành tham gia quan hệ hối phiếu kể từ thời điểm lập và chuyển giao hối

phiếu cho người khác (có thể là người bị ký phát hoặc người thụ hưởng)

Với đặc trưng về hình thức pháp lý của quan hệ hối phiếu là bản thân

hối phiếu - văn bản ghi nhận quyền và nghĩa vụ của của các bên tham gia vào

quan hệ hối phiếu, căn cứ phát sinh quan hệ hối phiếu giữa các bên là hành vi

cam kết đơn phương của chủ thể tham gia quan hệ đó là cam kết đơn phương

tự ràng buộc nghĩa vụ của mình đối với việc thanh toán hối phiếu Hành vi

đơn phương chỉ là căn cứ phát sinh quan hệ hối phiếu khi nó được thực hiện

dưới hình thức hợp pháp và có nội dung phù hợp với quy định của pháp luật

Cụ thể, việc ký phát hành hối phiếu của người phát hành chỉ làm phát sinh

trách nhiệm của người ký phát hành khi việc phát hành hối phiếu tuân thủ

các quy định về hình thức của hối phiếu như phải có đầy đủ yếu tố bắt buộc,

phải trên cơ sở giao dịch được phép phát hành hối phiếu, chủ thể ký phát

hành phải có đủ năng lực chủ thể tham gia quan hệ hối phiếu Quan hệ hối

phiếu chấm dứt trong các trường hợp sau: thứ nhất, người chấp nhận, người

phát hành, người ký phát thanh toán hối phiếu; thứ hai, người chấp nhận trở

thành người thụ hưởng hối phiếu đòi nợ hoặc người phát hành trở thành

người thụ hưởng hối phiếu nhận nợ; thứ ba, người thụ hưởng huỷ bỏ hối

phiếu

(iii) Việc phát hành các giấy tờ có giá của các chủ thể không phải là tổ chức tín dụng đang được thực hiện theo quy định của pháp luật về chứng

khoán và thị trường chứng khoán Thời kỳ sơ khai của các hoạt động chứng

khoán, chủ thể phát hành chứng khoán đồng nghĩa với chủ thể gọi vốn Dần

Trang 37

dần, do nhu cầu đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư, nhu cầu bán chứng khoán

(gọi vốn) nhanh nhất với khối lượng lớn nhất, các chủ thể bảo lãnh phát hành

chứng khoán ra đời, Nhà hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán hoạt

động theo nhiều cách thức khác nhau, có thể họ đứng ra m ua toàn bộ lượng

chứng khoán dự định phát hành của công ty gọi vốn với giá nhất định để bán

lại với giá cao hơn cho các nhà đầu tư; cũng có thể họ đảm bảo với doanh

nghiệp gọi vốn rằng toàn bộ hoặc một phần chứng khoán dự định phát hành

sẽ được bán hết, nếu không bán hết họ có trách nhiệm m ua số chứng khoán

còn lại Trong những trường hợp như vậy, nhà bảo lãnh phát hành được coi là

nhà phát hành, điều này còn được xác định bởi lý do khi lập hồ sơ xin phép

phát hành, người bảo lãnh phát hành cũng phải ký tên vào hồ sơ và chịu trách

nhiệm về hồ sơ đó Như vậy, chủ thể phát hành bao gồm “người “ gọi vốn và

“người” bảo lãnh phát hành chứng khoán

(iv) Đối với giấy tờ có giá khác (vận đơn đường biển xuất trình - vận đơn không ghi danh): Là chứng từ có giá trị pháp lý cao nhất do người vận

chuyển hoặc đại lý của người vận chuyển (người thứ ba độc lập với người

mua và người bán) cấp cho người gửi hàng sau khi bốc hàng lên tàu hoặc sau

khi đã nhận hàng để chuyên chở, là bằng chứng pháp lý chứng minh người

bán đã giao hàng và chứng minh việc thực hiện hợp đồng m ua bán Nhữ vậy

chủ thể phát hành trong trường hợp này là người vận chuyển hoặc đại lý của

người vận chuyển hàng hóa

2.2 Chủ sở hữu giấy tờ có giá

Chế định quyền sở hữu có vị trí hết sức quan trọng trong đời sống xã

hội nhưng lại hết sức phức tạp và bảo vệ quyền sở hữu là một trong những

m ối quan tâm lớn của bất cứ Nhà nước nào

Đặc trưng của quyền sở hữu là chủ sở hữu có quyền tuyệt đối (ngoại

trừ những hạn ch ế của pháp luật vì lợi ích công cộng) trong việc chiếm hữu,

sử dụng, định đoạt tài sản theo ý chí của mình Không tổ chức, cá nhân nào

Trang 38

có quyền hạn chế, can thiệp Người được gọi là chủ sở hữu có thể loại trừ những người khác thực hiện những hành vi nhất định hoặc cho phép những người khác thực hiện những hành vi như vậy.

Vì đặc trưng có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự nên chủ sở hữu giấy tờ có giá hay nói cách khác những người thụ đắc quyền sở hữu giấy tờ

có giá là m ột lớp người không ổn định Chủ sở hữu giấy tờ có giá là tài sản trong pháp luật dân sự đồng nghĩa với người chiếm hữu hợp pháp, họ có quyền tự bảo vệ những tài sản đó bằng những biện pháp theo quy định của pháp luật; có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu và yêu cầu bồi thường thiết hại [26, Đ255]

Quy định này cho thấy pháp luật dân sự dành cho chủ sở hữu quyền chủ động bảo vệ tài sản thuộc sở hữu của mình thông qua những biện pháp hợp pháp nhằm ngăn cản người khác xâm phạm quyển sở hữu của mình, đòi lại tài sản đang bị người khác chiếm hữu trái pháp luật, yêu cầu bồi thường thiệt hại Khi việc tự bảo vệ không mang lại kết quả mong muốn, chủ sở hữu hay người chiếm hữu hợp pháp có thể thực hiện các phương thức dân sự như: kiện đòi lại tài sản; kiện yêu cầu ngăn chặn hoặc chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hoặc kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại

2.3 Nội dung quyền sở hữu giấy tờ có giá

Với tính cách là một vật quyền thống trị, quyền sở hữu bao giờ cũng được pháp luật đề cập tới và làm rõ về mặt nội dung Song các bộ phận cấu

Ngày đăng: 24/01/2021, 20:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w