1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM

28 1,1K 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Quản Trị Rủi Ro Trong Hoạt Động Ngân Hàng Điện Tử Tại Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản Trị Rủi Ro
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2025
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngân hàng B Ngân hàng AHình 2: Mô hình thanh toán điện tử liên ngân hàng Nguồn: Hội thảo Banking Vietnam 2007 Hiện nay dịch vụ ngân hàng điện tử được các ngân hàng thương mại ViệtNam cun

Trang 1

Ngân hàng B Ngân hàng A

Hình 2: Mô hình thanh toán điện tử liên ngân hàng

Nguồn: Hội thảo Banking Vietnam 2007

Hiện nay dịch vụ ngân hàng điện tử được các ngân hàng thương mại ViệtNam cung cấp qua các kênh chính như sau: ngân hàng qua hệ thống máy giao dịch

Trang 2

tự động, ngân hàng qua hệ thống chấp nhận thẻ, ngân hàng qua mạng máy tính(Home-banking và Internet-banking), ngân hàng tự động qua điện thoại (phone-banking và mobile-banking).

1.1 Dịch vụ ATM-banking và POS-banking

Trong các kênh phân phối điện tử thì giao dịch qua hẹ thống máy giao dịch

tự động ATM là phát triển nhất Từ năm 1996, các NHTM Việt Nam bắt đầu bướcchân vào lĩnh vực ngân hàng điện tử với những sản phẩm thẻ đầu tiên doVietcombank phát hành Từ đó đến nay, việc cung cấp dịch vụ ngân hàng qua hệthống máy ATM đã có những bước phát triển vượt bậc và đạt được nhiều thànhcông rất đáng ghi nhận Trong 3 năm liên tiếp, thị trường thẻ tăng trưởng bình quânđạt khoảng 300%1, với các sản phẩm ngày càng phong phú đa dạng, với 2 loại thẻđược ưa chuộng nhất hiện nay là Connect24 của VCB và thẻ Đa năng của Ngânhàng Đông Á

Bảng 1: Một vài số liệu thống kê về thị trường thanh toán thẻ Việt Nam

1 Nguyễn Thu Hà, “ Hội thẻ Ngân hàng Việt Nam”, Tạp chí Thị trường Thẻ Việt Nam của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, tháng 8/2006.

Trang 3

Số lượng thẻ phát hành

- thẻ nội địa

- thẻ quốc tế

6.2 triệu 5.86 triệu 0.34 triệu

Số ngân hàng phát hành thẻ

- phát hành thẻ quốc tế

> 20 8

Số lượng máy ATM 3.820

Số đơn vị chấp nhận thẻ 20.000

Tỷ lệ thanh toán bằng thẻ 2%

Nguồn : Báo cáo của Ngân hàng Nhà nước 2

Số thẻ phát hành gia tăng kéo theo việc doanh số sử dụng thẻ tăng trưởng vớimức độ kỷ lục Chỉ tính riêng doanh số sử dụng thẻ quốc tế trong giai đoạn 2002 -

2006, doanh số sử dụng thẻ ước tăng 50 lần Ước tính cuối năm 2006, doanh số sửdụng thẻ quốc tế đạt 200 triệu USD.3

Mạng lưới điểm chấp nhận thẻ không chỉ phát triển về lượng mà cũng pháttriển cả về chất Nếu như trước đây, các đơn vị chấp nhận thẻ chủ yếu sử dụng máy

cà tay, thì đến nay 80-90% số đơn vị chấp nhận thẻ đã được trang bị máy chấpnhận thẻ điện tử (EDC).4

Bên cạnh các tiện ích thông thường trên máy ATM như: rút tiền mặt từ tàikhoản, vấn tin tài khoản, in sao kê, đổi mã PIN, chuyển khoản, một số ngân hàngcòn triển khai các tiện ích giá trị gia tăng khác Máy ATM của Ngân hàng Đông Á

2 Tổng quan thị trường thẻ thanh toán Việt Nam, http://www.bachviet.com.au/?

g=web_newsdetail&id=4334&lid=7&idmenu=30 , ngày 26/7/2007

3 “Báo cáo thương mại điện tử năm 2006”

4 “Thẻ liên kết: tiên ích kinh doanh mới”, http://www.lobs-ueh.net/LoBs/modules.php?

name=News&file=article&sid=1754

Trang 4

được hỗ trợ âm thanh tiếng Việt, có chức năng gửi tiền mặt và thu đổi ngoại tệ trựctiếp trên máy Ngân hàng Công Thương triển khai dịch vụ gửi tiền tiết kiệm có kỳhạn trực tiếp từ máy ATM Một số ngân hàng thương mại như ACB,Techcombank, VIB Bank, DongA còn cung cấp dịch vụ ngân hàng thấu chi trên tàikhoản Hiện Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, NHTMCP Đông Á đã và đangtiếp tục triển khai dịch vụ thanh toán hóa đơn tiền điện, điện thoại, nước, quadịch vụ thẻ trên một số địa bàn

Nhìn từ phía nhà cung cấp, nhiều dòng sản phẩm thẻ mới được tung ra thịtrường với nhiều chức năng hiện đại Đặc biệt tháng 7/2007, Ngân hàng NgoàiQuốc Doanh (VPBank) ra mắt sản phẩm thẻ cao cấp sử dụng công nghệ bảo mậtthẻ hiện đại nhất hiện nay - thẻ chip theo tiêu chuẩn EMV quốc tế VPBankPlatinum EMV MasterCard cũng là sản phẩm thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ đầu tiêntại Việt Nam mang các ưu đãi đặc biệt dành riêng cho chủ thẻ tại các trung tâm spachuyên nghiệp, trung tâm mua sắm, cửa hàng cao cấp, các chuỗi nhà hàng, câu lạc

bộ golf, khách sạn, khu nghỉ dưỡng sang trọng đẳng cấp quốc tế… không chỉ tạiViệt Nam mà còn tại Singapore và Malaysia

Tuy nhiên việc đầu tư vào hệ thống máy ATM vẫn còn mang tính chất cục

bộ, thiếu sự liên kết giữa các ngân hàng Do đó, lợi nhuận ngân hàng thu lại đượckhông xứng với chi phí tốn kém liên quan đến đầu tư trang thiết bị, công nghệ,nhân lực quản lý và vận hành Ước tính giá mỗi máy ATM khoảng 20.000 - 30.000USD, máy POS khoảng 800 - 900 USD, nhưng trung bình mỗi máy chỉ phục vụkhoảng 240 thẻ Việc kết nối rời rạc tạo ra sự bất tiện cho khách hàng, ko thu hútngười dân đến với dịch vụ thẻ Nếu sử dung chiếc thẻ chỉ để rút tiền và một số giaodịch khác thì phải đi tìm một chiếc máy ATM của chính ngân hàng phát hành thẻmới giao dịch được sẽ khiến cho khách hàng nản lòng vì bất tiện hơn giao dịch tiềnmặt Vì vậy thúc đẩy nhu cầu hình thành các mạng lưới ATM liên ngân hàng Hiện

Trang 5

nay có 4 liên minh thẻ là Công ty Cổ phần Chuyển mạch tài chính Quốc Gia (gọitắt là Banknetvn) gồm 8 cổ đông sáng lập (7 NHTM và Công ty Điện toán vàTruyền số liệu VDC) ; liên minh giữa ngân hàng Vietcombank và 21 ngân hàngkhác; liên minh VNBC giữa Ngân hàng Đông Á, Ngân hàng Sài Gòn Côngthương, Ngân hàng Phát triển nhà ĐBSCL (MHB) và Ngân hàng Nhà Hà Nội(HBB) và liên minh giữa Ngân hàng Sacombank và ANZ Dù đây là dấu hiệu chothấy khuynh hướng hợp tác với nhau, song theo nhận xét của các nhà quản lý vàchính các ngân hàng, sự liên kết chỉ mang tính tự phát Việc liên kết cục bộ theonhóm nhỏ, vì thế chưa phát huy được tiện ích của máy ATM.

Chỉ đến cuối năm 2006 tiện ích thanh toán mới được triển khai tại 3 ngânhàng là NH Á Châu, NH TMCP Kỹ Thương Việt Nam và NH TMCP Quân Độikhi đã cho phép khách hàng thanh toán bằng tin nhắn Tuy nhiên, việc thanh toánnày cũng chỉ dừng lại ở mức khá đơn giản với thanh toán các danh mục hóa đơnđịnh kỳ đã được khách hàng đăng ký từ trước như: hóa đơn điện, nước, điện thoại,Internet, truyền hình cáp,… Còn các dịch vụ thanh toán điện tử khác thì phải chờmột thời gian nữa các ngân hàng mới có thể đưa vào sử dụng

Trang 6

Techcombank cũng có dịch vụ F@st MobiPay dành cho khách hàng muahàng trực tuyến tại hai trang web www.chodientu.vn và www.vtc.com.vn.

Cuối tháng 5/2007, Techcombank là ngân hàng TMCP đầu tiên được NHNNcấp phép cho cung cấp dịch vụ Internet-banking thực thụ theo các tiêu chuẩn quốc

đã có hơn 20 ngân hàng tham gia vào cung cấp E-banking ở những mức độ khácnhau Trước áp lực cạnh tranh, các ngân hàng đều ý thức được tính cấp thiết phảihiện đại hoá, triển khai dịch vụ ngân hàng điện tử nên đã chủ động nghiên cứu vàđầu tư vào dịch vụ này

Ngân hàng điện tử trở nên phổ biến

Cùng với việc các ngân hàng đẩy mạnh triển khai dịch vụ ngân hàng điện tử

và nhiều nhà cung cấp dịch vụ thiết yếu như điện, nước, điện thoại, dịch vụ vậnchuyển bắt đầu chấp nhận phương thức thanh toán điện tử, thì nhận thức của ngườitiêu dùng về loại hình dịch vụ này ngày càng tăng Thói quen sử dụng thẻ thanhtoán của người tiêu dùng ở các đô thị lớn bắt đầu được hình thành, đặc biệt là tronggiới trẻ Theo ước tính của Vietcombank, năm 2005 số tiền thanh toán qua thẻ chỉ

Trang 7

chiếm 1% trên tổng số tiền giao dịch của chủ thẻ với ngân hàng, nhưng đến tháng7/2006 đã tăng lên 15%5.

Theo thống kê của ngân hàng nhà nước, lượng tiền mặt sử dụng trong thanhtoán vẫn còn rất lớn, chiếm từ 20-30% tổng các phương tiện thanh toán, trong khithanh toán bằng thẻ mới chỉ chiếm 2% trong tổng các phương tiện thanh toán Tuynhiên, con số này là kết quả của những tiến bộ mang tính đột biến trong 3 năm gầnđây của thị trường thanh toán thẻ tại Việt Nam Đồng thời một số phương thức mớinhư thanh toán qua điện thoại di động cũng bắt đầu xuất hiện trong năm 20066

Bắt đầu có sự hợp tác giữa các ngân hàng

Quá trình phát triển dịch vụ ATM-banking tại hầu hết các quốc gia đều trảiqua 3 giai đoạn : 1 các ngân hàng tự phát triển ; 2 liên kết tưng nhóm nhỏ ; 3 hợpnhất các hệ thống trong một mạng thống nhất Tại Việt Nam, việc hợp tác hìnhthành các liên minh thẻ ngay càng rõ nét Liên minh thẻ của VCB đã phát triển lêntới 25 thành viên, trong đó đã có 21 thành viên kết nối thành công Liên minhBanknetvn chính thức đi vào hoạt động từ tháng 11/2006 và đã kết nối thành côngvới tất cả các thành viên trong liên minh Và dự kiến đến cuối năm 2008, thẻ ATM

sẽ liên thông giữa tất cả các ngân hàng

2.2 Những mặt còn hạn chế

Chất lượng dịch vụ chưa thoả mãn khách hàng

Dịch vụ ngân hàng trực tuyến còn nhiều hạn chế, hầu hết các ngân hàng cówebsite riêng cung cấp dịch vụ trực tuyến khi truy cập khách hàng chỉ nhận đượcnhững thông tin nghèo nàn Click chuột vào đó không có tác dụng hoặc nhân đượcthông báo ‘‘website đang được nâng cấp”, do đó khách hàng không thực hiện đượcgiao dịch Khách hàng mở tài khoản trong Internet-banking chỉ xem được số tiềnhiện có, việc chuyển khoản, thanh toán chi phí điện nước, điện thoại đa phần chưa

5 Điểm tin thương mại điện tử tuần từ 10/7 đến 15/7/2006 tại www.mot.gov.vn

6 Báo cáo Thương mại điện tử Việt Nam 2006

Trang 8

thực hiện được Ngoài Internet-banking, một số dịch vụ khác như Phone-banking,Mobile-banking và Home-banking cũng được các ngân hàng thử nghiêm triển khai

ở các mức độ khác nhau

Hệ thống máy ATM hoạt động chưa ổn định do hệ thống truyền thông chưathực sự ổn định, có thời điểm rớt mạng Máy ATM báo lỗi thiết bị, đặc biệt cácATM thực hiện kết nối qua Dial-up, thời gian thực hiện giao dịch khá lâu Mạnglưới phát triển tự phát, liên kết nhỏ lẻ

Hiện nay, các tiện ích ngân hàng tiên tiến nhất cũng chỉ mới dừng lại ở mứccho phép khách hàng thực hiện giao dịch chuyển nhượng cùng hệ thống nếu ngườimua và người bán có tài khoản ở các ngân hàng khác nhau thì việc thanh toán gầnnhư không thực hiện được trong giao dịch thương mại trực tuyến

Khâu quảng cáo, tiếp thị sản phẩm còn yếu kém

Các ngân hàng không chú trọng vào quảng cáo làm cho khách hàng khônghiểu hết về sản phẩm, tiện ích Ở Việt Nam hiện nay, thẻ ATM hiện nay hầu hếtchỉ dừng lại ở chức năng thay thế cho chiếc ví Khi tiêu dùng, đi chợ, siêu thị,người ta dừng lại trước máy ATM để rút tiền mặt ra thanh toán Thực tế cho thấy,hơn 70% các giao dịch của khách hàng trên máy ATM là rút tiền mặt

Thiếu sự hợp tác trong phát triển dịch vụ

Mặc dù đã bắt đầu có sự hợp tác trong ATM-banking, nhưng nhìn chung sựphối hợp giữa các ngân hàng trong thực hiện dịch vụ mới còn yếu Mỗi hệ thốngngân hàng phát triển một chiến lược hoạt động khác, không gắn kết gây lãng phí,khó khăn trong lựa chọn của khách hàng

Chương trình phần mềm cho hoạt động dịch vụ nói chung, hoạt động thanhtoán, giao dịch một cửa, phần mềm quản trị điều hành, quản lý nói riêng mạnhngân hàng nào ngân hàng do thuê và mời nhà cung cấp khác nhau, từ nhiều quốc

Trang 9

gia khác nhau, không một tổ chức, cơ quan tư vấn chung Có ngân hàng chọn giảipháp ngân hàng đa năng của một công ty Thuỵ Sỹ, có chọn gải pháp từ Malaysia,Hàn Quốc…

Cơ sở vật chất kĩ thuật của các NHTM ở Việt Nam cũng thiếu đồng bộ vàvẫn chưa có hệ thống kĩ thuật thống nhất từ hội sở chính đến các chi nhánh Phầnmềm và chương trình ứng dụng của các NH không tương thích nhau Sự thiếuđồng bộ về hệ thống kỹ thuật là khó khăn khi các NH liên kết với nhau để cùngphát triển dịch vụ mới

II / THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM

1 Quản trị rủi ro chiến lược trong hoạt động ngân hàng điện tử tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

1.1 Rủi ro chiến lược trong hoạt động ngân hàng điện tử tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Dịch vụ NHĐT tại Việt Nam đã có những bước tăng trưởng mạnh mẽ, đặcbiệt là ATM-banking với tốc độ trung bình 300% trong 4 năm gần đây Đằng saunhững kết quả tốt đẹp đó, chính các ngân hàng cũng phải thừa nhận họ mới chỉ chútrọng phát triển theo chiều rộng, chưa đầu tư nhiều cho khâu hậu mãi, vẫn cònmang tính tự phát mà thiếu đi tầm nhìn chiến lược

Theo Roger and Shoemaker, khách hàng phải trải qua “quá trình từ nhận

thức, đánh giá, quyết định đến xác nhận” trước khi sẵn sàng chấp nhận một sản

phẩm hay dịch vụ.7 Việc chấp nhận hay từ chối một sản phẩm chỉ có thể bắt đầukhi khách hàng đã nhận biết được sản phẩm đó Ngoại trừ tầng lớp thanh niênnhanh nhạy với công nghệ, với đại đa số người dân Việt Nam, các sản phẩm, dịch

7 Bala Shanmugam và Balachandher Krishna Guru, “Electronic Banking in Malaysia (Hoạt động ngân hàng điện tử

tại Malaysia)”, 2003, Tr.36

Trang 10

vụ NHĐT còn khá mới mẻ và mang nhiều yếu tố kỹ thuật khá phức tạp Nếu nhưthiếu những hướng dẫn cụ thể cách sử dụng cũng như tiện ích của chương trìnhquảng cáo, tuyên truyền hướng dẫn cách sử dụng, những tiện ích thì khách hàngkhông thể hiểu và tin dùng sản phẩm được

Tuy nhiên, các ngân hàng lại không ý thức được điều đó trong việc thực thi

các chiến lược marketing của mình Khi mới bắt đầu sử dụng dịch vụ, khách hàng

chỉ được nhận những thông tin hướng dẫn sơ sài Như trường hợp của dịch vụATM, khách hàng chưa hiểu hết được các tiện ích, tính năng của thẻ mà chủ yếudùng thẻ để rút tiền Với phí phát hành thẻ ATM trung bình là 50.000 đồng/thẻ,thậm chí có ngân hàng tặng luôn thẻ cho khách Chính điều này sẽ làm cho kháchhàng cảm thấy thẻ cũng như món hàng khuyến mãi, được ngân hàng tặng kèm khi

sử dụng sản phẩm mà không hề tìm hiểu những tiện ích của nó Tỷ lệ thẻ “chết”của tất cả các ngân hàng có thể lên tới 20-30

Nhiều ngân hàng mở thầu mua máy ATM mà không quan tâm đến chủng loại máy ATM chạy trên nền tảng công nghệ gì, có thể ứng dụng dịch vụ gì và có

phù hợp với việc nâng cao trình độ cho cán bộ ngân hàng hay không…

Ứng dụng công nghệ hiện đại (tuy chi phí cao) sẽ mang lại hiệu quả cao làđiều tất yếu nhưng còn có ý nghĩa là tiết kiệm được chi phí Bởi vì, thực tế cónhững trường hợp NH do vốn thấp, nên phải đầu tư công nghệ ở mức độ thấp(nhằm đáp ứng nhu cầu trước nhất là chỉ giải quyết các giao dịch và quản lý bìnhthường) nhưng khi yêu cầu phát triển cao, bắt buột NH phải ứng ứng dụng côngnghệ cao Do đó, bỏ công nghệ cũ để trang bị công nghệ mới, lại thêm một lần nữatốn kém kinh phí đầu tư về công nghệ

Mặc dù vậy, mức độ ứng dụng công nghệ chưa đồng đều giữa các ngân

hàng, sẽ tạo ra về việc phát triển các dịch vụ NH hiện đại và sự lãng phí về vốn

trong khi các NH vẫn còn hạn chế về vốn Có NH ứng dụng công nghệ ở mức thấp

Trang 11

(chi phí khoảng 200.000 đến dưới 500.000 USD), chủ yếu để giải quyết các nghiệp

vụ và giao dịch bình thường Có NH ứng dụng công nghệ ở mức độ cao (chi phítrên 5 triệu USD) nhưng chưa sử dụng hết các tính năng

1.2 Quản trị rủi ro chiến lược trong hoạt động ngân hàng điện tử tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Vì chạy đua phát hành thẻ mà các ngân hàng thiếu đi tầm nhìn chiến lượckhi xây dựng kế hoạch kinh doanh về phạm vi kinh doanh, mức độ phát triển,…Cóthể thấy rõ nét đặc điểm của hệ thống mạng lưới ATM tại Việt Nam là sự phân bốquá tập trung vào các thành phố lớn, và ngân hàng nào cũng chọn nhắm vào thịtrường này khi bắt đầu khai thác dịch vụ ATM-banking Điều này thực sự chỉ gâybất tiện cho khách hàng, tốn kém chi phí đầu tư cho mỗi ngân hàng, đồng nghĩavới lãng phí nguồn lực của xã hội Bài toán này có lẽ đã được giải quyết ổn thoả

hơn nếu ngay từ đầu đã có kế hoạch liên kết giữa các ngân hàng.

Bên cạnh đó, đội ngũ nhân viên ngân hàng chưa đáp ứng kịp nhu cầu pháttriển của dịch vụ, khó khăn trong việc giải quyết các sự cố Nhân viên tin học trongngành ngân hàng không được đào tạo chuyên nghiệp về nghiệp vụ ngân hàng, còncác nhân viên nghiệp vụ lại chưa kịp nắm bắt những biến đổi công nghệ thông tinnên chưa thể phát huy hết sức mạnh CNTT trong ngành ngân hàng Nguyên nhânchủ quan của tình trạng này là việc bồi dưỡng nâng cap trình độ cập nhật kiến thứcCNTT còn chưa đồng bộ và thiếu tính tổng thể Việc phối hợp giữa các chuyên gia

về CNTT và các cán bộ quản lý còn nhiều khó khăn, chưa thực sự có tiếng nóichung Điều này tất yếu dẫn đến những bất cập trong dịch vụ sau bán hàng của cácsản phẩm ngân hàng điện tử Chẳng hạn, khi có khiếu nại của khách hàng về việcmất tiền trong tài khoản, nhân viên ngân hàng không thể giải thích hợp lý, màthường đưa ra nguyên nhân xuất phát từ phía khách hàng Vì vậy làm nảy sinh tâm

lý bất an và giảm lòng tin của khách hàng vào dịch vụ

Trang 12

2 Quản trị rủi ro hoạt động trong hoạt động ngân hàng điện tử tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

2.1 Rủi ro hoạt động trong hoạt động ngân hàng điện tử tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Việt Nam đang ở giai đoạn đầu của việc triển khai ứng dụng ngân hàng điện

tử, nhận thức xã hội cũng như mức độ ứng dụng của người dân và doanh nghiệpcòn tương đối thấp Những hành vi gây rối và tội phạm công nghệ cao có chiềuhướng ngày càng gia tăng, làm ảnh hưởng không nhỏ tới đến niềm tin của ngườitiêu dùng đối với loại hình dịch vụ còn khá mới mẻ này Hình thức phạm tội khá đadạng, từ giả mạo thẻ ATM, ăn cắp mật khẩu đến xâm nhập trái phép vào hệ thống

cơ sở dữ liệu của ngân hàng

Theo cuộc khảo sát của Trung Tâm An ninh mạng BKIS, một loại các ngân

hàng lớn có những lỗ hổng trong hệ thống thông tin khiến hacker có thể đột nhập.

Hầu hết các ngân hàng chưa có chính sách về an ninh mạng Các ngân hàng thườngthuê đối tác viết phần mềm cho mình Sự mất an toàn xảy ra khi họ không đưa cácđiều khoản về an ninh mạng trên hợp đồng Vấn đề là các ngân hàng chưa ý thứcđược tầm quan trọng của an ninh mạng, nên chưa có chính sách về an ninh mạng

Dễ thấy nhất là các lỗ hổng trên hệ thống website, lỗ hổng của hệ điều hành chưađược vá kịp thời Với những lỗ hổng này, hacker có thể chiếm quyền kiểm soátcủa máy chủ, từ đó nâng quyền truy cập hoặc thu thập thông tin để tiến vào kiểmsoát các hệ thống khác của ngân hàng Rất tiếc là vấn đề nói trên không phải là

Trong thời gian qua, các NHTM Việt Nam phải gánh chịu những tổn thấtkhông nhỏ do rủi ro hoạt động khi triển khai các dịch vụ ngân hàng điện tử, mànguyên nhân chủ yếu của các rủi ro này là do yếu tố con người gây ra

8 http://www.docbao.com.vn/enewsdetail/22/26160/26160/default.dec , 28/9/2007

Trang 13

Về phía ngân hàng, có thể xuất phát từ nhân viên Chẳng hạn như nhân viên

nạp nhầm tiền vào khay tiền có mệnh giá khác Hay vụ việc nhân viênVietcombank chi nhánh thành phố Vinh sơ suất khi thao tác trên máy tính, chọn

nhầm mã tiền nộp là AUD thay vì VND Và có những rủi ro phát sinh từ quy trình,

khi ngân hàng phát hành gửi thẻ và PIN cho chử thẻ bằng đường bưu điện nhưngkhông tuân thủ theo nguyên tắc gửi bằng hai chiếc phong bì tách rời nhau vào cácthời điểm khác nhau, nên thẻ và PIN đó bị đánh cắp để sử dụng Gần đây là vụnhân viên Eximbank lừa đảo mở thẻ tín dụng khi được uỷ quyền thực hiện trọn gói

từ khâu tiếp thị, thẩm định thông tin đến việc giao thẻ cho khách hàng

Đối với chủ thẻ, rủi ro chủ yếu là do vô tình để lộ mã số PIN và bị mất thẻ

mà chưa kịp báo cho ngân hàng phát hành, rồi vì một sự trùng hợp nào đó, ngườikhác lấy được thẻ, biết được số PIN và họ sử dụg thẻ đó để rút tiền mặt tử ATM

Có trường hợp ghi nhận trên camera quan sát, hơn 60% chủ thẻ luôn có người khác

đi cùng khi thao tác tại máy ATM, điều mà lẽ ra chủ thẻ chỉ nên thực hiện mộtmình.9

Tại Việt Nam, ATM-banking là dịch vụ phát triển nhất, đồng thời cũng tiềm

ẩn nhiều rủi ro nhất Những vụ tranh chấp trong quá trình sử dụng hệ thống ATMcủa khách hàng cũng tăng cao, như vụ việc của chị Trần Thị Thanh Thuỷ với Ngânhàng Techcombank hay vụ mất tiền xảy ra ở Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh

Việc mở rộng dịch vụ ngân hàng điện tử đòi hỏi sự gia tăng công nghệ và đikèm với những nguy cơ bảo mật mới Mặt khác, việc mở cửa hội nhập và pháttriển mạnh mẽ các dịch vụ tài chính ngân hàng, đặc biệt các dịch vụ điện tử, đã xoá

mờ các giới hạn không gian, tạo điều kiện thuận lợi cho loại hình tội phạm công

nghệ cao Mặt khác, kinh nghiệm quản lý rủi ro chưa nhiều, hệ thống quản lý thẻ

chưa được tiêu chuẩn hoá,…nên các ngân hàng Việt Nam hiện nay đang trở thànhmục tiêu tấn công của tội phạm công nghệ cao quốc tế, trong khi các tin tặc trong

9 Tránh rủi ro khi dùng thẻ ATM, http://www.agribankbinhdinh.com.vn/chitiet.asp?ID=68&loai=TM ,

Trang 14

nước cũng tiếp thu được kiến thức, công nghệ mới và bắt đầu chuyển từ hoạt độngphá hoại đơn thuần sang các hoạt động vụ lợi Kẻ gian đã gắn thiết bị đọc vào ổnuốt thẻ trên máy ATM hoặc hệ thống máy tính của ngân hàng nhằm ăn cắp thôngtin tài khoản của khách hàng, từ đó dễ dàng sản xuất nhiều thẻ từ giả Tồi tệ hơn là

để xảy ra việc nhân viên ngân hàng hoặc đơn vị chấp nhận thẻ làm "nội gián" vàtiếp tay sự lấy cắp Đồng thời chúng còn gắn một camera cho phép quay cận cảnhbàn phím trên ATM để ăn cắp số PIN (password) truy cập tài khoản của chủ thẻ từthẻ giả Tuy nhiên, mấu chốt của vấn đề nằm ở chỗ hầu hết các ngân hàng ViệtNam hiện chỉ phát hành thẻ từ, vốn rất dễ bị làm giả nếu kẻ gian nắm trong tay dữliệu trên track của dải từ (số thẻ, cấu trúc ký mã hiệu ký tự đầu tiên và kết thúc củadãy số được ngân hàng đăng ký duy nhất) hoặc thông tin CIF, mã khách hàng vàthông tin tài khoản của khách hàng Ngoài thẻ giả hiện nay bọn tội phạm còn kếthợp cả đặt máy ATM giả hoặc gắn các thiết bị skimming vào thiết bị đầu đọc thẻ ởmáy ATM hoặc thiết bị EDC tại các điểm chấp nhận thẻ (POS)

Theo thống kê, 61.1% giá trị giả mạo trong hoạt động thanh toán thẻ là dothẻ giả, thẻ bị mất cắp (19.1%), thẻ bị thất lạc (11,1%) sau đó là hoá đơn giao dịch

bị in nhiều lần, đơn phát hành thẻ giả mạo và tài khoản thẻ bị lợi dụng Thẻ giả, thẻmất cắp và thẻ thất lạc chiếm đến 96.7% tổng giá trị giả mạo trong hoạt động thanhtoán thẻ tại VN Nguyên nhân chủ yếu là do các đơn vị chấp nhận thẻ chưa thựchiện đầy đủ các quy định, quy trình trong quá trình chấp nhận thanh toán thẻ.10

Ngoài ra còn những rủi ro nằm ngoài tẩm kiểm soát của ngân hàng gây phiềntoái cho khách hàng Chẳng hạn, nếu đang giao dịch mà mất điện thì máy ATMkhông hoạt động, người dùng không thể rút thẻ ra để sử dụng ở các máy khác, vàcũng không biết lệnh giao dịch đã được ghi nhận tại trung tâm hay chưa Hay tìnhtrạng hạ tầng cơ sở mạng viễn thông cho dịch vụ mobile-banking không thực sự tốt

để đảm bảo tin nhắn gửi đi được nhanh và thông suốt Vì khi mua đồ hoặc cần

10 Kỷ yếu hôi thảo: “Nâng cao năng lực quản trị của các Ngân hàng Thương Mại Việt Nam 2006”

Ngày đăng: 30/10/2013, 00:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2: Mô hình thanh toán điện tử liên ngân hàng - THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM
Hình 2 Mô hình thanh toán điện tử liên ngân hàng (Trang 1)
Hình 4: Phương pháp xác thực người sử dụng của Agribank - THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM
Hình 4 Phương pháp xác thực người sử dụng của Agribank (Trang 17)
Hình 5: Theo dõi/giám sát với IP camera - giải pháp của Sony - THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM
Hình 5 Theo dõi/giám sát với IP camera - giải pháp của Sony (Trang 18)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w