1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trình tự, thủ tục giải quyết các việc dân sự theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự

88 35 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 8,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lần đầu tiên thuật ngữ “việc dân sự” được ghi nhận trong Bộ luật tố tụng dân sự tại đoạn 2 Điều 311: “Việc dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức không có tranh chấp, nhưng có yêu cầu

Trang 2

LÊ THANH HƯYỂN

Trang 4

GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN sự 1.1 Khái quát về trình tự, thủ tục giải quyết việc dân sự.

1.2 Những loại việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự

1.3 Quy định về giải quyết việc dân sự trong pháp luật một số nước

1.3.1 Khái quát những quy định về pháp luật tố tụng dân sự của nước Pháp trong việc giải quyết việc dân sự

1.3.2 Những quy định về giải quyết việc dân sự trong Bộ luật tố tụng dân sự của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa (1991)

C HƯ Ơ NG 2 Q U Y Đ ỊN H CỦA BỘ LUẬT T ố T Ụ N G D ÂN S ự V Ề

TRÌNH Tự, THỦ T ự c GIẢI QUYẾT v i ệ c d â n sự

2.1 Những quy định chung về giải quyết việc dân sự

2.1.1 Nguyên tắc giải quyết việc dân sự

2.1.2 Thủ tục giải quyết việc dân sự

2.1.3 Thành phần giải quyết việc dân sự

2.1.4 Sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát nhân dân

2.1.5 Những người tham gia phiên họp giải quyết việc dân sự

2.1.6 Thời hạn giải quyết việc dân sự

2.1.7 Quyết định giải quyết việc dân sự và hiệu lực của quyết định giải quyết việc dân sự

2.1.8 Thủ tục phúc thẩm quyết định giải quyết việc dân sự

2.2 Trình tự, thủ tục giải quyết một số việc dân sự cụ thể

2.2.1 Các việc dân sự do một bên yêu cầu Tòa án xác định tình trạng của một cá nhân

2.2.2 Thủ tục giải quyết các yêu cầu về hôn nhân và gia đình

Trang 5

2.2.4 Yêu tầ u công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài.

2.2.5 Yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam

2.3 Thực trạng pháp luật về thủ tục giải quyết việc dân sự

2.3.1 Thời hạn giải quyết việc hôn nhân và gia đình

2.3.2 Quy định về thủ tục thụ lý yêu cầu tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng

2.3.3 Quy định về thời hạn giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình lyhôn

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ KIÊN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÁC QUY

ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT T ố TỤNG DÂN SựVỀ

GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN s ự3.1 Thực tiễn giải quyết các việc dân sự tại Tòa án và một số vướng mắc đặt ra

3.2 Kiến nghị trong quá trình áp dụng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự

3.2.1 Kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật

3.2.2 Kiến nghị nhằm nâng cao việc thi hành

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trước sự phát triển lớn mạnh của đất nước, việc ban hành Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) để bổ sung những thiếu sót về nguyên tắc và cơ chế giải quyết trong tố tụng dân sự, kinh tế, lao động và khắc phục được sự trùng lặp, tản mạn, thiếu đồng bộ trong các quy định của pháp luật là một yêu cầu cấp thiết đặt ra Trước đây, trong các Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (PLTTGQCVADS), kinh tế, lao động không có sự phân biệt giữa vụ án dân sự với việc dân sự, thủ tục giải quyết việc dân sự cũng giống như giải quyết vụ án dân sự Tuy nhiên, do đặc điểm của việc dân sự khác so với vụ án dân sự nên cần phải quy định hai thủ tục tố tụng khác nhau Có thể thấy, những quy định

về thủ tục giải quyết các việc dân sự tại Tòa án được quy định trong BLTTDS là những quy định mới (trừ một số quy định về việc giải quyết các việc dân sự liên quan đến hoạt động của Trọng tài Thương mại Việt Nam) Do đó, việc áp dụng vào thực tiễn còn mới mẻ và nhiều bỡ ngỡ

Chính vì vậy, việc nghiên cứu làm sáng tỏ các quy định của BLTTDS về giải quyết việc dân sự là cần thiết và kịp thời Tác giả đã lựa chọn vấn đề

“Trình tự, thủ tục giải quyết các việc dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng

học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trình tự, thủ tục giải quyết các việc dân sự là vấn đề mới, lần đầu được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, việc nghiên cứu chuyên sâu dưới các hình thức là chưa nhiều Sau khi BLTTDS được công bố và có hiệu lực thi hành, thời gian gần đây có một số bài viết về vấn đề này, tuy nhiên mỗi bài viết nhìn ở một góc độ khác nhau, chưa có sự tập hợp mang tính khái quát

dân sự ” của tác giả Tưởng Duy Lượng - Chánh tòa Tòa Dân sự Tòa án nhân

Trang 7

dân tối cao đăng trong Tạp chí Tòa án nhân dân số 6, tháng 3 năm 2005 Tiếp

đó, tại Tạp chí Tòa án nhân dân số 11, tháng 6 năm 2005, tác giả Tưởng Duy

Lượng viết tiếp phần “Những vấn đê' cơ bản về thủ tục giải quyết một s ố việc

dân sự cụ th ể ” Hai bài viết của tác giả Tưởng Duy Lượng đã nêu một cách sơ

lược các quy định về thủ tục giải quyết việc dân sự trong BLTTDS Tác giả Trần Anh Tuấn - Trường Đại học Luật Hà Nội có bài viết trên tạp chí Tòa án

nhân dân số 18, tháng 9 năm 2006 về “Vấn đề nhập, tách các yêu cầu trong vụ

Luật học số Đặc san chuyên đề về BLTTDS xuất bản năm 2005, Tiến sĩ Phan

Chí Hiếu có bài viết “Thủ tục giải quyết các yêu cầu liên quan đến hoạt động

trọng tài thương mại Việt N a m ” Và một số bài viết của các tác giả khác xung

quanh vấn đề thực trạng, kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về thủ tục giải quyết việc dân sự Cho đến nay chưa có một đề tài nào nghiên cứu một cách tổng quát, toàn diện về trình tự, thủ tục giải quyết việc dân sự Việc tác giả chọn đề tài này với góc độ là phân tích, đánh giá cụ thể một số quy định về trình tự, thủ tục giải quyết việc dân sự là công trình nghiên cứu đầu tiên ở cấp

độ luận văn thạc sĩ luật học

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

Phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ đề cập đến các loại việc dân sự được quy định tại Điều 311 của BLTTDS Trong luận văn, tác giả không phân tích về thủ tục giải quyết các việc dân sự có yếu tố nước ngoài Luận văn nêu lên những điểm mới, sự khác nhau giữa thủ tục giải quyết vụ án dân sự và thủ tục giải quyết các việc dân sự được quy định trong BLTTDS

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Cơ sở phương pháp luận được sử dụng trong việc nghiên cứu đề tài là dựa trên cơ sở phương pháp luận nền tảng lý luận triết học duy vật biện chứng Mác- Lênin và những quan điểm của Đảng, đường lối của Nhà nước liên quan đến đề tài Để thực hiện các nhiệm vụ đề tài đặt ra, luận văn phối hợp sử dụng những phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như phương pháp lịch

Trang 8

sử, phân tích, tổng hợp, chứng minh và một số phương pháp có tính ứng dụng

cụ thể như phương pháp so sánh luật, khảo sát, thống kê

5 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

5.7 Mục đích nghiên cứu đề tài:

Trên cơ sở trình bày, phân tích các quy định mới về thủ tục giải quyết các việc dân sự, mục đích của luận án là nêu lên sự khác biệt giữa thủ tục giải quyết việc dân sự với thủ tục giải quyết vụ án dân sự; nêu những điểm mới về thủ tục so với PLTTGQCVADS và các văn bản pháp luật về tố tụng trong hệ thống pháp luật Việt Nam trước đó Từ thực tiễn áp dụng tại Tòa án các cấp, tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp ỉuật về thủ tục giải quyết việc dân sự

5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài:

Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu

cụ thể như sau: phân tích và làm rõ khái niệm về thủ tục, việc dân sự và thủ tục giải quyết việc dân sự; nêu phạm vi, mục đích, ý nghĩa của việc giải quyết việc dân sự; chỉ ra sự khác biệt giữa thủ tục giải quyết việc dân sự với thủ tục giải quyết vụ án dân sự; phân tích các quy định mới về thủ tục giải quyết việc dân

sự lần đầu tiên được quy định trong BLTTDS; nêu thực trạng giải quyết việc dân sự tại một số Tòa án trong một năm trở lại đây; đề xuất một số kiến nghị nhằm đảm bảo cho việc thực thi các quy định mới của BLTTDS về giải quyết việc dân sự

6 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn

Có thể nói, luận văn là một trong những công trình nghiên cứu đầu tiên

về thủ tục giải quyết việc dân sự Việc nghiên cứu được tiến hành một cách có

hệ thống những vấn đề lý luận chung nhất về trình tự, thủ tục giải quyết việc dân sự Điểm mới của luận văn còn thể hiện ở chỗ, tác giả không chỉ dừng lại ở việc phân tích các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự mà còn chỉ ra sự khác biệt giữa thủ tục giải quyết việc dân sự với thủ tục giải quyết vụ án dân sự; luận

Trang 9

văn nêu lên thực trạng giải quyết việc dân sự tại Tòa án để từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chế định này.

7 Cơ cấu của luận văn

Luận văn được thực hiện với kết cấu gồm lời nói đầu, nội dung 3 chương

và kết luận sau quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đưa danh mục tài liệu tham khảo vào phần cuối

Lời nói đầu: Nêu lý do chọn đề tài của tác giả và mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu cũng như tình hình nghiên cứu đề tài, xác định cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu, những điểm mới và ý nghĩa thực tiễn của việc thực hiện đề tài Phần nội dung bao gồm 3 chương: Chương 1: Những vấn đề lý luận về trình tự, thủ tục giải quyết việc dân sự; Chương 2: Quy định của BLTTDS về trình tự, thủ tục giải quyết việc dân sự; Chương 3: Một số kiến nghị nhằm thi hành hiệu quả các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về giải quyết các việc dân sự

Phần kết luận: Sau quá trình nghiên cứu, tác giả đưa ra một số ý kiến có tính chất kết luận chung cho đề tài, đổng thời tác giả thể hiện sự mong muốn nhận được những góp ý, trao đổi nhằm hoàn thiện, làm rõ hơn trong quá trình

áp dụng các quy định của pháp luật

Trang 10

CHƯƠNG 1 NHŨNG VẤN ĐỂ LÝ LUẬN VỂ TRÌNH Tự, THỦ TỤC GIẢI QUYẾT

VIỆC DÂN Sự.

1.1 Khái quát về trình tự, thủ tục giải quyết việc dân sự

1.1.1 Quan niệm về vụ việc dân sự

1.1.1.1 Một số quan niệm về vụ án dân sự

Theo các quy định trong ba Pháp lệnh: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động thì chỉ có khái niệm vụ án dân sự, vụ án kinh tế và vụ

án lao động Trong đó, khái niệm vụ án dân sự bao hàm các vụ án dân sự và các vụ

án về hôn nhân và gia đình; “vụ án dân sự” cần được hiểu đúng là những tranh chấp

về quyền và nghĩa vụ phát sinh từ các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động giữa các bên đương sự Từ khái niệm nêu trên thấy rằng, đặc trưng của vụ

án dân sự là bao giờ cũng có sự tranh chấp giữa hai hay nhiều bên (đương sự), yếu

tố tranh chấp được coi là tiêu chí khởi đầu và hình thành quy trình tố tụng Trong quan hệ đó, một bên có quyền yêu cầu Toà án buộc bên kia phải thực hiện một số nghĩa vụ phát sinh từ các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động Đặc trưng này chính là dấu hiệu để phân biệt giữa vụ án dân sự và

“việc dân sự” (được quy định lần đầu trong Bộ luật tố tụng dân sự 2004) Trình tự, thủ tục tố tụng giải quyết vụ việc có tranh chấp và không có yếu tố tranh chấp là giống nhau Do đó, nếu vụ án không bị tạm đình chỉ, đình chỉ hay công nhận thoả thuận của các bên thì đều phải mở phiên toà để giải quyết theo một thủ tục tố tụng chung Qua thực tế giải quyết các việc dân sự, kinh tế, lao động cho thấy, những loại việc không có yếu tố tranh chấp hay việc xác nhận một sự kiện pháp lý nào đó cũng mở phiên toà kéo dài thời gian và chi phí cho quá trình tố tụng

1.1.1.2 Khái niệm việc dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 ra đời thay thế các Pháp lệnh: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ngày 29-11-1989, Pháp lệnh thủ tục giải

Trang 11

quyết các vụ án kinh tế ngày 16-3-1994, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động ngày 11-4-1996, Pháp lệnh công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài ngày 17-4-1993, Pháp lệnh công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài ngày 14-9-1995 Lần đầu tiên thuật ngữ “việc dân sự” được ghi nhận trong Bộ luật tố

tụng dân sự tại đoạn 2 Điều 311: “Việc dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức

không có tranh chấp, nhưng có yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của cá nhãn, cơ quan, tổ chức khác; yêu cầu Tòa án công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kỉnh doanh, thương mại, lao động”.

Bản chất của việc dân sự là việc yêu cầu Tòa án xác nhận một sự kiện pháp

lý Nếu các cá nhân, cơ quan, tổ chức không có tranh chấp, chỉ có yêu cầu Toà án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý làm phát sinh quyền, nghĩa

vụ dân sự hoặc yêu cầu Toà án công nhận cho mình quyền về dân sự thì là việc dân

sự Yêu cầu của pháp luật là phải có căn cứ, do vậy không phải mọi quyền dân sự đều được pháp luật công nhận Khi không xác định được quyền dân sự của mình thì đương sự yêu cầu Toà án xác nhận sự kiện pháp lý nào đó, nếu nó đem lại lợi ích cho người có yêu cầu Ví dụ như việc xác nhận sự kiện một người là mất tích hoặc một người là đã chết

1.1.13 Đạc điểm của việc dân sự

i) Đặc điểm của việc dân sự

Trong vụ án dân sự, các bên có tranh chấp với nhau về quyền và nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (thường là đối lập nhau về quyền lọi) nên các bên đương sự được xác định cụ thể bao gồm: nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đối với việc dân sự, do các bên không có tranh chấp nên đương sự trong việc dân sự chỉ có bên yêu cầu còn bên kia

có thể xác định hoặc không xác định Ví dụ như yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc một người là đã chết

Trang 12

Người có yêu cầu có thể là cá nhân, cơ quan, tổ chức có đơn yêu cầu Toà án công nhận hay không công nhận một sự kiện pháp lý nào đó hoặc công nhận cho mình quyền về dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động, hôn nhân và gia đình.

Các đương sự trong việc dân sự không có tranh chấp vói nhau về quyền và nghĩa vụ dân sự Đây là đặc trưng cơ bản để phân biệt vụ án dân sự với việc dân sự

Từ yêu cầu của đương sự Toà án sẽ công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý, mà từ sự kiện đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự; từ yêu cầu của đương sự Toà án công nhận quyền và nghĩa vụ dân sự cho họ

ii) Sự khác biệt giữa thủ tục giải quyết việc dân sự so với thủ tục giải quyết

vụ án dân sự

Từ đặc điểm của việc dân sự theo quy định của BLTTDS có thể thấy:

Đối vói việc dân sự, không có tranh chấp giữa các bên chủ thể mà chỉ có quyền yêu cầu của một bên yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự Đây được xem là tiêu chí cơ bản để xác định là một việc dân sự

Do đây là vụ việc không có tranh chấp, nên không có nguyên đơn, bị đơn như trong vụ án dân sự Người yêu cầu có thể là cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của mình, công nhận cho mình quyền về dân sự (xác nhận một sự kiện pháp lý), hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động

Khi giải quyết vụ án dân sự, Tòa án phải mở phiên toà để giải quyết với đầy

đủ thành phần của Hội đồng xét xử theo quy định của tố tụng dân sự, còn đối vói việc dân sự thì toà án mở phiên họp để giải quyết

Sự tham gia của Viện kiểm sát trong những phiên họp giải quyết việc dân sự

là bắt buộc Viện kiểm sát phải tham gia tất cả các phiên họp, nếu vắng mặt thì Toà

án ra quyết định hoãn phiên họp Đối vói phiên toà giải quyết vụ án dân sự thì sự tham gia của Viện kiểm sát là hạn chế, Viện kiểm sát có thể tham gia hoặc không tham gia nếu thấy là không cần thiết

Một trong những điều khác biệt là đối với việc dân sự, Toà án không bắt buộc tiến hành thủ tục hoà giải Mục đích của hoạt động hoà giải trong các vụ án

Trang 13

dân sự nhằm giúp các đương sự thoả thuận, đi đến thống nhất với nhau về việc giải quyết tranh chấp về quyền và lợi ích dân sự Do bản chất của việc dân sự là không

có yếu tố tranh chấp nên hoà giải không bắt buộc áp dụng trong giải quyết việc dân

sự Toà án chỉ chỉ dựa vào các tài liệu, chứng cứ để xem xét giải quyết theo yêu cầu của một bên

Thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự là một năm, trừ những trường hợp pháp luật có quy định khác về thời hạn yêu cầu, thời hiệu này ngắn hơn so vói thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự (hai năm)

Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, thòi hạn mở phiên họp đối với giải quyết việc dân sự được quy định ngắn hơn so với thời hạn chuẩn bị xét xử, thời hạn mở phiên tòa đối với giải quyết vụ án dân sự

Thành phần giải quyết việc dân sự không có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân như trong thành phần xét xử sơ thẩm vụ án dân sự Tùy thuộc vào tính chất, loại việc dân sự mà thành phần giải quyết việc dân sự có thể do ba Thẩm phán thực hiện (các loại việc được quy định tại Khoản 5 Điều 26, Khoản 6 Điều 28, Khoản 2,3 Điều 30, Điều 32) hoặc do một Thẩm phán thực hiện (các loại việc còn lại)

Đương sự có yêu cầu Toà án giải quyết việc dân sự phải nộp lệ phí giải quyết việc yêu cầu thay vì các đương sự trong vụ án dân sự phải nộp án phí

Thủ tục tiến hành phiên họp được quy định đơn giản hơn so với phiên tòa xét

xử vụ án dân sự

Bản chất của việc dân sự là yêu cầu Toà án công nhận sự kiện pháp lý, do vậy Toà án chỉ xem xét các tài liệu do người yêu cầu nộp để ra quyết định công nhận hay không công nhận yêu cầu Vì vậy, thủ tục giải quyết việc dân sự không có phần tranh luận như đối với xét xử vụ án dân sự

Sau khi xét xử vụ án dân sự, Toà án phải tuyên bản án còn đối với giải quyết việc dân sự thì hình thức văn bản là quyết định của Toà án có thẩm quyền

Thời hạn kháng cáo, kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự ngắn hơn

so với thời hạn kháng cáo, kháng nghị bản án dân sự Tuy nhiên, pháp luật quy định

Trang 14

thời hạn kháng cáo, kháng nghị của một số việc dân sự áp dụng tương tự như thời hạn kháng cáo, kháng nghị bản án dân sự sơ thẩm.

Một số quyết định giải quyết việc dân sự có hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên mà không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Do vậy, các loại việc này không theo trình tự giám đốc thẩm như đối với vụ án dân sự

Thủ tục phúc thẩm các quyết định giải quyết việc dân sự cũng rất đơn giản, trình tự giải quyết giống như việc xét các quyết định của Toà án cấp sơ thẩm

iii) Sự khác nhau giữa thủ tục giải quyết việc dân sự nói chung với phiên họp xét đơn yêu cầu công nhận bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài

Điểm giống nhau: sự có mặt của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp tham gia là bắt buộc

Điểm khác nhau: người yêu cầu và cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến quyết định giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định đó trong thòi hạn 07 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định, trừ trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 358 và khoản 1 Điều 372 của BLTTDS Trong trường họfp họ không có mặt tại phiên họp thì thời hạn kháng cáo, kháng nghị được tính từ ngày họ nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định đó được thông báo, niêm yết Thời hạn kháng cáo này ngắn hơn so với vụ án dân sự, đương

sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Toà tuyên án hoặc ra quyết định

1.1.2 Trình tự, thủ tục giải quyết việc dân sự

Khái niệm “Thủ tục” thông thường được hiểu là thứ tự và cách thức làm việc theo một lề thói đã được quy định; “trình tự ’ được hiểu là sự sắp xếp lần lượt, thứ tự trước sau Trong Từ điển Luật học, không có khái niệm thủ tục đơn thuần mà chi có khái niệm “thủ tục tố tụng” Thủ tục tố tụng được hiểu là “cách thức trình tự và nghi thức tiến hành xem xét một vụ việc hoặc giải quyết một vụ án đã được thụ lý hoặc khỏi tố theo các quy định của pháp luật” 1 Từ các khái niệm nêu trên, có thể hiểu

1 Từ điển Luật học, Viện khoa học pháp lý Bộ Tư Pháp Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa và Nhà xuất bản Tư pháp, trang729.

Trang 15

thủ tục giải quyết việc dân sự là cách thức tiến hành xem xét các việc dân sự theo

thẩm quyền của Tòa án

Trước khi BLTTDS được ban hành, pháp luật chưa có quy định cụ thể về

thẩm quyền, cũng như thủ tục, trình tự giải quyết việc dân sự PLTTGQCVADS

năm 1990 có quy định về thẩm quyền giải quyết của Tòa án, nhưng lại chưa có quy

định về trình tự, thủ tục giải quyết các việc dân sự Những quy định về thủ tục giải

quyết việc dân sự tại Tòa án được quy định trong BLTTDS là những quy định mới

của pháp luật

tụng Dân sự Việt Nam

Phạm vi điều chỉnh của BLTTDS rất rộng, gồm các vụ án dân sự, kinh tế, hôn

nhân và gia đình, lao động và nhiều vân đề dân sự khác mà trưóc đây được quy định

trong ba Pháp lệnh Phát triển và xây dựng trên cơ sở kế thừa pháp luật tố tụng dân sự

từ cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, BLTTDS ra đòi là cơ sở pháp lý cho các

hoạt động tố tụng dân sự tại Toà án

- Giai đoạn từ 1945 đến 1959:

Thời kỳ này các văn bản pháp luật tố tụng dân sự rất ít, hầu hết là vãn bản của

Bộ Tư pháp và Tòa án nhân dân tối cao ban hành để hướng dẫn Tòa án các cấp về

một số thủ tục giải quyết việc ly hôn (Sắc lệnh số 15/SL ngày 17-11-1950 quy định

vấh đề ly hôn) Một số văn bản đã bước đầu hướng dẫn về thủ tục giải quyết các vụ

án dân sự như Nghị định số 87/NĐ-LB ngày 16-8-1955 của liên Bộ Lao động-Tư

pháp về việc hòa giải xích mích giữa người chủ và ngưòi làm công2; Thông tư số

61/HCIP ngày 9-5-1957 của Bộ Tư pháp về thẩm quyền của Tòa án trong việc công

nhận thuận tình ly hôn và hiệu lực của biên bản hòa giải thành Giai đoạn này, các

quy định về thủ tục tố tụng rất đơn giản và hầu hết chỉ nêu nguyên tắc chung, không

có sự phân biệt tố tụng hình sự, dân sự và thương sự Những văn bản tố tụng dân sự

thời kỳ này chưa manh nha phân biệt giữa vụ án dân sự và việc dân sự Việc thụ lý và

xét xử đều giải quyết theo thủ tục chung là mở phiên toà

2 Tập luật lệ - Bộ Tư pháp, xuất bản năm 1957, trang 152-153.

Trang 16

Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân Bên cạnh đó, Tòa án nhân dân tối cao cũng ban hành một lượng lớn các văn bản hướng dẫn về thủ tục giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình như quy đinh về: “Trường hợp thuận ly nhưng về mặt con cái, tài sản không được giải quyết thoả đáng thì Toà án cần hướng dẫn để giải quyết cho đúng chính sách”3 Đây là một trong những nội dung được kế thừa và phát triển lên thành những quy định về giải quyết phần tài sản và con cái đối vói yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn trong Bộ luật tố tụng dân sự 2004 Tiếp theo, Toà án nhân dân tối cao ban hành hai công văn số 734-NCPL ngày 22-9-1965 và Công văn số 352-NCPL ngày 13-5-

1971 hướng dẫn áp dụng điều luật khi giải quyết thuận tình ly hôn Thông tư số 96/NCPL ngày 8-2-1977 quy định thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm đối với quan hệ về hôn nhân và gia đình như: ly hôn, yêu cầu hủy bỏ việc nuôi con nuôi trái pháp luật Đáng chú ý trong thời kỳ này, Toà án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư số 03-NCPL ngày 3-3-1966 rất tiến bộ, quy định chỉ cần một Thẩm phán giải quyết việc thuận tình ly hôn mà không có Hội thẩm nhân dân tham gia

- Giai đoạn từ 1989 đến nay:

Ngày 29-11-1989 Hội đồng Nhà nước (nay là ủ y ban Thường vụ Quốc hội) thông qua Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự Pháp lệnh là sự kế thừa, pháp điển hóa các quy định trước đây, từng bước đáp ứng yêu cầu của Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự Điều 10 PLTTGQCVADS quy định Tòa án

có thẩm quyền giải quyết những việc về quan hệ hôn nhân và gia đình, tranh chấp lao đ ộ n g .Pháp lệnh đã mở rộng thêm loại việc là xác định công dân mất tích hoặc đã chết (trừ trường hợp quân nhân hoặc cán bộ mất tích hoặc chết trong chiến trường thuộc trách nhiệm giải quyết của cơ quan hữu quan) Tuy nhiên, PLTTGQCVADS lại chưa quy định về trình tự thủ tục giải quyết các việc dân sự này mà phải thực hiện theo văn bản hướng dẫn của Toà án nhân dân

3 Thông tư số 690-DS ngày 29-4-1960 của Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn đường lối xử [ý cụ thê về ly hôn.

Trang 17

tối cao Tiếp theo đó, một số văn bản pháp luật có hiệu lực cao quy định về các vấn đề về tố tụng dân sự cũng được ban hành như Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (1992), Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993, Pháp lệnh công nhận và thi hành tại Việt nam bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài năm 1993, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (1994), Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động (1996), Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2002, Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 Các văn bản pháp luật này chỉ quy định về thẩm quyền của Tòa án đối với việc giải quyết một số việc như: yêu cầu tuyên bố một người mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; yêu cầu tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là mất tích, một người là đã chết Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng quy định về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật; yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn; yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi Trước khi có BLTTDS, thủ tục giải quyết tuyên bố một ngưòi mất tích, một người là đã chết được hướng dẫn

cụ thể trong Nghị Quyết số 03/HĐTP ngày 19-10-1990 và một số quy định tại Bộ luật Dân sự năm 1995 (tuyên bố mất tích tại Điều 88, hủy tuyên bố mất tích tại Điêu

90, tuyên bố một người đã chết tại Điều 91, huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người là

đã chết tại Điều 93) Trên cơ sở những quy định của Bộ luật Dân sự 1995 thì Bộ luật Dân sự 2005 đã sửa đổi, bổ sung một số thuật ngữ cho rõ nghĩa, về cơ bản không có

gì thay đổi (các chế định về tuyên bố một ngưcd mất tích hay một người là đã chết được quy định tại Điều 78, Điều 80, Điều 81, Điều 83 của Bộ luật)

Thời điểm này, vẫn chưa có sự phân biệt giữa thủ tục giải quyết tranh chấp dân

sự hay những việc không có yếu tố tranh chấp Hầu hết các vụ việc đều phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự và quan hệ hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án bằng vụ án dân sự Thực tế giải quyết vụ việc dân sự theo thủ tục chung là

gian và chi phí cho đương sự Do vậy, việc Bộ luật tố tụng dân sự 2004 quy định

Trang 18

cụ thể về trình tự, thủ tục ngắn gọn hơn để giải quyết các loại việc không có

yếu tố tranh chấp đã đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn hiện nay

định của BLTTDS

Điều 26 BLTTDS quy định 5 loại yêu cầu thuộc thẩm quyền giải quyết của

Toà án Trong 5 loại việc đó, có 2 loại yêu cầu là yêu cầu tuyên bố một người mất

tích và yêu cầu tuyên bố một người là đã chết đã được quy định tại Điều 10

PLTTGQCVADS Các loại yêu cầu còn lại cũng đã được quy định ở các văn bản

pháp luật khác, nay được pháp điển hoá vào BLTTDS một cách cụ thể hơn

(Khoản 1,2, 3,4 và 6 Điều 26 BLTTDS)

Khoản 1 Điều 26 quy định yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi

dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và yêu cầu hủy bỏ quyết định đó

Quy định này xuất phát từ những quy định về “mất năng lực hành vi dân sự” và quy

định về “hạn chế năng lực hành vi dân sự” tại Điều 24, 25 của Bộ luật Dân sự 1995,

(nay được quy định tại Điều 22,23 Bộ luật Dân sự 2005)

Khoản 2 Điều 26 quy định về yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại

nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó Theo Điều 84, 85 của Bộ luật Dân sự 1995

quy định khi một người biệt tích trong 6 tháng liền, thì những người có quyền, lợi ích

liên quan có quyền yêu cầu Toà án thông báo tìm kiếm ngưòi vắng mặt và yêu cầu

Toà án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người đó Với quy định trên thì sẽ có 2

loại yêu cầu thuộc thẩm quyền của Toà án, đó là: một loại yêu cầu thông báo tìm

kiếm người vắng mặt (loại yêu cầu này Toà án các cấp vẫn thường giải quyết trong

các vụ án xin ly hôn mà một bên vợ hoặc chồng vắng mặt, hoặc trong các vụ án về

thừa kế mà một hay một số người vắng mặt ở nơi cư trú và không biết họ đang sống ở

đâu) và yêu cầu Toà án thông báo tìm kiếm người vắng mặt và áp dụng biện pháp

quản lý tài sản của người đó

Khoản 3 Điều 26 quy định về yêu cầu tuyên bố một người mất tích, hủy bỏ

quyết định tuyên bố một người mất tích; Khoản 4 quy định yêu cầu tuyên bố một

Trang 19

người là đã chết, hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết Đây là các loại

việc truyền thống đã được quy định từ các văn bản pháp luật tố tụng thời kỳ sơ

khai

Khoản 5: “Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết

định về dân sự, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của

Toà án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định về dân sự, quyết định

về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Toà án nước ngoài mà

không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam” Loại việc này chưa được quy định trong

PLTTGQCVADS nhưng đã được quy định trong Pháp lệnh công nhận và thi hành tại

Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài

BLTTDS còn quy định dự liệu các yêu cầu khác về dân sự có thể phát sinh tại

khoản 6 Điều 26

của Tòa án

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã có một số quy định về thẩm

quyền của Tòa án trong việc giải quyết các yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp

luật; yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc

quyền thăm nom con sau khi ly hôn; yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi

Khoản 1, 2, 3,4, 5 và 7 Điều 28 BLTTDS quy định những yêu cầu về hôn nhân và

gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Khoản 1 quy định về yêu cầu hủy

việc kết hôn trái pháp luật: theo sự hướng dẫn của Toà án, nếu một bên có yêu cầu

giải quyết tranh chấp về tài sản hoặc con cái sẽ khỏi kiện phần này theo thủ tục giải

quyết vụ án dân sự Khoản 2 quy định yêu cầu công nhân thuận tình ly hôn, nuôi con,

chia tài sản khi ly hôn: trước đây, tất cả các yêu cầu ly hôn đều được thụ lý giải quyết

theo một thủ tục giải quyết vụ án dân sự, khi có BLTTDS, các việc dân sự và vụ án

dân sự được thụ lý và giải quyết theo hai thủ tục tố tụng khác nhau Khoản 3 quy

định về yêu cầu công nhận sự thỏa thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi

ly hôn Khoản 4: “Yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên

hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn” Khoản 5: “Yêu cầu chấm dứt việc nuôi

Trang 20

con nuôi” Khoản 6: “Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Toà án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Toà án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam” Khoản 7: “Các yêu cầu khác về hôn nhân và gia đình mà pháp luật có quy định”.

1.2.3 Những yêu cầu về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Những yêu cầu liên quan đến việc Trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết các vụ tranh chấp theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại (Khoản 1 Điều 30); yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định về kinh doanh, thương mại của Toà án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định kinh doanh, thương mại của Toà án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam (khoản 2); yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định kinh doanh, thương mại của Trọng tài nước ngoài (Khoản 3) và các yêu cầu khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định (Khoản 4)

1.2.4 Những yêu cầu về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.Khoản 1 Điều 32: “Yêu cầu công nhân và cho thi hành tại Việt Nam bản án,quyết định lao động của Toà án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyêt định lao động của Toà án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam” Khoản 2: “Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định lao động của Trọng tài nước ngoài” Khoản 3: “Các yêu cầu khác về lao động mà pháp luật có quy định”

Mặc dù các loại việc nêu trên đều là việc dân sự, tuy nhiên không phải tất cả các việc dân sự này đều áp dụng chung thủ tục giải quyết việc dân sự được quy định

ở Phần thứ 5 Bộ luật tố tụng dân sự Theo quy định tại Điều 311 BLTTDS về phạm vi

áp dụng thì chi có các loại việc dân sự được quy định tại Khoản 1, 2, 4 và 6 Điều 26; Khoản 1, 2, 3,4, 5 và 7 Điều 28; Khoản 1,4 Điều 30; Khoản 3 Điều 32 mới áp dụng thủ tục giải quyết việc dân sự quy định ở Phần thứ 5 của Bộ luật tố tụng dân sự

Trang 21

1.3 Quy định về giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng của một số

nước

trong việc giải quyết việc dân sự

Phần đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự được quy định tại Điều 60 Mục 2 Bộ

luật tố tụng dân sự Pháp: đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự phải được lập bằng hình

thức đơn thư yêu cầu Thụ lý đơn được quy định tại Điều 61, 62: “Thẩm phán được

yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự kể từ thòi điểm đơn thư yêu cầu được gửi đến

phòng thư ký của Toà án” (Điều 61)

Trước khi Toà sơ thẩm thẩm quyền hẹp, đương sự cũng có thể đưa đơn thư yêu

cầu giải quyết việc dân sự; toà án được yêu cầu kể từ khi đương sự khai báo miệng

cho Phòng Thư ký-lục sự của Toà án và lòi khai được lập thành biên bản và ghi vào

sổ đăng ký việc kiện

Trong phần “Các quy định riêng về thủ tục giải quyết các việc dân sự” tại

Chương n , Bộ luật tố tụng dân sự Pháp quy định thẩm quyền của Thẩm phán được

giao giải quyết việc dân sự Khi có yêu cầu giải quyết các trường hợp không có tranh

chấp thì Thẩm phán chủ động quyết định có thụ lý giải quyết hay không thông qua

việc xem xét tính chất vụ việc có thuộc thẩm quyền hoặc tư cách của người yêu cầu

có đúng không? (Điều 25)

Thẩm phán tự mình tiến hành tất cả những biện pháp thẩm cứu trong trường

hợp thấy cần thiết cho việc xem xét, đánh giá tình tiết Thẩm phán có thể thu thập

chứng cứ, “nghe lòi trình bày của người có thể làm sáng tỏ vụ việc cũng như của

những người có quyền lợi liên quan mà không bị lệ thuộc vào bất kỳ thể thức nào”

(Điều 27) Quy định này cũng tương tự như nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân

dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong tố tụng Việt Nam (Điều 12 Bộ

luật tố tụng dân sự)

Thẩm phán căn cứ vào các tình tiết liên quan có trong đơn thư yêu cầu và các

tình tiết không được viện dẫn để ra quyết định Thẩm phán có thể ra quyết định ngay

mà không cần tiến hành thủ tục tranh luận Điều này cho thấy, thẩm quyền của Thẩm

Trang 22

phán Pháp rất được đề cao Thẩm phán được quyền tự giải quyết tuỳ thuộc vào mức

độ phức tạp, tính chất của vụ việc

Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Người thứ ba có thể được Thẩm phán cho phép tham khảo hổ sơ vụ án và cấp bản sao, nếu chứng minh được mình có lợi ích chính đáng liên quan” Pháp luật tố tụng Việt Nam chưa có quy định này, việc xác định một người có liên quan đến vụ việc hay không là do Tòa án xác định dựa trên những căn cứ có trong hồ sơ

Sự tham gia của Viện Công tố được coi như “một bên đương sự chính” (Điều

421 Bộ luật tố tụng dân sự) hoặc Viện Công tố tham gia tiến hành tố tụng để kiểm sát việc tuân thủ pháp luật Viện Công tố chủ động tham gia trong những trường hợp do pháp luật quy định hoặc tham gia để bảo vệ trật tự công khi có những hành vi xâm hại trật tự công Quy định này tương tự như những quy định của pháp luật Việt Nam

về sự tham gia của Viện kiểm sát trong quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm sát Tòa án giải quyết việc dân sự Theo quy định của sắc lệnh số 81-500 ngày 12-5-1981 thì

“Viện Công tố còn phải được thông báo về tất cả các vụ việc trong đó, theo luật, cần

có ý kiến của Viện Công tò”

- Đối với thủ tục giải quyết việc dân sự tại Toà sơ thẩm thẩm quyền rộng thì được quy định:

Đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự phải do Luật sư hoặc một nhân viên công lại có đủ tư cách để làm theo những quy định hiện hành thảo ra Chánh toà được phân công giải quyết việc dân sự sẽ cử một Thẩm phán làm thuyết trình viên Thẩm phán này có nhiệm vụ xem xét đơn yêu cầu và trong khi thẩm cứu có quyền sử dụng những quyền của Toà án Có thể thấy Thẩm phán giải quyết việc dân sự được giao rất nhiều quyền để họ có thể chủ động trong việc đánh giá tình tiết

- Đối vói thủ tục giải quyết việc dân sự tại Toà Phúc thẩm

Theo Điều 950 Bộ luật tố tụng dân sự Pháp thì “đơn kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự có thể gửi bằng thư bảo đảm hoặc nộp tại Phòng Thư ký của Toà án

đã ra quyết định, qua luật sư, ngưòi đại diện hoặc qua nhân viên công lại trong trường hợp pháp luật quy định nhân viên công lại có quyền thay mặt đương sự đưa đon

T H Ư VIỊ N ~

ỈRƯONG ĐA! HOC LỨẬĨ HA NÓl

p h ò n g g v ~r r/ cy

Trang 23

kháng cáo” Trên cơ sở đơn kháng cáo, Thẩm phán xem xét, đánh giá lại các tình tiết

đã có trong đơn và tài liệu kèm theo đơn kháng cáo để đưa ra quyết đinh sửa đổi hoặc rút lại quyết định của mình

Theo quy định tại sắc lệnh số 76-714 ngày 29-7-1976 thì Thẩm phán phải báo cho đương sự biết việc yêu cầu đang được xem xét lại hoặc chuyển lên Toà phúc thẩm để giải quyết theo thẩm quyền Trường hợp Thẩm phán đã xem xét và không có sửa đổi hoặc rút lại quyết định thì Thư ký Toà án phải chuyển ngay cho Phòng Thư ký-lục sự Toà phúc thẩm hồ sơ vụ việc cùng vói đơn kháng cáo và bản sao quyết định (Sắc lệnh số 78-62 ngày 20-01-1978) Điều 953 quy định vụ việc được thẩm cứu và giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân sự tại Toà sơ thẩm thẩm quyền rộng

1.3.2 Những quy định về giải quyết việc dân sự trong Bộ luật tố tụng dân sự của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa (1991)

- Về yêu cầu tuyên bố mất tích:

Đối với những người không rõ tung tích đã tròn hai năm thì ngưcd có quyền lợi liên quan có quyền yêu cầu Toà án nhân dân tuyên bố người đó mất tích Sau khi thụ

lý vụ án, Toà án nhân dân phải ra ngay thông báo tìm người bị coi là mất tích Thời hạn thông báo tìm người bị coi là mất tích là ba tháng Hết thòi hạn đó mà không có tin tức về người mất tích thì tuỳ trường hợp Toà án nhân dân ra bản án tuyên bố ngưòi

đó mất tích

- Về yêu cầu tuyên bố một người ỉà đã chết:

Đối với người không rõ tung tích đã tròn bốn năm hoặc do sự cố bất ngờ mà không rõ tung tích đã tròn hai năm thì người có quyền lợi liên quan có quyền yêu cầu Toà án nhân dân tuyên bố người đó đã chết Toà án thụ lý đơn yêu cầu và thông báo tìm người bị coi là đã chết Thời hạn thông báo là một năm, hết thời hạn đó mà không

có tin tức gì thì Toà án nhân dân sẽ ra bản án tuyên bố người đó là đã chết Trong trường hợp người bị tuyên bố là mất tích hoặc chết lại xuất hiện (trở về) thì theo yêu cầu của người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan thì Toà án nhân dân phải

ra bản án mới huỷ bỏ bản án tuyên bố mất tích hoặc chết trước đó

Trang 24

- Về yêu cầu tuyên bố người không có năng lực hành vi dân sự hoặc có năng lực hành vi dân sự hạn chế.

Người thân của công dân đó có quyền khỏi tố yêu cầu Toà án xác định công

dân đó không có năng lực hành vi dân sự hoặc có năng lực hành vi dân sự hạn chế

Khi xét xử các loại vụ án này, Toà án phải triệu tập người thân của công dân đó tham

gia phiên toà Nếu những người thân không chịu trách nhiệm, đùn đẩy cho nhau

không tham gia phiên toà thì Toà án chỉ định một người trong số những người đó để

tham gia

Như vậy, có thể thấy đối với yêu cầu tuyên bố một người mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự thì các quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự Pháp giải quyết

theo tìn h tự giải quyết việc dân sự, còn đối với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa

(1991) thì giải quyết theo thủ tục giải quyết vụ án dân sự Nhìn chung, các quy đinh

về thủ tục giải quyết của pháp luật nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa cũng có

nhiều điểm tương đồng với pháp luật tố tụng Việt Nam

Trang 25

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT T ố TỤNG DÂN s ự VỂ TRÌNH

T ự , THỦ TỤC G IẢ I QUYẾT VIỆC DÂN s ự

2.1 Những quy định chung về giải quyết việc dân sự

2.1.1 Nguyên tắc giải quyết việc dân sự

Trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản trong PLTTGQCVADS, BLTTDS đã

kế thừa và bổ sung một số nội dung mới cho phù hợp nhằm giải quyết kịp thời các vụ việc về dân sự Phạm vi áp dụng việc giải quyết các việc dân sự được thực hiện theo các quy định tại Chương XX "Quy định chung về thủ tục giải quyết việc dân sự" Nguyên tắc đặc trưng để giải quyết việc dân sự xuất phát từ

ý chí, nguyện vọng, quyền tự thoả thuận, quyền quyết định và tự định đoạt của các chủ thể Do lần đầu tiên việc dân sự được ghi nhận trong BLTTDS nên chưa quy định nguyên tắc riêng mà vẫn áp dụng tương tự Thủ tục giải quyết việc dân sự được tiến hành theo những nguyên tắc cơ bản quy định tại các điều từ Điều 3 đến Điều 24 BLTTDS Những vấn đề chưa được quy định cụ thể tại Chương XX thì được “áp dụng các quy định khác của Bộ luật nếu không trái với các quy định về thẩm quyền giải quyết việc dân sự của Tòa án” (Điều 311 BLTTDS)

2.1.2 Thủ tục giải quyết việc dân sự

Thủ tục trình tự giải quyết việc dân sự đã được quy định tại các điều từ

311 đến điều 335 và các điều 350 đến điều 363 BLTTDS Nhìn chung, các quy định về thủ tục giải quyết việc dân sự rõ ràng, cụ thể, tạo điều kiện thuận lợi để tiến hành giải quyết yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan đến việc dân

sự Tuy nhiên, so với thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thì một số quy định về thủ tục như nhận đơn, bổ sung đơn, thụ lý đơn còn khái quát

- Người có quyền yêu cầu giải quyết việc dân sự

Theo quy định tại các điều 319, 324, 330, 335 thì người yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự là người có quyền, lợi ích liên quan (là cá nhân, cơ quan

Trang 26

tổ chức) tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp để yêu cầu Toà án có thẩm quyền giải quyết việc dân sự của mình.

Trong vấn đề thừa kế, BLTTDS không quy định cụ thể người có quyền, lợi ích liên quan đến việc dân sự là những người nào Nhưng có thể hiểu người

có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự là những người thuộc hàng thừa

kế (trong trường hợp thừa kế theo pháp luật) và những người được chỉ định hưởng di sản thừa kế của người chết (trong trường hợp thừa kế theo di chúc)

Người có quyền yêu cầu đối với các việc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự; yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích, một người là đã chết được hiểu là chính người đã bị Tòa án tuyên bố là mất hoặc hạn chế năng lực năng lực hành vi dân

sự, là người mất tích, người đã chết nhưng sau đó họ không còn trong tình trạng

đó nữa, có tin tức là họ còn sống và trở về địa phương Trong các trường hợp này, người có quyền và lợi ích liên quan đã có yêu cầu Tòa án tuyên bố thì cũng có quyền yêu cầu hủy bỏ quyết định của Tòa án nếu có chứng cứ chứng minh

- Đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự

Các Toà án phải niêm yết các mẫu đơn yêu cầu tại trụ sở Toà án và hướng dẫn người có quyền, lợi ích liên quan làm đơn đúng quy định pháp luật Nội dung của đơn yêu cầu phải đảm bảo đầy đủ các vấn đề được quy định tại Khoản 2 Điều 312 BLTTDS như ngày tháng, năm viết đơn; tên, địa chỉ người yêu cầu; những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết Nếu người yêu cầu là

cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ vào cuối đơn; nếu là cơ quan, tổ chức thì người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối của đơn Kèm theo đơn là các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp

- Thụ lý đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự

Bộ luật tố tụng dân sự không quy định về phương thức gửi đơn yêu cầu, thủ tục nhận đơn yêu cầu, trả lại đơn, yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu,

Trang 27

khiếu nại và giải quyết khiếu nại về việc trả lại đơn yêu cầu, thụ lý, phân công Thẩm phán giải quyết Những vấn đề này cần phải có văn bản hướng dẫn như Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán hoặc tại các văn bản khác để việc thực hiện được thống nhất Vì có sự khác biệt căn bản giữa vụ án dân sự và việc dân

sự, do vậy, vấn đề cấp bách đặt ra là Toà án nhân dân tối cao phải nhanh chóng ban hành các biểu mẫu thống kê, sổ thụ lý việc dân sự, việc kinh doanh, thương mại, lao động Theo quan điểm của một số Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thì việc nhận đơn, thụ lý đơn có thể hướng dẫn như sau:

“Khi nhận được đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, Toà án phải ghi vào

sổ nhận đơn Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu Toà án phải xem xét và có một trong các quyết định sau:

+ Thụ lý việc dân sự nếu việc dân sự đó thuộc thẩm quyền giải quyết củamình

+ Chuyển việc dân sự cho Toà án có thẩm quyền và báo cho người gửi đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự biết nếu việc dân sự đó thuộc thẩm quyền của Toà án khác”4

Khoản 1.2 Điều 1 Thông tư liên tịch số 03/2005/TTLT-VKSNDTC- TANDTC ngày 1-9-2005 quy định sau khi thụ lý, nếu thấy việc dân sự không thuộc thẩm quyền, Tòa án đã thụ lý việc dân sự chuyển hồ sơ việc cho Tòa án

có thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 37 BLTTDS, đổng thời gửi ngay quyết định chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp biết Toà án phải thông báo và trả lại đơn yêu cầu

- Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn

Toà án thông báo cho người yêu cầu biết để sửa đổi, bổ sung tài liệu vào đơn trong thời hạn Toà án quy định nếu đơn không đủ các nội dung chính quy định tại Khoản 2 Điều 312 của BLTTDS Trong trường hợp đặc biệt, Toà án có thể gia hạn thời hạn sửa đổi, bổ sung đơn nhưng không quá 15 ngày Nếu Toà

4 Tài liệu tập huấn Bộ luật tố tụng dân sự 2004-Trường Cán bộ Toà án- Toà án nhân dân tối cao, năm 2004.

Trang 28

án đã thông báo mà người yêu cầu không sửa đổi, bổ sung thì Toà án trả lại đom, các tài liệu và phải thông báo bằng văn bản ghi rõ lý do trả lại đơn cho người yêu cầu biết.

- Toà án trả lại đơn yêu cầu trong các trường hợp sau: người yêu cầu giải quyết việc dân sự không có quyền yêu cầu hoặc không đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự; thời hạn yêu cầu giải quyết việc dân sự đã hết; việc dân sự không thuộc thẩm quyền của Toà án; người yêu cầu không nộp tiền lệ phí yêu cầu giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật; chưa đủ điều kiện để yêu cầu giải quyết việc dân sự; người yêu cầu giải quyết việc dân sự đã được Toà án hướng dẫn sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu mà không sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu của Toà án

- Quyền khiếu nại việc trả lại đơn

Theo quy định tại Điều 170 BLTTDS, khi đương sự bị trả lại đơn, họ có quyền khiếu nại với Chánh án Toà án đã ra quyết định trả lại đơn trong thời hạn

3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận lại đơn Trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại về việc trả lại đơn, Chánh án Toà án phải xem xét giải quyết và ra quyết định giữ nguyên việc trả lại đơn hoặc nhận đơn để thụ lý giải quyết và phải thông báo ngay cho người yêu cầu đến nộp lệ phí

- Thẩm quyền giải quyết việc dân sự

Tòa án phải xem xét, xác định đúng thẩm quyền giải quyết việc dân sự Ngoài các quy định chung phân biệt thẩm quyền giữa Tòa án cấp tỉnh và Tòa

án cấp huyện được quy định tại Điều 33, Điều 34 BLTTDS, thì cũng cần chú ý

là các yêu cầu về công nhận hay không công nhận bản án, quyết định của Tòa

án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài đều thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp tỉnh Chương XXXV BLTTDS còn quy định thẩm quyền của Tòa án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài Trong

đó, khoản 2 Điều 411 quy định về thẩm quyền giải quyết riêng biệt của Tòa án Việt Nam đối với những việc dân sự có yếu tố nước ngoài như xác định một sự kiện pháp lý, nếu sự kiện đó xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam; yêu cầu Tòa án

Trang 29

Việt Nam tuyên bố công dân Việt Nam mất tích, đã chết nếu việc tuyên bố đó

có liên quan đến việc xác lập quyền, nghĩa vụ của họ trên lãnh thổ Việt Nam Đối với việc dân sự có yếu tố nước ngoài, Điều 412 BLTTDS quy định không thay đổi thẩm quyền giải quyết của Tòa án mặc dù trong quá trình giải quyết

có sự thay đổi quốc tịch, nơi cư trú, địa chỉ của các đương sự hoặc có tình tiết mới làm cho vụ việc dân sự đó thuộc thẩm quyền của Tòa án khác của Việt Nam hoặc của Tòa án nước ngoài

Theo quy định tại điểm d, tiểu mục 1.1, mục 1 phần I Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP thì Chánh án Tòa án sẽ quyết định việc thuộc thẩm quyền của Tòa chuyên trách nào Thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án giải quyết việc dân sự được quy định chi tiết tại khoản 2 Điều 35; thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của người yêu cầu được quy định tại Khoản 2 Điều 36 BLTTDS

- Thông báo việc thụ lý

Theo quy định tại Điều 174 BLTTDS, sau khi Toà án xem xét và ra quyết định thụ lý việc dân sự, trong thòi hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, Toà án phải thông báo bằng văn bản cho cá nhân, cơ quan, tổ chức, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự, Viện kiểm sát cùng cấp về việc Toà án thụ lý việc dân sự Câu hỏi đặt ra là việc quy định thời hạn giải quyết là 03 ngày có quá ngắn không? Trường hợp ngưòi yêu cầu khiếu nại việc giải quyết chậm trễ của Tòa

án có bị coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng không?

Việc thông báo thụ lý cho người có liên quan được thực hiện theo Điều

174, Điều 175 BLTTDS Nhưng nếu người có liên quan lại tranh chấp với người

có đơn yêu cầu thì phần tranh chấp đó không thể được giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân sự mà phải được tách ra giải quyết bằng vụ án dân sự khác

- Trách nhiệm của Thẩm phán được giao thụ lý việc dân sự cần phải thực hiện những việc sau: thông báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự, Viện kiểm sát cùng cấp

Trang 30

về việc thụ lý; yêu cầu đương sự nộp tài liệu, chứng cứ kèm đơn yêu cầu và nộp

bổ sung theo yêu cầu của Toà án; thực hiện một hoặc một số biện pháp thu thập chứng cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 85 BLTTDS

- Thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự

Lần đầu tiên vấn đề "thời hiệu yêu cầu" được ghi nhận trong Bộ luật tố tụng dân sự Thời hiệu yêu cầu là thòi hạn mà chủ thể được quyền yêu cầu Tòa

án giải quyết để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và Nhà nước, nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền yêu cầu, trừ trường họp pháp luật có quy định khác Nếu pháp luật có quy định riêng về thời hiệu đối với việc dân sự đó thì áp dụng quy định riêng (khoản 3 Điều 159) Trong trường hợp pháp luật không có quy định khác thì thời hiệu yêu cầu để Tòa án giải quyết việc dân sự

là một năm, kể từ ngày phát sinh quyền yêu cầu (điểm b Khoản 3 Điều 159) Nếu quyền yêu cầu phát sinh trước ngày 01-01-2005 thì thời hiệu yêu cầu là 01 năm kể từ ngày 01/01/2005 (điểm b, tiểu mục 2.1, mục 2, phần I của Nghị Quyết số 01/2005/NQ-HĐTP); nếu quyền yêu cầu phát sinh từ ngày 01/01/2005 thì thời hiệu yêu cầu là một năm kể từ ngày phát sinh quyền yêu cầu Theo Điều 160 của BLTTDS thì thời hiệu còn căn cứ vào các quy định của

Bộ luật Dân sự

Vấn đề thời hiệu cũng đang là một vấn đề phức tạp và đặt ra yêu cầu cấp bách là cần có sự nghiên cứu và hưóng dẫn cụ thể Vì hiện nay, thời hiệu được quy định tản mát ở văn bản hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và các luật nội dung khác

- Chuẩn bị giải quyết việc dân sự

Toà án có thể tiến hành hoà giải nếu việc hoà giải không trái với quy định tại Phần 5 BLTTDS và những quy định để áp dụng giải quyết việc dân sự Việc hoà giải tiến hành theo quy định về thủ tục hoà giải vụ án dân sự Những việc dân sự đã có quy định thủ tục giải quyết cụ thể trong BLTTDS thì áp dụng quy định của BLTTDS như các yêu cầu tuyên bố một người là đã chết, công nhận quyết định của Trọng tài nước ngoài Theo tinh thần của Điều 311

Trang 31

BLTTDS thì đối với những việc dân sự chưa có quy định thủ tục giải quyết cụ thể như yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp lu ật áp dụng các quy định của BLTTDS về giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ

án dân sự

Trong phần “Những quy định chung về thủ tục giải quyết việc dân sự” không có quy định về thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu Vì vậy, thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu được áp dụng theo quy định về thời hạn chuẩn bị xét

xử quy định tại Điều 179 BLTTDS Đối với những việc dân sự đã có quy định riêng về thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu như thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại noi cư trú (khoản 1 Điều 325) thì áp dụng quy định riêng

Do Viện kiểm sát phải tham gia phiên họp là một yêu cầu bắt buộc, nếu vắng mặt phải hoãn phiên họp, vì vậy khi ra quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự, Toà án phải gửi ngay quyết định và hồ sơ dân sự cho Viện kiểm sát cùng cấp để nghiên cứu Thời hạn nghiên cứu hồ sơ của Viện kiểm sát

là 07 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ Hết thời hạn 07 ngày, Viện kiểm sát phải trả hồ sơ cho Toà án để mở phiên họp giải quyết việc dân sự

Việc mở phiên họp để giải quyết việc dân sự là công khai, sự tham gia phiên họp của những người được triệu tập vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của họ

Do đó, Toà án phải triệu tập người có đơn yêu cầu hoặc người đại diện hợp pháp của họ tham gia phiên họp Việc dân sự không có bị đơn nhưng có người liên quan Cần phải hiểu người liên quan ở đây là người đã tham gia tố tụng với người có đơn yêu cầu chứ không phải là người có quyền và lợi ích liên quan trực tiếp có đơn yêu cầu

Trường hợp người có đơn yêu cầu vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng thì Toà án hoãn phiên họp Việc hoãn phiên họp là nhằm đảm bảo quyền

có mặt tại phiên họp của người có đơn yêu cầu để họ tự bảo vệ các yêu cầu của mình đối với việc dân sự Trường hợp người có đơn yêu cầu vắng mặt lần thứ nhất mà không có lý do chính đáng hoặc người có yêu cầu đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ yêu cầu của mình và

Trang 32

Toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự Mặc dù có quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự nhưng người có yêu cầu vẫn có thể yêu cầu Toà

án giải quyết việc dân sự lần tiếp sau theo trình tự pháp luật quy định như lần thứ nhất Trường hợp người có đơn yêu cầu đề nghị giải quyết việc dân sự mà không có sự tham gia của họ thì Toà án vẫn giải quyết việc dân sự vắng mặt người yêu cầu Khi thấy cần thiết, Toà án có thể triệu tập người làm chứng, người giám định, người phiên dịch tham gia phiên họp Nếu những người này vắng mặt thì tuỳ từng trường hợp mà Toà án có thể hoãn hoặc vẫn tiến hành phiên họp Toà án chỉ hoãn phiên họp khi thấy sự vắng mặt của họ sẽ dẫn đến việc Toà án ra phán quyết không chính xác hoặc Toà án không thể tiến hành phiên họp một cách bình thường Trường hợp Toà án vãn tiến hành phiên họp thì Toà án có thể công bố lời khai, tài liệu, chứng cứ do người vắng mặt đã cung cấp Nếu không có quy định riêng thì Tòa án áp dụng các quy định về chuẩn bị xét xử để ra các quyết định trong giai đoạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu

Trong giai đoạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, Tòa án có thể ra các quyết định sau: yêu cầu người yêu cầu gửi bổ sung, sửa đổi đơn yêu cầu; Tòa án căn

cứ vào Điều 189 có thể ra Quyết định tạm đình chỉ giải quyết việc dân sự; căn

cứ vào Điều 192 để ra Quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự Ví dụ như trong trường hợp một hoặc các bên thay đổi yêu cầu dẫn đến tranh chấp thì coi như đương sự rút đơn yêu cầu và làm đơn khỏi kiện; quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự được ban hành trong giai đoạn này tương tự như nội dung của quyết định đưa vụ án ra xét xử

- Tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự

Như đã phân tích, đặc trưng của việc dân sự là không mở phiên tòa mà chỉ mở phiên họp giải quyết việc dân sự Trình tự phiên họp được tiến hành theo quy định tại Điều 314 BLTTDS Theo quy định này thì trình tự tiến hành phiên họp như sau:

+ Trước khi phiên họp được tiến hành và khi có mặt của Thẩm phán, thư

ký Tòa án tiến hành báo cáo với Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử về sự có

Trang 33

mặt, vắng mặt (lý do vắng mặt) của những người tham gia phiên họp theo giấy triệu tập, giấy báo của Toà án Thư ký ghi nội dung biên bản phiên họp.

+ Khi bắt đầu phiên họp, Thẩm phán chủ tọa phiên họp tuyên bố khai mạc phiên họp và đọc quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự Thẩm phán chủ toạ phiên họp kiểm tra sự có mặt và căn cước của những người được triệu tập tham gia phiên họp Nếu có người vắng mặt, Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử sẽ quyết định hoãn phiên họp hoặc vẫn tiến hành phiên họp hoặc đình chỉ giải quyết việc dân sự

Thẩm phán chủ tọa phiên họp phổ biến quyền và nghĩa vụ cho những người tham gia tố tụng Thẩm phán chủ tọa phiên họp giới thiệu họ, tên những người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch và hỏi các đương sự hoặc người đại diện của họ xem có ai yêu cầu thay đổi những người đó hay không? Nếu có người yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng hoặc người giám định, người phiên dịch thì Hội đồng xét xử (trong trường hợp tập thể gồm

ba Thẩm phán giải quyết) hoặc Chánh án tòa án (trong trường hợp việc dân sự

do một Thẩm phán) sẽ xem xét lý do và quyết định có thay đổi hay không Việc thay đổi người tiến hành tố tụng trong phiên họp giải quyết việc dân sự cũng nên quy định giống như khi giải quyết vụ án dân sự để cho việc áp dụng được thống nhất

+ Khi xét nội dung của việc dân sự, Thẩm phán chủ tọa phiên họp sẽ hỏi người có yêu cầu xem họ có rút yêu cầu hay không, nếu họ rút yêu cầu thì Thẩm phán sẽ ra quyết định đình chỉ việc giải quyết việc dân sự Người yêu cầu không rút yêu cầu thì người yêu cầu hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày về những vấn đề cụ thể yêu cầu Toà án giải quyết, lý do, mục đích và căn

cứ của việc yêu cầu Toà án giải quyết việc dân sự để Thẩm phán xem xét Sau

đó người có liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày ý kiến của mình về những vấn đề có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của họ trong việc giải quyết việc dân sự Người làm chứng trình bày, người giám định đọc kết luận giám định, giải thích những vấn đề còn mâu thuẫn hoặc chưa rõ

Trang 34

Trong trường hợp có người vắng mặt mà sự vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến sự khách quan, đúng đắn của quyết định của Tòa án thì Thẩm phán cho công bố lời khai, tài liệu, chứng cứ do người đó cung cấp hoặc đã khai với Toà án.

Các đương sự, Thẩm phán, Kiểm sát viên có thể xem xét tài liệu, chứng

cứ thật kỹ sau đó mới xuất trình chứng cứ tại phiên họp Nếu Thẩm phán thấy không cần phải làm rõ thêm vấn đề gì nữa thì yêu cầu Kiểm sát viên phát biểu

ý kiến về việc giải quyết việc dân sự Sau đó, nếu việc giải quyết việc dân sự là một tập thể Thẩm phán thì ba Thẩm phán phải xem xét toàn bộ tài liệu, chứng

cứ, lời trình bày của các bên, ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát từ đó đánh giá các tài liệu chứng cứ, thảo luận và quyết nghị theo đa số chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu Tuy nhiên, nếu việc giải quyết là một Thẩm phán thì không

có thủ tục thảo luận, nghị án mà Thẩm phán được phân công phải xem xét kỹ, quyết định và tuyên công khai trước cuộc họp việc chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự Quyết định được quy định là một phần của phiên họp, do vậy phải được đọc ngay tại phiên họp cho đương sự nghe

2.1.3 Thành phần giải quyết việc dân sự

Đối với trường hợp các bên không có tranh chấp, việc giải quyết thường đơn giản hơn, do vậy tại khoản 2 Điều 55 BLTTDS quy định thành phần giải quyết việc dân sự có thể do một hoặc ba Thẩm phán thực hiện Điều 55 BLTTDS quy định như vậy có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao tinh thần trách nhiệm, chủ động trong khi giải quyết việc dân sự của Thẩm phán Đồng thời cũng giảm bớt chi phí cho việc tiến hành tố tụng, giải quyết nhanh chóng

vụ việc, tránh tồn đọng

i) Những loại việc dân sự cần phải có ba Thẩm phán xem xét

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 55 BLTTDS, những yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động sau đây cần phải do một tập thể gồm 3 Thẩm phán xem xét giải quyết: yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định về dân sự, quyết định về tài sản trong

Trang 35

bản án, quyết định hình sự, hành chính của Toà án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định về dân sự, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Toà án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam (Khoản 5 Điều 26); yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Toà án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Toà án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam (Khoản 6 Điều 28); Khoản 2 Điều 30 về yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định kinh doanh, thương mại của Toà án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định kinh doanh, thương mại của Toà án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam; Khoản 3 Điều 30 về yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định kinh doanh, thương mại của Trọng tài nước ngoài.

Đối với việc giải quyết yêu cầu huỷ quyết định của Trọng tài thương mại

do tập thể gồm ba Thẩm phán tiến hành, Toà án nên phân công những Thẩm phán thuộc Toà Kinh tế xem xét Loại việc này có tính chất phức tạp hơn so với các loại việc khác vì Toà án phải xem xét để công nhận hay huỷ quyết định của một cơ quan tài phán về việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại Việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại đó có thể đã được thực hiện bởi một hoặc ba Trọng tài viên do vậy cần phải có hội đồng gồm ba Thẩm phán xem xét Trong những loại việc này, Chánh án Toà án không nên phân công Thẩm phán đã ra quyết định việc đình chỉ hoặc thay đổi Trọng tài viên vào Hội đồng xét đơn yêu cầu để tránh sự khiếu nại của đương sự về thành phần Hội đồng xét đơn yêu cầu

Bên cạnh đó, Bộ luật tố tụng dân sự cũng quy định những loại việc dưới đây phải do ba Thẩm phán giải quyết như: yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định lao động của Toà án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định lao động của Toà án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam (Khoản 1 Điều 32); yêu cầu công nhận và cho

Trang 36

thi hành tại Việt Nam quyết định lao động của Trọng tài nưóc ngoài (Khoản 2 Điều 32); các yêu cầu khác về lao động mà pháp luật có quy định (Khoản 3 Điều 32).

- Việc xét kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định giải quyết việc dânsự

ii) Những loại việc dân sự chỉ cần có một Thẩm phán xem xét

Những yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động khác không thuộc các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 55, chỉ cần một Thẩm phán giải quyết Do tính chất giải quyết yêu cầu của các việc dân sự là dựa vào các tình tiết, sự kiện của sự việc đã được xác định thông qua lời thừa nhận, thống nhất của các đương sự hoặc các bên không phản đối chứng

cứ, yêu cầu của nhau Vì vậy, loại việc này đơn giản, ít phức tạp hơn so với việc giải quyết vụ án dân sự

Mục đích của việc quy định một Thẩm phán giải quyết những loại việc đơn giản không quy định tại Khoản 1 Điều 55 BLTTDS để đảm bảo việc giải quyết được thực hiện nhanh chóng, tiết kiệm, giảm bớt chi phí tố tụng Ngoài

ra, quy định này còn giúp Thẩm phán có thể chủ động trong việc xem xét tình tiết, sự kiện của sự việc và nâng cao tinh thẩn trách nhiệm của Thẩm phán

2.1.4 Sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát nhân dân

Trước khi có Bộ luật tố tụng dân sự, Công văn hướng dẫn của Toà án nhân dân tối cao có quy định "nếu vắng mặt đại diện Viện kiểm sát thì Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa; Tuy nhiên, trong trường hợp Viện kiểm sát đã nhận được yêu cầu của Tòa án về việc tham gia phiên tòa, nhưng có thông báo cho Tòa án biết việc Viện kiểm sát không tham gia phiên tòa trong vụ án cụ thể

đó, thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung”5

5 Công vãn số 16/1999/KHXX ngày 01-02-1999 của Viện Khoa học xét xử Toà án nhân dân tối cao

về một số vấn đề về hình sự, dân sự kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng.

Trang 37

Khoản 2 Điều 21 BLTTDS quy định Viện kiểm sát tham gia phiên họp giải quyết việc dân sự là bắt buộc đối với tất cả các loại việc Kiểm sát viên vắng mặt trong phiên họp giải quyết việc dân sự vì bất cứ lý do gì cũng phải hoãn phiên họp (khoản 2 Điều 313 BLTTDS) Kể từ ngày thụ lý việc dân sự, Toà án có trách nhiệm thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân trong thời hạn ba ngày làm việc Trong trường hợp Tòa án ra quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự phải gửi ngay đến Viện kiểm sát cùng cấp hồ sơ để nghiên cứu Viện trưởng Viện kiểm sát phải ra quyết định cử Kiểm sát viên tham gia tố tụng theo quy định tại khoản 2 Điều 313 BLTTDS Sau khi nghiên cứu trong thời hạn 07 ngày, Viện kiểm sát trả lại hồ sơ cho Tòa án Kiểm sát viên nghiên cứu hồ sơ, kiểm tra thủ tục thụ lý và chuẩn bị xét đơn do Toà án thực hiện đã đúng pháp luật hay chưa và chuẩn bị ý kiến phát biểu tại phiên họp.

Trước khi mở phiên họp hoặc tại phiên họp xét đơn yêu cầu, Kiểm sát viên có thể phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị yêu cầu thay đổi nếu có những căn cứ được pháp luật quy định Việc thay đổi Kiểm sát viên trước khi mở phiên họp do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp quyết định Việc thay đổi Kiểm sát viên tại phiên họp giải quyết việc dân sự do Hội đồng xét đơn (nếu là tập thể gồm ba Thẩm phán) hoặc Thẩm phán ra quyết định hoãn phiên họp (trong trường hợp có một Thẩm phán)

2.1.5 Những người tham gia phiên họp giải quyết việc dân sự

Theo quy định tại Điều 313 BLTTDS về những người tham gia phiên họp giải quyết việc dân sự, phiên họp được tiến hành với sự có mặt của người yêu cầu, người có liên quan hoặc người đại diện của họ và Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp Trong quá trình xem xét tại phiên họp, nếu thấy cần thiết Thẩm phán sẽ triệu tập người làm chứng để lấy lời khai, sử dụng kết luận của người giám định hoặc triệu tập người phiên dịch trong trường hợp có đương sự không

sử dụng được tiếng Việt Nếu người tham gia phiên họp đã được triệu tập hợp lệ

mà vẫn vắng mặt thì Tòa án ra quyết định hoãn phiên họp trong các trường hợp sau đây: vắng mặt Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp; vắng mặt người làm

Trang 38

chứng, người phiên dịch, người giám định nếu sự tham gia tố tụng của họ là cần thiết; vắng mặt người có đơn yêu cầu vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng; thay đổi Thẩm phán, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án, người giám định, người làm chứng, người phiên dịch mà không có người thay thế ngay tại phiên họp.

Đối với các trường hợp người có liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ vắng mặt khi được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, thì tuỳ từng trường hợp Toà án sẽ quyết định hoãn hay vẫn tiến hành phiên họp Trường hợp người có liên quan vắng mặt lần thứ nhất không có lý do chính đáng nhưng đã có lời khai, chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ tương đối đầy đủ tại phiên họp thì Toà án nên hoãn hay vẫn tiến hành, có hai quan điểm khác nhau Quan điểm thứ nhất cho rằng, mặc dù BLTTDS không quy định cụ thể nhưng trong trường hợp này Toà án phải hoãn phiên họp Quan điểm thứ hai cho rằng, nếu vắng mặt nhưng

sự vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến tiến trình xem xét chứng cứ, tài liệu và sự ra quyết định của Thẩm phán thì Toà án vẫn có thể tiến hành bình thường Vì việc dân sự không có tranh chấp, sự thống nhất thoả thuận của các bên trong lời khai, tài liệu đã thể hiện ý chí của họ, sự có mặt của họ không làm trì hoãn việc giải quyết của Toà án Trừ trường hợp cần phải xác minh, thu thập thêm chứng cứ làm sáng tỏ sự việc thì Tòa án quyết định hoãn phiên họp

Trường hợp người có liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ vắng mặt khi được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, người có yêu cầu có đơn yêu cầu

xử vắng mặt họ, vắng mặt người làm chứng, người giám định nếu sự tham gia của họ tại phiên họp là không cần thiết thì Thẩm phán tiến hành phiên họp Nếu người có đơn yêu cầu được triệu tập lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Thẩm phán ra quyết định đình chỉ việc giải quyết việc dân sự vì sở dĩ mở phiên họp là

để thực hiện yêu cầu của người yêu cầu (người có quyền và lợi ích liên quan)

2.1.6 Thời hạn giải quyết việc dân sự

Thời hạn giải quyết việc dân sự được quy định tại các điều luật tương ứng với từng loại việc dân sự Ví dụ đối với thủ tục giải quyết yêu cầu thông

Trang 39

báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú thì trong thời hạn mười ngày, kể từ

ngày ra quyết định mở phiên họp, Thẩm phán phải mở phiên họp xét đơn yêu

cầu Như vậy, kể từ ngày thụ lý cho đến ngày phải mở phiên họp chỉ trong

khoảng 30 ngày, quá thời hạn này bị coi là vi phạm thời hạn giải quyết việc dân

sự Tuy nhiên, đối với thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích

thì kể từ khi thụ lý đến khi mở phiên họp xét đơn yêu cầu là khoảng hơn 5

tháng

quyết việc dân sự

- Quyết định giải quyết việc dân sự là kết quả của quá trình chuẩn bị,

xem xét giải quyết việc dân sự Văn bản pháp lý đó xác định có hay không sự

tồn tại của một sự kiện pháp lý là căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự

giữa các đương sự; công nhận hay không công nhận quyền dân sự của người có

yêu cầu Nội dung của quyết định giải quyết việc dân sự phải ghi đầy đủ thông

tin được quy định tại Khoản 1 Điều 315 BLTTDS

- Hiệu lực của quyết định giải quyết việc dân sự

Văn bản này được bảo đảm thực hiện bằng sự cưỡng chế của Nhà nước

thông qua quy định của pháp luật thi hành án dân sự Theo quy định tại khoản

2 Điều 315 BLTTDS thì “Quyết định giải quyết việc dân sự phải được gửi cho

Viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan thi hành án có thẩm quyền, người yêu cầu giải

quyết việc dân sự và cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

đến quyết định đó trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định”

Theo tinh thần của điều luật, thì thời hạn “năm ngày làm việc” này phải được

hiểu là những ngày người lao động đến đơn vị làm việc theo quy định và đã trừ

những ngày người lao động được nghỉ ngơi như ngày lễ, Tết, ngày thứ bảy, chủ

nhật theo quy định của Bộ luật lao động

Theo quy định tại Mục 5 Nghị Quyết 32/2004/QH11 ngày 15-6-2004 thì

các tranh chấp, yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động phát

Trang 40

sinh trước ngày BLTTDS có hiệu lực mà các văn bản pháp luật trước đây không

quy định thì áp dụng thời hiệu quy định tại Điều 159 BLTTDS 2004

2.1.8 Thủ tục phúc thẩm quyết định giải quyết việc dân sự

Thủ tục phúc thẩm quyết định giải quyết việc dân sự bị kháng cáo,

kháng nghị được thực hiện tương tự như thủ tục phúc thẩm quyết định của Tòa

án cấp sơ thẩm quy định tại Điều 280 BLTTDS

i) Người có quyền kháng cáo, kháng nghị

Điều 316 BLTTDS quy định người yêu cầu và cá nhân, cơ quan, tổ chức

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến quyết định giải quyết việc dân sự có

quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có

quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự để yêu cầu Tòa án cấp trên

trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm, trừ các quyết định quy định tại

khoản 2 và khoản 3 Điều 28 BLTTDS

Đối với yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi

ly hôn và yêu cầu công nhận sự thỏa thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con

sau khi ly hôn được quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 28 BLTTDS đã có

quyết định giải quyết việc dân sự thì nó có hiệu lực pháp luật ngay lập tức nên

các bên không có quyền kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Vì bản

chất hai loại việc này không có tranh chấp mà do hai vợ chồng thuận tình yêu

cầu Toà án xác nhận sự thoả thuận giải quyết các vấn đề sau khi ly hôn

theo quy định tại Điều 21 BLTTDS thì kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong

tố tụng dân sự là một trong những nguyên tắc cơ bản của Bộ luật Theo đó khi

thực hiện nguyên tắc này, Viện kiểm sát nhân dân có quyền yêu cầu, kiến nghị,

kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo việc giải quyết các vụ

việc một cách kịp thời, đúng pháp luật Điều 5 Thông tư liên tịch số

03/2005/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 1-9-2005 quy định: " Viện trưởng

Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị theo thủ tục

Ngày đăng: 24/01/2021, 20:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w