1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những quy định của pháp luật về trị giá hải quan và thực tiễn áp dụng tại việt nam

78 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 7,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bởi vì, một mặt, nó góp phần giúp các cơ quan nhà nước có các phương pháp khắc phục các hiện tượng gian lận thương mại qua giá, đảm bảo thu đúng, thu đủ tiền thuế cho ngân sách nhà nước;

Trang 1

<s UVÍ í \ Ị H O C j i , 1 • ! VÓ*

ANR

i \ y\ ■ u O tí

Trang 2

TRƯỜNG ĐAI HOC LUẢT HÀ NÔI

TRẦN THỊ LAN ANH

NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÈ TRỊ GIÁ HẢI QUAN VÀ THƯC TIỄN ÁP DUNG TAI VIÊT NAMé ■ • a

LUÂN VĂN THAC • 9 S Ỹ LƯẢT HOC0 0

Người hướng dẫn: PGS TS LÊ HỒNG HẠNH Chuyên ngành : Luật Kinh tế

Mã số : 60 38 50 Khóa : XI (2003-2006)

Trang 3

lu ă t Aoc 3ỉê 36ềnỹ 36ạnẢy nỹtiời (Aầỵ đ ã dànA nÁiều tểùỉi ỹian và côttỹỉ

SEuđn vãn 0Cin ũđn ũọnp cảm ổn các

thầp cô ỹláo &Uửfttỹ Ảoc ăỉuăt 36à JỲồi đ ã ỹùíýi ũanỹĩ ếi nhữttỹ! ấiễn

tkức cần tíu đ cho toi tbonỹ tíiời ỹian đào (áo ta i nAà tuứPnỹ 0Cin cảm tín

các đềnỹ nỹAiệýi ta i ^Dttc ỜCiểm ỉàa àcue Ikônỹr quan - ễĩểnỹĩ ^ễtec 36ải tỊU€M

đ ã lao điều Áiền ỹiúýi đõ tôi lịonỹ <Ịuá tửnA Aoàn ỈÂànẢ ăỉuân văn này.

&ức đê Àưồnp dân lơi Aoàn 1/tànẮ

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

CHƯƠNG 1: MỘT SÓ VẤN ĐẺ LÝ LUẬN VÈ TRỊ GIÁ HẢI QUAN

1.1 Khái niệm về trị giá Hải quan

1.2 Trị giá Hải quan và mối liên hệ của nó với tự do hoá thương mại 13

1.3.3 Các vấn đề phát sinh khỉ áp dụng Hiệp định trị giá GATT/WTO 23

1.4 Bài học kinh nghiệm của Hải quan các nước trong việc xác định trị 2 7

giá Hải quan

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VIỆT NAM VẺ TRỊ GIÁ HẢI QUAN VÀ THựC 33

TIỄN ÁP DỤNG

2.1 Những quy định của pháp luật về trị giá Hải quan và thực tiễn áp 2 3

dụng

2.1.2 Phương pháp xác định trị giá tính thuế theo trị giá hàng hoá

giong hệt

2.1.3 Phương pháp xác định trị giả tính thuế theo trị giá hàng hoá 2 7

1.3 Vân đẽ vẽ tri giá 1 quan trong các cam kẻt quốc tê

1.3.1 Quá trình phát triển của vẩn đề trị giá hải quan

1.3.2 Trị giá Hải quan trong các cam kết quốc tế

151518

1.3.4 Xác định trị giá Hải quan theo phương pháp quốc gia 24

tương tự

2.1.4 Phương pháp xác định trị giá tính thuế theo trị giá khấu trừ của

hàng hóa nhập khâu

Trang 5

2.1.6 Phương pháp suy luận xác định trị giá tỉnh thuế 402.2 Một số hình thức gian lận về trị giá Hải quan ở Việt Nam hiện nay 43

2.2.2 Khai sai về số lượng, trọng lượng, xuất xứ của hàng hỏa 47

2.2.3 Gian lận trong lĩnh vực gia công hàng xuất khẩu 49 2.2.4 Gian lận trong vận tải đường biển, giả mạo chủng từ 50

CHƯƠNG 3 MỘT SÓ KIÉN NGHỊ BƯỚC ĐẦU VÈ PHƯƠNG HƯỚNG 52 HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÈ TRỊ GIÁ HẢI QUAN

3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định của pháp luật về trị giá hải quan

3.1.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách về frị giá hải quan

3.1.2 Đẩy mạnh hiện đại hỏa hải quan và cải cách thủ tục hành chỉnh

cỏ liên quan đến trị giả hải quan

3.1.3 Thực hiện quản lý rủi ro và tự động hóa tin học trong công tác quản lý của ngành hải quan

3.2 Một số kiến nghị để tăng cường các biện pháp chống gian lận qua trị giá hải quan

3.2.1 Hoàn thiện các chính sách liên quan như chính sách thuế, hướng £ 2

dân vé xác định trị giá tính thuế

3.2.2 Củng cổ và phát triển hệ thống kiểm tra sau thông quan 63

3.2.3 Phổ biến, tuyên truyền cho cộng đồng doanh nghiệp 65

3.2.4 Xây dụng và củng cố cơ sở vật chất và hệ thống thông tin, ngân

KÉT LUẬN

TÀI LIỆƯ THAM KHẢO

6869

Trang 6

1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài

Nền kinh tế thị trường đòi hỏi các nhà kinh doanh và đầu tư phải nắm bắt

và xử lý thông tin chính xác, kịp thời, nhằm đưa ra những quyết định tối ưu cho mình Một trong những kênh thông tin luôn thu hút sự quan tâm của các doanh nghiệp là các quy định về hệ thống thuế quan

Xác định trị giá hải quan luôn trở thành một chủ đề được quan tâm hàng đầu trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Bởi vì, một mặt, nó góp phần giúp các cơ quan nhà nước có các phương pháp khắc phục các hiện tượng gian lận thương mại qua giá, đảm bảo thu đúng, thu đủ tiền thuế cho ngân sách nhà nước; mặt khác, nó là công cụ để bảo vệ các nhà kinh doanh trung thực bằng việc yêu cầu cơ quan Hải quan phải chấp nhận xác định trị giá tính thuế là giá người nhập khẩu thực sự phải thanh toán trong giao dịch Tuy nhiên, thiết lập một cơ chế pháp lý xác định trị giá hải quan để phục vụ và phù hợp với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, trong điều kiện hiện nay ở nước ta, là một vấn đề tương đối phức tạp nhưng thực sự cần thiết, thể hiện trên một số khía cạnh sau:

v ề mặt thực tiễn giao lưu quốc tế về thương mại và dân sự diễn ra theo nhiều hình thức, phương cách đa dạng Chính sự đa dạng này làm nảy sinh nhiêu vấn đề phức tạp, chưa đạt hiệu quả trong việc xác định trị giá hải quan Nhiều nhà nhập khẩu đã lợi dụng triệt để những hạn chế của pháp luật về xác định trị giá hải quan như hiện nay để thực hiện việc gian lận thương mại qua giá, gây thất thu cho ngân sách nhà nước

v ề mặt pháp lý, pháp luật điều chỉnh việc xác định giá tính thuế nhập khẩu là một cơ chế pháp lý khá phức tạp Bởi vì, bộ phận pháp luật này được xây dựng trên cơ sở của nhiều bộ phận pháp luật ở các lĩnh vực khác nhau như pháp luật thuế, pháp luật hải quan, pháp luật thương mại, các điều ước quốc tế Trong khi đó, sự không đồng bộ của các bộ phận pháp luật này với nhau dẫn tới những hạn chế nhất định trong việc xây dựng và áp dụng pháp luật trị giá hải quan

Trang 7

về trị giả Hải quan và thực tiễn áp dụng của Hải quan Việt N am ” nhằm

nghiên cứu về các quy định xác định trị giá Hải quan với các vấn đề phát sinh trong thực tế áp dụng là cần thiết

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề xác định trị giá hải quan là một đề tài lớn, có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế, nó có tác động trực tiếp tới hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, về vấn đề này cũng có những công trình nghiên cứu về trị giá hải quan dưới góc độ kinh tế như: “ Xác định trị giá Hải quan phục vụ công tác quản lý nhà nước về Hải quan trong tình hình mới” của Thạc sỹ Vũ Hồng Loan,

“Các vấn đề phát sinh trong quá trình áp dụng các phương pháp xác định trị giá hải quan trên thế giới và kinh nghiệm áp dụng cho Hải quan Việt Nam” của Thạc sỹ Trần Vũ Minh và một số bài viết trên tạp chí chuyên ngành như: tạp chí nghiên cứu hải quan, các báo điện tử, internet Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu đã nêu chỉ xem xét vấn đề trị giá hải quan dưới góc độ kinh tế chưa

đi sâu nghiên cửu và đưa ra các giải pháp cụ thể về mặt pháp lý

3 Phạm vi nghiên cửu đề tài

Dưới góc độ nghiên cứu luật học, luận văn không nghiên cứu toàn bộ những vấn đề liên quan đến trị giá hải quan mà giới hạn nghiên cứu được xác định là trên cơ sở lý luận pháp luật điều chỉnh việc xác định trị giá hải quan, đánh giá thực trạng việc áp dụng các quy định hiện và nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước để rút ra bài học kinh nghiệm trong quá trình thực hiện Hiệp định trị giá GATT Luận văn cũng đề xuất một số phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật cũng như phương pháp phòng ngừa gian lận qua trị giá hải quan

4 Phưong pháp nghiên cứu

Đe tài được nghiên cứu trên phương pháp luận biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin Ngoài ra, tác giả còn sử dụng một số phương pháp

Trang 8

định của pháp luật về trị giá hải quan ở các góc độ khác nhau.

5 Mục đích của việc nghiên cứu đề tài

Từ nhận thức về cơ sở khoa học và thực tiễn như trên tác giả xác định mục đích nghiên cứu của đề tài là:

Thư nhất: Làm sáng tỏ lý luận về các phương pháp xác định trị giá hải

quan mà pháp luật Việt Nam đang áp dụng và một số bài học kinh nghiệm của các nước trong khu vực ASEAN

Thứ hai: Phân tích thực trạng áp dụng các phương pháp xác định trị giá

hải quan theo pháp luật Việt Nam và phân tích một số hình thức gian lận phổ biến qua trị giá hải quan

Thứ ba: Đưa ra một số vấn đề pháp lý cần giải quyết để làm sáng tỏ cơ sở

lý luận và cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng, đề xuất hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật về trị giá hải quan và đưa ra giải pháp phòng ngừa các hình thức gian lận qua trị giá hải quan

6 Cơ cấu của luận văn

Ngoài lời nói đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về trị giá Hải quan

Chương 2: Pháp luật Việt Nam về trị giá Hải quan và thực tiễn áp dụngChương 3 Một số kiến nghị bước đầu về phương hướng hoàn thiện pháp luật về trị giá Hải quan

Trang 9

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VÊ TRỊ GIÁ HẢI QUAN

1.1 Khái niệm về trị giá Hải quan

Các thuật ngữ trị giá hải quan (trị giá tính thuế nhập khẩu), trị giá tính thuế, về cơ bản là đồng nghĩa Mặc dù trong nhiều trường hợp, việc sử dụng chúng thay thế cho nhau không hẳn đã hoàn toàn chính xác nhưng nhìn chung cũng không gây ra những nhầm lẫn lớn Giá tính thuế nhập khẩu được ghi nhận lần đầu trong Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 1987, là thuật ngữ có ý nghĩa pháp lý sử dụng để phản ánh mọi loại giá của hàng hoá nhập khẩu được xác định theo các phương pháp định giá mà pháp luật quy định, không tính tới sự khác biệt về tính chất giữa các phương pháp; Trị giá hải quan được du nhập vào Việt Nam cùng quá trình tham gia vào hội nhập kinh tế quốc tế khoảng nửa đầu những năm 1990 để chỉ phương pháp xác định giá hàng nhập khẩu theo Điều 7 của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại; Trị giá tính thuế lần đầu tiên xuất hiện trong Nghị định 60/2002/NĐ-CP ngày 06/6/2002 quy định việc xác định giá tính thuế theo nguyên tắc GATT và nay được quy định trong số 155/2005/NĐ - CP ngày 15 tháng 12 năm 2005 của Chính phủ quy định về việc xác định trị giá Hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, Thông tư số 113/2005/TT-BTC ngày 15/12/2005 hướng dẫri thi hành Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Giá trị tính thuế và giá trị hải quan có nhiều nét nghĩa gần nhau

Giá tính thuế của hàng hoá nhập khẩu chưa bao giờ là câu chuyện riêng của người nhập khẩu và người xuất khẩu Sự tồn tại của chủ quyền quốc gia trong hoạt động kinh tế đối ngoại thông qua thuế quan đã làm cho vấn đề có thêm những sắc thái chính trị, pháp lý, xã hội bên cạnh ý nghĩa kinh tế tự thân

Hệ thống thuế quan sử dụng giá tính thuế nhập khẩu như một công cụ pháp lý tác động trực tiếp và các quan hệ giá cả của hàng hoá nhập khẩu phù họp với những mục đích của bản thân hệ thống thuế quan như thu ngân sách và/hoặc bảo

vệ sản xuất Khi mức độ thuế suất được cắt giảm theo các cam kết của hội nhập kinh tế quốc tế, hệ thống thuế quan phải đặt trọng tâm điều chỉnh vào việc xác

Trang 10

định trị giá tính thuế của hàng hóa nhập khẩu Việc quy định trị giá tính thuế của hàng hóa nhập khẩu có ý nghĩa rất quan trọng, bởi lẽ, nó không chỉ có quan hệ trực tiếp tới nguồn thu ngân sách, tới chính bảo vệ sản xuất nội điạ mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới mối quan hệ thương mại, ngoại giao giữa các nước.

Trị giá tính thuế nhập khẩu làm phát sinh nhiều quan hệ xã hội rất phức tạp Tính phức tạp đó thể hiện ở sự đa dạng trong mục đích của những chủ thể tham gia, ở mối liên hệ phong phú giữa nội dung giá trị với các biểu hiện hình thức khác nhau Bởi vậy, để làm sáng tỏ khái niệm trị giá tính hải quan cần tiếp cận theo những vấn đề sau:

1 Trị giá hải quan là căn cứ tính thuế: Trong khi thiết kế thuế nhập khẩu ta

có thể dựa vào các căn cứ sau: chủng loại hàng hoá, xuất xứ hàng hoá, khối lượng Xu hướng hiện nay là dùng giá tính thuế làm căn cứ để tính thuế vì tính tiện lợi, linh hoạt và khách quan của nó Giá tính thuế nhập khẩu là một trong những căn cứ cơ bản để tính thuế hải quan và các thuế khác, v ấ n đề gì sẽ xảy ra khi chúng ta mở rộng phạm vi ngoại diên của khái niệm từ thuế nhập khẩu sang tới các sắc thuế khác như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng? Liệu

có sự khác biệt giữa cái được gọi là giá vốn trong thuế nhập khẩu với giá tính để tính thuế giá trị gia tăng đầu vào và với giá để xác định chi phí trong thuế thu nhập doanh nghiệp? Lời giải cho những câu hỏi này phụ thuộc chủ yếu vào cách đặt vấn đề về vị trí và mối quan hệ giữa các sắc thuế trong một hệ thống thuế thống nhất Điều quan trọng mà chúng tôi rút ra từ những lập luận này là phải chăng chúng ta có thể lợi dụng những mối liên hệ nội tại giữa các sắc thuế để xác định chính xác và kiểm tra tính đúng đắn của trị giá hải quan Thật vậy, vì trong đa số các trường hợp, nhập khẩu chỉ là khâu đầu tiên của một quá trình kinh doanh nên khi các hoạt động kinh doanh sản xuất được tiến hành trong nội địa cho chúng ta cơ hội để tìm kiếm những bằng chính xác thực về giá trị thật sự của hàng nhập khẩu Thông thường khi nhập khẩu, người nhập khẩu có xu hướng khai không đúng số lượng, chất lượng, trị giá hàng hoá để giảm thiểu thuế nhập khẩu Nhưng đến khi bán hàng, khi hạch toán kinh doanh, chủ hàng buộc phải tính đúng các chi phí đầu vào để giảm số thuế phải nộp trong nội địa

2 Trị giá hải quan chỉ liên quan và phụ thuộc vào hàng hoá nhập khẩu Bởi vậy, khi làm rõ khái niệm trị giá hải quan đặt ra việc xem xét nội dung của vấn

đề hàng hoá nhập khẩu

Trang 11

Thứ nhất, đặc tính nhập khẩu của hàng hoá Hàng hoá được coi là nhập

khẩu nếu nó được đưa từ một quốc gia khác đến quốc gia tiếp nhận hàng hoá Xác định tính chính xác không gian và thời gian của hành vi nhập khẩu có ý nghĩa thực tế cho việc xác định giá nhập khẩu Không gian và thời điểm nhập khẩu tác động tới việc tính toán chi phí phát sinh của hàng hoá như phí vận chuyển kho bãi, bảo hiểm, tỷ giá Điều 4 Luật hải quan quy định thông quan là việc cơ quan Hải quan quyết định hàng hoá được nhập khẩu; việc thông quan được tiến hành sau khi hàng hoá đã làm thủ tục hải quan trong đó nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác là một nội dung của thủ tục hải quan Từ góc độ quản lý nhà nước về lĩnh vực hải quan dễ dàng giải thích các quy định nêu trên Vì vậy dưới góc độ điều chỉnh giá thuế nhập khẩu, việc tách rời không gian và thời gian giá nhập khẩu khỏi hành vi nhập khẩu, trong thời gian dài sẽ đưa lại nhiều bất lợi khi xây dựng và thực thi các chính sách có liên quan Bởi vì chúng ta sẽ không thể thiết kế một hệ thống phương pháp định giá toàn diện nếu không có sự phân biệt giữa hàng nhập khẩu để bán với hàng là quà biếu, hàng mẫu, hàng ký gửi, thuê, mượn, cho vay

Thứ hai, mục đích nhập khẩu hàng hoá Mục đích nhập khẩu của hàng hoá

thể hiện ý định sử dụng hàng hoá của bên nhập khẩu và bên xuất khẩu Mục đích nhập khẩu rất đa dạng: thương mại, quá cảnh, hành lý theo người, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập Tuy không phải là cơ sở cơ bản để xác định thuế nhập khẩu nhưng mục đích nhập khẩu cũng có ý nghĩa nhất định trong việc lựa chọn phương pháp định giá nhập khẩu Rõ ràng là hàng hoá nhập khẩu phi mậu dịch không dựa trên các giao dịch mua bán nên phương pháp định giá sẽ không thể dựa vào giá cả thương mại của hàng hoá

3 Trị giá hải quan xác định căn cứ vào trị giá của hàng hoá nhập khẩu

Trong mối liên hệ phân tích khái niệm trị giá hải quan, chúng ta chỉ xem xét trị giá của hàng nhập khẩu theo ba nội dung sau:

Thứ nhất, đánh giá chủ quan và đánh giá khách quan trị giá hải quan, về mặt chủ quan trị giá hàng nhập khẩu phản ánh phần giá trị của hàng nhập khẩu được Hải quan thừa nhận, xoay quanh giá trị trung bình của hàng hoá trên thị trường Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu thuế thường có xu hướng xác định thuế nhập khấu theo giá trị chủ quan này vì nó tạo ra một căn cứ tính thuế loại

bỏ được những giả định về mối liên hệ bên trong giữa người xuất khẩu và người

Trang 12

nhập khẩu cũng như tác động bên ngoài (phạm vi, thời điểm bán hàng hoặc thủ đoạn kinh doanh) làm biến dạng giá trị thực tế của hàng hoá về mặt khách quan, trị giá của hàng nhập khấu phản ánh một mức giá cả giao dịch cụ thể giữa người nhập khẩu và người xuất khẩu, về nguyên tắc, người nhập khẩu đã bỏ các chi phí để có hàng hoá Thực chất tính hai mặt khách quan - chủ quan của giá trị hàng nhập khẩu là mối quan hệ giữa giá trị thị trường với giá trị cá biệt, giữa lao động xã hội với lao động tư nhân, giữa lao động trừu tượng với lao động cụ thể.

Thứ hai, Trị giá hải quan là kết quả của quá trình định giá hàng hoá nhập

khẩu Định giá là một thủ tục do các bên liên quan (hải quan, người nhập khẩu)

áp dụng nhằm xác định giá trị của hàng nhập khẩu Như là hệ quả của tính hai mặt nêu trên trong giá trị hàng nhập khẩu, trên thực tế tồn tại nhiều phương pháp định giá hàng nhập khẩu Chẳng hạn như định giá hàng nhập khẩu theo giá hàng

sẽ được tiêu thụ trong nội địa hoặc theo giá phản ánh trong quan hệ thanh toán giữa người xuất khẩu và người nhập khẩu Việc lựa chọn phương pháp định giá tuỳ thuộc vào mục đích quản lý xuất nhập khẩu của từng quốc gia Tuy nhiên,

xu hướng hội tụ các phương pháp định giá giữa các quốc gia ngày càng được khẳng định rõ nét thông qua quá trình tự do hoá thương mại toàn cầu Mặt khác, việc xác định trị giá hải quan cũng xác lập trình tự thủ tục, các quyền và nghĩa

vụ của các cơ quan thuế và người nhập khẩu Các trình tự và thủ tục xác định trị giá hải quan xét về tính chất là các quan hệ hành chính Mặc dù chỉ là những hình thức nhưng chính những thủ tục này khi được quy định hợp lý sẽ là cơ sở

để xác định đúng đắn trị giá của hàng hóa nhập khẩu, bảo đảm được quan hệ bình đẳng và dân chủ giữa người nhập khẩu và cơ quan Hải quan

Thứ ba, khi phân tích nội dung trị giá hải quan cần phân biệt với khái niệm

trị giá và giá cả Có thể phân biệt ba khái niệm này qua mô tả đơn giản sau: Giá trị phản ánh chi phí lao động trung bình của nhà sản xuất thì giá cả phản ánh mối quan hệ giữa người nhập khẩu và người xuất khẩu trong điều kiện của quá trình mua bán trao đổi hàng hóa cụ thể; trị giá hải quan phản ánh mối quan hệ của người nhập khẩu với cơ quan Hải quan trong quá trình nhập khẩu hàng hóa

4 Trị giá tính thuế của hàng hóa nhập khẩu, lý do nêu trên không đồng nhất với giá trên họp đồng được ký kết giữa người nhập khẩu và người xuất

Trang 13

khẩu Hợp đồng chỉ là một yếu tố cần xem xét đến bên cạnh những căn cứ, dữ liệu khác Có hai vấn đề cần lưu ý ở đây:

Thứ nhất, Trị giá hải quan phải được chứng minh bằng hệ thống các căn

cứ, dữ liệu khách quan Các dữ liệu này thông thường tồn tại dưới hình thức hợp đồng mua bán ngoại thương, báo giá, hóa đơn thương mại hoặc các loại chứng

từ khác Người nhập khẩu có trách nhiệm cung cấp dữ liệu này Tiêu chuẩn khách quan trước hết đòi hỏi bộ hóa đơn chứng từ phải được lập và xuất trình phù hợp với yêu cầu của pháp luật và thông lệ tập quán quốc tế được thừa nhận Tính khách quan của tài liệu còn thể hiện trên tài liệu Nói tóm lại, khi đảm bảo được tính khách quan, người nhập khẩu có thể sử dụng bất kỳ tài liệu nào để chứng minh trị giá của hàng nhập khẩu

Thứ hai, cơ quan Hải quan có quyền yêu cầu người nhập khẩu phải chứng

minh về tính chính xác, trung thực của bất cứ một tài liệu, một chứng từ hoặc một tờ khai nào mà chủ hàng đã xuất trình cho hải quan Như vậy, khi đánh giá tính khách quan của các tài liệu nhằm xác định trị giá hải quan, cơ quan Hải quan có quyền đòi hỏi sự hợp tác toàn diện của người nhập khẩu Từ những dẫn giải trên đây, trị giá tính thuế hàng nhập khẩu được khái niệm như sau:

Trị giá hải quan (trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu) là một căn cứ tính thuế nhập khẩu dựa trên cơ sở trị giá của hàng hóa nhập khẩu phù hợp với những dữ liệu khách quan, khoa học được đối tượng nộp thuế và cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu thuế xác định và chấp nhận Nói một cách khác trị giá Hải quan là cơ sở để cơ quan Hải quan tính và thu thuế một cách chính xác Khái niệm này cho thấy việc xác định trị giá hải quan là nhằm mục đích để cơ quan hải quan thực hiện nghĩa vụ thu thuế

1.1.1 Bản chất pháp lý của trị giá hải quan

Dưới góc độ kinh tế, trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu có hai ý nghĩa quan trọng Một là, nó phản ánh giá trị của tài sản hoặc nguyên vật liệu đầu vào của đơn vị nhập khẩu Hai là, nó là căn cứ để xác định chi phí hợp lý được khấu trừ khi tính thu nhập của doanh nghiệp Điều đó đặt ra yêu cầu mang tính khách quan là phải xác định được chính xác, đầy đủ chi phí trên số vốn mà doanh

Trang 14

nghiệp đã bỏ ra để nhập khẩu hàng hóa Nói khác đi, giá tính thuế nhập khẩu phải là giá mà đơn vị nhập khẩu đã thực sự bỏ ra để có được hàng hóa Đen nay, trong chính sách áp dụng pháp luật về giá tính thuế nhập khẩu ở nước ta vẫn tồn tại nguyên tắc cho rằng: một loại sản phẩm hàng hóa thì cũng có cùng một mức giá tính thuế nhập khẩu Tuy nhiên quan điểm này không chính xác.

Sự đa dạng của giá cả hàng hóa là khách quan, vì trước hét nó phản ánh sự

đa dạng trong mục đích giá hàng hóa trong ngoại thương Nhìn chung, có thể thấy bốn mục đích cơ bản của việc xác định giá cả Mục tiêu đầu tiên của việc xác định giá là đạt được lợi nhuận, mục tiêu thứ hai là đạt được thị phần, mục tiêu thứ ba là ổn định sản lượng Nhiều doanh nghiệp định giá với mục tiêu duy trì được nhiều đơn đặt hàng để tránh những dao động gây ra đối với sản lượng Mục tiêu cuối cùng là cạnh tranh Thực hiện riêng biệt trong việc kết hợp các mục tiêu này lý giải tính khách quan vì sao giữa những mối quan hệ giao dịch cụ thể giá cả lại có thể được hình thành và biểu hiện không hoàn toàn giống nhau.Tiếp theo, sự đa dạng của giá cả nhập khẩu phụ thuộc vào chu kỳ sống của sản phẩm Rõ ràng sự thay đổi về cung - cầu đốỉ với sản phẩm nên giá cả của chính sản phẩm ấy cũng bị biến đổi Và cuối cùng những yếu tố còn lại thường ảnh hưởng đến sự đa dạng của giá cả nhập khẩu bao gồm: cấu trúc của thị trường, việc phân biệt giá, định giá chuyển giao

về phương pháp tiếp cận bản chất của trị giá tính hải quan

Trị giá hải quan như đã được phân tích, được xác định trong mối quan hệ giữa người nhập khẩu và cơ quan hải quan Trong mối liên hệ đó phải tiếp cận

để xác định trị giá hải quan vào cách tiếp cận khách quan Cách tiếp cận khách quan là việc xác định trị giá hải quan chỉ ra rằng giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu về bản chất phải phản ánh phù hợp giá cả khách quan trong mối quan hệ giữa người mua và người bán Có hai nội dung cần lưu ý về vấn đề này

Một là, trị giá tính thuế của hàng hóa nhập khẩu là thuế là giá mà người

nhập khẩu đã trả hoặc sẽ phải thanh toán cho người xuất khẩu để có được quyền

sở hữu hàng hóa Do vậy, quan hệ giao dịch giữa người nhập khẩu và người xuất khẩu là yếu tổ then chốt để hình thành nên trị giá hải quan

Hai là, xác định trị giá hải quan trong mục đích hải quan không phải là việc

cơ quan đi khảo sát để tìm giá trung bình của thị trường, thẩm định giá cho lô

Trang 15

hàng mà là việc cơ quan hải quan đánh giá độ tin cậy và tính phù hợp giữa trị giá khai báo với trị giá thực tế của hàng hóa nhập khẩu, cơ quan hải quan không can thiệp vào giá cả của quan hệ giao dịch giữa người nhập khẩu và người xuất khẩu.

- Trị giá tính thuế phải có bản chất kinh tế là giá cả được hình thành từ những quan hệ kinh tế vi mô Điều đó có nghĩa là trị giá tính thuế của hàng hóa nhập khẩu phải được tiếp cận tự góc độ thừa nhận và tôn trọng quá trình xác định giá cả nhập khẩu của các chủ thể, quá trình này có thể có những mục tiêu

và những cách thức rất khác nhau Nhưng sẽ sai lầm nếu lấy giá thị trường làm tiêu chuẩn so sánh cho trị giá tính thuế nhập khẩu, bởi vì giá của hàng hóa nhập khẩu là kết quả của rất nhiều yếu tố bên cạnh mối quan hệ cung - cầu

- Hạn chế sự can thiệp trực tiếp của cơ quan nhà nước vào giá cả của hàng hóa nhập khẩu Mục tiêu cơ bản của nhà nước khi điều chỉnh quan hệ về trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu là nhằm xác định đúng, chính xác một căn cứ tính thuế, bảo đảm yêu cầu “trung lập” của thuế

Nói tóm lại, bản chất của quan hệ trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu là

mối quan hệ giữa người nhập khẩu với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong

việc xác định trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu Với những ưu thế rõ

ràng của mình, phương pháp tiếp cận khách quan về trị giá tính thuế hàng hóa

nhập khẩu ngày càng khẳng định vai trò của mình trên thực tế

Đặc điểm của trị giá hải quan

Thứ nhất, trị giá hải quan là hoạt động mang tính kỹ thuật, nghiệp vụ rất

sâu sắc Các quy định về trị giá hải quan thường phản ánh trực tiếp các yếu tố

kinh tế và kỹ thuật hình thành nên giá trị hàng nhập khẩu Nhìn chung, người

đọc, nếu không có sự làm quen cần thiết với nội dung kinh tế của quan hệ giá -

thuế, sẽ có cảm giác hỗn độn và mơ hồ khi tiếp xúc với các cơ quy định này

Các biểu hiện mang tính kỹ thuật của bộ phận pháp luật này thường được biểu

hiện qua ba cấp độ:

- Sự hiện diện của các thuật ngữ kinh tế kỹ thuật Các thuật ngữ này khi

được pháp luật hoá không bị thay đối hay làm biến dạng nhiều về ý nghĩa Điều

nà> khác với nhiều bộ phận pháp luật kinh tế Chẳng hạn, Luật ngân hàng quy

địm tiền dự trữ bắt buộc nhưng về mặt lý thuyết ngân hàng, tiền dự trữ còn bao

Trang 16

gồm cả dự trữ vượt mức Đối với pháp luật trị giá tính thuế ta có thể vận dụng trực tiếp các kiến thức của các chuyên ngành cụ thể để hiểu các thuật ngữ được

sử dụng trong pháp luật này Không có sự khác biệt về nghĩa của các thuật ngữ chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán v.v trong pháp luật giá tính thuế với nội dung kế toán

- Pháp luật về trị giá hải quan chuyển hoá trực tiếp các thông lệ, tập quán thương mại quốc tể vào nội dung các quy định của mình Các nội dung của thanh toán tín dụng chứng từ trong ƯCP500, hay các điều kiện của Incoterms luôn được vận dụng để xác định giá tính thuế Thật vậy, vì Incoterms quy định nghĩa vụ quan trọng về giao nhận, vận tải, về các chi phí cơ bản, địa điểm chuyển rủi ro cho nên Incoterms là một trong những cơ sở quan trọng nhất để xác định giá cả trong mua bán ngoại thương Ví dụ: hàng hoá sẽ với giá khác nhau khi áp dụng tính FOB Saigon Port và FOB Haiphong Port vì mỗi cảng có tốc độ bốc dỡ hàng hoá khác nhau, thời gian lưu tàu khác nhau, cước phí khác nhau

- Các kỹ thuật định lượng trong pháp luật trị giá hải quan được quy định rất

đa dạng Các qua trình định giá hải quan bằng các phương pháp trị giá giao dịch, trị giá tương tự hoặc giống hệt, trị giá tính toán hay trị giá suy đoán luôn đòi hỏi

áp dụng các quy định mang tính kỹ thuật về tính toán đối với các khoản giảm trừ, các điều khoản chỉnh hoặc xử lý các số liệu của nhà sản xuất, số liệu thu nhập từ tình hình thị trường hàng hoá hay phải xem xét sử dụng các nguyên tắc

kế toán kiểm toán Việc tồn tại các quy định kỹ thuật định lượng là điều kiện quan trọng nhất để đảm bảo việc vận dụng thống nhất về việc xác định trị giá, đảm bảo kết quả thu được là đơn nhất và nó tạo tiền đề để tích hợp pháp luật giá tính thuế với các tiêu chuẩn, thông lệ quốc tế

Thứ hai, pháp luật về trị giá hải quan có xu hướng hội tụ và chuẩn mực

quốc tế về xác định trị giá tính thuế như: xác định theo định nghĩa trị giá theo hiệp định trị giá GATT 1994 và xác định giá riêng biệt của quốc gia

- Định giá theo hiệp định về thực hiện Điều VII của Hiệp định chung về Thuế quan và thương mại (Hiệp định trị giá 1994) Hiệp định này là kết quả của vòng đàm phán Kyoto 1979, sau đó vào năm 1994 Hiệp định này đã được bổ sung, sửa đổi thành hiệp định trị giá GATT/WTO với 4 chương và 24 điều Theo Hiệp định này, giá tính thuế hàng nhập khấu sẽ là mức giá thực tế đã thanh toán

Trang 17

hay sẽ phải thanh toán mà người nhâp khẩu trả cho người xuất khẩu để có quyền

sở hữu đối với hàng nhập khẩu Như vậy, giá tính thuế theo Hiệp định trị giá

1994 đã tính toán đầy đủ chi phí ngoài hoá đơn như: lệ phí giấy phép, bản quyền, hoa hồng, cước phí vận chuyển, các khoản tiền người nhập khẩu đã ứng trước Hiệp định trị giá 1994 cũng loại trừ các yếu tố “gây nhiều” đến độ chuẩn xác của giá cả khi người nhập khẩu và xuất khẩu có ý định thông đồng với nhau

để “qua mắt hải quan”

Theo Hiệp định trị giá 1994 trị giá hải quan của hàng nhập khấu sẽ được xác theo một trong sáu phương pháp là: 1/ Trị giá giao dịch; 2/ trị giá giao dịch của hàng hoá cùng loại; 3/ Trị giá giao dịch của hàng hoá tương tự; 4/ Phương pháp suy diễn; 5/ Phương pháp tính toán; 6/ Phương pháp dự phòng Khi áp dụng hiệp định trị giá 1994 phải tuân theo một nguyên tắc bắt buộc là chỉ áp dụng phương pháp sau khi xét thấy không thể áp dụng phương pháp trước đó, ngoài trừ trường hợp phương pháp 4 và phương pháp 5 nếu người nhập khẩu yêu cầu thì có thể đảo ngược trật tự Một điều đáng lưu ý nữa ở đây khi áp dung một phương pháp nhưng xác định được nhiều kết quả cùng thỏa mãn mọi điều kiện thì kết quả có giá trị thấp nhất sẽ được chấp nhận

- Định giá theo các quy tắc riêng của từng quốc gia Nói chung, khi một quốc gia không tham gia các quy tắc định giá của WTO hay Brusells thì trong hệ thống pháp luật quốc gia thường có những quy định riêng nhằm xác định giá tính thuế nhập khẩu Chẳng hạn việc định giá hàng nhập khẩu bằng mức giá hành chính thông qua bảng giá tối thiểu

Mặc dù tồn tại nhiều phương pháp định giá khác nhau như đã trình bày, song điều dễ nhận thấy trong giai đoạn hiện nay là pháp luật của các nước từng bước thừa nhận việc xác định tính thuế nhập khẩu theo quy tắc định giá của Hiệp định trị giá 1994 làm nền tảng cho việc xác định giá tính thuế hàng nhập khẩu

Ỉ.L2.Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp tham gia quan hệ trị giá hải

quan

- Quyền của doanh nghiệp

Trang 18

Trong hệ thống xác định trị giá theo GATT các tổ chức, đơn vị tham gia

xuất nhập khẩu là một trong hai chủ thể chính Đẻ đảm bảo quyền doanh nghiệp

và lợi ích của Nhà nước, các doanh nghiệp không những phải nắm vững các quy

định pháp lý về trị giá mà còn phải nhận thức được quyền và nghĩa vụ của mình

trong đó Các quyền mà doanh nghiệp được hưởng như sau:

- Thứ nhất, quyền được biết các phương pháp sử dụng để xác định giá

tính thuế hàng hóa nhập khẩu Hiện nay, việc áp dụng cơ chế doanh nghiệp tự

khai, tự tính thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, các doanh nghiệp có quyền

yêu cầu cơ quan Hải quan thông báo bằng văn bản về các phương pháp đã sử

dụng để xác định trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu Điều này giúp doanh

nghiệp có cơ hội chứng minh tính chính xác, trung thực của mức giá do cơ quan

Hải quan xác định lại

- Thứ hai, quyền yêu cầu giải phóng hàng nếu bị trì hoãn xác định trị giá

tính thuế Với những trường họp mà cơ quan Hải quan chưa có đủ cơ sở để xác

định giá tính thuế trong thời hạn làm thủ tục Hải quan theo quy định, hoặc trì

hoãn việc đưa ra quyết định về xác định trị giá tính thuế, thì doanh nghiệp vẫn

có quyền yêu cầu cơ quan Hải quan giải phóng hàng sau khi đã hoàn tất thủ tục

đảm bảo khả năng nộp thuế sẽ phải nộp Đây là một trong những quyền gắn liền

với lợi ích của doanh nghiệp vì nó rút ngắn được quy trình làm thủ tục Hải quan,

giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian, chi phí cho hoạt động sản xuất tạo điều

kiện thuận lợi cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp

- Thứ ba, quyền được bảo đảm về bí mật thương mại Doanh nghiệp có

quyền được đảm bảo bí mật thương mại về trị giá giao dịch đã khai báo với cơ

quan Hải quan cũng như các thông tin khác có liên quan đến hàng hóa nhập

khẩu nhằm xác định trị giá tính thuế Điều 10 Hiệp định trị giá GATTAVTO quy

định rằng: “Mọi thông tin bí mật hoặc được cung cấp trên cơ sở bí mật cho mục

đích xác định trị giá Hải quan sẽ được cơ quan có liên quan giữ bỉ mật tuyệt

đối Trừ trường hợp các thủ tục tổ tụng yêu cầu phải công bổ, còn nói chung

Trang 19

không được phép tiết lộ các thông tin này khi chưa được sự cho phép đặc biệt của chính quyền hay của người đã cung cấp thông tin đó

Thứ tư, Quyền khiếu nại: Hiệp định trị giá GATT/WTO quy định rằng

người nhập khẩu có quyền khiếu nại những quyết định về giá của cơ quan Hải quan tới cấp cao hơn hoặc tới một cơ quan tư pháp Nói cách khác, nhân viên Hải quan phải thông báo cho người nhập khẩu biết về các quyết định xử lý khiếu nại lên Hải quan cấp cao hơn hoặc một cơ quan tư pháp

Trên thực tế, pháp luật quốc gia sẽ phải quy định thủ tục khiếu nại và xử

lý khiếu nại một cách rõ ràng, hợp lý, nhằm phục vụ quyền lợi của các doanh nghiệp cũng như đảm bảo thực hiện chặt chẽ các nguyên tắc pháp lý trong lĩnh vực xác định trị giá Hải quan Pháp luật quốc gia và các văn bản hướng dẫn về quy trình khiếu nại một cách rõ ràng thì càng khuyến khích sự chấp hành pháp luật tự nguyện của cộng đồng doanh nghiệp, đồng thời đảm bảo cho người nhập khẩu được các cơ quan có thẩm quyền đối xử công bằng và kết quả xử lý khiếu nại có hiệu quả [15] [17]

- Nghĩa vụ của doanh nghiệp

Hiệp định trị giá GATT chứa đựng những điều khoản, giải thích về cách xác định trị giá Hải quan rõ ràng, thực tế, dễ hiểu và dễ áp dụng Hiệp định này được xây dựng nhằm giảm bót tình trạng tùy tiện và bảo đảm tính chính xác, sự đồng nhất Theo đó, các doanh nghiệp có một số các nhiệm vụ quan trọng khi xác định trị giá tính thuế của hàng hóa nhập khẩu

- Thứ nhất, doanh nghiệp phải khai báo đầy đủ, trung thực trị giá của hàng

hóa nhập khẩu và các chi phí liên quan đến việc mua bán nhằm xác định trị giá Hải quan của hàng hóa nhập khẩu đó Ngoài mức giá đàm phán để ký Hợp đồng mua bán ngoại thương, doanh nghiệp phải khai báo đầy đủ các yếu tố liên quan đến hàng hóa nhập khẩu chưa được phản ánh trong giá bán ghi trên họp đồng như chi chí bao bì, phí đóng gói, phí bản quyền, các chi phí tham gia vào quá

Trang 20

trình sản xuất hàng nhập khẩu, các chi phí hoa hồng và lợi nhuận chung, chi phí

để khấu trừ các số liệu này phải rõ ràng, khách quan không thể bác bỏ

- Thứ hai, doanh nghiệp phải xuất trình các hóa đơn, chứng từ, tài liệu có

liên quan đến hàng hóa nhập khẩu khi làm thủ tục hải quan để xác định trị giá Hải quan của hàng nhập khẩu Yêu cầu này nhằm xác định rõ ràng, khách quan, chính xác các số liệu mà doanh nghiệp cần khai báo

- Thứ ba, doanh nghiệp có nhiệm vụ cung cấp mọi thông tin, tài liệu và

bằng chứng có liên quan đến việc xác định trị giá hải quan của hàng nhập khẩu khi cơ quan hải quan có yêu cầu Yêu cầu về sự cộng tác toàn diện của doanh nghiệp trong hoạt động kiểm tra được quy định của ủ y ban trị giá Hải quan thuộc WTO

- Thứ tư, phần lớn các trường hợp nhập khẩu, cán bộ Hải quan tại các cửa

khẩu chỉ xác định trị giá hải quan nhằm mục đích đảm bảo việc khai báo tuân thủ pháp lý và giải phóng nhanh hàng hóa trên cơ sở trị giá khai báo và những thông tin về giá có sẵn Do đó, các quy định của luật pháp quốc gia bắt buộc các doanh nghiệp phải lưu giữ các hồ sơ, chứng từ, sổ sách kế toán liên quan đến hàng hóa nhập khẩu trong một thời gian nhất định để phục vụ cho công tác kiểm tra về trị giá của cơ quan quản lý chuyên ngành [15] [17]

1.1.3 Các nguyên tắc trị giá hải quan

Theo quy định của WTO về việc xác định tính thuế hải quan của hàng hóa được nêu trong Hiệp định xác định trị giá tính thuế hải quan thì hệ thống xác định trị giá tính thuế của Hiệp định dựa trên các tiêu chí đơn giản và công bằng

có tính đến thực tiễn thương mại hiện hành Bằng cách yêu cầu tất cả các nước thành viên hài hòa hệ thống luật quốc gia trên cơ sở các quy tắc của Hiệp định, Hiệp định nhằm đảm bảo tính thống nhất, nhất quán trong việc áp dụng các quy tắc để nhà nhập khẩu có thể biết trước được khoản thuế mà họ phải trả cho các mặt hàng nhập khẩu

Trang 21

Khi áp dụng những quy tắc chung, Việt nam đưa ra những nguyên tắc cơ bản khi xác định trị giá hải quan như: trị giá hải quan phải được xác định nhằm mục đích tính thuế Tuy nhiên chúng ta phải lưu ý rằng: trị giá hải quan là một trong những yếu tổ cơ bản để thực hiện tính và thu các loại thuế, song để bảo vệ nền kinh tế thì từng quốc gia sẽ phải điều tiết về mặt thuế suất Trị giá hải quan phải đảm bảo tính công bằng, bảo về lợi ích của các thương nhân trung thực Tuy nhiên các quốc gia cũng sẽ điều tiết nền kinh tế của mình một cách hợp lý nhằm bảo đảm lợi ích quốc gia đồng thời tránh xung đột với các chuẩn mực quốc tế.

1.2 Trị giá hải quan và mối liên hệ của nó với tự do hoá thương mại

Thương mại quốc tế ngày nay đã phát triển đến mức độ chúng ta không thể kiểm tra toàn bộ và có hiệu quả được nếu như không thực hiện phương pháp quản lý rủi ro Việc kiểm tra chặt chẽ ngay từ giai đoạn đầu tiên của quá trình nhập khẩu đôi khi làm phương hại đến khái niệm “phục vụ công chúng” và “tiện ích thương mại” do việc thông quan hàng hóa chậm trễ Thực tế này buộc cơ quan Hải quan phải thực hiện một số các chiến lược để tăng cường hiệu quả kiểm tra tại các giai đoạn khác nhau trong quá trình thông quan Quản lý rủi ro

là một trong những yêu cầu của Hải quan hiện đại và cũng là yêu cầu tất yếu trong bối cảnh tự do hóa thương mại như hiện nay

Việc áp dụng Hiệp định trị giá GATT/WTO là một thay đổi to lớn trong công tác tính thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Sự chuyển đổi sang một hệ thống xác định trị giá tính thuế mới sẽ có những tác động trực tiếp đến lợi ích của N hà nước và quyền lợi của doanh nghiệp Hệ thống xác định trị giá theo Hiệp định trị giá GATT hoạt động trên nguyên tắc trung lập, khách quan, đon giản và nhất quán với thông lệ thương mại, không phân biệt đối xử Do đó các doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu sẽ có được những lợi ích cơ bản như:

Trang 22

- Thứ nhất, trị giá tính thuế xác định theo trị giá giao dịch trong một

chừng mực lớn nhất có thể hoặc được xác định theo một trị giá gần nhất với giá thực tế mua bán của hàng hóa Hầu hết các vướng mắc về trị giá giao dịch sẽ được kiểm tra lại và giải thích sau khi hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã được giải phóng Cơ quan Hải quan phải xác định đúng trị giá tính thuế của hàng hóa nhằm thu đủ, thu đúng bất cứ khoản thuế bổ sung nào mà người nhập khẩu bị cho là còn nợ hoặc hoàn lại số thuế đã vượt quá cho doanh nghiệp theo mức giá

đã được định đúng Như vậy, doanh nghiệp chỉ phải nộp một khoản thuế đúng với giá thực thanh toán cho hàng hóa nhập khẩu mà không phải chịu bất cứ một

số thuế được tính toán trên cơ sở giá áp đặt như trước đây khi chúng ta áp dụng bảng giá tối thiểu cho hàng hóa nhập khẩu

- Thứ hai, khi áp dụng các nội dung của Hiệp định, các doanh nghiệp chủ

động hơn trong kinh doanh của doanh nghiệp, do chính sách hướng dẫn về thuế được hướng dẫn đầy đủ và hệ thống thông tin phổ biến, công khai Vì thế các doanh nghiệp có khả năng nắm bắt thông tin về Luậỉ, Nghị định, Quyết định, Thông tư Các doanh nghiệp không bị áp đặt số thuế như nhau mà tự do thỏa thuận giữa ngưòi bán và người nhập khẩu Nhờ đó mà doanh nghiệp có khả năng chủ động trong phương án kinh doanh phù họp với yêu cầu của pháp luật và xác định được số thuế chính xác phải nộp cho Nhà nước Mặt khác, do hệ thống các nguyên tắc xác định trị giá theo GATT mang tính ổn định, rõ ràng và hoàn chỉnh nên các doanh nghiệp có thể xây dựng phương án kinh doanh lâu dài mà không

sợ bị ảnh hưởng bởi những thay đổi về chính sách quản lý giá của Nhà nước

- Thứ ba, với cơ chế xác định trị giá tính thuế ổn định, quy trình xác định

trị giá đơn giản, hàng hóa được giải phóng nhanh tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp bán hàng và thu hồi vốn Trong quy trình xác định trị giá Hải quan của hàng hóa nhập khẩu, nếu phải trì hoãn việc ra quyết định về trị giá thì người nhập khẩu có quyền nộp một khoản bảo lãnh tương đương với số thuế ước tính của cơ quan Hải quan dưới bất cứ hình thức nào (đặt cọc, ký quỹ ) để mang hàng hóa ra khỏi khu vực quản lý của cơ quan hải quan Nhờ thông quan hàng

Trang 23

hóa nhanh chóng, doanh nghiệp còn có khả năng nâng cao tốc độ chu chuyển

vốn kinh doanh, đẩy mạnh lưu thông thương mại và tạo ra nhiều nguồn hàng hóa

cho thị trường trong nước

- Thứ tư, doanh nghiệp được quyền tự bảo vệ quyền lợi họp pháp của

mình trước những quyết định về trị giá tính thuế của cơ quan Hải quan mà họ

cho là không đúng Cũng giống như hệ thống tính thuế hiện hành, doanh nghiệp

hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc khai báo, tính thuế và nộp thuế Cơ quan Hải

quan chỉ có quyền ra quyết định cuối cùng về trị giá tính thuế trên cơ sở những

thông tin hợp lý có sẵn để tra cứu số liệu tham khảo, những số liệu do người

nhập khẩu cung cấp và một số nguồn thông tin khác về giá tính thuế của các

doanh nghiệp cùng nhập khẩu một mặt hàng như nhau trong cùng thời điểm

1.3 Vấn đề về trị giá Hải quan trong các cam kết quốc tế

1.3.1 Quá trình ph át triển của vấn đề trị giá hải quan

Thuế Hải quan đánh theo giá hàng hóa đã có từ thời Trung cổ, thậm chí

trước đó Trước kia, việc xác định trị giá Hải quan tùy thuộc vào mỗi quốc gia

áp dụng phương pháp định trị giá Hải quan cho hàng hóa xuất nhập khẩu khác

nhau Do vậy, người nhập khẩu không thể đệ đơn khiếu nại về quyết định của

Hải quan để giải quyết tranh chấp về vấn đề trị giá Hải quan Trên thế giới đã

tồn tại nhiều phương pháp xác định trị giá khác nhau, trái ngược nhau và kém ổn

định Các phương pháp này tạo ra các mâu thuẫn nghiêm trọng trong quan hệ

buôn bán quốc tế Dần dần, thông qua các cuộc đàm phán, giữa các quốc gia đã

đạt được kết quả nhất định, đặc biệt là đưa ra những thỏa thuận chung về mặt

thuế suất một cách hợp lý Thực tế cũng cho thấy rằng, để những Hiệp định về

thuế quan được thực hiện hiệu quả thì phải áp dụng các phương pháp xác định

trị giá chung mang tính thống nhất cho nhiều quốc gia vì nếu mỗi quốc gia áp

dụng một phương pháp xác định trị giá riêng sẽ làm mất đi hiệu quả của các

mức thuế suất đã thỏa thuận Hơn nữa, các thương nhân ngoài việc quan tâm tới

Trang 24

thuế suất cũng quan tâm tới trị giá của lô hàng cần trao đổi để có thể chủ động hơn trong kinh doanh.

Do vậy, đầu thế kỷ 20 trị giá hải quan là một trong những lĩnh vực nhiều nưóc quan tâm nghiên cứu là sự thay đổi hệ thống xác định trị giá Hải quan tùy tiện ở các quốc gia bằng một hệ thống xác định trị giá quốc tế có hiệu quả, nhằm tạo điều kiện cho thương mại quốc tế Sau nhiều cố gắng, dưới sự bảo trợ của một số quốc gia lần đầu tiên những nguyên tắc chung về xác định trị giá Hải quan đã được đưa ra tại Điều 7 của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại vào năm 1947 Hiệp định này được gọi là GATT (General Agreement on Tariffs and Trade) Từ đó đến nay các phương pháp xác định trị giá Hải quan quốc tế đã trải qua ba giai đoạn sau:

a) Giai đoạn thứ nhẩt: từ năm 1947 đến năm 1952

Giai đoạn này, nhóm các nước quan tâm đến việc mở rộng thương mại quốc tế đã nghiên cứu việc thay thế những phương pháp xác định trị giá không

ổn định đang áp dụng từ trước tới nay ở một số nước bằng một hệ thống xác định trị giá Hải quan có hiệu quả thống nhất trên phạm vi thế giới

Lần đầu tiên tại Hội nghị của Liên Hiệp quốc về vấn đề thương mại và việc làm tổ chức tại Geneve năm 1947, các quốc gia đã đưa ra các nguyên tắc chung để xác định trị giá Hải quan Các kết luận của Hội nghị này đã được thể hiện trong Điều 7 của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) với nguyên tắc chính là việc xác định trị giá Hải quan dựa trên bản thân trị giá thực tế của hàng hóa đó

Tại thời điểm đó, Điều 7 Hiệp định GATT cũng chỉ mới đưa ra những nguyên tắc mang tính chất chung và cung cấp thêm một số ứng dụng thực tế chứ chưa đưa ra được các phương pháp xác định trị giá cụ thể Hệ thống xác định trị giá theo Hiệp định GATT đưa ra những nguyên tắc xác định trị giá thực tế, công bằng đồng thời loại trừ được những việc xác định trị giá tùy tiện hoặc giả tạo

Trang 25

Giai đoạn thứ hai trong tiến trình phát triển trị giá Hải quan bắt đầu từ các nghiên cứu của Hiệp hội Hải quan các nước Tây Âu gồm 12 nước (Italy, Pháp, Tây Đức, Bỉ, Luxembua, Phần Lan, Anh, Bắc Ailen, Hi Lạp, Tây Ban nha, Bồ Đào Nha) Hiệp hội này đã hình thành nhóm nghiên cứu về xác định trị giá Hải quan với ý định hình thành Hải quan liên minh Châu Âu Đặc biệt nhóm nghiên cứu này đã đưa ra một định nghĩa về trị giá Hải quan đã được áp dụng ở tầm cỡ quốc tế, đó là định nghĩa Brussels Định nghĩa này được nêu lên trong Công ước

về xác định trị giá Hải quan ký tại Brussels ngày 15.12.1950 và có hiệu lực từ ngày 28.7.1953 Định nghĩa này chủ yếu dựa vào hệ thống xác định trị giá đã được áp dụng thành công ở các nước thành viên trong vài năm, có tính đến những nguyên tắc xác định trị giá Hải quan thời kỳ đó mới được đưa vào Hiệp định GATT Nội dung của định nghĩa đề cập đến các yếu tố về giá cả, thời gian, địa điểm, số lượng và cấp độ thương mại Đặc biệt, sau khi xuất bản tập chú giải năm 1960 thì định nghĩa này nhận được sự ủng hộ từ khắp nơi trên thế giới, số lượng các nước ký kết Hiệp định lên tới 33 nước và khoảng 70 nước khác công nhận áp dụng Hiệp định vào những năm đầu của thập kỷ 70

c) Giai đoạn thứ ba: từ năm 1973 đến nay

Một thời kỳ mới trong lịch sử về xác định trị giá Hải quan được bắt đầu vào những năm 1973-1979 thông qua các cuộc đàm phán thương mại đa phương diễn ra tại Geneve, trung tâm của GATT M ột trong những biện pháp nhằm đạt được mục đích này là việc đưa ra được một hệ thống quốc tế về xác định trị giá Hải quan để áp dụng thống nhất trên toàn thế giới Hiệp định này được thông qua năm 1979 và có hiệu lực từ ngày 01.01.1981, gọi tắt là Hiệp định trị giá GATT Hiệp định này quy định một hệ thống các phương pháp xác định trị giá Hải quan trên cơ sở trị giá giao dịch thực tế của hàng hóa nhập khẩu, tức là giá thực tế đã thanh toán hoặc sẽ phải thanh toán cho người xuất khẩu Từ vòng đàm phán Uruguay năm 1994, Hiệp định lại được bổ sung,|-sửa đổi hnàn rh)'nh hệ

T H Ư V I Ệ N

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LŨÂĨ HA NỔI PHỎNG DỌC [yị Ọ y ^

Trang 26

thống xác định trị giá theo Hiệp định này đã đưa ra những phương pháp xác định trị giá có tính đến thực tiễn thương mại quốc tế, nhằm đảm bảo tính công bằng

và chính xác Có thể nói, Hiệp định trị giá GATT là một hệ thống trị giá hải quan tiên tiến dựa trên giá thực thanh toán hay sẽ phải thanh toán, loại bỏ được việc sử dụng trị giá hải quan giả hay trị giá hải quan áp đặt

Hiệp định trị giá GATT ra đời đã tạo ra một chuẩn mực trong việc xác định trị giá hải quan, nhằm tạo ra được hệ thống xác định trị giá hải quan ổn định, công bằng, phù hợp với thực tế thương mại Chuẩn mực đơn giản, khách quan, đồng nhất cho tất cả các nước thành viên và loại trừ được việc sử dụng trị giá hải quan tùy tiện, áp đặt Xúc tiến các mục tiêu của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại, xóa bỏ việc coi trị giá hải quan là công cụ điều tiết xuất nhập khẩu của một số quốc gia

1.3.2 Trị giá Hải quan trong các cam kết quốc tế

Thực hiện các cam kết theo nội dung của hiệp định thương mại Việt Mỹ, Việt Nam đã áp dụng phương pháp xác định trị giá Hải quan theo Hiệp định trị giá GATTAVTO Nội dung chính của Hiệp định trị giá GATT chia làm 4 phần,

24 Điều như sau:

Phần I: Những quy tắc về xác định trị giá Hải quan (từ Điều 1 đến Điều 17) Phần này bao gồm 6 phương pháp xác định trị giá Hải quan, được sắp xếp

ưu tiên như sau: Phương pháp xác định trị giá giao dịch; phương pháp xác định trị giá giao dịch của hàng cùng loại; phương pháp xác định trị giá giao dịch của hàng tương tự; phương pháp suy diễn; phương pháp tỉnh toán; phương pháp dự phòng Phần này quy định các bên tham gia khi áp dụng Hiệp định trị giá GATT bắt buộc phải tuân theo nguyên tắc là chỉ được áp dụng phương pháp kế tiếp khi xét thấy không thể áp dụng phương pháp trước đó, trừ phương pháp 4 và 5, nếu người nhập khẩu yêu cầu có thể đảo ngược thứ tự áp dụng các phương pháp này cho nhau

Trang 27

Phần này nêu các nội dung liên quan đến thi hành, tham vấn giải quyết tranh chấp và các ủ y ban chức năng.

Phần III: Đối xử đặc biệt và Đối xử khác biệt (Điều 20) Phần này quy định đối với các nước đang phát triển khi tham gia Hiệp định thì có thể được tạm hoãn áp dụng các điều khoản của Hiệp định trong vòng 5 năm và hoãn áp dụng một số quy tắc đặc biệt trong vòng 3 năm nữa Điều 20 cũng nêu, khi được yêu cầu các nước thành viên là nước phát triển có thể giúp đỡ về kỹ thuật, đào tạo cán bộ, trợ giúp chuẩn bị các biện pháp trong quá trình tham gia, đánh giá các nguồn thông tin về phương pháp xác định trị giá Hải quan và tư vấn về biện pháp áp dụng các điều khoản của Hiệp định cho các nước đang phát triển

Phần IV: Các điều khoản cuối cùng (Điều 21 - 24) quy định các điều khoản về bảo lưu, luật pháp quốc gia, kiểm tra lại và ban thư ký Hiệp định

Các phụ lục gồm: Phụ lục I về các chú giải, phụ lục II về ủ y ban kỹ thuật

về xác định trị giá Hải quan và phụ lục III về các quyền bảo lưu

a) Các quy tắc cơ bản của Hiệp định trị giá tỉnh thuế Hải quan: Các quy

tắc cơ bản của Hiệp định trị giá tính thuế Hải quan phải dựa trên cơ sở giá thực thanh toán hoặc sẽ phải thanh toán khi hàng được bán từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu, có thể được điều chỉnh khi cần thiết bao gồm một số khoản thanh toán mà nguời mua phải trả như chi phí bao bì đóng gói và Container, giá trị hàng hóa và dịch vụ hỗ trợ, chi phí bản quyền và xin phép sử dụng bằng sáng chế Các quy tắc này cũng quy định sẽ không đưa vào trị giá tính thuế Hải quan nhu: tiền hoa hồng mua hàng hoặc chiết khấu đặc biệt dành cho đại lý độc quyền

b) Hiệp định hạn chế chặt chẽ quyền tùy ý của Hải quan trong việc không công nhận trị giá giao dịch trừ một sổ trưòng họp như: Không có hành vi mua

bán khi có hạn chế đối với người bán hoặc sử dụng hàng hóa đó đối với người mua Trị giá giao dịch có thể không được chấp nhận nếu họp đồng mua bán đặt

Trang 28

ra một số những hạn chế đối với việc sử dụng hoặc bán hàng: các yêu cầu về bao

bì, hạn chế về khu vực địa lý được phép tiêu thụ hàng hóa đó đây là một vấn

đề đã làm nhiều nước đang phát triển lo ngại Các nước này cho rằng quy tắc

này hạn chế quá mức quyền hạn của cơ quan Hải quan trong việc xử lý hành vi

của thương nhân khi họ cố ý khai thấp trị giá hàng nhập khẩu nhằm mục đích

trốn thuế Đó cũng là nguyên nhân giải thích vì sao các nước đang phát triển

chưa muốn áp dụng Hiệp định trong thời kỳ trước khi thành lập WTO

Quyết định liên quan đến các trường họp cơ quan Hải quan có lý do để

nghi ngờ sự trung thực hoặc không chính xác của trị giá khai báo Hiệp định

Tokyo đặt trách nhiệm chứng minh cho cơ quan Hải quan khi họ không công

nhận trị giá giao dịch mà người nhập khẩu khai báo Đe việc bác bỏ trị giá khai

báo được khách quan, Hiệp định trị giá tính thuế Hải quan GATT quy định pháp

luật mỗi quốc gia phải dành cho người nhập khẩu một số quyền như:

- T h ứ nhất, khi cơ quan Hải quan tỏ ra nghi ngờ sự chân thực hoặc chính

xác của trị giá kê khai, người nhập khẩu phải có quyền được giải thích, bao gồm

cả các giấy tờ, bằng chứng chứng tỏ rằng trị giá mà họ kê khai là phản ánh đúng

giá trị thực của hàng hóa nhập khẩu

- Thứ hai, khi cơ quan Hải quan không thỏa mãn đối với sự giải thích mà

người nhập khẩu đưa ra, người nhập khẩu có quyền yêu cầu Hải quan gửi cho họ

một văn bản nêu rõ lý do nghi ngờ sự trung thực và chính xác của trị giá khai

báo Quy định này nhằm bảo vệ lợi ích của người nhập khẩu bằng cách cho họ

quyền khiếu nại về Quyết định này lên cấp trên có thẩm quyền cao hơn và nếu

cần thiết có thể lên Tòa án hoặc các cơ quan độc lập trong ngành Hải quan

+ Phương pháp trị giá giao dịch: Trị giá giao dịch do người nhập khẩu

khai báo nên được sử dụng để xác định trị giá tính thuế hàng hóa không chỉ đối

với các giao dịch giữa các bên không có quan hệ trực tiếp mà còn đối với các

giao dịch giữa các bên có quan hệ gần gũi Trong các giao dịch giữa các bên có

quan hệ phụ thuộc này thường là giữa các Công ty xuyên quốc gia và các Công

Trang 29

ty con hoặc chi nhánh của họ, giá thường được tính trên cơ sở giá nội bộ và có thể không phải lúc nào cũng phản ánh giá trị thực của hàng hóa nhập khẩu Trong các trường họp đó, Hiệp định cũng yêu cầu Hải quan phải tham khảo ý kiến của người nhập khẩu, nhằm xác định chắc chắn mối quan hệ, hoàn cảnh giao dịch và xem xét liệu mối quan hệ đó có ảnh hưởng tới trị giá thực của hàng hóa hay không Nếu sau khi xem xét hải quan thấy mối quan hệ không ảnh hưởng đến trị giá khai báo thì trị giá giao dịch sẽ được xác định trên cơ sở trị giá

đó Hơn nữa nhằm đảm bảo trên thực tế, trị giá giao dịch sẽ không bị phủ nhận chỉ với lý do đơn thuần là các bên có quan hệ lệ thuộc lẫn nhau, Hiệp định cho người nhập khẩu quyền đề nghị trị giá khai báo phải được chấp nhận khi họ chứng tỏ được trị giá đó là tương đương với trị giá thẩm tra của Hải quan, trị giá tính thuế Hải quan được xác định trong giao dịch nhập khẩu trước đó xẩy ra gần như cùng thời gian đó giữa người mua và người bán không quen biết đối với hàng hóa giống hệt hoặc tương tự Trị giá tính theo phương pháp khấu trừ hoặc theo phương pháp tính toán đối với hàng hóa giống hệt hoặc tương tự

Hải quan sẽ xác định trị giá tính thuế như thế nào khi họ quyết định không công nhận trị giá giao dịch mà người nhập khẩu khai báo, nhằm bảo vệ lợi ích của người nhập khẩu và đảm bảo rằng trong trường hợp đó trị giá sẽ được xây dựng trên cơ sở công bằng và hợp lý, Hiệp định hạn chế quyền tự định đoạt của Hải quan bằng cách đưa ra sáu phương pháp Hiệp định còn nhấn mạnh rằng các phương pháp này cần phải được áp dụng thứ tự, lần lượt các phương pháp tiếp theo đế xác định trị giá

+ Phương pháp trị giá giao dịch hàng hóa giống hệt: Khi trị giá hàng hóa không thế xác định trên cơ sở trị giá giao dịch đã được xác định trước đó của một loại hàng hóa giống hệt như vậy

+ Trị giá giao dịch của hàng hóa tương tự: Khi không thể xác định trị giá hàng hóa trên cơ sở phương pháp nói trên, cẩn phải xác định trị giá trên cơ sở trị giá giao dịch của hàng hóa tương tự

Trang 30

Theo cả hai phương pháp này, giao dịch được chọn để làm cơ sở tính toán phìải là giao dịch liên quan đến hàng đã nhập khẩu được bán để xuất khẩu sang nước nhập khẩu vào khoảng cùng thời điểm hàng hóa được xuất khẩu.

+ Trị giá khấu trừ: Hai phương pháp tiếp theo là phương pháp trị giá khấu trừ và tính toán Trị giá khẩu trừ được xác định trên cơ sở đon giá bán trên thị trường nội địa của hàng nhập khẩu đang cần được xác định trị giá hoặc của loại hàng hóa giống hệt hoặc tương tự sau khi đã trừ đi các khoản như lợi nhuận, thuế nhập khẩu, thuế khác, phí vận tải, bảo hiểm và các chi phí phát sinh trên lãnh thổ nước nhập khẩu

+ Trị giá tính toán: Trị giá tính toán được xác định bằng cách cộng thêm vào giá thành mặt hàng đang được định giá một khoản lợi nhuận và các chi phí chung tương đương với khoản lợi nhuận và chi phí chung thường tính trong giá bán của các mặt hàng cùng loại, với hàng cần xác định trị giá được sản xuất bởi nhà sản xuất ở nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu

+ Phương pháp dự phòng: Khi trị giá tính thuế Hải quan không thể được xác định được bằng bất kỳ một trong bốn phương pháp trên, trị giá đó có thể được xác định bằng bất kỳ phương pháp nào trong các phương pháp trước đó một cách linh hoạt với điều kiện các tiêu chí vận dụng là phù hợp với điều VII của Hiệp định chung Song việc áp giá trong trường họp đó không được dựa trên các cơ sở sau: giá hàng hóa xuất khẩu sang thị trường nước thứ ba, trị giá tính thuế quan tối thiểu, giá tùy tiện hoặc không thực tế Nhìn chung, Hiệp định đã tính đến khả năng khi trị giá giao dịch không được chấp nhận, việc áp giá sẽ được thực hiện bằng cách sử dụng các tiêu chuẩn nêu trên dựa vào các thông tin

có được trong phạm vi nước nhập khẩu Tuy nhiên Hiệp định nhận thấy để xác định trị giá tính toán cần phải kiểm tra chi phí sản xuất của mặt hàng đang cần xác định trị giá và các thông tin khác có từ bên ngoài nước nhập khấu Vì vậy

mà Hiệp định gợi ý để tránh những gánh nặng không cần thiết cho người nhập khẩu chỉ nên sử dụng phương pháp trị giá tính toán trong trường họp mà ngưòi mua và người bán có liên hệ, quan hệ lệ thuộc nhau và người sản xuất đã được

Trang 31

báo trước để cung cấp cho cơ quan Hải quan nước nhập khẩu các thông tin cần

1.3.3 Các vấn đề phát sinh khi áp dụng Hiệp định trị giá GATT/WTO

Hiệp định trị giá Hải quan GATTAVTO đã được thiết lập một hệ thống các phương pháp xác định trị giá Hải quan công bằng, thống nhất và trung lập Tuy nhiên với tình hình thực tế của nước ta cũng gặp nhiều khó khăn, tập trung chính vào các vấn đề như về kỹ thuật, điều chỉnh giá khi các bên có quan hệ đặc biệt, trường hợp áp dụng điều 1 Hiệp định trị giá GATT/WTO đối với hàng nhập khẩu có giá trị thấp hơn giá thành sản xuất

Theo quy định xác định trị giá Hải quan của hàng hóa nhập khẩu được xác định lần lượt theo 6 phương pháp: trị giá giao dịch, trị giá giao dịch của hàng hóa giống hệt, trị giá giao dịch của hàng hóa tương tự, trị giá giao dịch khấu trừ, trị giá giao dịch tính toán, phương pháp dự phòng (phương pháp suy luận) Các phưong pháp này được áp dụng theo trình tự bắt buộc từ phương pháp thứ nhất đến phương pháp thứ 6 tuy nhiên cũng ó trường hợp ngoại lệ trong trình tự áp dụng như phương pháp thứ 4 và phương pháp thứ 5 có thể hoán đổi cho nhau, nhưng trường hợp hóan đổi khi doanh nghiệp có yêu cầu và được cơ quan Hải quan chấp nhận Sở dĩ việc hoán đổi 2 phương pháp này vì việc tính toán xây dựng trị giá Hải quan theo hai phương pháp này chủ yếu dựa vào tài liệu, số liệu, bằng chứng do các danh nghiệp cung cấp Do đó doanh nghiệp là người biết rõ nhất có thể xác định trị giá theo phương pháp nào trong số hai phương pháp đó

để đề nghị cơ quan Hải quan áp dụng ngay phương pháp thích hợp

Là một Hiệp định có tính kỹ thuật cao, mỗi phương pháp xác định trị giá Hải quan trong Hiệp định đều cần phải được các nước áp dụng xem xét một cách cẩn thận, nhằm tránh các vấn đề phát sinh cũng như các sai sót có thể xẩy

ra trong quá trình thực hiện

Trang 32

1.3.4 Xác định trị giá Hải quan theo phương pháp quốc gia

Trước những năm 50 của thế kỷ 20, phần lớn các quốc gia trên thế giới đều áp dụng cách đánh thuế nhập khẩu theo trị giá hàng hóa nhưng mỗi quốc gia có phương pháp xác định trị giá tính thuế riêng mà chưa có chuẩn mực chung thừa nhận rộng rãi Các phương pháp này hầu hết dựa rên quy định riêng

mà không tính đến thực tiễn thương mại quốc tế, đặc biệt là thường xuyên sử dụng bảng giá tối thiểu Tình hình đó tạo nên sự khác biệt trong việc xác định trị giá giữa các quốc gia, gây cản trở đến giao lưu thương mại thế giới và trong những trường hợp nhất định, quy tắc xác định trị giá Hải quan đã trở thành hàng rào phi thuế quan Do đó, trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, các quốc gia bị đặt trước yêu cầu phải thay đổi hệ thống xác định trị giá tính thuế Hải quan của mình sao cho đạt được các điều kiện minh bạch, công bằng, và bảo đảm được quyền lợi của doanh nghiệp cũng như lợi ích chung của Nhà nước Hệ thống thỏa mãn các quy định về việc xác định trị giá điều kiện này là Hiệp định trị giá Hải quan GATTAVTO nên việc áp dụng các nội dung của Hiêp định này là xu thế chung của các nước trên thế giới

Hiệp định thực hiện Điều 7 của GATT được thông qua năm 1979 và có hiệu lực từ ngày 1.1.1981, được bổ sung và sửa đổi tại vòng đàm phám Uruguay

1994, do vậy thường gọi là Hiệp định xác định về trị giá tính thuế Hải quan GATT- 1994 (hay GATTAVTO) Nguyên tắc cơ bản của Hiệp định là thiết lập một hệ thống các phương pháp xác định trị giá tính thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, đồng thời tuân thủ các điều kiện thực tế về quan hệ thương mại quốc

tế nhằm loại bỏ việc xác định trị giá Hải quan một cách tùy tiện hoặc không đúng với giá thực thanh toán của hàng hóa

Nội dung chính của Hiệp định là xác định trị giá Hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu một cách chính xác với bản thân hàng hóa đó, bởi lẽ xu hướng xử lý hàng hóa nhập khẩu một cách không công bằng nhằm bảo vệ nền công nghiệp trong nước ngày càng lan rộng đã biển trị giá Hải quan thành một

Trang 33

hàng rào phi thuế quan trong thương mại quốc tế, vấn đề này gây trở ngại cho hoạt động xuất nhập khẩu.

Ngoài ra, các phần chú giải của Điều 7 đã giải thích thêm về” trị giá thực” được hiểu là trị giá ghi trong hóa đơn thương mại cộng thêm các khoản chi phí hợp lý, hợp pháp chưa được tính vào trị giá, những khoản chi phí này là các bộ phận cấu thành trị giá thực Theo quy định của Hiệp định, để bảo vệ nền kinh tế trong nước, các quốc gia chỉ có thể điều tiết về mặt thuế suất đối với từng loại hàng hóa theo từng mức thuế suất để hạn chế hoặc khuyến khích nhập khẩu đối với loại hàng hóa đó Trọng tâm chính và quan trọng của Hiệp định được nhấn mạnh trong lời giới thiệu chung là việc sử dụng trị giá giao dịch làm

cơ sở đầu tiên cho việc xác định trị giá của lô hàng cần được xác định trị giá, nếu hiểu một cách tóm tắt và đơn giản thì trị giá giao dịch này là giá thực tế đã thanh toán hoặc sẽ phải thanh toán theo thỏa thuận giữa người mua và người bán

Hệ thống xác định trị giá tính thuế Hải quan của Hiệp định dựa trên các tiêu chí đơn giản và công bằng có tính đến thực tiễn thương mại hiện hành Bằng cách yêu cầu tất cả các nước thành viên hài hòa hóa hệ thống pháp luật quốc gia trên cơ sở quy tắc của Hiệp định, Hiệp định nhằm bảo đảm tính thống nhất, nhất quán trong việc áp dụng các quy tắc để nhà nhập khẩu có thể biết trước được khoản thuế mà họ phải trả cho các mặt hàng nhập khẩu

Việt Nam đã công nhận tính tất yếu của việc áp dụng phương pháp xác định trị giá Hải quan theo Hiệp định trị giá GATT Hiệp định trị giá GATT/WTO có vai trò quan trọng trong quá trình đàm phán gia nhập WTO Đe đàm phám gia nhập WTO cũng như thực hiện các cam kết theo Hiệp định thương mại Việt Mỹ, Việt Nam phải chuyển từ phương pháp dựa trên bảng giá tối thiểu sang phương pháp xác định trị giá Hải quan theo Hiệp định trị giá GATTAVTO

Trang 34

Trên thực tế, khi bắt đầu thực hiện Hiệp định GATT có rất nhiều vấn đề khó khăn vướng mắc phát sinh trong việc áp dụng các văn bản pháp quy hướng dẫn cũng như vướng mắc từ chính nội dung của các văn bản đó Chính vì vậy các cơ quan quản lý Nhà nước cần đảm bảo thiết lập một hệ thống pháp lý thống nhất, rõ ràng, đơn giản, thông thoáng nhưng chặt chẽ, tạo thuận lợi cho cộng đồng doanh nghiệp nhưng cũng tạo điều kiện cho cơ quan Hải quan khi thực thi các quy định đó.

Việt Nam đã chuẩn bị các cơ sở cần thiết để việc thực hiện xác định trị giá Hải quan được chính xác, thuận lợi và tạo điều kiện cho doanh nghiệp Bằng việc sửa đổi Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Luật Hải quan sửa đổi, Ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết như Nghị định số 155/2005/NĐ - CP ngày

15 tháng 12 năm 2005 của Chính phủ quy định về việc xác định trị giá Hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, Thông tư số 113/2005/TT-BTC ngày 15 tháng 12 năm 2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và các văn bản pháp quy khác liên quan đến việc áp dụng các phương pháp xác định trị giá tính thuế Hải quan có hiệu quả nhất Bên cạnh đó

là sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng liên quan như Hải quan, Tổng cục Thuế, Bộ Thương Mại, Ngân hàng cần được củng cố thêm để đấu tranh hiệu quả với các hình thức gian lận thương mại qua giá Sau 3 năm thực hiện áp dụng phương pháp xác định trị giá tính thuế Hải quan theo GATTAVTO chúng ta đã đạt được những kết quả nhất định trong việc tạo điều kiện cho các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu Tuy nhiên chúng ta còn một số vấn đề khó khăn trong quá trình thực hiện cần phải khắc phục và có giải pháp để khắc phục các vướng mắc phát sinh [10]

Hiệp định trị giá GATT là Hiệp định có tính kỹ thuật cao nên đòi hỏi một

sự chuẩn bị kỹ lưỡng để tránh các tác động ngược chiều như gian lận thương mại lớn, ảnh hưởng xấu đến một số ngành sản xuất trong nước Trước những khó khăn trong thực tế ngành Hải quan đã từng bước hiện đại hóa và áp dụng các phương pháp quản lý hiện đại với mục tiêu là chuyển từ “tiền kiếm” sang

Trang 35

“hậu kiểm” Một trong những vấn đề mang tính quan trọng bước ngoặt là xây

dựng hệ thống kiểm tra sau thông quan là lực lượng chủ lực của ngành Hải quan

nhằm ngăn chặn, phát hiện, xử lý vấn đề gian lận thương mại đang diễn ra

thường xuyên, nhiều thủ đoạn tinh vi như hiện nay, ảnh hưởng đến hoạt động

xuất nhập khẩu của cộng đồng doanh nghiệp cũng như ảnh hưởng đến thói quen

thương mại quốc tế

1.4 Bài học kinh nghiệm của Hải quan các nước trong việc xác định trị giá Hải quan

a) Kinh nghiệm của Hải quan Thái Lan

Luật Hải quan Thái Lan ban hành khá lâu và chịu ảnh hưởng của hệ thống

pháp luật Anh và Mỹ Khi bước vào thực hiện những cam kết của Thái Lan

trong Hiệp định về xác định trị giá Hải quan theo GATTAVTO, các chuyên gia

Hải quan Thái Lan đã tiến hành những điều chỉnh, bổ sung trên cơ sở tuân thủ

những nguyên tắc cơ bản của Hiệp định và bảo vệ nguồn thu thuế Hải quan

Hải quan Thái Lan đã nghiên cứu hàng loạt Luật Hải quan của các nước

kể cả các nước phát triển như Nhật Bản, Mỹ, Canađa và các nước đang phát

triển như Mexico, Argentina và các nước trong khu vực Từ cơ sở nghiên cứu

kỹ Hiệp định, Hải quan Thái Lan đã tiến hành các công việc như: định nghĩa về

trị giá Hải quan, nghiên cứu kỹ các chi tiết, định nghĩa trong Hiệp định và trong

phần giải thích của Hiệp định, tiến hành so sánh với thực tế của Thái Lan với

những thể hiện trong Luật Hải quan và các văn bản pháp quy của Nhà nước Hải

quan Thái Lan cũng xác định quy chế về ban hành và tham gia soạn thảo để ban

hành những quy tắc, điều kiện, phương thức xác định trị giá thể hiện trong các

văn bản quy phạm pháp luật

Chính phủ ban hành văn bản pháp quy về thẩm quyền giải quyết tuyệt đối

với những hàng hóa nhập khẩu mà trị giá hàng hóa chưa bao gồm phí vận tải và

bảo hiểm Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan Thái Lan có quyền hạn nhất định

trong việc xác định trị giá đổi với những loại hình trao đổi thương mại không

Trang 36

phạm vi điều chỉnh của Hiệp định như hàng hóa của cư dân biên giới, hàng hóa của hành khách xuất nhập cảnh Tổng cục Hải quan quy định việc xác định lại trị giá hàng hóa khi trị giá khai báo thấp Trên cơ sở đó, Hải quan Thái Lan đề ra các biện pháp bổ trợ phục vụ xác định trị giá mà không vi phạm tinh thần của Hiệp định Ví dụ: sử dụng giá của lô hàng tương tự được nhập khẩu trong thời hạn 30 ngày hay 90 ngày trước lô hàng cần xác định trị giá Hải quan Thái Lan cũng xây dựng các quyền kiểm tra sau giải phóng hàng và quyền hạn của nhân viên Hải quan trong trường hợp yêu cầu doanh nghiệp cung cấp thông tin liên quan đến lô hàng, xây dựng văn bản quy định về nghĩa vụ lưu trữ và bảo quản tài liệu liên quan đến việc xác định trị giá trong vòng 5 năm.

Do Hiệp định không những liên quan đến công việc của Hải quan mà còn

có tác động lên các ngành khác như: hệ thống kế toán, kiểm toán Hải quan Thái Lan đã chủ động xây dựng và trình Chính phủ, các cơ quan chức năng ban hành các văn bản như quy định về cơ sở và chứng minh tính chính xác về giá trị, văn bản giải thích chi tiết phần chú giải của Hiệp định, quy tắc, điều kiện áp dụng và thủ tục xây dựng trị giá theo 6 phương pháp xây dựng trị giá của Hiệp định

Hải quan Thái Lan sử dụng nhiều văn bản hướng dẫn Hiệp định cụ thể như: yêu cầu lưu trữ và bảo quản tài liệu cho kiểm tra sau giải phóng hàng, xác định phí bảo hiểm, phí vận tải khi giá mua hàng không bao gồm chi phí này, cụ thể hóa quy định cho phí bảo hiểm được tính là 1% theo giá FOB và cước vận tải là 10% theo giá FOB

Trước khi thực hiện Hiệp định trị giá Hải quan GAT/WTO, Hải quan Thái Lan sử dụng Bảng giá tối thiểu với 2000 nhóm mặt hàng Các mức giá được xây dựng ổn định tối thiẻu là 6 tháng Hầu hểt các mặt hàng trong Bảng giá là hàng chịu thuế suất cao, kim ngạch lớn và là mặt hàng không nằm trong bảng giá tối thiểu

Trang 37

Song song với việc triển khai Hiệp định, cơ quan Hải quan đã sử dụng kỹ thuật kiểm tra hiện đại như quản lý rủi ro, xác định trọng điểm để kiểm tra và hỗ trợ bằng các phương tiện công nghệ thông tin, kiểm tra sau thông quan được quy định là khâu phối hợp với điều tra chống buôn lậu để thực hiện xác định vấn đề này Khi tiến hành kiểm tra sau thông quan, cơ quan Hải quan được quyền yêu cầu các doanh nghiệp cung cấp toàn bộ các chứng từ liên quan đến hàng hóa cũng như sổ sách và chứng từ kế toán, tiến hành niêm phong và chuyển cho cơ quan Hải quan để xem xét Kiểm tra sau thông quan chỉ đựơc tiến hành sau khi

có sự nghiên cứu cụ thể và nắm đầy đủ thông tin trên cơ sở phối hợp với điều tra chống buôn lậu trong lĩnh vực này

Hệ thống thông tin dữ liệu phục vụ xác định trị giá Hải quan bao gồm các nguồn hình thành chủ yếu từ giá khai báo trên hóa đơn, trên tờ khai trị giá, ngoài

ra còn khai thác từ các nguồn thông tin khác như Internet, sách báo và các ấn phẩm quảng cáo từ hệ thống thu thập tin tức từ văn phòng tình báo Hải quan đặt

ở các nước.[9, tr.10]

b) Kinh nghiệm của Hải quan Braxin.

Trên thực tế, các trường hơp gian lận thương mại mà sự gian lận đó gây tổn hại đến lợi ích thương mại hợp pháp và thương mại quốc tế Một trong những quan tâm lớn nhất của cơ quan Hải quan là phân biệt gian lận thương mại qua trị giá và những tình huống thương mại hợp pháp ngay cả khi tình huống đó không thường xuyên xẩy ra

Việc phòng chống những vi phạm về Hải quan có hiệu quả phụ thuộc vào nhiều yếu tố Những yếu tố này thay đổi tùy thuộc vào từng nước như quyền lực hợp pháp của cơ quan Hải quan trong việc thu thập thông tin, tổ chức hệ thống phân tích rủi ro, các Hiệp định về hợp tác và tương trợ lẫn nhau, hoạt động tăng cường pháp chế và các cơ quan điều tra

Hải quan Braxin tin rằng việc kiên quyết nghi ngờ tính trung thực hay tính chính xác cũng như đủ để bác bỏ trị giá giao dịch đã khai báo Nói cách khác

Trang 38

người nhập khẩu phải thuyết phục được cơ quan Hải quan về tính trung thực và chính xác của bất cứ khai báo nào được thực hiện để phục vụ mục đích xác định trị giá Hải quan [9, tr.10]

c) Kinh nghiệm của H ải quan Nhật Bản

Nhật Bản áp dụng phương pháp xác định trị giá Hải quan theo GATT/WTO từ năm 1981 Đại bộ phận các công việc xác định trị giá Hải quan được tiến hành ở cửa khẩu trừ một vài trường hợp đặc biệt chuyển đến Hải quan vùng giải quyết Hiện nay có đến 90% tờ khai được chấp nhận theo giá khai báo Kinh nghiệm để dẫn tới kết quả này nằm trong các quyết định chặt chẽ của Nhật Bản và hệ thống kiểm tra sau thông quan, hệ thống thông tin dữ liệu về doanh nghiệp

Nhật Bản đã áp dụng quản lý bằng phương pháp hiện đại với quy trình thủ tục hải quan điện tử Hệ thống làm thủ tục hải quan tự động của Nhật Bản (NACCS) gồm 2 hệ thống: SEA- NACCS và AIR - NACCS để làm thủ tục hải quan cho hàng hóa xuất nhập khẩu qua đường biển và đường hàng không Việc thông quan hàng hóa trong hê thống NACCS được đưa vào hệ thống hỗ trợ quyết định và hệ thống thông tin tình báo Mọi khai báo của doanh nghiệp được lưu lại cơ sở dữ liệu của NACCS gửi yêu cầu tới hệ thống hỗ trợ, sau đó hệ thống NACCS ra quyết định hình thức kiểm tra hàng hóa Tại Nhật bản tỷ lệ làm thủ tục hải quan qua hệ thống hải quan điện tử chiếm 95% chỉ có 5% là thực hiện thủ tục hải quan theo hình thức thủ công (khai, xuất trình hồ sơ hải quan trực tiếp cho công chức hải quan để làm thủ tục hải quan cho hàng hóa nhập khẩu) [9, tr.10]

d) Kinh nghiệm của Hải quan Hàn Quốc

Hải quan Hàn Quốc đã thực hiện hiện đại hoá ngành Hải quan từ năm

1970 Hiện nay Hải quan Hàn quốc được đánh giá là cơ quan Hải quan hiện đại với 100% hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu được thực hiện thông qua thủ tục hải quan điện tử, trong đó 96% hàng xuất khẩu không cần nộp, còn đối với hàng

Trang 39

nhập khẩu tỷ lệ này là 80% Cũng giống như hầu hết các cơ quan Hải quan trên thế giới, Hải quan Hàn Quốc cũng phải đối mặt với những nhu cầu ngày càng tăng của cộng đồng thương mại, trong bổi cảnh này đòi hỏi phải có một hệ thống thông tin chuyên nghiệp, nhanh, nhạy, chính xác, thuận tiện mới đáp ứng được đòi hỏi ngày càng lớn sự gia tăng của khối lượng công việc.

Các hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử của Hải quan Hàn Quốc đã được kết nối với hầu hết các đơn vị có liên quan như hãng tàu, ngân hàng, cơ quan quản

lý chuyên ngành để cung cấp các thông tin cần thiết phục vụ cho công tác quản

lý hải quan và thông quan hàng hoá Với lực lượng khoảng 4200 người nhưng chính nhờ việc áp dụng các thành tựu kỹ thuật hiện đại như công nghệ thông tin, kỹ thuật quản lý rủi ro Hải quan Hàn Quốc vẫn đảm đương một cách có hiệu quả cho các hoạt động kinh tế xuất nhập khẩu cho một nền kinh tế đứng thứ

12 trên thế giới

Hải quan Hàn Quốc khi thực hiện và triển khai các chương trình hiện đại hoá đều dựa rất nhiều vào nội lực kết hợp với chặt chẽ với các công ty tin học trong nước như Samsung, KT Net Cũng như hải quan các nước, hải quan Hàn Quốc cũng gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện đại hoá, như: Gặp nhiều rủi ro vì một số doanh nghiệp lợi dụng chính sách tạo điều kiện thuận lợi trong làm thủ tục hải quan điện tử của hải quan, sự ngăn cản chống đối của một

số bộ phận nhân viên không muốn hiện đại hoá vì mục đích cá nhân, bất đồng về chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị trong Tổng cục, sự phối hợp với các cơ quan chính phủ khác trong quá trình thực hiện để giải quyết vấn đề này hải quan Hàn Quốc đã đưa ra nhiều biện pháp khắc phục như : trong giai đoạn đầu chọn lựa những doanh nghiệp tin cậy tham gia việc sử dụng các chứng từ điện

tử, hỗ trợ về kỹ thuật cho các cơ quan liên quan nhằm đảm bảo khả năng điện tử hoá giữa các cơ quan cân bằng nhau, xây dựng các chính sách và công cụ để đảm bảo an ninh thông tin thương mại của doanh nghiệp

Với sự quyết tâm cao, sự ủng hộ của các bên có liên quan, Hải quan Hàn Quốc đã xây dụng được hệ thống tự động hóa của Hàn quốc vận hành theo mô

Ngày đăng: 24/01/2021, 19:44

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w