Vì vậy, việc nghiên cứu các vấn đề lý luận và xem xét, đối chiếu với thực tiễn để xây dựng một chính sách pháp luật về cạnh tranh và kiểm soát tình trạng lạm dụng vị trí thống lĩnh thị t
Trang 2NGUYỄN KIM PHƯỢNG
KIỂM SOÁT HÀNH VI LẠM DỤNG
VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG, VỊ TRÍ ĐỘC QUYỂN
THEO LUẬT CẠNH TRANH CỦA VIỆT NAM• • •
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
Trang 3Khoá luận được hoàn thành, người đầu tiên em muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo, TS B ùi Ngọc Cường người đ ã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình làm luận văn thạc sĩ.
Em củng xin được gửi lời cảm ơn tới các thầy giáo, cô giáo giảng dạy và làm việc tại Trường Đ ại học L uật H à N ội đ ã nhiệt tình truyền giảng những kiến thức quý báu cho em.
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đ ã quan tám động viên, giúp đỡ em trong suốt thời gian qua.
Hà Nội, ngày 28 tháníỊ 12 năm 2007
N guyễn K im Phượng
Trang 4AFTA : Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
APEC : Diễn đàn hợp tác Châu Á - Thái Bình Dương
EU : Liên m inh Châu Âu
OECD : Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
TRIPS : H iệp định Bảo vệ Quyền Sở hữu Trí tuệ liên quan đến
thương mạiƯNCTA : Tổ chức thương mại và phát triển L iên hiệp quốc
Trang 5CHƯƠNG 1: MỘT s ố VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LẠM DỤNG VỊ TRÍ
THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG, VỊ TRÍ Đ ộ c QUYỀN VÀ PHÁP LUẬT
KIỂM SOÁT ĐỐI VỚI HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG, VỊ TRÍ Độc QUYỀN 51.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNHTHỊ TRƯỜNG, VỊ TRÍ Độc QUYỀN 51.1.1 Quan niệm về lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền 51.1.2 Các yếu tố cấu thành của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vịtrí độc quyền 81.1.3 Nguyên nhân và tác động của hành vi lạm dụng ví trí thống lĩnh thị
trường, vi trí độc quyền trong nền kinh tế thị trường 111.2 PHÁP LUẬT KIẾM SOÁT ĐỐI VỚI HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍTHỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG, VỊ TRÍ Độc QUYỀN 161.2.1 Khái niệm và đặc diểm của pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền 161.2.2 Vai trò của pháp luật trong việc kiếm soát hành vi lạiudụng vị trí thốnglĩnh thị trường, vị trí độc quyền 181.3 PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT ĐỐI VỚI HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG, VỊ TRÍ Đ ộc QUYỀN M ỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 201.3.1 Kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền theo phápluật của M ỹ 201.3.2 Kiểm soát hành vi lạm dụns vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền theo phápluật của Liên minh châu Âu (EƯ) 221.3.3 Kiêm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền theo phápluật Trung Quốc 23CHƯƠNG 2: KIỂM SOÁT HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG, VỊ TRÍ ĐỘC QUYỀN THEO LUẬT CẠNH TRANH VIỆTNAM 26
Trang 62.1.2 Xác định vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền 322.2 NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNHTHỊ TRƯỜNG ĐÊ HẠN CHÉ CẠNH TRANH 39
2.3 NHŨNG QUY ĐỊNH VỀ HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ Đ ộ c QUYỀN
ĐẺ HẠN CHẾ CẠNH TRANH 43CHƯƠNG 3: MỘT s ố GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KIỂM SOÁT HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG, VỊ TRÍ ĐỘC QUYỀN Ở VIỆT NAM 443.1 QUAN ĐIỂM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KIỂM SOÁT HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG,
VỊ TRÍ ĐỘC QUYỀN 443.1.1 Hoàn thiện pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền phải phù hợp với đặc điểm của nền kinh tế và hướngtới mục đích đảm bảo duy trì môi trường cạnh tranh lành m ạnh 443.1.2 Pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thổng lĩnh thị trường, vị tríđộc quyền phải phù hợp với thông lệ quốc tế 473.1.3 Đảm bảo đồng bộ các yếu tố: xây dựng pháp luật, tổ chức bộ máy quản
lý cạnh tranh; cơ chế thực thi pháp luật 493.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KIỂM SOÁT HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG, VỊ TRÍ Đ ộ c QUYÊN 513.2.1 Hoàn thiện các quy định về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnhthị trường, vị trí độc quyền 513.2.2 Tô chức bộ máy quản lý Nhà nước kiểm soát hành vi lạm dụng vị tríthốne lĩnh thị trường, vị trí độc quyền 543.2.3 Xây dựng cơ chế thực thi pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị tríthôns lĩnh thị trường, vị trí độc quyền 57KẾT LU Ậ N 62TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
Trang 7I rinh câp thiêt cua đê tài nghiên cứu
Quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa do Đảng ta khởi xướng từ năm
1986 đến nay đã đạt được những thành tựu quan trọng Tuy nhiên, bên cạnh những thành công bước đầu đó, chúng ta cũng đang phải đối mặt với những
hệ quả tiêu cực của cơ chế thị trường, đó là sự cạnh tranh không lành mạnh và tỉnh trạng lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền của các doanh nghiệp trong nền kinh tế
Trong điều kiện của Việt Nam, một nền kinh tế vừa thoát ra từ cơ chế
kế hoạch hoá tập trung với một loạt các vấn đề cần quan tâm như: sự quản lý
và điều tiết của Nhà nước còn đang tiến dần đến sự phù hợp với các nguyên tắc của kinh tế thị trường; sự thống trị của các doanh nghiệp quốc doanh vẫncòn dai dắng; sự gia tăng nhanh chóng và không ngừng lớn mạnh của cácdoanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân; sự hiện diện của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có sự vượt trội về khả năng tài chính, tư duy kinh tế và kinh nghiệm thương trường đã khiến cho tình trạng cạnh tranh thiếu lành mạnh và lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền vượt khỏi tầm kiểm soát của Nhà nước, gây ra những hậu quả tương đối nặng
nề đối với môi trường đầu tư của Việt Nam nói riêng và nền kinh tế - xă hội nói chung
Vì vậy, việc nghiên cứu các vấn đề lý luận và xem xét, đối chiếu với thực tiễn để xây dựng một chính sách pháp luật về cạnh tranh và kiểm soát tình trạng lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền, duy trì trật tự cạnh tranh lành mạnh, bảo vệ lợi ích cho các chủ thể trong nền kinh tế, trả lại
sự thông thoáng cho môi trường đầu tư là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt
Trang 82 Tình hình nghiên cứu đề tài
Kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và vị trí độc quyền là những vấn đề còn khá mới ở nước ta Do đó, cho đến nay việc nghiên cứu lý luận trong những lĩnh vực này cũng còn mới chỉ dừng lại ở mức
độ khá khiêm tốn Tuy đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề này như:
Đặng Vũ Huân (2002), Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chổng cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam , Luận án tiến sỹ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội; Viện nghiên cứu quản lý trung ương (2002), Các vấn đề pháp lý
và thể chế về chính sách cạnh tranh và kiểm soát độc quyền kinh doanh, Dự
án hoàn thiện môi trường kinh doanh VIE/97/061, NXB Giao thông vận tải,
Hà Nội; PGS.TS Nguyễn Như Phát, Ths Nguyễn Ngọc Sơn (2006), Phân tích
và luận giải các quy định của Luật Cạnh tranh về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh, NXB Tư pháp,
Hà Nội V V Tuy nhiên, những công trình này hoặc là tiếp cận ở phạm vi rộng, hoặc là chỉ đề cập đến một vài khía cạnh cụ thể của vấn đề Một công trình nghiên cứu chuyên sâu, mổ xẻ các khía cạnh liên quan đến hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền, đặc biệt là pháp luật về kiểm soát vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền ở nước ta hầu như chưa
có Tác giả hy vọng với việc nghiên cứu đề tài này sẽ góp phần đặt những nền móng đầu tiên cho việc nghiên cún lý luận về lĩnh vực còn hết sức mới mẻ này ở Việt Nam
3 Phirong pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng để thực hiện đề tài là phương pháp luận của triết học Mác - Lê nin Trên nền tảng các phương pháp đó, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể của khoa học xã hội như phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, hệ thống hóa
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, tác giả còn bám sát các chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước ta về chính sách cạnh tranh và kiểm soát vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền, được thể hiện trong các văn kiện của Đảng và hệ thống pháp luật của Nhà Nước
Trang 94 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu cúa đề tài này là các quan điểm, tư tưởng luật học
về cạnh tranh và pháp luật về cạnh tranh; pháp luật quốc tế về cạnh tranh, đặc biệt là về vấn đề kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh; Thực tiễn xây dựng và
áp dụng pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam; đi sâu vào nghiên cứu lý luận và thực tiễn xây dựng, áp dụng các quy định về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền ở Việt Nam hiện nay
5 Mục đích của việc nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài này nhằm:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền và việc kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền, phân tích nguyên nhân kinh tế xã hội, những tác động tích cực cũng như tiêu cực về kinh tế-xã hội của tình trạng thống lĩnh thị trường, độc quyền và đặc biệt là của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền
- Tìm hiểu chính sách pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền ở một số nước tiêu biểu trên thể giới, rút ra nhũng kinh nghiệm tham khảo cho Việt Nam
- Chỉ ra thực trạng thống lĩnh thị trường, độc quyền và tình trạng lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền ở Việt Nam hiện nay, phân tích những đặc thù và những nguyên nhân của nó
- Đe xuất những giải pháp nhằm góp phần xây dựng và thực thi chính sách pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền ở nước ta
6 Kết quả nghiên cứu
- Đề tài đã trình bày khái quát những vấn đề lý luận về vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền và việc kiểm soát vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền, phân tích nguyên nhân, những tác động tích cực và tiêu cực về
Trang 10kinh tế - xã hội của tình trạng thống lĩnh thị trường, độc quyền và đặc biệt là cua hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền.
- Đề tài đã trình bày khái quát pháp luật về kiềm soát hành vi lạm dụng
vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền của các doanh nghiệp ở một số nước trên thế giới, qua đó rút ra được những nét chung trong pháp luật về kiểm soát vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền ở những nước đó, làm
cơ sở và kinh nghiệm tham khảo cho Việt Nam
- Đề tài đã nghiên cứu và trình bày khá toàn cảnh về thực trạng thống lĩnh thị trường, độc quyền và tình trạng lạm dụng vị thế thống lĩnh và vị thế độc quyền ở Việt Nam hiện nay, phân tích những đặc thù cũng như những nguyên nhân của những đặc thù về thực trạng thống lĩnh thị trường, độc quyền và lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền ở nước ta
- Trên cơ sở đó, đề tài đã đưa ra một số giải pháp đề xuất nhằm góp phần kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền
ở nước ta
7 Co cấu của luận văn
Ngoài lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được chia làm 3 chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền và pháp luật kiểm soát đối với hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền
Chương 2: Kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền theo luật cạnh tranh Việt Nam
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền ở Việt Nam
Trang 11CHƯƠNG 1 MỘT SỚ VẤN ĐÈ LÝ LƯẬN VỀ LẠM DỤNG VỊ TRÍ THÓNG LĨNH• • • • •THỊ TRƯỜNG, VỊ TRÍ ĐỘC QUYỀN VÀ PHÁP LUẬT KIẺM SOÁT ĐỐI VỚI HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ• • • •
TRƯỜNG, VỊ TRÍ Đ ộ c QUYỀN
1.1 MỘT SỐ VÁN ĐỀ LÝ LUẬN VÈ LẠM DỤNG VỊ TRÍ THÓNG LĨNH THỊ TRƯỜNG, VỊ TRÍ ĐỘC QUYÈN
1.1.1 Quan niệm về lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trưòng, vị trí độc quyền
Nền kinh tế thị trường vận động theo những quy luật kinh tế khách quan, trong đó có quy luật cạnh tranh Cạnh tranh, theo một mặt nào đó, cũng
có ý nghĩa tích cực là nó duy trì áp lực liên tục lên tất cả các đối thủ trên thương trường, buộc chúng phải luôn tìm cách đổi mới để thích nghi và tồn tại, nếu không muốn bị loại khỏi cuộc chơi Nhưng mặt khác, sự cạnh tranh sẽ dẫn đến việc các đối thủ sẽ tìm mọi cách tiêu diệt, thôn tính lẫn nhau để chiếm lĩnh thị trường và khẳng định sức mạnh kinh tế của mình Quá trình này thường diễn tiến theo logic từ cạnh tranh lành mạnh đến cạnh tranh không lành mạnh và dẫn đến một hệ quả tất yếu là sản sinh ra tình trạng thống lĩnh
và độc quyền
Vị trí thống lĩnh được hiểu là khả năng kiêm soát thực tế hoặc tiềm năng đổi với thị trường liên quan của một loại hoặc một nhóm hàng hoá, dịch
vụ của một hoặc một số doanh nghiệp Với cách hiểu như vậy thì vị trí thống
lĩnh không chỉ được xem xét dưới góc độ vị trí của một doanh nghiệp mà còn
có thể là vị trí của một nhóm doanh nghiệp cùng hành động Tức là giữa nhóm doanh nghiệp này không có sự thoả thuận trước nhưng đã cùng hành động, cùng nhau thực hiện các hành vi như bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ
dưới giá thành toàn bộ để loại bỏ đối thủ Trong khi đó, vị trí độc quyền được hiểu là vị trí của một doanh nghiệp khi không còn đổi thủ nào cạnh tranh với doanh nghiệp đó hoặc có sự cạnh tranh nhưng sự cạnh tranh đó rất
Trang 12yếu ớt và không đáng kê Nói cách khác sự cạnh tranh trên thị trường liên
quan của doanh nghiệp hầu như bị loại trừ Chính vì vậy việc xác định vị trí độc quyền tương đối dễ dàng, nhưng trong trường hợp chưa đạt được vị trí độc quyền thì việc xác định vị trí thống lĩnh là khá phức tạp Vì vị trí thống lĩnh chỉ cho thấy sức mạnh kinh tế vượt trội của doanh nghiệp hoặc một nhóm doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh khác trên thị trường liên quan đối với một hoặc một nhóm hàng hoá, dịch vụ cụ thể Như vậy, cho dù doanh nghiệp hay nhóm doanh nghiệp đã có vị trí thống lĩnh thị trường thì trên thị trường vẫn có sự cạnh tranh từ các đối thủ yếu hon Điều đó có nghĩa là sự cạnh tranh trên thị trường vẫn tồn tại Mặc dù có những nét đặc trung khác biệt vị trí thống lĩnh và vị trí độc quyền như vậy, song không có nghĩa là
chúng hoàn toàn khác biệt mà thực chất vị trí độc quyền chỉ là một dạng đặc thù của vị trí thống lĩnh.
Khi đã xác lập được vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền, các doanh nghiệp thống lĩnh, độc quyền luôn tìm mọi cách để duy trì địa vị thống lĩnh thị trường của mình với các cách thức như: thôn tính, tiêu diệt các đối thủ cạnh tranh, ngăn cản không cho các đối thủ tiềm năng gia nhập thị trường, tiếp tục củng cố ưu thế và sức mạnh thị trường bằng việc lôi kéo các đối thủ liên kết tạo sức mạnh, phân chia thị trường, định giá cả
Các nhà kinh tế học đều thống nhất rằng thống lĩnh và độc quyền là những hiện tượng khách quan, tồn tại trong tất cả các nền kinh tế Nó là kết quả của quá trình cạnh tranh, một yếu tố không thể thiếu để thúc đẩy nền kinh
tế phát triển, thậm chí một số hình thái độc quyền còn được Nhà nước xác lập
và duy trì như là một trạng thái cần thiết cho sự phát triển cân bằng của nền kinh tế Vấn đề là ở chỗ, các doanh nghiệp sau khi đã có được vị trí thống lĩnh, độc quyền hoặc được Nhà nước xác lập cho vị trí thống lĩnh, độc quyền thì luôn có xu hướng lạm dụng vị trí của mình để thu lợi nhuận, gây hại đến lợi ích của các chủ thể khác và của Nhà nước Chính từ thực trạng các doanh nghiệp khi có vị trí thống lĩnh, độc quyền thường lạm dụng vị trí của mình đã làm cho pháp luật tất yếu phải có những quy định để điều chỉnh và kiểm soát
Trang 13Các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền để kiếm lợi và xâm phạm đến lợi ích của các chủ the khác thì bị coi là bất chính [17]
Đe kiểm soát được một quan hệ nào đó thì trước hết pháp luật phải nhận diện được đối tượng đó và những thuộc tính của nó Tương tự như vậy, để điều chỉnh hành vi thống lĩnh và độc quyền thì pháp luật về cạnh tranh và chống lạm dụng vi trí thống lĩnh và vị trí độc quyền cũng phải đưa ra được khái niệm về thống lĩnh, độc quyền và những tiêu chí để xác định đâu là hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vi trí độc quyền Tùy theo đặc điểm kinh tế xã hội khác nhau mà pháp luật của mỗi nước cũng đưa ra những quan niệm và tiêu chí xác định hành
vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vi trí độc quyền khác nhau
Điều 79 Luật cạnh tranh của Canada quy định ba dấu hiệu của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh là (i) một hoặc một nhóm doanh nghiệp kiểm soát thị trường liên quan (ii) thực hiện hành vi phản cạnh tranh được quy định trong luật cạnh tranh; (iii) hành vi đó đã, đang hoặc có thể làm cản trở, làm giảm cạnh tranh trên thị trường một cách đáng kể [10] Bên cạnh đó, còn có một xu hướng khác trong pháp luật cạnh tranh trên thế giới khi định nghĩa về hành vi lạm dụng Bộ quy tẳc về cạnh tranh của Liên hiệp quốc được thông qua ngày 22 tháng 4 năm 1980 và Luật mẫu về cạnh tranh của Tổ chức
thương mại và phát triển Liên hiệp quốc định nghĩa hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh và vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh là hành vi hạn chế cạnh tranh mà doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền sử dụng đê duy trì hay tăng cường vị trí của nó trên thị trường bằng cách hạn chế khả năng gia nhập thị trường hoặc hạn chế quá mức cạnh tranh [21, tr 52] Ớ đây có sự
khác nhau giữa Luật Cạnh tranh của Canada và Bộ quy tắc mẫu ở dấu hiệu chủ quan của hành vi Nếu như Luật cạnh tranh Canada mô tả hành vi lạm
dụng luôn mang trong mình nó khả năng (hậu quả) làm sai lệch, cản trở hoặc làm giảm cạnh tranh, thì Bộ quy tắc và luật mẫu về cạnh tranh lại nhấn mạnh đến mục đích duy trì, củng cổ vị trí của doanh nghiệp vi phạm bằng cách
ngăn cản người khác gia nhập thị trường hoặc hạn chế quá mức cạnh tranh
Trang 14Nếu so sánh từ góc độ lý luận, cách tiếp cận của Luật cạnh tranh
Canađa có vẻ trừu tượng hơn so với khái niệm của Luật mẫu về cạnh tranh,
bởi iẽ việc xác định mức độ sai lệch, giảm hoặc cản trở cạnh tranh không phải
là việc đơn giản, do cạnh tranh là khái niệm phản ánh mối quan hệ ganh đua
trên thương trường nên khó có đại lượng khách quan nào có thề cân đong
được mức độ của quan hệ cạnh tranh một cách chính xác Trong khi đó, xác
định khả năng duy trì và củng cố vị trí của doanh nghiệp sẽ là đơn giản hơn,
người ta có thể dựa vào những thông số kinh tế, kỹ thuật trên thị trường liên
quan về số lượng doanh nghiệp, về thị phần, mức chênh lệch thị phần giữa
các doanh nghiệp là có thể đưa ra các kết luận khá chính xác
1.1.2 Các yếu tố cấu thành của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền
Cho dù được mô tả bàng nhiều cách thức khác nhau, song nhìn chung
hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền thường có ba
dấu hiệu để nhận dạng
Dấu hiệu thứ nhất: Chủ thể thực hiện hành vi là doanh nghiệp hoặc
nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc vị trí độc quyền trên thị trường
liên quan Lý thuyết cạnh tranh đã chỉ ra rằng vị trí thống lĩnh, vị trí độc
quyền có thế được hình thành từ sự tích tụ trong quá trình cạnh tranh; từ
những điều kiện tự nhiên của thị trường như: yêu cầu về quy mô hiệu quả tối
thiếu, sự biến dị của sản phẩm, sự tồn tại của các rào cản gia nhập thị trường;
hoặc sự bảo hộ của quyền lực nhà n ư ớ c Trong những trường hợp nói trên, vị
trí thống lĩnh hoặc độc quyền của doanh nghiệp là hợp pháp và đem lại cho
doanh nghiệp quyền lực thị trường, hay còn gọi là khả năng chi phối các quan
hệ trên thị trường
Theo cuốn Từ điển kinh tế học hiện đại quyền lực thị trường là khả
năng của một doanh nghiệp hoặc một nhóm các doanh nghiệp trong việc tác
động đến giá cả thị trường của một loại hàng hoá hoặc dịch vụ mà họ bản
hoặc mua.[ 12, tr 682]
Trang 15v ề mặt học thuật, có hai vấn đề cần phải làm rõ là: thứ nhát, hành vi
lạm dụng chỉ xảy ra sau khi vị trí thống lĩnh hoặc vị trí độc quyền trên thị tnrờng liên quan đã được xác lập Do đó, pháp luật chống lạm dụng không nhằm đến việc xoá bỏ vị trí thống lĩnh của doanh nghiệp, pháp luật chỉ hướng đến việc loại bỏ hành vi lạm dụng vị trí thống trị thị trường để trục lợi hoặc để bóp méo cạnh tranh Một khi doanh nghiệp có quyền lực thị trường chưa có các biểu hiện của sự lạm dụng thì chúng vẫn là chủ thể được pháp luật bảo vệ;
thứ hai, chủ thế thực hiện việc lạm dụng có thể là một doanh nghiệp đơn lẻ
hoặc một nhóm doanh nghiệp (tối đa là 4) có vị trí thống lĩnh hoặc vị trí độc quyền trên thị trường liên quan
Đối với vụ việc điều tra về hành vi lạm dụng của nhóm doanh nghiệp
có quyền lực thị trường, cơ quan có thẩm quyền cần phải phân biệt được hành
vi lạm dụng vị trí thống lĩnh với các thoả thuận hạn chế cạnh tranh Bởi trong pháp luật về hạn chế cạnh tranh, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và hành vi lạm dụng có một số điểm giống nhau, ví dụ (i) đều có thể do một nhóm doanh nghiệp thực hiện; (ii) nội dung của chúng cũng giống nhau, như: phân chia thị trường, hạn chế sản sản xuất, phân phối sản phẩm, hạn chế phát triển khoa học kỹ thuật Tuy nhiên, khi một nhóm doanh nghiệp (với tổng thị phần kết hợp đủ để thống lĩnh thị trường) thực hiện hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh thì giữa họ không có sự thoả thuận trước Ngược lại, nếu cơ quan nhà nước có thẩm quyền có đủ chứng cứ chứng minh rằng đã tồn tại một thoả thuận trong nhóm doanh nghiệp đó để thực hiện những hành vi nói trên thì hành động của họ sẽ được điều chỉnh bởi pháp luật chống thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Dấu hiệu thứ hai: Hành vỉ lạm dụng là những hành vi được luật cạnh tranh liệt kê Ngoài những khái niệm căn bản mang tính học thuật về hành vi
hạn chế cạnh tranh nói chung, cần phải gọi tên được từng hành vi lạm dụng Dựa vào đó, người ta có thể phân tích bản chất của hành vi dưới góc độ của lý thuyết, đồng thời trong công tác thực thi pháp luật, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể dễ dàng xác định sự vi phạm bàng cách đối chiếu các hành vi
Trang 16thực tê với những quy định của pháp luật Một hành vi của doanh nghiệp thống lĩnh hoặc độc quyền trên thị trường chỉ bị quy kết là lạm dụng đề hạn chế cạnh tranh khi nó mang đầy đủ các dấu hiệu của một hành vi nào đó đà được luật quy định là lạm dụng Khi chưa thể hoặc chưa có đủ chứng cứ cần thiết để kết luận về việc doanh nghiệp đã thực hiện một trong số các dạng vi phạm được quy định thì cũng không thể quy kết trách nhiệm về sự lạm dụng [18] Dưới góc độ lý luận, hành vi lạm dụng mang trong mình nó không chỉ là những thủ đoạn lợi dụng lợi thế do quyền lực thị trường đem lại cho doanh nghiệp, mà còn là nguyên nhân gây ra những hậu quả không tốt cho tình trạng cạnh tranh trên thị trường hiện tại hoặc tương lai.
Dấu hiệu thứ ba: Hậu quả của hành vi lạm dụng là làm sai lệch, cản trở hoặc giảm cạnh tranh trên thị trường liên quan Dấu hiệu này cho thấy khả năng hạn chế cạnh tranh của hành vi lạm dụng và tác hại của nó đối với
thị trường Như đã phân tích, doanh nghiệp thực hiện hành vi lạm dụng với mục đích duy trì, củng cố vị trí hiện có hoặc tận hưởng các lợi ích có được từ việc bóc lột khách hàng Các nhà hoạch định chính sách cạnh tranh của Tổ chức IIợp tác và phát triển kinh tế (viết tắt là OECD) đã đưa ra nhiều khuyến nghị về việc xác định hành vi lạm dụng, trong đó họ cảnh báo rằng chỉ có thể chống lại sự lạm dụng quyền lực thị trường thành công, khi pháp luật và
người thi hành nó xác định được những hành vi cụ thể có thể gây hại cho cạnh tranh và đánh giá được những tác động toàn diện của chúng trên thị trường có liên quan [22, tr 160] Đối với hành vi hạn chế cạnh tranh, lý luận
và kinh nghiệm pháp lý của các nước đã chỉ ra rằng, nhóm hành vi này có 3 loại vi phạm với bản chất pháp lý khác nhau là thoả thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền và tập trung kinh tế, nên không thể đưa ra một khái niệm chung chứa đựng những căn cứ cụ thể cho mọi trường hợp Trong tình trạng đó, dấu hiệu về hậu quả của hành vi hạn chế cạnh tranh chỉ được diễn tả rất khái quát, mang tính định dạng về mặt lý luận hơn là lượng hoá bằng những căn cứ cụ thể Mặt khác, do hành vi vi phạm được liệt
kê rất đa dạng bao gồm các hành vi về việc định giá bán, giá mua sản phẩm,
Trang 17thể gây ra cũng không giống nhau, nên việc đưa ra một tiêu chuẩn chung để
làm căn cứ xác định hậu quả gây ra của mọi hành vi là không thề Vì thế,
khoa học pháp lý và thực tiễn áp dụng buộc phải dựa vào việc phân tích từng
hành vi vi phạm để kết luận về khả năng và mức gây thiệt hại của nó đối với
thị trường Theo đó, từng hành vi có thể làm cản trở, giảm và sai lệch cạnh
tranh ở những mức độ khác nhau.
Dấu hiệu về hậu quả của hành vi là căn cứ để phân biệt hành vi lạm
dụng với hiện tượng tập trung kinh tế (cũng là một loại hành vi hạn chế cạnh
tranh) Tập trung kinh tế được luật cạnh tranh mô tả thông qua bốn biểu hiện
cụ thế là sáp nhập, hợp nhất, mua lại và liên doanh, là những chiến lược do
các doanh nghiệp thực hiện có khả năng hình thành nên các thế lực độc
quyền không thông qua sự tích tụ dần từ hiệu quả kỉnh tế Như vậy, nếu mức
giảm, sai lệch hoặc hạn chế cạnh tranh mà hành vi lạm dụng gây ra được
chứng minh bằng những lợi ích mà các doanh nghiệp khác, hoặc khách hàng
phải gánh chịu, thì đối với tập trung kinh tế, điều đó sẽ được chứng minh
bằng những suy đoán là việc các doanh nghiệp sáp nhập, hợp nhất, mua lại
hay liên doanh có thể làm thay đổi cấu trúc và tương quan cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp trên thị trường do chúng đã tạo ra doanh nghiệp, nhóm doanh
nghiệp có quyền lực thị trường Nói cách khác, pháp luật chống lạm dụng
hướng đến việc cấm đoán hành vi, còn pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế
có nhiệm vụ ngăn chặn khả năng hình thành các thế lực có quyền lực trên thị
trường bằng việc tiến hành tập trung kinh tế
1.1.3 Nguyên nhân và tác động của hành vi lạm dụng ví trí thống lĩnh thị trưòng, vi trí độc quyền trong nền kinh tế thị trường
Ngoài nguyên nhân cạnh tranh khốc liệt như đã nói ở trên, có thể chỉ ra
3 nguyên nhân khác dẫn đến vị trí thống lĩnh và độc quyền: (i) sự thông đồng
ngâm giữa các doanh nghiệp ở trong ngành; (ii) những cản trở đối với việc
Trang 18nhập cuộc của các doanh nghiệp tiềm năng, và (iii) độc quyền nhà nước và độc quyên tự nhiên.
Thống lĩnh và độc quyền có thể xuất hiện với tính cách là hậu quả của thủ pháp thông đồng ngầm giữa các doanh nghiệp về giá, sản lượng, khách hàng hoặc vùng tiêu thụ nhằm tối đa hoá lợi nhuận của ngành Thống lĩnh và độc quyền cũng có thể xuất hiện do sự tồn tại của những vật cản đối với khả năng nhập cuộc của các doanh nghiệp tiềm năng Đó là những vật cản mang tính pháp lý, hành chính và những vật cản mang tính kinh tế Những vật cản mang tính pháp lý chính là các điều luật loại bỏ hoàn toàn sự nhập cuộc của các doanh nghiệp tiềm năng vào một ngành kinh tế trong một giai đoạn nhất định Một ví dụ phổ biến nhất trong thực tế là lĩnh vực bảo hộ việc độc quyền khai thác các đối tượng thuộc quyền sở hữu công nghiệp của chủ văn bằng bảo hộ Việc làm này, một mặt khuyến khích đầu tư cho khoa học kỹ thuật, mặt khác lại gây ra sự thiệt hại cho xã hội do có sự độc quyền Bởi vậy, pháp luật phải tìm được thời hạn tối ưu cho việc khai thác độc quyền các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp của chủ văn bằng bảo hộ
Mặc dù độc quyền gây nhiều hậu quả cho xã hội, song ở một số ngành đặc biệt (hàng hoá và dịch vụ công cộng, ảnh hưởng tới an ninh quốc gia) nhiều nước đã phải duy trì tình trạng độc quyền nhà nước ở mức độ nhất định
để đảm bảo lợi ích của người tiêu dùng và duy trì chi phí sản xuất xã hội ở mức hợp lý do tính kinh tế của quy mô sản xuất lớn
Độc quyền tự nhiên xuất hiện thoát ly ý thức chủ quan của nhà kinh doanh Tự nhiên ở đây nói lên rằng, cơ cấu độc quyền là do đặc điểm công nghệ và nhu cầu đối với sản phẩm của ngành tạo ra chứ không phải là yếu tố lịch sử hay ảnh hưởng của cơ chế chính sách kinh tế Hay nói cách khác, trong những điều kiện về công nghệ và nhu cầu như vậy, sự tồn tại của độc quyền là khách quan và do đó biện pháp duy nhất mà Nhà nước có thể làm là điều tiết những độc quyền đó Hình thái độc quyền tự nhiên thường gặp trong các ngành công nghiệp như: điện, khí đốt, nước sạch, viễn thông
Trang 19Giống như các hiện tượng khác, thống lĩnh và độc quyền có tác động rất lớn đối với đời sống kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, theo cả chiều hướng tích cực và tiêu cực.
v ề mặt tích cực, thống lĩnh và độc quyền góp phần đẩy nhanh quá trình tích tụ, tập trung các nguồn lực để phát triển, nhất là trong những ngành kinh
tế mũi nhọn Sau khi đã xác lập được vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền, các công ty thống lĩnh, độc quyền thường phát triển nhanh chóng thành những tập đoàn hùng mạnh Sự tích tụ và tập trung nguồn lực vào tay một hoặc một nhóm các doanh nghiệp tạo điều kiện đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, mở rộng quy mô, tăng năng suất lao động, tạo ra những bước ngoặt mang tính đột phá cho bản thân doanh nghiệp và cho ngành sản xuất đó [14, tr 32] Sự mở rộng về quy mô sản xuất, đến lượt nó sẽ tạo động lực kích thích trở lại các doanh nghiệp, bởi trên thực tế ai cũng biết rằng lợi nhuận của một doanh nghiệp sẽ tăng lên theo quy mô sản xuất kinh doanh Không phải ngẫu nhiên mà nhà kinh tế học nổi tiếng người Mỹ là Joseph Schumpeter (1883 - 1950) đã ủng hộ mô hình kinh tế trong đó có sự tồn tại của các thế lực thống lĩnh và độc quyền
Đối với độc quyền nhà nước, nếu duy trì ở quy mô thích hợp và được kiểm soát tốt sẽ góp phần tạo ra sự ổn định cho nền kinh tế cũng như trong việc thực thi các chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Chính phủ, tạo thế chủ động trong hội nhập kinh tế quốc tế, bảo vệ các ngành và các cơ sở sản xuất trong nước, bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng và đáp ứng tốt các nhu cầu của quốc kế dân sinh Ở hầu hết các quốc gia, độc quyền nhà nước được
sử dụng như là một công cụ kinh tế hữu hiệu bên cạnh các công cụ khác trong việc điều tiết nền kinh tế quốc dân
Nhưng bên cạnh những tác động tích cực nói trên, thống lĩnh và độc quyền cũng có những mặt trái của nó:
Thứ nhất thống lĩnh và độc quyền đi ngược lại trật tự cạnh tranh lành
mạnh, kìm hãm động lực phát triển của nền kinh tế Khi đă có vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền, các doanh nghiệp luôn tìm cách duy trì vị trí thống lĩnh,
Trang 20độc quyên của mình băng cách tiêu diệt các đôi thủ tiêm năng, hạn chê sự xuất hiện trên thị trường của các đối thủ này Bằng thủ đoạn bóp chết đối thủ cạnh tranh thực chất đã triệt tiêu sự cạnh tranh trên thương trường, mà một khi không còn cạnh tranh thì sẽ không còn áp lực để các doanh nghiệp phát triên.
Thứ hai, thống lĩnh và độc quyền tạo ra nguy cơ khủng hoảng và suy
thoái của nền kinh tế Các doanh nghiệp thống lĩnh và độc quyền sử dụng vị thế này vào việc tự định giá cả hàng hoá độc quyền, kìm hãm sản lượng hàng hoá để tăng giá bán nhằm thu lợi nhuận siêu ngạch mà không chú trọng tới việc đổi mới công nghệ, tăng năng suất nữa Tình trạng này kéo dài sẽ làm cho năng lực của các công ty thống lĩnh và độc quyền bị suy yếu, thậm chí dẫn đến suy giảm và suy thoái của cả một ngành sản xuất nào đó Sự khan hiếm của hàng hóa và giá cả leo thang do tình trạng thống lĩnh và độc quyền gây ra sẽ là nguyên nhân đưa đến sự lạm phát và gây mất ổn định nền kinh tế, làm tăng số người thất nghiệp
Thứ ba, thống lĩnh và độc quyền tạo ra cho các công ty thống lĩnh và
độc quyền những khoản thu nhập bất chính từ lợi nhuận siêu ngạch, góp phàn làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo, bất công trong xã hội Ngay từ thế kỷ XIX, trong tác phẩm nổi tiếng “Sự giàu có của các quốc gia”, Adam Smith đã
chỉ ra bản chất của độc quyền là: “Bằng cách làm cho thị trường luôn luôn không đủ dự trữ, các nhà độc quyền đã bán háng hoả của họ với mức giá cao hơn giá tự nhiên rất nhiều, và nhờ đó, tăng phần thu nhập của họ dưới dạng tiền thưởng hay lợi nhuận ” Như vậy, lợi nhuận mà các công ty độc
quyền có được thực chất là nhờ vào việc hưởng mức chênh lệch quá đáng từ giá cả độc quyền so với giá tự nhiên của hàng hóa, tức là đã bòn rút thu nhập của đại bộ phận người tiêu dùng bỏ vào túi một số ít công ty độc quyền, đẩy những người nghèo đi đến chồ ngày càng nghèo thêm, còn các công ty độc quyền thì phất lên nhanh chóng
Cũng cần nói thêm rằng người tiêu dùng không chỉ phải chi phí đắt thêm cho hàng hóa, dịch vụ thống lĩnh, độc quyền, mà họ còn chịu thiệt thòi
Trang 21khi không được hưởng những thành quả sáng tạo trong sản xuất Nhà sản xuất sau khi đâ đạt đến vị trí thống lĩnh và độc quyền sẽ lơ là việc đầu tư cho nghiên cứu, phát minh vì giờ đây họ không còn đối thủ đế ganh đua nữa, thay vào đó họ chỉ lo việc khống chế sản lượng để tăng giá nhằm thu về lợi nhuận thống lĩnh, độc quyền tối đa Kết quả là nền sản xuất bị giậm chân tại chỗ, thị trường sẽ thiếu vắng những sản phẩm dịch vụ mới với chất lượng tốt hơn, còn người tiêu dùng thì vẫn phải chấp nhận những sản phẩm, dịch vụ cũ với giá cao vì họ không còn có sự lựa chọn nào khác.
Thứ tư, thống lĩnh và độc quyền còn dẫn đến tình trạng “cửa quyền”
hay “đặc quyền” cho một nhóm người có lợi ích Thống lĩnh, độc quyền tất yếu sẽ sản sinh ra cơ chế “xin - cho”, “ban phát” và điều này ảnh hưởng không nhỏ đến sinh hoạt và sản xuất Nói về tác hại của độc quyền đối với sự phát triển của nền kinh tế, Thủ tướng Phan Văn Khải cũng đã từng nhận định:
“ Độc quyền sẽ dẫn đến cửa quyền Độc quyền sẽ làm cho những nhân tố tích cực, những người làm ăn giỏi không ngóc đầu dậy được ” [23]
Ngoài ra thống lĩnh và độc quyền còn là bạn đồng hành với tiêu cực và tham nhũng Các doanh nghiệp thống lĩnh, độc quyền luôn có xu hướng liên
hệ và tranh thủ sự ủng hộ của các cơ quan quản lý Nhà nước để bảo vệ vị thế thống lĩnh và độc quyền của mình Điều này làm xuất hiện nguy cơ tham nhũng, tha hoá trong bộ máy công quyền Kinh nghiệm của Hàn Quốc cho thấy, khi các Chaebol vượt ra ngoài tầm kiểm soát, chúng quay trở lại mua chuộc, lôi kéo các quan chức nhà nước, gây nên nạn tham nhũng trầm trọng [25, tr 84] Ở Việt Nam hiện nay cũng vậy, trong bói cảnh dự luận xã hội đang lên tiếng mạnh mẽ phản đối tình trạng thống lĩnh, độc quyền nhà nước,
đế duy trì vị thế thống lĩnh, độc quyền, các doanh nghiệp thống lĩnh, độc quyền phải tìm cách “nuôi” bộ máy công quyền, mua chuộc những nhà chức trách có thẩm quyền để họ lên tiếng bảo vệ sự thống lĩnh và độc quyền Một
số vụ án kinh tế lớn được đưa ra xét xử trong thời gian qua có liên quan đến các quan chức cấp cao trong bộ máy Nhà nước đã phần nào minh chứng cho điều này
Trang 221.2 PHÀP LUẬT KIÊM SOAT ĐỒI VỜI HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THÒNG LĨNH THỊ TRƯỜNG, VỊ TRÍ Độc QUYÈN
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của pháp luật kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trưòng, vị trí độc quyền
Nhằm nhằm tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh, điều hòa lợi
ích của các chủ thể trên thị trường, thúc đẩy nền kinh tế phát triển, các quốc
gia đều phải xây dựng một khung pháp luật về cạnh tranh và kiểm soát thống
lĩnh, độc quyền Theo giáo sư Yves Serra, Giám đốc trung tâm nghiên cứu
Luật cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng, khoa Luật, Đại học Montpellier,
luật cạnh tranh được hiểu là “tỏng họp các quy phạm pháp luật áp dụng đổi
với các tác nhân kinh tể trong hoạt động cạnh tranh nhằm bảo đảm cho cạnh
tranh diễn ra một cách hợp lý, tức là không thái quả ” Luật cạnh tranh thực
chất là tổng hợp các biện pháp tác động ngược trở lại các quyền tự do này
bằng cách xác định những hành vi mà các chủ thể kinh doanh không được
phép làm Nói cách khác, luật cạnh tranh chính là các biện pháp mà nhà nước
sử dụng để điều tiết, đảm bảo cho cạnh tranh không diễn ra một cách nguyên
thủy, vô chính phủ
Hoa Kỳ là nước đầu tiên trên thế giới ban hành đạo luật chống độc
quyền Đó là đạo luật Sherman năm 1890, sau đó là đạo luật Clayton năm
1914 Mục đích của việc ban hành những đạo luật này là nhằm ngăn cản độc
quyền hay sự tập trung quá mức của quyền lực kinh tế, ngăn cản những hành
vi hạn chế, phá hoại cạnh tranh Những quy định trong hai đạo luật nói trên
của Hoa Kỳ sau này đã ảnh hưởng đến hầu hết các quốc gia phương Tây cũng
như các quốc gia khác
Tiếp sau Hoa Kỳ, hàng loạt các nước Châu Âu và Châu Á đã ban hành
đạo luật riêng rẽ hoặc các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động cạnh tranh,
trong đó có các quy định về kiếm soát hành vi thống lĩnh và độc quyền
Mặc dù chính sách cạnh tranh và kiểm soát thống lĩnh, độc quyền của
từng nước là khác nhau, song vẫn có thể nhận thấy bên cạnh những điểm đăc
Trang 23thù do sự chi phối bởi các yếu tố chính trị và truyền thống, pháp luật về kiểm soát thống lĩnh, độc quyền của các quốc gia vẫn có những điểm chung.
Thứ nhất, pháp luật về kiểm soát thống lĩnh, độc quyền của hầu hết các nước đều tập trung vào hai vấn đề trọng tâm là quy định hành lang pháp lý để kiêm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền của các công ty thống lĩnh, độc quyền, và kiểm soát hoạt động tập trung quyền lực kinh tế thông qua việc hợp nhất, sáp nhập, mua lại quyền điều hành dưới mọi hình thức Trong đó khía cạnh thứ hai được pháp luật kiểm soát hành vi thống lĩnh,
độc quyền của các nước đặc biệt quan tâm Tuy nhiên, pháp luật các nước có
sự điều chỉnh cũng không hoàn toàn giống nhau về kiểm soát việc hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp
Thứ hai, pháp luật về kiểm soát thống lĩnh, độc quyền ở các nước đều
quy định các biện pháp chế tài rất nghiêm khắc đối với những hành vi bị coi
là vi phạm pháp luật chống độc quyền hoặc tập trung kinh tế trái pháp luật đối với các công ty thống lĩnh, độc quyền cũng như đối với những người lãnh đạo, quản lý các công ty đó Những chế tài này có thể bao gồm từ chế tài hành chính (như hủy bỏ vụ sáp nhập, buộc phải chia tách ) chế tài kinh té (phạt tiền) đến chế tài hình sự (bỏ tù những cá nhân sai phạm )
Thứ ba, cho dù nội dung cụ thể có khác nhau, nhưng mục đích chung
của việc điều chỉnh các quan hệ cạnh tranh và kiểm soát thống lĩnh, độc quyền bằng pháp luật ở các nước là nhằm tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh, điều hòa lợi ích của các chủ thể trên thị trường, thúc đẩy nền kinh
tế phát triển Pháp luật chống các hành vi hạn chế cạnh tranh, kiểm soát độc quyền nhằm mục đích đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh, công bằng và từ đó đảm bảo cho hoạt động kinh doanh được công bằng, tự do Nó là công cụ trong tay Nhà nước để duy trì quyền tự do cạnh tranh lành mạnh bằng việc hạn chế các đặc quyền kinh tế trong kinh doanh Mục đích lớn nhất của pháp luật chống các thoả thuận hoặc hành vi hạn chế cạnh tranh, kiểm soát độc quyền là đảm bảo sự điều hành nền kinh tế phát triển một cách tự do, xác lập các hoạt động kinh doanh công bằng Và ngày nay, ở nhiều nước trên thế giới
THU VIỆN
■ -ư U N & G A I H O C LÙẬT HÀ NỘi
' eoc _ I _ i
Trang 24người ta nói rằng, pháp luật chống các thoả thuận hoặc hành vi hạn chế cạnh
tranh, kiểm soát độc quyền được xem như là Hiến pháp của kinh tế
Thứ tư, Pháp luật kiểm soát thống lĩnh, độc quyền bao gồm những quy
phạm pháp luật nội dung và các quy phạm pháp luật tố tụng Các quy phạm
pháp luật tố tụng là những đảm bảo pháp lý quan trọng cho việc thực thi các
quy phạm pháp luật nội dung trong thực tiễn Pháp luật kiểm soát thống lĩnh,
độc quyền cũng quy định cụ thể về các thiết chế có thẩm quyền thực thi pháp
luật kiếm soát thống lĩnh, độc quyền như cơ quan quản lý cạnh tranh, hội
đồng cạnh tranh Bên cạnh đó pháp luật kiểm soát thống lĩnh, độc quyền có
mối quan hệ chặt chẽ với các ngành luật khác như luật hiến pháp, luật hình sự,
luật hành chính và các lĩnh vực luật khác như luật tài sản, luật hợp đồng, luật
về bồi thường thiệt hại, luật sở hữu trí tuệ
1.2.2 Vai trò của pháp luật trong việc kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trưòng, vị trí độc quyền
Hầu hết các quốc gia đều nhận thức được rằng không thể xóa bỏ thống
lĩnh, độc quyền bằng sức mạnh nhà nước hay bằng bất kỳ cách thức nào khác,
trái lại, Nhà nước chỉ có thể áp dụng những biện pháp nhằm hạn chế và kiểm
soát nó Bằng những thuộc tính của mình, đặc biệt là tính quy phạm và tính
cưỡng chế bắt buộc, pháp luật được xem là công cụ quan trọng nhất cho việc
kiểm soát thống lĩnh, độc quyền Tình trạng lạm dụng vị thế thống lĩnh, độc
quyền chỉ được kiểm soát tốt nếu như các hành vi của doanh nghiệp bị kiềm
tỏa bởi hệ thống các quy định của pháp luật ổn định, chặt chẽ, đi kèm những
chế tài nghiêm khắc Ngược lại, nếu thiếu điều này thì các giải pháp kiểm soát
thống lĩnh, độc quyền khác sẽ khó phát huy tác dụng
Thông qua pháp luật, Nhà nước xác định ranh giới pháp lý mà nếu vượt
quá ranh giới đó thì một doanh nghiệp sẽ bị coi là ở vào vị thế thống lĩnh hoặc
độc quyền, pháp luật cũng xác định đâu là những hành vi lạm dụng vị thế
thống lĩnh, độc quyền mà doanh nghiệp bị cấm hoặc bị hạn chế và những chế
tài nếu doanh nghiệp vi phạm Pháp luật về chống độc quyền còn thiết lập cơ
chế pháp lý nhằm kiềm soát từ xa tất cả các thoả thuận, liên kết và các hành vi
Trang 25tập trung kinh tế có thể dẫn đến sự hạn chế hoặc triệt tiêu cạnh tranh và tạo ra nguy cơ hình thành độc quyền Có thể nói, mục đích lớn nhất của pháp luật kiểm soát thống lĩnh, độc quyền là duy trì sự tương quan thị trường trong một môi trường cạnh tranh lành mạnh, giới hạn và điều hoà giữa lợi ích của các chủ thề có vị thế độc quyền trên thị trường với lợi ích chung của toàn xã hội.
Thông qua cơ chế điều chỉnh như trên, pháp luật về kiểm soát hành vi thống lĩnh và độc quyền có những vai trò như sau:
- Đảm bảo sự ổn định và phát triển của nền kinh tế thị trường, ngăn chặn các tác hại và khuyến khích những mặt tích cực của hoạt động cạnh tranh trong cơ chế thị trường;
- Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trước những hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền của các doanh nghiệp hoặc tổ chức có vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền;
- Đảm bảo quyền lợi của các chủ thể kinh doanh khác trong một thị trường liên quan (bảo đảm quyền lợi của các đối thủ cạnh tranh đối với cùng một loại hàng hoá, dịch vụ ở một khu vực địa lý nhất định);
- Đảm bảo độc quyền Nhà nước trong một số lĩnh vực, đối tượng hàng hoá, dịch vụ trong một khoảng thời gian, không gian nhất định nhằm đảm bảo
an ninh quốc phòng, bảo đảm sự ổn định tương đối của thị trường, đảm bảo
sự phát triển bền vững của nền kinh tế
Tựu chung lại, vai trò của pháp luật cạnh tranh là duy trì sự tương quan thị trường trong một môi trường cạnh tranh lành mạnh, duy trình cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền và các doanh nghiệp khác trên thị trường, góp phần tạo lập và duy trì môi trường kinh doanh bình đăng Với vai trò phân tích ở trên, việc ban hành pháp luật cạnh tranh được xem là công cụ pháp lý hữu hiệu nhất trong tay nhà nước đề can thiệp, điều tiết cạnh tranh, kiểm soát độc quyền có hiệu quả, duy trì sự vận hành bình thường của nền kinh tế, góp phần tạo lập và duy trì môi trường kinh doanh bình đẳng
Trang 261.3 PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT ĐỚI VỚI HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG, VỊ TRÍ Đ ộ c QUYỀN M ỘT SÓ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
1.3.1 Kiểm soát hành vi lam dung vi trí thống lĩnh, vi trí đôc• • o • o 7 • •
quyền theo pháp luật của Mỹ
Mỹ là quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển hàng đầu thế giới, và
cũng là nước mà các hành vi cạnh tranh diễn ra sôi động và khốc liệt nhất Do
đó không lấy gì làm ngạc nhiên rằng Mỹ là một trong những nước đã ban hành
luật cạnh tranh khá sớm, chỉ sau Canada Vì nước Mỹ luôn cổ vũ cho sự cạnh
tranh tự do, nên pháp luật cạnh tranh của Mỳ không thiết lập nên nhiều các
ràng buộc pháp lý để kiểm soát hành vi cạnh tranh, vì theo họ làm như vậy sẽ
hạn chế sự cạnh tranh, mà tập trung chủ yếu vào việc ngăn ngừa, hạn chế nguy
cơ hình thành độc quyền, mối đe dọa lớn nhất có thể bóp chết cạnh tranh
Mọi doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền, đều thể hiện khả
năng điều khiển thị trường qua giá cả, cung cầu Ở Mỹ, một số trường họp sẽ
bị đưa ra xét xử tại tòa hình sự chứ không chỉ còn đơn thuần là xử phạt hành
chính Luật Sherman không câm trở thành nhà độc quyền hoặc thậm chí là
ứng xử như nhà độc quyền bằng cách tăng giá hoặc giảm sản lượng Thay vì
đó, hành vi bị cấm là hành vi sử dụng các biện pháp không lành mạnh để đạt
được hoặc duy trì độc quyền chủ yếu bằng cách loại các đối thủ cạnh tranh có
hiệu quả Các hình phạt hiện đang áp dụng rất hà khắc, nhằm đạt được mục
tiêu buộc đa dạng hoá hoặc tái cơ cấu nhờ đó phá vờ độc quyền và tạo ra các
doanh nghiệp cạnh tranh thay cho các doanh nghiệp độc quyền Nhưng các
trường hợp độc quyền hoá có thể bằng những thủ đoạn rất tinh vi, phức tạp và
ít khi bị kiện [24, tr 269] Theo tiến sĩ J Elizabeth Callison, ủ y ban Thương mại liên bang Hoa Kỳ, 2/3 mục tiêu quan trọng nhất của chính sách cạnh
tranh Hoa Kỳ tập trung chính vào người tiêu dùng: thúc đẩy lợi ích của người
tiêu dùng, thứ đến là bảo vệ cạnh tranh cho lợi ích của người tiêu dùng
Trang 27ơ Mỹ, việc duy trì chính sách pháp luật và thực thi nhiệm vụ kiểm soát độc quyền được giao cho hai cơ quan khác nhau Cơ quan thứ nhất là Vụ Chông độc quyền (Antitrust Division) thuộc Bộ Tư Pháp, là một bộ phận thuộc một cơ quan điều hành của Chính phủ Việc đặt cơ quan này trong Bộ
Tư pháp hơn là một bộ chuyên sâu hơn về chính sách kinh tế xuất phát từ thực
tế là Luật Sherman có nguồn gốc là một luật về hình sự Luật này vận dụng truyền thống khởi tố cũng như phân tích chính sách Cơ quan thứ hai là Uỷ ban Thương mại liên bang (Federal Trade Commission), là một cơ quan độc lập được đặt giữa cơ quan hành pháp và cơ quan lập pháp Một trong những
lý do cần phải thành lập cơ quan này là để đưa nhiều hơn kiến thức chuyên sâu và chính sách cạnh tranh; Tuy nhiên, luật cơ bản của Uỷ ban thương mại liên bang (FTC) được xây dựng trên cơ sở luật chung về cạnh tranh, và FTC còn được giao nhiệm vụ thực thi và tố tụng luật Năm 1914, các kiến nghị thành lập một cơ quan cạnh tranh có quyền điều tiết kinh tế trực tiếp đã bị bãi
bỏ ngay lập tức [24, tr 266,269] Như vậy, nước Mỹ có 2 cơ quan thực thi luật cạnh tranh: cán bộ của cả 2 cơ quan này là các luật gia và các nhà kinh tế; cả hai cơ quan này đều kết hợp các kiến thức chuyên môn về chính sách và các
kỹ năng tố tụng với sự điều giải chính trị (đạt được bằng những cách khác nhau), cả hai cơ quan đều thực thi chính sách cạnh tranh chủ yếu bằng cách áp dụng các nguyên tắc chung vào từng trường hợp cụ thể Thực tế lịch sử cho thấy việc tồn tại hai cơ quan như trên không dẫn tới sự mâu thuẫn do thẩm quyền của chúng đã được phân định Nhưng việc có hai cơ quan cũng làm phát sinh thêm một số chi phí cho mỗi cơ quan trong việc phối hợp chính sách
và hành động với nhau Cả hai cơ quan thực thi pháp luật cạnh tranh đều có
đủ quyền lực để hành động một cách độc lập, để thu thập thông tin cần thiết cho việc ra các quyết định có căn cứ và để bảo đảm quyết định của họ khả thi Trong một số ngành nghề, lĩnh vực quan trọng thì cả hai cơ quan đều có thẩm quyền can thiệp và chỉ cần một trong hai cơ quan có kết luận rằng vụ việc hoặc hành vi nào đó vi phạm Luật cạnh tranh là coi như vụ việc hoặc hành vi
đó có vi phạm và sẽ bị xử lý
Trang 281.3.2 Kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền theo pháp luật của Liên minh châu Âu (EU)
Một trong những mục tiêu liên kết của Liên minh Châu Âu là nhằm
“thực hiện một chính sách thương mại chung” và “xác lập một hệ thống bảo
đảm cho việc cạnh tranh trong thị trường chung” Bởi vậy, Hiệp ước EC - với
tính cách là một trong hai hiệp ước nền tảng của Liên minh Châu Âu - đã
chứa đựng nhiều điều khoản về chống hạn chế cạnh tranh trong thị trường
Châu Âu Có thể tóm tắt các điều khoản quan trọng nhất là: Điều 30 quy định
cấm áp dụng hạn chế số lượng và các biện pháp có tác dụng tương tự Điều 34
quy định việc cấm tương tự đối với hàng xuất khẩu Điều 37 bổ sung cho
Điều 30 và 34, theo đó yêu cầu các quốc gia thành viên cần “điều chỉnh dần
dần đối với các hành vi độc quyền thương mại để đảm bảo không có sự phân
biệt về các điều kiện mua và thâm nhập hàng hoá trên thị trường giữa các
công dân của cá nước thành viên Quy định này chỉ áp dụng đối với các
hành vi độc quyền của các quốc gia trong lĩnh vực cung cấp hàng hoá, không
áp dụng trong lĩnh vực dịch vụ
Điều 86 cũng cấm việc tận dụng một cách lạm dụng vị trí thổng trị thị
trường chung hoặc tận dụng một cách lạm dụng một phần cơ bản của thị
trường chung bởi một hoặc nhiều doanh nghiệp, nếu việc đó có thể dẫn đến
việc làm ảnh hưởng giữa các nước thành viên
Nếu cạnh tranh có nguy cơ bị hạn chế đáng kể trên lãnh thổ một quốc gia thành viên khi không có sự can thiệp của Uỷ ban và nếu lợi ích của quốc gia thành viên này không có khả năng được bảo vệ một cách đầy đủ bởi những quy
định khác với quy định của Quy chế này thì cần phải hạn chế thẩm quyền của các cơ quan quản lý Nhà nước về cạnh tranh của quốc gia thành viên đó Các
quốc gia thành viên khác có liên quan cần phải hành động nhanh chóng trong những trường hợp như vậy Do có sự khác biệt giữa pháp luật của các quốc gia thành viên cho nên Quy chế này không thể ấn định cho tất cả các quốc gia một thời hạn duy nhất trong việc ban hành những biện pháp cần thiết
Trang 29Xét đến những hệ quả của hoạt động tập trung kinh tế một khi chúng được thực hiện tại các thị trường độc quyền ít người bán, càng thấy sự cần thiết phải duy trì cạnh tranh thực tế trên những thị trường loại này Việc có nhiều thị trường độc quyền ít người bán là dấu hiệu về một mức độ cạnh tranh phù hợp Tuy nhiên, trong một số trường hợp, những dự án tập trung kinh tế
có nội dung loại bỏ những ràng buộc cạnh tranh trên thị trường của doanh nghiệp này đối với doanh nghiệp khác hoặc làm giảm áp lực cạnh tranh đối với các đối thủ cạnh tranh khác thì cho dù không có sự liên kết giữa các thành viên của nhóm độc quyền, vẫn có thể coi những dự án như vậy là có hệ quả làm hạn chế đáng kể cạnh tranh thực tế
1.3.3 Kiểm soát hành vi lam dung vi trí thống lĩnh, vi trí đôc• • o • o 7 • •quyền theo pháp luật Trung Quốc
Trung Quốc là một nước có nền kinh tế với đặc điểm rất giống nền kinh
tế Việt Nam Ớ nước này, sự “ngự trị” của cơ chế kinh tế kế hoạch hoá, tập trung trong suốt một thời gian dài với doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp tập thế chiếm tỷ trọng tuyệt đối, sự tham gia của bộ phận kinh tế cá thể không đáng kể, nên việc cần thiết phải có một cơ chế pháp lý nhàm bảo hộ quyền tự do kinh doanh hầu như chưa được đặt ra Quan hệ kinh tế giữa các đơn vị kinh tế chủ yếu dựa trên sự hợp tác, thi đua chứ chưa mang tính chất cạnh tranh Trong những năm đầu thập kỷ 80, Trung Quốc vẫn chưa xây dựng một văn bản pháp luật chung đó là Luật về cạnh tranh nhằm thống nhất áp dụng trong cả nước để điều chỉnh các nhóm quan hệ cạnh tranh, chống các hành vi cạnh tranh bất hợp pháp
Đến cuối thập kỷ 80 và đầu những năm 90, cùng với sự phát triển kinh
tế mạnh mẽ, đã xuất hiện những hành vi cạnh tranh không lành mạnh và ngăn cản cạnh tranh Luật chống cạnh tranh không lành mạnh ở Trung Quốc được chính thức ban hành ngày 02/09/1993, có hiệu lực từ ngày 01/12/1993 để đảm bảo sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế, nhằm khuyến khích và bảo vệ cạnh tranh lành mạnh, ngăn chặn những hành vi cạnh tranh không lành mạnh, bảo vệ quyền lợi được phát luật thừa nhận của các nhà kinh doanh và người
Trang 30tiêu dùng Chính việc ban hành Luật chống cạnh tranh không lành mạnh, Nhà nước Trung Quốc đã thể hiện sự khuyến khích, ủng hộ và bảo vệ mọi tổ chức, tham gia giám sát hành động cạnh tranh Phạm vi điều chỉnh của Luật rất rộng, về việc lạm dụng vị trí độc quyền có những quy định sau:
- Các xi nghiệp đang được pháp luật công nhận vị thế độc quyền không được ép buộc mọi người mua hàng hoá của doanh nghiệp do họ chỉ định nhằm loại trừ những người sản xuất kinh doanh khác ra khỏi vòng cạnh tranh ỉành mạnh (Điều 6);
- Chính quyền địa phương không được sử dụng các biện pháp hành chính để ép buộc khách hàng mua hàng hoá ở những địa chỉ chỉ định, không được ngăn cản sự giao lưu và chuyên chở hàng hoá giữa các vùng (Điều 7)
Ngăn chặn mọi hành vi hối lộ, đút lót để có được lợi thế khi mua bán hàng hoá, ngăn cản hành vi bán phá giá, hạ giá một cách phi lý để loại trừ cạnh tranh (trừ một số mặt hàng được quy định như hàng tươi sống, hàng ế hoặc sắp hết thời hạn sự dụng, hàng theo mùa, hàng phục vụ cho những mục đích hợp lý như để trả nợ, thay đổi công nghệ sản xuất)
Bộ luật cũng quy định rất rõ, nếu người kinh doanh vi phạm những quy định của luật này thì phải bồi thường thiệt hại do họ gây ra kể cả những thiệt hại phát sinh từ những thiệt hại ban đầu Hành vi vi phạm cá nhân có thể bị phạt từ 10.000 đến 20.000 nhân dân tệ, còn đối với các xí nghiệp bị phạt từ 50.000 đến 200.000 nhân dân tệ và có thể bị truy tố trước Toà án nhân dân
Để thực hiện tốt những điều khoản này, Bộ luật còn quy định về công tác kiểm tra và thanh tra nhằm tăng cường hiệu lực của Luật, cấ p cao nhất là Thanh tra trung ương Cơ quan này và những chi nhánh của nó có thẩm quyền kiểm tra và thanh tra với những chức năng được quy định rất cụ thể:
- Được quyền thẩm vấn nhà kinh doanh khi bị nghi là có hành vi cạnh tranh không lành mạnh và các đơn vị, cá nhân, người làm chứng có liên quan; được quyền yêu cầu họ cung cấp các tài liệu làm bằng chứng hoặc các thông tin khác có liên quan
Trang 31- Được phép khảo sát và sao lại các văn bản họp đồng, số sách kế toán, phiếu thu, phiếu chi báo giá, phiếu nhập hàng, công văn, giấy tờ và những tài liệu liên quan đến hoạt động kinh doanh.
- Được quyền thanh tra các tài khoản, tài sản có liên quan tới hoạt động cạnh tranh không lành mạnh đã được quy định ở trên Khi cần thiết, được quyền đòi nhà kinh doanh đang bị thanh tra phải giải thích rõ về nguồn gốc chất lượng hàng hoá, được quyền tạm thời đình chỉ việc bán háng hoá đó [27,
tr 423, 424]
Như vậy, những nhân viên thực hiện thanh tra và kiếm soát những hành
vi cạnh tranh không lành mạnh có quyền hạn rất lớn, tuy nhiên, họ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những quyết định của họ
Trang 32CHƯƠNG 2 KIẺM SOÁT HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THÓNG LĨNH• • •
THỊ TRƯỜNG, VỊ TRÍ ĐỘC QUYÈN THEO LUẬT CẠNH TRANH
VIỆT NAM
2.1 NHỮNG QUY ĐỊNH VÈ XÁC ĐỊNH THỊ TRƯỜNG LIÊN QUAN, XÁC ĐỊNH VỊ TRÍ THÓNG LĨNH, VỊ TRÍ Độc QUYÈN CỦA DOANH NGHIỆP
2.1.1 Xác định thị trường liên quan
Muốn xác định là có hay không có quan hệ cạnh tranh trước hết đòi hỏi phải xác định được thị trường liên quan Khi xử lý các vụ việc về cạnh tranh thì việc xác định thị trường liên quan chính là công việc đầu tiên mà các chủ thế áp dụng luật cạnh tranh cần phải tiến hành Câu trả lời có hay không có thị trường liên quan có thể sẽ dẫn đến việc thụ lý hay không thụ lý một vụ việc cạnh tranh
Không thể nói cạnh tranh một cách chung chung, mà ngay ừong định nghĩa đã chỉ rõ: cạnh tranh chỉ có thế diễn ra trên thị trường liên quan Nói một cách dễ hiểu, cạnh tranh là sự ganh đua giữa các sản phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu giống nhau trên một khu vực địa lý xác định Đương nhiên, không thể nói đến cạnh tranh giữa một nhà sản xuất xi măng với một nhà kinh doanh đồ ăn uống; hoặc không thể cạnh tranh giữa hai nhà sản xuất quần áo ở hai quốc gia chưa hề có quan hệ thương mại
Thị trường liên quan là một trong những khái niệm cơ bản quan trọng hàng đầu của luật cạnh tranh và trước tiên, nó thuộc về phạm trù kinh tế Nội hàm của nó thường được xác định thông qua hai yếu tố là thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan Theo luật mẫu về cạnh tranh của Tổ
chức thương mại và phát triển của Liên hợp quốc (UNCTAD) thì thị trường liên quan dùng đê chỉ những điều kiện chung theo đỏ người bán và người mua trao đổi hàng ho á, và cũng có nghĩa chỉ ra phạm vi về mặt không gian để xác định những nhóm người bán và người mua hàng hoá trong đó cạnh tranh
cỏ thê bị hạn chế.
Trang 33Việc phân chia thị trường liên quan thành thị trường sản phấm liên quan và thị trường địa lý liên quan không có nghĩa là có hai thị trường riêng biệt Ngược lại, đây là hai khía cạnh của một thị trường liên quan: khía cạnh sản phâm và khía cạnh địa lý Ví dụ: Thị trường nước giải khát có ga tại Việt Nam - Thị trường của tất cả sản phẩm liên quan là các loại nước giải khát có
ga có thể thay thế cho nhau trong một khu vực địa lý liên quan là toàn bộ lãnh thổ Việt Nam
Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Cạnh tranh, thị trường liên quan bao gồm thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan:
- Thị trường sản phẩm liên quan là thị trường của những hàng hoá, dịch
vụ có thế thay thế cho nhau về đặc tínfy mục đích sử dụng/và giá cả v ề lý luận cũng như kinh nghiệm của các nước có truyền thống về luật cạnh tranh,
đế xác định thị trường liên quan, người ta phải xác định cho được các hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau một cách hợp lý hay không Tuy nhiên,
đe xác định cho được khả năng thay thế cho nhau một cách hợp lý giữa các hàng hoá hay dịch vụ cụ thể không phải là điều đơn giản Thông thường, để làm được điều này, người ta căn cứ vào tổng thể nhiều tiêu chí như đặc điếm của sản phâm, mục đích sử dụng của người tiêu dùng, chi phí, giá thành sản phẩm trong đó, các nước khác nhau nhấn mạnh đến những tiêu chí khác nhau Chẳng hạn, Hoa Kỳ nhấn mạnh đến 3 yếu tố là: các tính toán về chi phí
dự đoán để thay thế sản phẩm; ý kiến đánh giá của các chuyên gia kinh tế, dữ liệu từ nghiên cứu thị trường Trong khi đó, Cộng hoà liên bang Đức thường tham khảo ý kiến của người tiêu dùng mà xác định sản phẩm có thể thay thế được chức năng của nhau hay không Ví dụ, thị trường giữa các nhà sản xuất
xi măng với nhau, thị trường giữa các nhà sản xuất thép với nhau, hoặc thị trường giữa các nhà sản xuất xà phòng bột và chất tẩy rửa (trong chừng mực
mà hai sản phẩm có thể thay thế được cho nhau trong điều kiện thương mại thông thường)
- Thị trường địa lý liên quan là một khu vực địa lý cụ thể (có thề là một khu phố, một tỉnh, một vùng, một quốc gia, thậm chí là liên quốc gia) trong
Trang 34đó có những hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranh tương tự và có sự khác biệt đáng kể với các khu vực lân cận Đó là giới hạn không gian mà các hành vi cạnh tranh tác động một cách đáng kê đến các chủ thế tham gia cạnh tranh Ví dụ: khi Tổng công ty bưu chính viễn thông yêu cầu các doanh nghiệp thành viên thống nhất mức cước điện thoại di động tối thiểu thì thoả thuận khống chế giá của các doanh nghiệp này chỉ có tác động trên thị trường Việt Nam; khi Hiệp hội taxi Hà nội thoả thuận khống chế giá, thoả thuận sử dụng loại xe giữa các doanh nghiệp thành viên thì các thoả thuận này chỉ có hiệu lực trên thị trường Hà nội mà không ảnh hưởng đáng kể đến thị trường các khu vực địa lý khác.
Việc xác định thị trường liên quan có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình xử lý vụ việc cạnh tranh
Thứ nhất, xác định thị trường liên quan là công việc đầu tiên để xác
định thị phần của từng doanh nghiệp trong vụ việc cạnh tranh Theo các quy định tại khoản 2 Điều 9, Điều 11, 18 và 19 của Luật cạnh tranh, thị phần là cơ
sở đê xác định liệu các doanh nghiệp tham gia thoả thuận hạn chế cạnh tranh
có bị cấm thực hiện thoả thuận đó hay không; xác định vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp; xác định trường hợp tập trung kinh tế bị cấm và trường hợp các doanh nghiệp tập trung kinh tế cần phải thông báo cho Cục Quản lý cạnh tranh trước khi tiến hành
Thứ hai, xác định thị trường liên quan là cơ sở quan trọng để xác định
hai doanh nghiệp có phải là đối thủ cạnh tranh của nhau hay không Các doanh nghiệp chỉ có thể là đối thủ cạnh tranh của nhau nếu những doanh nghiệp này cùng hoạt động trên cùng một thị trường liên quan
Thứ ba, xác định thị trường liên quan giúp cho việc xác định mức độ
gây hạn chế cạnh tranh do hành vi vi phạm các quy định của Lụât Cạnh tranh gây ra [19]
Trang 35* X ác định thị trường sản phâm liên quan
Theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 1 16/2005/NĐ-CP ngày 15 tháng
09 năm 2005 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh (sau đây gọi tắt là Nghị định số 116) việc xác định thị trường sản phẩm liên quan bao gồm xác định các hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau cả về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả
- Đặc tính của hàng hoá, dịch vụ được xác định theo một hoặc một sốcăn cứ sau: tính chất vật lý, tính chất hoá học, tính năng kỹ thuật, tác dụng phụ đối với người sử dụng, khả năng hấp thụ
- Mục đích sử dụng của hàng hoá, dịch vụ được xác định căn cứ vàomục đích sử dụng chủ yếu nhất của hàng hoá, dịch vụ đó
- Giá cả của hàng hoá, dịch vụ là giá ghi trong hoá đơn bán lẻ theo quyđịnh của pháp luật
Thuộc tính “có thể thay thế cho nhau” của hàng hoá, dịch vụ được xác định như sau:
- Hàng hoá, dịch vụ được coi là có thể thay thế cho nhau về đặc tính nếu hàng hoá, dịch vụ đó có nhiều tính chất về vật lý, hoá học, tính năng kỹ thuật, tác dụng phụ đối với người sử dụng và khả năng hấp thụ giống nhau;
- Hàng hóa, dịch vụ được coi là có thể thay thế được cho nhau về mục đích sử dụng nếu hàng hoá, dịch vụ đó có mục đích sử dụng giống nhau;
- Hàng hoá, dịch vụ được coi là có thể thay thế được cho nhau về giá cả nếu trên 50% của một lượng mẫu ngẫu nhiên 1.000 người tiêu dùng sinh sống tại khu vực địa lý liên quan chuyển sang mua hoặc có ý định mua hàng hoá, dịch vụ khác có đặc tính, mục đích sử dụng giống với hàng hoá, dịch vụ mà
họ đang sử dụng hoặc có ý định sử dụng trong trườns, hợp giá của hàng hoá, dịch vụ đó tăng lên quá 10% và được duy trì trong 06 tháng liên tiếp Trường hợp số người tiêu dùng sinh sống tại khu vực địa lý liên quan quy định tại
Trang 36điểm này không đủ 1.000 người thì lượng mẫu ngẫu nhiên được xác định tối thiểu bàng 50% tổng số người tiêu dùng đó.
Trường họp phương pháp xác định thuộc tính “có thế thay thế cho nhau” của hàng hoá, dịch vụ theo đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả nói trên cho kết quả chưa đủ để kết luận thuộc tính “có thể thay thế cho nhau” của hàng hoá, dịch vụ, Cục quản lý cạnh tranh, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh
có quyền xem xét thêm một hoặc một số yếu tố sau đây để xác định thuộc tính
“có thể thay thế cho nhau” của hàng hóa, dịch vụ:
- Tỷ lệ thay đổi của cầu đối với một hàng hoá, dịch vụ khi có sự thay đôi về giá của một hàng hoá, dịch vụ khác;
- Thời gian cung ứng hàng hoá, dịch vụ ra thị trường khi có sự gia tăng
r \ A
_1_ /V , 1 • / y A /V
đột biên vê câu;
- Thời gian sử dụng của hàng hoá, dịch vụ;
- Khả năng thay thế về cung (là khả năng của doanh nghiệp đang sản xuất, phân phối hàng hoá, dịch vụ khác trong một khoảng thời gian ngắn và không CỐ sự tăng lên đáng kể về chi phí trong bối cảnh có sự tăng lên về giá của hàng hoá, dịch vụ khác đó)
Trong trường hợp cần thiết, Cục quản lý cạnh tranh, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh có thể xác định thêm nhóm người tiêu dùng sinh sống tại khu vực địa iý liên quan không thể chuyển sang mua hàng hoá, dịch vụ khác có đặc tính, mục đích sử dụng giống với hàng hoá, dịch vụ mà họ đang sử dụng hoặc có ý định sử dụng trong trường hợp giá của hàng hoá, dịch vụ đó tăng lên quá 10% và được duy trì trong 06 tháng liên tiếp
Ngoài cách xác định thị trường sản phẩm liên quan nói trên, trong một số trường hợp đặc biệt theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 116 thì thị trường sản phẩm liên quan còn có thể được xác định là thị trường của một loại sản phẩm đặc thù hoặc một nhóm các sản phẩm đặc thù căn cứ vào cấu trúc thị trường và tập quán của người tiêu dùng Trong trường hợp này, việc xác định thị trường sản phẩm liên quan có thể xem xét thêm thị trường của các sản phẩm bổ trợ cho