1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh của toà án theo bộ luật tố tụng dân sự những điểm mới và các vấn đề đặt ra cho thực tiễn thi hành

90 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 851,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tế đó đặt ra nhu cầu phải nghiên cứu để chỉ rõ các điểm mới của BLTTDS về thẩm quyền so với các văn bản pháp luật trước đó; đánh giá sự tác động của các quy định này đến hoạt động g

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÙI NGUYỄN PHƯƠNG LÊ

THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH CỦA TÒA ÁN THEO BỘ LUẬT

TỐ TỤNG DÂN SỰ - NHỮNG ĐIỂM MỚI VÀ CÁC VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO THỰC TIỄN THI HÀNH

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 60 38 50

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS PHAN CHÍ HIẾU

Hà Nội - 2005

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Tiến sĩ Phan Chí Hiếu, các Thầy, Cô giáo, gia đình và các đồng nghiệp đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này

Tác giả

Bùi Nguyễn Phương Lê

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu được trích dẫn theo những nguồn đã công bố Kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

Bùi Nguyễn Phương Lê

Trang 4

BLTTDS Bộ luật tố tụng dân sự

TANDTC Tòa án nhân dân tối cao

TTGQCVAKT Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH CỦA TÒA ÁN 5

1.1 Khái quát về tranh chấp kinh doanh và thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh của Tòa án 5

1.1.1 Khái niệm và các đặc trưng pháp lý của tranh chấp kinh doanh 5

1.1.2 Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh của Tòa án 12

1.2 Cơ sở phân định thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh của Tòa án 15

1.2.1 Căn cứ vào đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về hoạt động tư pháp 15

1.2.2 Căn cứ vào cơ cấu tổ chức của hệ thống Tòa án và các nguyên tắc hiến định trong hoạt động của Tòa án 18

1.2.3 Những đòi hỏi khách quan của thực tiễn đối với việc giải quyết tranh chấp kinh doanh 20

1.2.4 Căn cứ vào tính chất xét xử 21

1.2.5 Năng lực giải quyết tranh chấp kinh doanh của Tòa án 22

1.3 Các nguyên tắc phân định thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh của Tòa án 25

1.3.1 Phân định thẩm quyền theo vụ việc (thẩm quyền chung) 25

1.3.2 Phân định thẩm quyền theo cấp xét xử 27

1.3.3 Phân định thẩm quyền theo lãnh thổ 27

1.3.4 Phân định thẩm quyền theo tính chất xét xử (sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm) 29

Trang 6

DOANH VÀ CÁC VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO THỰC TIỄN THI HÀNH 30

2.1 Những quy định về thẩm quyền theo vụ việc (thẩm quyền chung) 30

2.1.1 Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại 30

2.1.2 Tranh chấp trong nội bộ công ty 37

2.1.3 Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ 40

2.1.4 Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại 43

2.2 Những quy định về thẩm quyền theo cấp Tòa án 45

2.2.1 Thẩm quyền của Tòa án cấp huyện 45

2.2.2 Thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh 49

2.3 Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ và theo sự lựa chọn của nguyên đơn 51

2.3.1 Thẩm quyền theo lãnh thổ 51

2.3.2 Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn 54

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM THI HÀNH HIỆU QUẢ CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VỀ THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP KINH DOANH CỦA TÒA ÁN 58

3.1 Hoàn thiện cơ sở pháp lý cho việc thi hành các quy định của BLTTDS về thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh của Tòa án 58

3.2 Các điều kiện bảo đảm về tổ chức và con người 71

3.2.1 Các điều kiện bảo đảm về tổ chức 71

3.2.2 Các điều kiện bảo đảm về con người 75

KẾT LUẬN 80

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Nền kinh tế thị trường của nước ta với các mặt tích cực của nó đã thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển nền sản xuất hàng hoá và theo đó là sự gia tăng đáng kể số lượng các tranh chấp trong hoạt động kinh doanh Các tranh chấp phát sinh đòi hỏi phải được giải quyết một cách thoả đáng bằng một cơ chế nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp và trật tự công cộng

Trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, khi các thiết chế công quyền vẫn được người dân coi trọng và tin tưởng áp dụng để giải quyết các tranh chấp trong xã hội thì hình thức giải quyết các tranh chấp kinh doanh bằng Tòa án vẫn tiếp tục khẳng định được vị trí quan trọng của mình trong hệ thống các phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh Tuy nhiên, chất lượng hoạt động giải quyết các vụ án kinh tế của Tòa án còn yếu; các bản án, quyết định của Tòa án còn bị cải sửa, bị huỷ nhiều Thực tế này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó phải kể đến những khó khăn, vướng mắc trong việc xác định thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh của Tòa án

Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) được Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam thông qua ngày 15/6/2004 chứa đựng nhiều quy định mới, tiến bộ về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh của Tòa án Thực

tế đó đặt ra nhu cầu phải nghiên cứu để chỉ rõ các điểm mới của BLTTDS về thẩm quyền so với các văn bản pháp luật trước đó; đánh giá sự tác động của các quy định này đến hoạt động giải quyết tranh chấp kinh doanh của Tòa án;

dự báo các khó khăn, vướng mắc có thể gặp phải trong thực tiễn áp dụng các quy định đó để tìm hướng khắc phục Chính vì lý do như vậy mà em chọn đề tài: "Thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh của Tòa án theo BLTTDS

Trang 8

- những điểm mới và các vấn đề đặt ra cho thực tiễn thi hành" làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Các vấn đề liên quan đến giải quyết tranh chấp kinh doanh, trong đó có nội dung về thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh của Tòa án đã được

đề cập với những mức độ khác nhau trong một số công trình nghiên cứu độc lập hoặc được đăng tải dưới hình thức các bài viết trên các tạp chí pháp lý

như: Luận án tiến sỹ (TS) của Đào Văn Hội với đề tài Giải quyết tranh chấp

kinh tế trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam; Luận án tiến sỹ của

Trần Văn Trung với đề tài Tài phán kinh tế ở Việt Nam; Luận án tiến sỹ của Nguyễn Thị Kim Vinh với đề tài Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh tế

bằng con đường Tòa án ở Việt Nam; Tác giả Lê Thị Thu Thuỷ với chuyên đề Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh tế, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 2/2004; TS Phan Chí Hiếu với

chuyên đề Phương pháp xác định thẩm quyền theo vụ việc của Toà án, Tạp

chí Nghiên cứu lập pháp, số 4/2004 Nhưng việc nghiên cứu một cách chuyên biệt về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh của Tòa án, tiếp cận từ các quy định mới của BLTTDS để đề xuất các kiến nghị nhằm thực thi hiệu quả các quy định mới đó thì đây là công trình nghiên cứu đầu tiên ở cấp độ luận văn thạc sỹ luật học

3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đề tài tập trung nghiên cứu các quy định của BLTTDS về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh trong quan hệ so sánh với các quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (TTGQCVAKT) để làm nổi bật các điểm mới, tiến bộ trong các quy định của BLTTDS Đề tài không nghiên cứu về thẩm quyền giải quyết các yêu cầu về kinh doanh, thương mại

Trang 9

của Tòa án, ví dụ, các yêu cầu liên quan đến các biện pháp hỗ trợ tư pháp đối với hoạt động của trọng tài

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện các nhiệm vụ đề tài đặt ra, luận văn đã sử dụng phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như phương pháp lịch

sử, phân tích, so sánh, chứng minh, tổng hợp và phương pháp xã hội học như lấy số liệu, sử dụng các kết quả thống kê, phương pháp khảo sát, thăm dò lấy

ý kiến trong phạm vi những người làm công tác thực tiễn cũng được sử dụng trong quá trình nghiên cứu luận văn

5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài đặt ra mục đích nghiên cứu làm rõ các quy định mới của BLTTDS

về thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh của Tòa án; đánh giá tác động của các quy định mới đó đối với hoạt động giải quyết tranh chấp kinh doanh của Tòa án; dự báo các khó khăn vướng mắc sẽ gặp phải khi thi hành các quy định này từ đó đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả BLTTDS

Để đạt được mục đích trên, đề tài đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

- Làm rõ các vấn đề lý luận về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh của Tòa án;

- Phân tích để chỉ ra các quy định mới của BLTTDS về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh của Tòa án; đánh giá sự tác động của các quy định mới đó tới hoạt động giải quyết tranh chấp kinh doanh của Tòa án;

- Dự báo những khó khăn, vướng mắc có thể gặp phải trong thực tiễn thi hành các quy định của BLTTDS về thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh của Tòa án;

- Đưa ra một số kiến nghị nhằm bảo đảm thực thi các quy định mới của BLTTDS về vấn đề thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh của Tòa án

Trang 10

6 Những điểm mới của luận văn

- Lần đầu tiên vấn đề thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh của Tòa án được nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện dưới góc độ những quy định mới của BLTTDS

- Trong quá trình phân tích, so sánh những quy định mới của BLTTDS

về vấn đề thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh của Tòa án, luận văn đã đưa ra được những đánh giá về mức độ hợp lý của quy định từ đó đưa

ra những kiến nghị để tiếp tục hoàn thiện (nếu quy định đó là chưa hợp lý)

- Luận văn đề xuất một số kiến nghị để tháo gỡ các vướng mắc đã và có khả năng gặp phải trong thực tiễn giải quyết tranh chấp kinh doanh tại Toà án

7 Cơ cấu của luận văn

Luận văn gồm lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và nội dung gồm 3 chương:

- Chương 1: Những vấn đề lý luận về thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh của Tòa án

- Chương 2: Những điểm mới của BLTTDS về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn thi hành

- Chương 3: Một số kiến nghị nhằm thi hành hiệu quả các quy định của BLTTDS về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh của Tòa án

Trang 11

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT

TRANH CHẤP KINH DOANH CỦA TÒA ÁN 1.1 Khái quát về tranh chấp kinh doanh và thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh của Tòa án

1.1.1 Khái niệm và các đặc trưng pháp lý của tranh chấp kinh doanh

1.1.1.1 Khái niệm tranh chấp kinh doanh

Chuyển sang nền kinh tế thị trường, quan hệ kinh tế trở nên sống động,

đa dạng và phức tạp Mục đích đạt được lợi nhuận tối đa trở thành động lực trực tiếp của các bên tham gia quan hệ kinh tế Trong điều kiện như vậy, tranh chấp kinh doanh không những khó tránh khỏi, mà còn là một vấn đề lớn đòi hỏi phải có sự quan tâm giải quyết một cách thoả đáng Đó vừa là một yêu cầu nghiêm ngặt của nguyên tắc pháp chế, vừa là một đòi hỏi bức xúc của thực tiễn kinh doanh trong nền kinh tế thị trường

Hiện nay, trong khoa học pháp lý ở Việt Nam, khái niệm tranh chấp kinh doanh chưa được các nhà luật học quan tâm một cách thoả đáng Do vậy, trong các văn bản pháp luật, trong các tài liệu khoa học pháp lý, cũng như trong thực tiễn, chúng ta thường gặp nhiều tên gọi khác nhau để chỉ các tranh chấp loại này như tranh chấp kinh tế, tranh chấp kinh doanh, tranh chấp thương mại, tranh chấp về kinh doanh, thương mại

Về thuật ngữ “tranh chấp kinh doanh” hay “tranh chấp kinh tế”, đa số các nhà luật học khi bàn tới đều nhất trí cho rằng thuật ngữ “tranh chấp kinh tế” có nội hàm rộng hơn thuật ngữ “tranh chấp kinh doanh”

Chứng minh cho quan điểm này, Giáo trình Luật kinh tế của Khoa Luật Đại học Tổng hợp Hà Nội viết:

Các tranh chấp kinh tế trong kinh doanh trong phạm vi nhất định có sự khác biệt với tranh chấp kinh tế Khái niệm kinh tế cũng như “quan hệ

Trang 12

kinh tế” thông thường được hiểu rộng hơn khái niệm “kinh doanh” với

“quan hệ kinh doanh” Trong kinh tế có sự bao hàm cả yếu tố quản lý và yếu tố chính trị - xã hội khác liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh Trong khi đó, kinh doanh chỉ là một hoạt động mang tính nghề nghiệp như sản xuất, buôn bán, dịch vụ gắn với mục đích lợi nhuận Do tính chất của quan hệ kinh doanh như vậy, việc giải quyết trong kinh doanh cũng mang những tính đặc thù nhất định so với giải quyết tranh chấp kinh tế nói chung [10, tr.307-364].

Đồng quan điểm trên, NCS Nguyễn Thị Kim Vinh trong luận án tiến

sỹ “Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh tế bằng con đường Tòa án ở Việt Nam” đã viết: “Có thể nói, trong các loại hình tranh chấp kinh tế, tranh chấp trong kinh doanh là loại hình tranh chấp phổ biến nhất và do đó, trong một số trường hợp khái niệm tranh chấp trong kinh doanh và khái niệm tranh chấp kinh tế được sử dụng với ý nghĩa tương đương với nhau” [39, tr.33]

Cuốn “Tìm hiểu pháp luật về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh” cũng cho rằng: “Tranh chấp trong kinh doanh là một dạng của tranh chấp kinh

tế, biểu hiện những mâu thuẫn hay xung đột về quyền, nghĩa vụ giữa các nhà đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời” [16, tr.10]

Bên cạnh đó, cũng có nhà luật học đồng nhất trong cách sử dụng thuật ngữ “tranh chấp kinh tế” và “tranh chấp kinh doanh” Cuốn “Tìm hiểu luật kinh tế” sử dụng hai thuật ngữ này hầu như không có sự phân biệt [24, tr.187-194]

Về thuật ngữ “tranh chấp kinh tế”, “tranh chấp kinh doanh” và “tranh chấp hợp đồng kinh tế (HĐKT)”, xuất phát từ điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, đã có các quan điểm nhấn mạnh mối liên quan mật thiết của các thuật ngữ này PGS.TS Trần Đình Hảo trong chuyên đề “Hoà giải, thương lượng trong việc giải quyết tranh chấp HĐKT” đã viết: “Tranh chấp trong kinh

Trang 13

doanh khá đa dạng nhưng loại tranh chấp chủ yếu vẫn thường là các tranh chấp về hợp đồng” [32, tr.99]

Ngoài ra, khi có sự ra đời của Luật thương mại, bên cạnh các thuật ngữ

“tranh chấp kinh doanh”, “tranh chấp kinh tế” còn xuất hiện thêm thuật ngữ

“tranh chấp thương mại” Theo Điều 238 Luật Thương mại thì “tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt động thương mại” [13], tức là sự thoả thuận giữa thương nhân với thương nhân, thương nhân với các bên có liên quan nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ giữa các bên trong hoạt động mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thương mại và xúc tiến thương mại Chính vì vậy mà có quan điểm đã cho rằng “tranh chấp thương mại” là một dạng của “tranh chấp kinh doanh” bởi chúng đều phát sinh từ hoạt động kinh doanh và có quan hệ mật thiết với hoạt động này

Như vậy, tùy theo thói quen sử dụng thuật ngữ hoặc tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu mà các nhà luật học sử dụng thuật ngữ

“tranh chấp kinh tế”, “tranh chấp kinh doanh”, “tranh chấp thương mại”, hay

“tranh chấp HĐKT” Trong phạm vi đề tài đã được xác định, chúng tôi thống nhất sử dụng thuật ngữ “tranh chấp kinh doanh” vì hai lý do sau:

Thứ nhất, thuật ngữ “tranh chấp kinh tế” là một thuật ngữ có nội hàm

rộng, bao hàm cả yếu tố quản lý và yếu tố chính trị - xã hội liên quan đến hoạt động kinh doanh Trong khi đó, đề tài của chúng tôi chủ yếu tập trung nghiên cứu thẩm quyền của Tòa án (cụ thể là Tòa kinh tế) trong việc giải quyết các tranh chấp của các chủ thể kinh doanh đối với hoạt động kinh doanh của họ

Thứ hai, thực tế từ khi khái niệm kinh doanh được nêu ra trong Luật

Công ty (ban hành ngày 21/12/1990) đến nay, trong các văn bản pháp luật sau

đó, cũng như trong các tài liệu khoa học pháp lý vẫn sử dụng khái niệm này như là một khái niệm chính thống về kinh doanh Mặc dù cũng có nhà khoa

Trang 14

học pháp lý phê phán khái niệm “Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” (khoản

2 Điều 3 Luật Doanh nghiệp năm 1999) [12] là một khái niệm mang tính duy lợi nhưng lại không đưa ra được khái niệm có tính thuyết phục hơn Với cách nhìn nhận về khái niệm kinh doanh là một quy trình khép kín như vậy, chúng tôi cho rằng, hoạt động thương mại cũng là một phần trong quy trình đó Và suy luận theo tư duy lôgic, tranh chấp thương mại cũng là một dạng của tranh chấp kinh doanh

Dù còn có nhiều quan điểm, ý kiến khác nhau về cách sử dụng thuật ngữ, các nhà luật học cũng đều cho rằng tranh chấp kinh doanh (hay tranh chấp kinh tế) là sự mâu thuẫn, bất đồng hay xung đột về quyền, nghĩa vụ phát sinh trong đời sống kinh tế giữa các chủ thể tham gia kinh doanh và thông thường gắn liền với các yếu tố, lợi ích về mặt tài sản

Tiếp cận khái niệm tranh chấp kinh doanh dưới góc độ của pháp luật tố tụng, chúng tôi thấy rằng, tranh chấp kinh doanh (tranh chấp kinh tế) được hiểu theo một nghĩa hẹp hơn nhưng cụ thể hơn bằng cách chỉ ra những tranh chấp nào được coi là tranh chấp kinh doanh và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Điều 12 Pháp lệnh TTGQCVAKT sử dụng thuật ngữ “tranh chấp kinh tế” và liệt kê ra các tranh chấp kinh tế thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa

Trang 15

3 Các tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu;

4 Các tranh chấp kinh tế khác theo quy định của pháp luật [21]

Pháp lệnh trọng tài thương mại sử dụng thuật ngữ “tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại” [20] Luật Thương mại 1997 cũng sử dụng thuật ngữ này (Điều 238) [13]

Điều 29 BLTTDS sử dụng thuật ngữ “tranh chấp về kinh doanh, thương mại” và cũng tiếp tục liệt kê các tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhưng với nhiều loại tranh chấp hơn [1]

Nghiên cứu pháp luật và tập quán thương mại của các quốc gia trên thế giới, chúng tôi thấy rằng có sự khác nhau rất lớn giữa các quốc gia khi tiếp cận khái niệm tranh chấp kinh doanh Không phải quốc gia nào cũng có sự phân biệt giữa tranh chấp kinh doanh với tranh chấp dân sự

Các nước theo hệ thống pháp luật Anh - Mỹ không phân biệt lĩnh vực kinh doanh (với mục đích tìm kiếm lợi nhuận) và lĩnh vực dân sự (mục đích tiêu dùng), mọi tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh hay hoạt động dân sự đều được giải quyết bằng những phương thức giống nhau Tuy vậy, ở các quốc gia này vẫn tồn tại những thiết chế riêng để giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại như việc giao các tranh chấp này cho các thẩm phán có nhiều kiến thức kinh doanh và kinh nghiệm trong việc giải quyết các tranh chấp loại này

Các nước theo truyền thống pháp luật Châu Âu lục địa có sự phân biệt giữa hoạt động kinh doanh với hoạt động dân sự và thừa nhận sự tồn tại của pháp luật thương mại bên cạnh pháp luật dân sự Theo NCS Đào Văn Hội trong luận án tiến sỹ “Giải quyết tranh chấp kinh tế trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam” thì trong khoa học pháp lý của các nước theo truyền thống pháp luật Châu Âu lục địa “không có khái niệm tranh chấp thương mại Người ta chỉ căn cứ vào thẩm quyền tài phán của các thiết chế giải quyết tranh

Trang 16

chấp thương mại mà nhận diện một số tranh chấp được coi là tranh chấp thương mại mà thôi” [7, tr.10]

Liên bang Nga sử dụng khái niệm tranh chấp kinh tế và đưa ra các tiêu chí cụ thể để phân biệt thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh tế của Tòa án, trọng tài với thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự của hệ thống Tòa án thẩm quyền chung

Việt Nam là một nước theo truyền thống pháp luật Châu Âu lục địa và cũng thừa nhận sự tồn tại song song của tranh chấp kinh doanh (thương mại)

và tranh chấp dân sự Tuy nhiên, để hiểu rõ bản chất của tranh chấp kinh doanh, từ đó, đưa ra được những biện pháp hữu hiệu để giải quyết nó một cách nhanh chóng, chính xác, đúng pháp luật, các nhà khoa học pháp lý của Việt Nam đã cố gắng xây dựng khái niệm tranh chấp kinh doanh (tranh chấp kinh tế)

NCS Nguyễn Thị Kim Vinh cho rằng: “Tranh chấp kinh tế (tranh chấp kinh doanh) là sự bất đồng chính kiến về một sự kiện pháp lý, là sự mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia vào các quan hệ kinh tế ở các cấp độ khác nhau” [39, tr.33]

NCS Đào Văn Hội đưa ra khái niệm: “Tranh chấp kinh tế là những mâu thuẫn hay bất đồng liên quan đến quyền và lợi ích kinh tế của các tổ chức, cá nhân khi tham gia các quan hệ kinh tế” [7, tr.23]

PGS.TS Trần Đình Hảo đưa ra khái niệm về tranh chấp kinh doanh như sau: “Tranh chấp trong kinh doanh được hiểu là sự bất đồng về một hiện tượng pháp lý (quyền và nghĩa vụ) phát sinh trong đời sống kinh tế giữa các chủ thể tham gia kinh doanh và thông thường gắn liền với các yếu tố, lợi ích

về mặt tài sản Tranh chấp trong kinh doanh biểu hiện mâu thuẫn, xung đột quyền lợi giữa các chủ thể” [33, tr.98]

Trang 17

Theo chúng tôi, tranh chấp kinh doanh được hiểu là những mâu thuẫn,

bất đồng ý kiến giữa các chủ thể kinh doanh với nhau hoặc với các bên có liên quan khi họ tham gia quan hệ kinh doanh, phát sinh do một bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các nghĩa vụ pháp lý của mình

1.1.1.2 Đặc trưng pháp lý của tranh chấp kinh doanh

Từ khái niệm tranh chấp kinh doanh nêu trên, chúng ta thấy tranh chấp kinh doanh có những đặc trưng cơ bản sau:

Thứ nhất, các bên trong tranh chấp kinh doanh thường là các chủ thể

kinh doanh có vị trí ngang bằng, tham gia quan hệ trên cơ sở tự nguyện Thông thường, các bên trong tranh chấp kinh doanh là các tổ chức, cá nhân được Nhà nước thừa nhận quyền kinh doanh Bằng việc cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Nhà nước công nhận các tổ chức, cá nhân này đã hội đủ các điều kiện kinh tế và pháp lý để tiến hành một loại hoạt động khá phức tạp trong xã hội là hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận Khác với chủ thể trong các tranh chấp dân sự thông thường khác, chủ thể trong tranh chấp kinh doanh thường là những người kinh doanh chuyên nghiệp Những người này rất thông thạo những kiến thức, những ngón nghề, thủ đoạn trong kinh doanh, đặc biệt là lĩnh vực kinh doanh mà họ hoạt động Điều này phản ánh tính phức tạp của tranh chấp, đòi hỏi người Thẩm phán phải am tường cả về hoạt động kinh doanh lẫn pháp luật kinh doanh thì mới đưa ra được những phán quyết khiến những chủ thể kinh doanh “tâm phục, khẩu phục”

Thứ hai, tranh chấp kinh doanh phát sinh trực tiếp từ quan hệ kinh

doanh, là loại quan hệ được phân biệt với các quan hệ dân sự thông thường khác bởi mục đích lợi nhuận Đặc điểm này lại quy định mục tiêu mà các chủ thể kinh doanh hướng tới khi yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp kinh doanh

là phải “bảo toàn” được mục đích lợi nhuận đã được đặt ra Có nghĩa là, vừa giải quyết được tranh chấp, lại vừa giữ vững được uy tín của doanh nghiệp,

Trang 18

nhất là giữ được bí quyết kinh doanh Điều này đòi hỏi việc giải quyết phải nhanh chóng, bí mật (càng ít công khai càng tốt)

Thứ ba, hoạt động kinh doanh là một quá trình liên tục với nhiều công

đoạn khác nhau liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau và nhiều chủ thể khác nhau Vì vậy, các tranh chấp trong kinh doanh thông thường rất phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều hoạt động, nhiều ngành nghề, nhiều chủ thể, thậm chí còn ảnh hưởng đến cả một khu vực, một thị trường hoặc cả quốc gia chứ không chỉ đơn thuần là tranh chấp giữa hai hoặc một số chủ thể đơn

lẻ như trong tranh chấp dân sự Tranh chấp kinh doanh có thể phát sinh trong một công đoạn nào đó của chu trình kinh doanh, thường có mối quan hệ hữu

cơ với công đoạn khác Môi trường phát sinh tranh chấp kinh doanh là môi trường của các hoạt động kinh doanh với tính chất vô cùng phong phú và đa dạng phụ thuộc lẫn nhau Quan hệ kinh doanh này có thể vừa là kết quả, vừa

là tiền đề của một quan hệ kinh doanh khác Do đó, các tranh chấp kinh doanh nếu không được giải quyết triệt để, kịp thời dễ gây ra hậu quả có tính chất dây chuyền, có thể làm đình đốn các hoạt động kinh doanh khác và tác động xấu tới lợi ích của nhiều đối tượng

Đặc thù này của tranh chấp kinh doanh dẫn đến đòi hỏi tất yếu là phải giải quyết tranh chấp kinh doanh một cách triệt để, chính xác và hiệu quả để các bên liên quan có thể nhanh chóng khắc phục hậu quả phát sinh từ tranh chấp

1.1.2 Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh của Tòa án

Thẩm quyền của Tòa án là chế định quan trọng trong pháp luật tố tụng nói chung và tố tụng dân sự nói riêng Thẩm quyền của Tòa án là một khái niệm bao hàm nhiều mặt, nhiều khía cạnh, mang tính lịch sử cụ thể, quy định quyền xét xử, phạm vi xem xét và ra quyết định của Tòa án Nội dung của nó

do các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và các điều kiện khác quyết định Việc xác định thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết các tranh chấp kinh

Trang 19

doanh sẽ giúp cho các Tòa án chủ động trong xét xử, tránh được các hiện tượng đùn đẩy việc cho nhau Mặt khác, nó đảm bảo cho xét xử được chính xác, khách quan, bảo đảm quyền tự do dân chủ của công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng

Việc nghiên cứu và đưa ra một khái niệm khoa học, đúng đắn về thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh của Tòa án có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định quyền hạn cụ thể của Tòa án khi thụ lý, xét xử các tranh chấp kinh doanh của các chủ thể kinh doanh

Khi nói đến thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh tức là nói đến một loại quyền hạn cụ thể của Tòa án Vì vậy, thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh vừa có những đặc điểm chung về thẩm quyền của Tòa án, vừa có những nét đặc thù riêng Trong một số sách, báo, tài liệu, các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý cũng đã đề cập đến khái niệm thẩm quyền của Tòa án nhưng dưới góc độ của tố tụng hình sự hoặc tố tụng hành chính Còn đối với khái niệm thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh tế thì hầu như các tài liệu, công trình nghiên cứu khoa học hoặc là sử dụng một cách mặc nhiên, hoặc là đưa ra luôn khái niệm mà không có lý giải về sự ra đời hay tồn tại của nó

Trước hết, chúng tôi tiếp cận khái niệm từ thuật ngữ “thẩm quyền” Theo định nghĩa của Từ điển tiếng Việt thì “Thẩm quyền là quyền xem xét để kết luận và định đoạt một vấn đề theo pháp luật” [38, tr 992] Theo Từ điển Luật học thì “thẩm quyền” được hiểu là “tổng hợp các quyền và nghĩa vụ hành động, quyết định của các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống bộ máy nhà nước do pháp luật quy định” [37, tr.459] Như vậy, khái niệm thẩm quyền gồm hai nội dung chính là quyền hành động và quyền quyết định Quyền hành động là quyền được làm những công việc nhất định, còn quyền quyết định là quyền hạn giải quyết công việc đó trong phạm vi pháp luật cho phép

Trang 20

Từ thuật ngữ gốc này, kết hợp với quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của hệ thống Tòa án, các nhà khoa học pháp lý đã đưa ra các khái niệm khác nhau về thẩm quyền của Tòa án TS Nguyễn Đức Mai cho rằng:

Thẩm quyền của Tòa án là một thể thống nhất bao gồm hai yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau đó là thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền về nội dung Thẩm quyền về hình thức thể hiện ở quyền hạn xem xét và phạm vi xem xét của Tòa án (thẩm quyền xét xử và phạm vi xét xử), còn thẩm quyền về nội dung thể hiện ở quyền hạn giải quyết, quyết định của Tòa án đối với những vấn đề đã được xem xét [15, tr.2]

Thạc sỹ Nguyễn Văn Tiến quan niệm: “phạm vi, giới hạn của hoạt động của Tòa án và quyền năng pháp lý của Tòa án có mối liên quan chặt chẽ với nhau tạo thành thẩm quyền của Tòa án Thẩm quyền của Tòa án bao gồm: thẩm quyền xét xử, phạm vi - giới hạn xét xử và quyền hạn quyết định của Tòa án [23, tr.8]

Từ điển giải thích thuật ngữ luật học định nghĩa: “Thẩm quyền kinh tế

là tổng thể các quyền và nghĩa vụ về kinh tế của các chủ thể được pháp luật xác nhận, tạo cơ sở pháp lý để các chủ thể thực hiện các hành vi nhằm tạo cho mình những quyền và nghĩa vụ cụ thể” [35, tr.103]

Trong pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới cũng đã đề cập đến khái niệm thẩm quyền của Tòa án Tuy cách hiểu có khác nhau nhưng điểm chung về thẩm quyền của Tòa án đều được thừa nhận là quyền xét xử và quyền quyết định của Tòa án Ở Pháp, thẩm quyền được hiểu là quyền của một cơ quan nhà nước, một quan chức nhà nước hay tư pháp được làm những việc và

có quyền quyết định những vấn đề trong phạm vi được pháp luật cho phép

Theo Lemeunier, tác giả cuốn từ điển pháp luật thì thẩm quyền của Tòa

án được hiểu là “khả năng của một Tòa án xem xét một vụ việc trong phạm vi pháp luật cho phép”

Trang 21

Theo TS Wolf Ruecliger Schenke, Giáo sư Trường Đại học Tổng hợp Mannheim - Cộng hoà Liên bang Đức sau khi nghiên cứu thẩm quyền của Tòa án đã đặt ra vấn đề là: “Đối với thẩm quyền của Tòa án thì cần phân biệt sự khác nhau giữa thẩm quyền vụ việc, địa điểm và thẩm quyền phẩm cấp” [9, tr.13]

Đặt khái niệm thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh trong mối liên hệ với các khái niệm gốc được nêu ra ở trên, cũng như trong mối liên hệ với cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ của Tòa án được nêu trong Luật tổ chức Tòa

án năm 2002, chúng tôi cho rằng, thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh

doanh nên được hiểu là quyền hạn và nghĩa vụ của Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp kinh doanh

1.2 Cơ sở phân định thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh của Tòa án

Muốn quy định thẩm quyền được chính xác phải dựa vào những cơ sở (căn cứ) có tính khoa học được đúc rút từ thực tiễn Việc xác định các căn cứ này có ý nghĩa quan trọng khi phân định thẩm quyền Dựa vào những căn cứ

để quy định thẩm quyền của Tòa án, các nhà làm luật tính toán cân nhắc đến mọi khả năng, dự liệu các tình huống để quy định thẩm quyền cho mỗi cấp Tòa án Các căn cứ này càng cụ thể, chi tiết thì quy định thẩm quyền càng chính xác Qua nghiên cứu, chúng tôi cho rằng, để quy định và phân định thẩm quyền của Tòa án, cần dựa vào các cơ sở sau:

1.2.1 Căn cứ vào đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về hoạt động tư pháp

Pháp luật là một trong những hình thức thể hiện của chính trị Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật của Đại học Luật Hà nội khi phân tích bản chất của pháp luật đã viết:

Nhờ nắm trong tay quyền lực nhà nước, giai cấp thống trị đã thông qua nhà nước để thể hiện ý chí của giai cấp mình một cách tập trung, thống

Trang 22

nhất và hợp pháp hoá thành ý chí của nhà nước, ý chí đó được cụ thể hoá trong các văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành [34, tr.62]

Ở nước ta, vai trò lãnh đạo của Đảng đã được khẳng định trong suốt chiều dài lịch sử gần một thế kỷ qua Đường lối, chính sách của Đảng thể hiện nguyện vọng của toàn thể nhân dân Trên thực tế, pháp luật luôn thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng thành những quy định chung, thống nhất trong toàn xã hội

Trong lĩnh vực pháp luật giải quyết tranh chấp kinh doanh, các đường lối, chính sách thể hiện trong các Nghị quyết của Đảng luôn là những căn cứ

để các nhà làm luật xây dựng các văn bản pháp luật tương ứng Năm 1972, Hội nghị lần thứ 20 Ban chấp hành Trung ương Đảng quyết nghị: “Xoá bỏ lối quản lý hành chính cung cấp, thực hiện quản lý kinh doanh theo phương thức XHCN, khắc phục cách quản lý thủ công, phân tán theo lối sản xuất nhỏ, xây dựng cách tổ chức của nền công nghiệp lớn” Và tiếp đó, cuối năm 1973, Nghị quyết 22 của Ban chấp hành Trung ương Đảng đề ra nhiệm vụ “phải tăng cường pháp chế XHCN” Thực hiện các Nghị quyết đó của Ban chấp hành Trung ương Đảng, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 54-CP ngày 10/3/1975 về chế độ HĐKT Và ngày 14/4/1975, Chính phủ ban hành Nghị định số 75/CP về điều lệ tổ chức và hoạt động của Trọng tài kinh tế Theo Nghị định này, Trọng tài kinh tế được thành lập như một cơ quan nhà nước có chức năng quản lý công tác HĐKT với nội dung: giữ vững tính kỷ luật nhà nước về HĐKT, giải quyết các tranh chấp HĐKT và xử lý các vi phạm HĐKT

Năm 1986, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đề ra đường lối đổi mới với quyết tâm: Triệt để xoá bỏ cơ chế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp, chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có

sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Với đường lối đó,

Trang 23

Đảng ta đã đặt ra nhiệm vụ phải hoàn thiện bộ máy bảo vệ pháp luật bằng công cuộc cải cách tư pháp, nhằm xây dựng một bộ máy gọn nhẹ, hoạt động

có hiệu quả với sự phân định rõ ràng về quyền hạn, nhiệm vụ cho từng mắt xích, từng tổ chức, từng cơ quan Trước yêu cầu đó, ngày 28/12/1993, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật tổ chức Tòa án nhân dân (TAND), quyết định thành lập các Toà kinh tế thuộc hệ thống TAND để giải quyết các tranh chấp kinh tế Cùng với công việc này, ngày 16/3/1994, Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh TTGQCVAKT Điều 12, Pháp lệnh TTGQCVAKT đã quy định về thẩm quyền giải quyết các vụ án kinh tế của Tòa án với phạm vi rộng hơn rất nhiều so với quy định trong các văn bản pháp luật trước đó

Ngày nay, với những thay đổi lớn lao của tình hình kinh tế - xã hội và thực tiễn xét xử thì những quy định về thẩm quyền của Tòa án các cấp được quy định trong Pháp lệnh TTGQCVAKT đã không còn phù hợp nữa Trước thực trạng đó, Đảng ta đã có nhiều Nghị quyết về công tác tư pháp trong đó nhấn mạnh yêu cầu phân định hợp lý thẩm quyền của Tòa án các cấp Cụ thể

là Nghị quyết hội nghị lần 8 Ban Chấp hành trung ương Đảng khóa VII, Nghị quyết hội nghị lần thứ 3, hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành trung ương Đảng khóa VIII, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX Các Nghị quyết của Đảng đã định hướng việc phân định thẩm quyền của Tòa án các cấp là thực hiện hai cấp xét xử, tăng thẩm quyền xét xử cho TAND cấp quận, huyện theo hướng việc xét xử sơ thẩm được thực hiện chủ yếu ở tòa án cấp này, Tòa

án cấp tỉnh chủ yếu xét xử phúc thẩm, TANDTC chủ yếu xét xử giám đốc thẩm, tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn các Tòa án địa phương thực hiện xét xử thống nhất pháp luật Mới đây, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới lại khẳng định cần khẩn trương chuẩn bị tốt điều kiện để

Trang 24

thực hiện việc tăng thẩm quyền xét xử cho Tòa án cấp huyện, đổi mới tổ chức của TANDTC để tập trung làm tốt nhiệm vụ giám đốc thẩm, tổng kết thực tiễn xét xử, hướng dẫn các Tòa án áp dụng pháp luật thống nhất Những định hướng chiến lược nêu trên là kết quả của hoạt động nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn của Đảng ta Việc tuân theo đường lối, chính sách của Đảng là một trong những yêu cầu cơ bản không thể thiếu khi xây dựng, sửa đổi các quy định về thẩm quyền của Tòa án các cấp

1.2.2 Căn cứ vào cơ cấu tổ chức của hệ thống Tòa án và các nguyên tắc hiến định trong hoạt động của Tòa án

Khác với hệ thống Tòa án của nhiều nước trên thế giới, Tòa án Việt Nam có những đặc thù về mặt tổ chức, những đặc thù này tác động không nhỏ đến việc phân định thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh của Tòa án

Cụ thể như sau:

Thứ nhất, hệ thống Tòa án của Việt Nam được tổ chức theo địa giới

hành chính Theo cách tổ chức này thì tỉnh nào, huyện nào cũng có TAND Hiện nay, Việt Nam có 64 tỉnh và 673 huyện, tương ứng với nó, chúng ta có

64 TAND cấp tỉnh và 673 TAND cấp huyện Cách tổ chức như vậy dẫn đến nhu cầu phải phân định thẩm quyền theo lãnh thổ, hoặc theo sự lựa chọn của nguyên đơn, nghĩa là, phải xác định TAND của địa phương nào sẽ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp

Thứ hai, hệ thống TAND được tổ chức ở 3 cấp là TAND cấp huyện,

TAND cấp tỉnh và TAND tối cao Điều 2 Luật Tổ chức TAND 2002 quy định:

Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có các Tòa án sau đây:

- Tòa án nhân dân tối cao;

- Các TAND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

- Các TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh [14]

Trang 25

Quy định này đặt ra cho pháp luật tố tụng một nhiệm vụ là phải quy định những vụ án nào thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND cấp huyện, những vụ án nào thuộc thẩm quyền của TAND cấp tỉnh

Thứ ba, trong TAND cấp tỉnh và TANDTC lại có các Toà chuyên

trách Điều 18 Luật Tổ chức TAND năm 2002 quy định: “Cơ cấu tổ chức của TANDTC gồm có:

- Hội đồng Thẩm phán TANDTC;

- Tòa án quân sự Trung ƣơng, Toà hình sự, Toà dân sự, Toà kinh tế, Toà lao động, Toà hành chính và các Toà phúc thẩm TANDTC;

- Bộ máy giúp việc” [14]

Điều 27 Luật Tổ chức TAND năm 2002 quy định:

“Các TAND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng gọi chung là TAND cấp tỉnh gồm có:

- Uỷ ban Thẩm phán;

- Toà hình sự, Toà dân sự, Toà kinh tế, Toà lao động, Toà hành chính;

- Bộ máy giúp việc” [14]

Với cách tổ chức nhƣ vậy đòi hỏi phải có sự phân định thẩm quyền giữa các Toà chuyên trách trong cùng một cấp Tòa án Điều này dẫn tới hệ quả là pháp luật tố tụng phải quy định những vụ án nào thuộc thẩm quyền của Toà dân sự, những vụ án nào thuộc thẩm quyền của Toà kinh tế, những vụ án nào thuộc thẩm quyền của Toà lao động

Ngoài ra, nguyên tắc hai cấp xét xử cũng là một cơ sở quan trọng để phân định thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh Nội dung của nguyên tắc hai cấp xét xử là bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do luật định thì

có hiệu lực pháp luật Đối với bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng

Trang 26

nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm Bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật Đối với bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới thì được xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm do pháp luật tố tụng quy định Như vậy, một vụ án có thể bị xét xử theo cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm và có thể có một thủ tục đặc biệt là thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm Việc xét xử theo hai cấp như trên làm cho việc xét xử của Tòa án đúng đắn hơn, khách quan, toàn diện hơn, đảm bảo tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

Tuy nhiên, do mỗi cấp xét xử không được tổ chức tương ứng với mỗi cấp Tòa án nên pháp luật tố tụng lại phải có nhiệm vụ phân định thẩm quyền cho phù hợp Theo Luật Tổ chức TAND năm 2002, TANDTC có thẩm quyền: Giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án mà bản án quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng; Phúc thẩm những vụ án mà bản án quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới trực tiếp bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng (Điều 20 Luật Tổ chức TAND) TAND cấp tỉnh có thẩm quyền:

Sơ thẩm những vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp tỉnh theo quy định của pháp luật tố tụng; Phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của TAND cấp dưới bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng; Giám đốc thẩm tái thẩm những vụ

án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực của TAND cấp dưới bị kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng (Điều 28 Luật Tổ chức TAND) TAND cấp huyện có thẩm quyền sơ thẩm những vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng (Điều 32 Luật Tổ chức TAND)

1.2.3 Căn cứ vào những đòi hỏi khách quan của thực tiễn đối với việc giải quyết tranh chấp kinh doanh

Pháp luật là sự thể chế hóa những đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống, pháp luật không thể xa rời thực tế Chính vì vậy, pháp luật tố tụng nói chung, quy định về thẩm quyền của Tòa án nói riêng luôn phải bám sát với thực tiễn

Trang 27

Trong những năm qua, nền kinh tế nước ta đã có những bước phát triển mạnh mẽ Mức tăng trưởng kinh tế tính theo GDP bình quân trong 5 năm qua (từ năm 2000 đến năm 2004) ước đạt khoảng 7,1% Thu hút vốn đầu tư nước ngoài đạt trung bình 2,4 tỷ mỗi năm [41] Ngoài ra, “trong khoảng 15 năm kể

từ thời kỳ đổi mới, Việt Nam đã ký kết trên 70 hiệp định thương mại song phương và có quan hệ thương mại song phương với trên 150 quốc gia, có trên

70 nước và khu vực, lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, có 167 nước có quan hệ ngoại giao với Việt Nam Việt Nam là thành viên của ASEAN, AFTA, APEC

và của nhiều tổ chức, diễn đàn quốc tế và khu vực” [25, tr.49] Thực tế này đặt ra đòi hỏi phải có những thay đổi nhất định đối với pháp luật Việt Nam,

kể cả pháp luật nội dung lẫn pháp luật tố tụng Chẳng hạn như có sự gia tăng của các lĩnh vực kinh doanh có yếu tố nước ngoài; hay có sự phát triển của pháp luật về sở hữu trí tuệ, phá sản; hay có sự xuất hiện của những lĩnh vực pháp luật còn mới mẻ như thương mại điện tử, môi trường, cạnh tranh lành mạnh, chống độc quyền Sự thay đổi của BLTTDS về phạm vi thẩm quyền theo vụ việc, hay sự thay đổi về cách phân định thẩm quyền giữa các cấp Tòa

án đã chứng minh phần nào sự đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn trong quy định về thẩm quyền

Ngay như sự phát triển nhanh chóng của các doanh nghiệp dân doanh, trong đó phần lớn là doanh nghiệp tư nhân đã làm cho quy định hạn chế về mặt chủ thể trong Pháp lệnh TTGQCVAKT không còn phù hợp nữa và BLTTDS đã sửa đổi quy định này để đáp ứng đòi hỏi đó

Như vậy, đòi hỏi của thực tiễn cũng là một căn cứ rất quan trọng mà các nhà làm luật phải lưu ý khi xây dựng thẩm quyền

1.2.4 Căn cứ vào tính chất xét xử

Để giải quyết một tranh chấp kinh doanh, pháp luật quy định nhiều thủ tục xét xử: xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm Yêu cầu đối

Trang 28

với mỗi thủ tục xét xử là khác nhau nên tính chất của các thủ tục xét xử cũng khác nhau

Đối với xét xử sơ thẩm, với tính chất là xét xử lần đầu nên Tòa án cấp

sơ thẩm được giải quyết toàn bộ mọi vấn đề của vụ án Đối với xét xử phúc thẩm, với tính chất là Tòa án cấp trên trực tiếp xét lại toàn bộ hay từng phần của vụ án mà bản án hoặc quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn luật định nên Tòa án cấp phúc thẩm xem xét các vấn đề kháng cáo, kháng nghị đặt ra và xét xử lại về nội dung vụ án Đối với giám đốc thẩm, tái thẩm với tính chất là xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng có vi phạm pháp luật trong việc xử lý vụ án hoặc có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung vụ án nên Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm chỉ xem xét việc áp dụng pháp luật, giải quyết vụ án của Tòa án cấp dưới có đúng hay không, có tình tiết mới được phát hiện hay không để khắc phục các sai lầm, thiếu sót của cấp dưới mà không xét xử lại

về nội dung vụ án Tính chất của các thủ tục xét xử do pháp luật quy định thể hiện bản chất của thủ tục xét xử đó Bản chất này là cơ sở để xác định nhiệm

vụ, quyền hạn của một cấp xét xử Quy định nhiệm vụ, quyền hạn của một cấp xét xử không được trái với tính chất của cấp xét xử đó mà phải bao gồm các nội dung xác định rõ Tòa án cấp đó được xét xử những vụ án nào, tranh chấp nào, phạm vi (giới hạn) xét xử và quyền quyết định đến đâu Chính các quyền năng này là nội dung thẩm quyền của Tòa án Vì thế phải căn cứ vào tính chất các thủ tục xét xử để quy định thẩm quyền của từng cấp xét xử cho phù hợp

1.2.5 Căn cứ vào năng lực giải quyết tranh chấp kinh doanh của Tòa án

Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm TAND quy định những tiêu chuẩn khác nhau đối với Thẩm phán thuộc các cấp Tòa án khác nhau Chẳng hạn để

Trang 29

đủ tiêu chuẩn làm thẩm phán TAND cấp tỉnh thì người đó phải là Thẩm phán TAND cấp huyện ít nhất là năm năm, đủ năng lực xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của TAND cấp tỉnh (Điều 21 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm TAND); để đủ tiêu chuẩn làm Thẩm phán TANDTC thì người đó phải là Thẩm phán TAND cấp tỉnh ít nhất là năm năm

và có năng lực xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của TANDTC (Điều 22 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm TAND)

Như vậy, với mỗi cấp Tòa án khác nhau, pháp luật có những đòi hỏi khác nhau về năng lực của Thẩm phán Do đó, đây cũng là một căn cứ quan trọng để phân định thẩm quyền hợp lý, tránh tình trạng quy định thẩm quyền giải quyết tranh chấp vượt quá khả năng giải quyết của Toà án

Trước đây, việc giải quyết tranh chấp kinh doanh còn khá mới mẻ đối với Tòa án Sự ra đời của Pháp lệnh TTGQCVAKT ngày 29/3/1994 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Tổ chức TAND ngày 28/12/1993 đã đánh dấu bước ngoặt của Tòa án trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp kinh doanh Bắt đầu từ thời điểm này, hệ thống TAND mới “làm quen” với lĩnh vực giải quyết tranh chấp kinh doanh Với nhận thức rằng, TAND cấp huyện còn hạn chế về năng lực giải quyết tranh chấp kinh doanh, các nhà lập pháp chỉ trao cho TAND cấp huyện một phạm vi thẩm quyền hết sức hẹp Theo Điều 13 Pháp lệnh TTGQCVAKT, TAND cấp huyện chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp HĐKT mà giá trị tranh chấp dưới 50 triệu đồng và không có nhân

tố nước ngoài

Sau 10 năm hoạt động, năng lực của TAND cấp huyện được nâng cao, Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương tăng thẩm quyền cho Tòa án cấp này BLTTDS quy định một phạm vi thẩm quyền khá rộng cho TAND cấp huyện, ngay cả những vụ án có yếu tố nước ngoài

Trang 30

Đối với các vụ án có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải

uỷ thác tư pháp cho cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án nước ngoài thường đòi hỏi cao hơn về mặt năng lực của Tòa án Chẳng hạn như các Tòa án phải thông qua Bộ ngoại giao, Bộ Tư pháp để tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho tổ chức, cá nhân nước ngoài TAND cấp huyện rất khó thực hiện thủ tục này Do đó, tuy có khác nhau về quan niệm thế nào là yếu tố nước ngoài nhưng cả Pháp lệnh TTGQCVAKT và BLTTDS đều quy định TAND cấp tỉnh giải quyết các tranh chấp có yếu tố nước ngoài này

Ngoài ra, đối với một số vụ án đáng lẽ ra là thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện nhưng được TAND cấp tỉnh lấy lên để giải quyết Đây là loại vụ án có tính chất phức tạp, hoặc vụ án có nhiều đương sự ở trên địa bàn thuộc các huyện khác nhau và xa nhau, hoặc TAND cấp huyện chưa có Thẩm phán chuyên trách để giải quyết hoặc tuy có Thẩm phán chuyên trách nhưng lại thuộc một trong các trường hợp phải thay đổi Thẩm phán mà không có Thẩm phán khác thay thế Nói cách khác, đây là những vụ án thuộc loại khó giải quyết Và các nhà làm luật đã khắc phục bằng cách đưa lên cấp tỉnh để giải quyết

Đối với các tranh chấp có tính chất chuyên ngành sâu và phức tạp như tranh chấp về sở hữu trí tuệ, tranh chấp trong nội bộ công ty, cũng đòi hỏi năng lực của Tòa án phải ở một mức độ nhất định mới giải quyết nhanh chóng, chính xác, đúng pháp luật được

Như vậy, năng lực giải quyết tranh chấp kinh doanh của Tòa án luôn là một căn cứ quan trọng để các nhà làm luật phân định thẩm quyền cho Tòa án các cấp Mặc dù có rất nhiều ý kiến cho rằng không nên quan niệm cứ vụ án nào khó là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp trên, hoặc Thẩm phán của TAND cấp tỉnh phải giỏi hơn Thẩm phán TAND cấp huyện, bởi đã là Thẩm phán thì đều phải giỏi, phải ra phán quyết đúng pháp luật Tuy nhiên,

Trang 31

trong hoàn cảnh mà những tiêu chuẩn khác nhau đối với Thẩm phán của TAND các cấp được sử dụng trong rất nhiều năm nay, thì năng lực giải quyết tranh chấp của Tòa án các cấp vẫn là một căn cứ quan trọng để phân định thẩm quyền

1.3 Các nguyên tắc phân định thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh của Tòa án

Để xác định chính xác thẩm quyền giải quyết một tranh chấp cụ thể của một Tòa án cụ thể, người ta phải căn cứ vào các nguyên tắc phân định thẩm quyền: thẩm quyền theo vụ việc, thẩm quyền theo cấp xét xử, thẩm quyền theo lãnh thổ

1.3.1 Phân định thẩm quyền theo vụ việc (thẩm quyền chung)

Phân định thẩm quyền theo vụ việc của Tòa án là việc xác định các loại tranh chấp kinh doanh thuộc thẩm quyền giải quyết của hệ thống Tòa án Việc phân định thẩm quyền theo vụ việc giúp phân biệt tranh chấp nào thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, tranh chấp nào thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan, tổ chức khác (chẳng hạn như tổ chức trọng tài thương mại) Ở Việt Nam, việc phân định thẩm quyền theo vụ việc còn giúp phân biệt tranh chấp nào được coi là tranh chấp về kinh doanh, thương mại; tranh chấp nào là tranh chấp dân sự, lao động Chúng ta đã biết, ngoài việc lựa chọn hệ thống Tòa án để giải quyết tranh chấp kinh doanh, các chủ thể kinh doanh còn có thể lựa chọn hệ thống Trọng tài thương mại Trong cơ cấu tổ chức bộ máy Tòa án của Việt Nam hiện nay, ở TAND cấp tỉnh và TANDTC còn tổ chức các toà chuyên trách: Toà Dân sự, Toà Kinh tế, Toà Lao động Bởi vậy, việc phân định này sẽ giúp cho các cơ quan nhận thức rõ nhiệm vụ và quyền hạn của mình, tránh tình trạng đùn đẩy trách nhiệm hay lấn quyền của nhau

Pháp lệnh TTGQCVAKT quy định về thẩm quyền bằng phương pháp liệt kê, theo đó, nếu vụ việc xảy ra thuộc trường hợp được các nhà làm luật

Trang 32

liệt kê tại Điều 12 của Pháp lệnh thì sẽ được giải quyết tại Toà kinh tế Thực

tế xét xử thời gian qua cho thấy, việc phân định thẩm quyền hết sức rạch ròi nhưng thiếu chính xác, lại không đầy đủ bằng phương pháp liệt kê giữa Toà kinh tế và Toà dân sự trong Pháp lệnh TTGQCVAKT đã gây rất nhiều khó khăn, vướng mắc khi áp dụng Có nhiều vụ án với nội dung tranh chấp nhỏ nhưng do nhầm lẫn về thẩm quyền đã trở thành phức tạp, phải qua nhiều lần xét xử mà vẫn không thể giải quyết dứt điểm, gây lãng phí về thời gian, tiền bạc cho các bên tranh chấp và cho các cơ quan tiến hành tố tụng

BLTTDS vẫn tiếp tục sử dụng phương pháp liệt kê để quy định thẩm quyền nhưng với phạm vi thẩm quyền rộng hơn và các quy định ít gây nhầm lẫn hơn

Pháp luật tố tụng của các nước có tổ chức Tòa án thương mại cũng sử dụng phương pháp liệt kê các tranh chấp được giải quyết tại Tòa án thương mại Tuy nhiên, so với quy định hết sức cứng nhắc của pháp luật tố tụng Việt Nam về thẩm quyền của Tòa án thì quy định về thẩm quyền của Tòa án của các quốc gia này “mềm” hơn rất nhiều Chẳng hạn như ở Pháp, trong vụ kiện giữa hai bên mà một bên không phải là thương nhân, hoặc hành vi chỉ mang tính chất thương mại đối với một bên đương sự thì bên đương sự không phải

là thương nhân hoặc không thực hiện hành vi thương mại có quyền yêu cầu Tòa án dân sự giải quyết tranh chấp Nếu là nguyên đơn, họ có thể kiện thương nhân trước Tòa án dân sự hoặc Tòa án thương mại Nếu là bị đơn, họ

có thể hoặc chấp nhận, hoặc không chấp nhận thẩm quyền của Tòa án thương mại Trong hợp đồng kinh doanh, các thương nhân có thể thoả thuận với nhau

về một Tòa án thương mại cụ thể giải quyết vụ tranh chấp sẽ phát sinh Khi tranh chấp xảy ra, nguyên đơn chỉ có thể khởi kiện ở Tòa án đó mà thôi

Ngoài ra, ở một số nước trên thế giới căn cứ vào giá trị tranh chấp để phân định thẩm quyền giải quyết của Tòa án Theo pháp luật Tố tụng của

Trang 33

CHLB Đức thì các tranh chấp kinh doanh có giá trị trên 5.000DM sẽ thuộc thẩm quyền của Tòa án thương mại còn những tranh chấp có giá trị dưới 5.000DM sẽ được xét xử bởi Tòa án cấp quận theo tố tụng dân sự chung

1.3.2 Phân định thẩm quyền theo cấp xét xử

Thẩm quyền của Tòa án theo cấp xét xử là thẩm quyền của từng cấp Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp kinh doanh theo thủ tục sơ thẩm Thực chất thẩm quyền của Tòa án các cấp là sự phân định thẩm quyền xét xử

sơ thẩm giữa Tòa án cấp quận, huyện và Tòa án cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Việc phân định này xuất phát từ nguyên tắc xây dựng hệ thống Tòa án theo cấp Tòa án Tức là có việc xét xử sơ thẩm ở cấp tỉnh và cấp huyện Việc phân định thẩm quyền sơ thẩm giữa các cấp Tòa án đảm bảo khả năng về trình độ chuyên môn và các điều kiện cần thiết cho việc giải quyết vụ việc được chính xác, nhanh chóng, đúng pháp luật

“Ở các nước có thành lập Tòa án thương mại thì đều tổ chức Tòa án thương mại theo cách là một Toà chuyên trách trong hệ thống các cơ quan tư pháp Các Tòa án thương mại này chỉ xét xử sơ thẩm Nếu có sự chống án đối với bản án sơ thẩm thì sẽ đưa ra xét xử ở Toà thượng thẩm (phúc thẩm) dân

sự như các vụ kiện dân sự” [11, tr.70-71]

Ở Việt Nam, theo quy định của Pháp lệnh TTGQCVAKT thì việc phân định thẩm quyền giữa Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp huyện dựa trên giá trị của tranh chấp Còn theo quy định của BLTTDS thì việc phân định thẩm quyền theo cấp Tòa án lại trên cơ sở tính chất của tranh chấp

1.3.3 Phân định thẩm quyền theo lãnh thổ

Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ là thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh theo phạm vi lãnh thổ Thực chất thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ là sự phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ tranh chấp giữa các Tòa án cùng cấp Việc phân định này xuất phát từ cách

Trang 34

thức tổ chức hệ thống Tòa án của nước ta là theo địa giới hành chính Theo

đó, ở địa phương nào (đến cấp huyện) cũng có TAND để giải quyết các loại tranh chấp của công dân Như vậy, việc xác định cụ thể Tòa án thuộc quận, huyện hay tỉnh nào có thẩm quyền giải quyết sẽ tránh được những chồng chéo

về thẩm quyền sơ thẩm giữa các Tòa án cùng cấp, bởi lẽ, có những vụ tranh chấp liên quan đến nhiều địa phương khác nhau

Hơn nữa, về nguyên tắc, việc phân định thẩm quyền theo lãnh thổ là nhằm xác định Tòa án có điều kiện tốt nhất để giải quyết vụ việc Bởi vậy, việc phân định thẩm quyền này sẽ đảm bảo việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, đúng đắn, tạo thuận lợi cho việc tham gia tố tụng của đương sự, thuận lợi cho việc giải quyết các vụ việc của Tòa án và thuận lợi cho việc thi hành án

Với mục tiêu và ý nghĩa như vậy, Điều 14 Pháp lệnh TTGQCVAKT đã quy định “Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án kinh tế là Tòa án nơi bị đơn có trụ sở hoặc cư trú; trong trường hợp vụ án chỉ liên quan đến bất động sản, thì Tòa án nơi có bất động sản giải quyết” [21]

Còn BLTTDS, nhằm phát huy tối đa quyền tự định đoạt của đương sự được ghi nhận ở Điều 5 của Bộ luật, ngoài quy định về Tòa án nơi bị đơn có trụ sở hoặc cư trú, quy định Tòa án nơi có bất động sản giải quyết tranh chấp,

đã cho phép đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp

Về việc phân định thẩm quyền theo lãnh thổ, pháp luật tố tụng của Pháp quy định như sau:

Khi xảy ra tranh chấp thương mại, bên nguyên đơn sẽ kiện tại Tòa án nơi

cư trú của bị đơn, nơi có trụ sở của Hội thương mại hoặc chi nhánh của

nó Còn đối với tranh chấp hợp đồng thì kiện tại Tòa án nơi giao hàng

Trang 35

hay nơi thực hiện dịch vụ; đối với việc đòi bồi thường thiệt hại thì kiện tại Tòa án nơi có hành vi gây ra thiệt hại hoặc nơi phải chịu thiệt hại; kiện đòi nợ tại Tòa án nơi ở của người mắc nợ [11, tr.72].

1.3.4 Phân định thẩm quyền theo tính chất xét xử (sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm)

Việc phân định thẩm quyền theo cấp tòa án, theo lãnh thổ hay theo sự lựa chọn của nguyên đơn chỉ là các nguyên tắc phân định thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh của Tòa án theo thủ tục sơ thẩm Ngoài thủ tục sơ thẩm, để giải quyết vụ án, pháp luật còn quy định các thủ tục xét xử khác như: thủ tục phúc thẩm, thủ tục giám đốc thẩm, thủ tục tái thẩm Mỗi loại thẩm quyền này có thể được thực hiện bởi một cấp Tòa án, nhưng cũng

có thể được thực hiện bởi các cấp tòa án khác nhau.Ví dụ, TAND cấp huyện chỉ có thẩm quyền xét xử sơ thẩm; TAND cấp tỉnh vừa có thẩm quyền xét xử

sơ thẩm, vừa có thẩm quyền xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm TANDTC có thẩm xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm

Việc quy định này xuất phát từ nguyên tắc hai cấp xét xử của Tòa án được quy định tại Điều 11 Luật Tổ chức TAND năm 2002 Theo đó, đối với bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm nếu bị kháng cáo, kháng nghị thì phải được xét xử phúc thẩm; đối với bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới thì được xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm

Nguyên tắc này đảm bảo cho việc xét xử vụ án được khách quan, toàn diện, đảm bảo cho quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Trang 36

CHƯƠNG 2 NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VỀ THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP KINH DOANH VÀ CÁC

VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO THỰC TIỄN THI HÀNH 2.1 Những quy định về thẩm quyền theo vụ việc (thẩm quyền chung)

Theo cách làm truyền thống của pháp luật tố tụng Việt Nam thì các loại tranh chấp thường được phân thành nhiều nhóm Đối với các tranh chấp kinh doanh thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án pháp luật phân thành bốn nhóm như sau: tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại; tranh chấp trong nội bộ công ty; tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ; tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại Dưới đây lần lượt xem xét từng nhóm tranh chấp kinh doanh thuộc thẩm quyền của Tòa án

2.1.1 Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại

Trước đây, theo khoản 1 Điều 12 Pháp lệnh TTGQCVAKT thì Toà án

có thẩm quyền giải quyết tranh chấp HĐKT ký giữa pháp nhân với pháp nhân, giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh

Hơn 10 năm áp dụng, quy định này đã gây ra nhiều khó khăn, vướng mắc, cụ thể là:

Thứ nhất, khó phân biệt đâu là tranh chấp HĐKT, đâu là tranh chấp

hợp đồng dân sự do có sự phân biệt không rõ ràng giữa HĐKT và hợp đồng dân sự trong các quy định của pháp luật

Theo Pháp lệnh HĐKT thì một hợp đồng được coi là HĐKT ngoài việc phải thoả mãn các dấu hiệu về hình thức, nội dung và mục đích của hợp đồng còn phải thoả mãn dấu hiệu về chủ thể, đó là phải được ký kết giữa pháp nhân với pháp nhân, pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh (Điều 1, Điều 2 Pháp lệnh HĐKT) [19] Ngoài ra, Điều 42 của Pháp lệnh HĐKT cũng công nhận hợp đồng được ký giữa pháp nhân với người làm công tác khoa học - kỹ

Trang 37

thuật, nghệ nhân, hộ kinh tế gia đình, hộ nông dân, ngư dân cá thể là HĐKT (Điều 42 Pháp lệnh HĐKT) [19] Theo khoản 1 Điều 12 Pháp lệnh TTGQCVAKT thì Tòa án chỉ giải quyết các tranh chấp về HĐKT giữa pháp nhân với pháp nhân, pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh Các văn bản hướng dẫn cũng không quy định một cách rõ ràng hợp đồng thoả mãn những dấu hiệu nào thì được giải quyết bởi Toà kinh tế và áp dụng Pháp lệnh TTGQCVAKT Sự không rõ ràng và thiếu nhất quán này của pháp luật đã gây nên rất nhiều khó khăn, lúng túng cho Tòa án trong việc xác định thẩm quyền Chúng tôi xin đưa ra một ví dụ cụ thể như sau:

Vụ án về tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hoá giữa nguyên đơn là Công ty liên doanh sản xuất gạo Việt Mỹ, có trụ sở tại Khu chế xuất Trà Nóc, tỉnh Cần Thơ và bị đơn là ông Lâm Quang Nhã (cá nhân có đăng ký kinh doanh), trú tại 135N Trần Hưng Đạo, phường An Phú, TP Cần Thơ

Nội dung và diễn biến vụ án như sau:

Công ty Việt Mỹ ký 3 hợp đồng thuê ông Nhã vận chuyển gạo từ cảng Phong Điền đến Sài Gòn và khi thực hiện hợp đồng các bên đã phát sinh tranh chấp và Công ty Việt Mỹ đã khởi kiện ra Toà dân sự TAND tỉnh Cần Thơ

Sau khi thụ lý được gần 1 năm, TAND tỉnh ra quyết định đình chỉ vụ

án chuyển sang Toà kinh tế với lý do đây là vụ án kinh tế Lại hơn 1 năm sau, Toà kinh tế cũng lại ra quyết định đình chỉ vụ án chuyển lại cho Toà dân sự cũng với lý do nêu trên

Đến lúc này, chính bị đơn cũng kháng cáo quyết định đình chỉ vụ án nêu trên, nhưng đơn chưa được giải quyết thì Toà dân sự TAND tỉnh Cần Thơ thụ lý lại vụ án và sau đó lại ra quyết định đình chỉ việc giải quyết dân sự, chuyển sang Toà kinh tế Sau nhiều lần qua lại, Toà kinh tế cũng xét xử và ra quyết định xử thua ông Nhã, nhưng lại tách một vấn đề trong vụ án thành vụ kiện riêng

Trang 38

Sau khi ông Nhã khiếu nại, TAND tối cao đã xử phúc thẩm vụ án, giảm nhẹ trách nhiệm cho ông Nhã, nhưng ông Nhã tiếp tục khiếu nại và Viện kiểm sát nhân dân tối cao cũng cho rằng, cả hai Toà án đều xét xử không đúng thẩm quyền do nguyên đơn đã hết thời hiệu khởi kiện Do đó, đề nghị Uỷ ban thẩm phán TAND tối cao huỷ cả hai bản án và đình chỉ giải quyết vụ án nói trên Nhưng sau một thời gian cân nhắc, Uỷ ban thẩm phán TAND tối cao vẫn giữ nguyên án phúc thẩm

Từ khi vụ án bắt đầu cho đến khi vụ án kết thúc kéo dài trong 5 năm (nộp đơn khởi kiện ngày 15/10/1996, quyết định cuối cùng của Ủy ban thẩm phán TAND tối cao ngày 14/5/2001)

Như vậy, không xét đến việc ra quyết định đình chỉ hay tạm đình chỉ hết sức tuỳ tiện của các Tòa án cấp sơ thẩm, với chỉ với một vụ tranh chấp về hợp đồng vận chuyển nhưng do các cơ quan Tòa án lúng túng trong việc xác định hợp đồng nêu trên là hợp đồng dân sự hay HĐKT nên đã khiến cho vụ việc trên kéo dài trên 5 năm, gây lãng phí về thời gian và tiền bạc của người dân và của Nhà nước

Thứ hai, nhiều tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh giữa các

chủ thể kinh doanh với nhau nhưng không được giải quyết theo tố tụng kinh

tế Ví dụ, tranh chấp hợp đồng giữa các chủ thể kinh doanh không có tư cách pháp nhân (doanh nghiệp tư nhân - doanh nghiệp tư nhân; doanh nghiệp tư nhân - công ty hợp danh; công ty hợp danh - công ty hợp danh ); các tranh chấp hợp đồng không được ký bằng văn bản; các tranh chấp HĐKT giữa pháp nhân với người hoạt động khoa học - kỹ thuật, nghệ nhân, hộ kinh tế gia đình,

hộ nông dân, ngư dân cá thể

Đây là một điều bất hợp lý của Pháp lệnh TTGQCVAKT Chúng ta cũng biết rằng, doanh nghiệp tư nhân là loại chủ thể phổ biến, chiếm số lượng nhiều nhất trong cơ cấu các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế, vai trò của

Trang 39

doanh nghiệp tư nhân trong việc đóng góp vào sự phát triển kinh tế là vô cùng

to lớn và càng ngày vị trí của doanh nghiệp tư nhân càng được khẳng định Vì vậy, việc các doanh nghiệp tư nhân có quan hệ hợp tác làm ăn với nhau, trong

đó có quan hệ hợp đồng là hết sức phổ biến Thực tế này dẫn đến một hệ quả

là khi tranh chấp xảy ra, doanh nghiệp tư nhân cũng có đòi hỏi việc giải quyết tranh chấp phải diễn ra nhanh chóng, dứt điểm Đòi hỏi này, tất nhiên, chỉ được đáp ứng một cách tối ưu nhất, khi có sự tham gia giải quyết của hệ thống toà kinh tế hay thẩm phán kinh tế

Quy định này cũng gây ra tình trạng bất bình đẳng trong việc giải quyết tranh chấp của các thương nhân Chúng ta biết rằng, ở Việt Nam, bên cạnh hoạt động kinh doanh (kinh tế) còn tồn tại hoạt động thương mại Chủ thể của hoạt động thương mại là các thương nhân Theo quy định tại Điều 5 Luật thương mại, “Thương nhân gồm cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình

có đăng ký kinh doanh hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên” [13] Tuy nhiên, pháp luật tố tụng nước ta lại không có một quy chế riêng để giải quyết tranh chấp xảy ra của loại chủ thể là thương nhân này Vì vậy, khi tranh chấp xảy ra, dấu hiệu chủ thể là một trong những dấu hiệu chủ yếu để xem xét vụ việc thuộc thẩm quyền của Toà kinh tế hay Toà dân sự, theo thủ tục Tố tụng dân sự hay là thủ tục Tố tụng kinh tế Thực tế này dẫn đến hậu quả là, cùng là tranh chấp của thương nhân nhưng lại có thể được giải quyết theo những thủ tục tố tụng khác nhau với những Tòa án khác nhau

Thứ ba, còn có loại hợp đồng được ký giữa pháp nhân với pháp nhân

nhưng không nhằm mục đích kinh doanh, cũng không nhằm mục đích sinh hoạt tiêu dùng, thì vẫn còn có sự quy định không rõ ràng trong Pháp lệnh TTGQCVAKT Pháp lệnh HĐKT không quy định rõ là cả hai bên chủ thể đều phải có mục đích kinh doanh hay chỉ một chủ thể có mục đích kinh doanh Chẳng hạn như hợp đồng được ký giữa Công ty xây dựng X với Học viện Tư

Trang 40

pháp về việc xây dựng trụ sở Rõ ràng, đối với Công ty xây dựng X đây là hợp đồng phục vụ cho mục đích kinh doanh, nhưng với Học viện Tư pháp, hợp đồng này không phục vụ cho mục đích kinh doanh nhưng cũng không phục vụ cho mục đích sinh hoạt, tiêu dùng Vậy, đây là HĐKT hay hợp đồng dân sự thì vẫn chưa có cách hiểu thống nhất Sự quy định không rõ ràng này dẫn đến thực trạng là các Tòa án khác nhau có cách hiểu khác nhau khi thụ lý giải quyết loại tranh chấp hợp đồng nói trên Có Tòa án có thể cho rằng, hợp đồng nói trên là HĐKT và thuộc phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh TTGQCVAKT, có Tòa án lại cho rằng loại hợp đồng này không phải là HĐKT nên không thuộc phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh TTGQCVAKT

Còn hiện nay, tại khoản 1, Điều 29 BLTTDS quy định như sau: Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức

có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận bao gồm:

a) Mua bán hàng hóa; b) Cung ứng dịch vụ; c) Phân phối; d) Đại diện, đại lý; đ) Ký gửi; e) Thuê, cho thuê, thuê mua; g) Xây dựng; h) Tư vấn, kỹ thuật; i) Vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường thủy nội địa; k) Vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không, đường biển; l) Mua bán cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác; m) Đầu tư, tài chính, ngân hàng; n) Bảo hiểm; o) Thăm dò, khai thác [1]

Như vậy, so với quy định tại khoản 1 Điều 12 Pháp lệnh, quy định về một trong những loại việc thuộc thẩm quyền chung trong BLTTDS, tại khoản

1, Điều 29 có những điểm mới sau:

Thứ nhất, BLTTDS không dùng khái niệm “tranh chấp về HĐKT” mà

dùng khái niệm “tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thương mại” và đã liệt kê các hành vi kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án với phạm vi rộng hơn nhiều so với các quy định trong khoản 1 Điều

Ngày đăng: 24/01/2021, 19:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w