1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số khía cạnh pháp lý về thẻ thanh toán và thực tiễn điều chỉnh pháp luật về thẻ thanh toán ở việt nam hiện nay

76 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 612,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thẻ thanh toán không đơn thuần chỉ là một miếng plastic có kích thước tiêu chuẩn dùng để thanh toán hàng hóa, dịch vụ mà thẻ thanh toán là loại chứng chỉ đặc biệt thể hiện sự cam kết của

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

PHẠM DANH CHƯƠNG

Mét Sè khÝa c¹nh ph¸p lý vÒ thÎ thanh to¸n

vµ thùc tiÔn ®iÒu chØnh ph¸p luËt vÒ thÎ thanh to¸n ë viÖt nam hiÖn nay

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 60.38.50

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS.TS LÊ HỒNG HẠNH

HÀ NỘI NĂM 2006

Trang 2

Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Phó giáo sư - Tiến sỹ luật học Lê Hồng Hạnh, người thầy đã dành nhiều thời gian và công sức để hướng dẫn tôi hoàn thành Luận văn Xin trân trọng cảm

ơn các thầy cô giáo Trường Đại học Luật Hà Nội đã giúp trang bị những kiến thức cần thiết cho tôi trong thời gian đào tạo tại nhà trường Xin cám ơn các đồng nghiệp tại Phòng Pháp chế - Chế độ Ngân hàng

Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành Luận văn này

Trang 3

MỤC LỤC

Chương 1 THẺ THANH TOÁN VÀ SỰ CẦN THIẾT ĐIỀU CHỈNH PHÁP

LUẬT VỀ THẺ THANH TOÁN

6

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của thẻ thanh toán 6

1.2 Vai trò của thẻ thanh toán trong nền kinh tế 14

1.3 Các quan hệ pháp lý phát sinh từ việc phát hành, sử dụng,

1.3.1 Các quan hệ pháp lý phát sinh từ việc phát hành thẻ 17

1.3.2 Các quan hệ pháp lý phát sinh từ việc sử dụng thẻ 21

1.3.3 Các quan hệ pháp lý phát sinh từ việc thanh toán thẻ 22

1.4.4 Rủi ro trong khâu công nghệ ngân hàng, công nghệ thông tin 32

1.5 Sự cần thiết điều chỉnh pháp luật về thẻ thanh toán 32

Chương 2 THẺ THANH TOÁN TRONG PHÁP LUẬT

VIỆT NAM HIỆN HÀNH

34

2.1 Tổng quan về sự phát triển của thẻ thanh toán 34

2.1.1 Thực trạng phát triển của thị trường thẻ thanh toán trên thế giới 34

Trang 4

2.1.2 Thực trạng phát triển của thị trường thẻ thanh toán tại Việt Nam 37

2.1.3 Thực trạng rủi ro và kiểm soát rủi ro trong kinh doanh thẻ tại

2.2 Các quy định của pháp luật hiện hành về thẻ thanh toán 47

Chương 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỀ VIỆC XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THẺ THANH TOÁN

3.2.2 Hoàn thiện chính sách quản lý ngoại hối đối với thẻ thanh toán 56

3.2.3 Hoàn thiện chính sách tín dụng đối với thẻ thanh toán 56

3.2.8 Xây dựng các quy tắc an toàn, tiêu chuẩn, chuẩn mực tối thiểu

3.2.9 Nâng cao nhận thức của người dân về thẻ thanh toán thông qua việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về thẻ thanh toán 65

Trang 5

2.1 Giá trị giao dịch bán trên toàn cầu 1995 - 2005 35 2.2 Tỷ lệ giá trị giao dịch bán thẻ tín dụng quốc tế năm 2005 36 2.3 Tình hình phát hành thẻ nội địa Việt Nam 2004 38 2.4 Tình hình sử dụng thẻ nội địa năm 2004 39 2.5 Tình hình phát hành thẻ nội địa năm 2005 40 2.6 Tình hình phát hành thẻ quốc tế năm 2004 40 2.7 Tình hình sử dụng thẻ quốc tế tại Việt Nam 2004 41 2.8 Tình hình thanh toán thẻ quốc tế năm 2004 42 2.9 Hệ thống máy ATM tại Việt Nam 43

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ACB : Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu

ATM : Máy rút tiền tự động (Automatic Teller Machine)

BIDV : Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam

ĐLPHT : Đại lý phát hành thẻ

ĐVCNT : Đơn vị chấp nhận thẻ

EAB : Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á

EDC/CAT : Máy thanh toán thẻ (máy cà thẻ) điện tử

ICB : Ngân hàng Công thương Việt Nam

MASTERCARD : Tổ chức thẻ MasterCard quốc tế

NHPHT : Ngân hàng phát hành thẻ

NHTTT : Ngân hàng thanh toán thẻ

TCB : Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam TCTQT : Tổ chức thẻ quốc tế

VBARD : Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam VCB : Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

VISA : Tổ chức thẻ Visa quốc tế

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Cùng với sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ, nhất là trong lĩnh vực điện tử và tin học, phương thức thanh toán bằng thẻ đã ra đời, phát triển mạnh mẽ và trở nên thông dụng thay thế dần phương thức thanh toán bằng tiền mặt truyền thống

Thẻ thanh toán là một sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại, là kết quả của việc ứng dụng công nghệ thông tin, truyền thông trong hoạt động ngân hàng Với nhiều ưu điểm và tiện ích mà thẻ thanh toán mang lại cho khách hàng, cũng như vai trò của lĩnh vực hoạt động này trong việc nâng cao thương hiệu của ngân hàng và thu hút khách hàng tiềm năng, hoạt động kinh doanh thẻ thẻ thanh toán đã nhanh chóng trở thành một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt hữu hiệu nhất của nền kinh tế

Tuy nhiên, để đáp ứng sự phát triển nhanh chóng của thẻ thanh toán thì cần phải xây dựng một khung pháp luật đầy đủ, phù hợp với khả năng dự báo các vấn đề sẽ phát sinh trong lĩnh vực thanh toán thẻ nhằm điều chỉnh một cách toàn diện lĩnh vực này

Từ năm 1990, hình thức thanh toán thẻ đã du nhập vào Việt Nam nhưng thị trường thẻ Việt Nam mới chỉ thực sự sôi động mấy năm gần đây với sự xuất hiện ồ ạt của nhiều loại thẻ thanh toán với nhiều thương hiệu khác nhau

Sự phát triển của thẻ thanh toán đã khẳng định vị trí vững vàng của thẻ thanh toán trong nghiệp vụ của các ngân hàng thương mại Tuy nhiên, sự phát triển của thẻ thanh toán ở Việt Nam vẫn chưa xứng tầm với vai trò của nó đối với nền kinh tế Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân như: Thói quen thanh toán bằng tiền mặt trong đời sống, sinh hoạt, nhận thức của người dân

về thanh toán thẻ còn hạn chế… Đặc biệt là các cơ sở pháp lý về thẻ thanh toán còn chưa được giải quyết triệt để, dẫn tới khó khăn trong việc áp dụng

Trang 8

Trong khi đó ở Việt Nam hầu như chưa có một công trình luật học nào nghiên cứu một cách đầy đủ, hệ thống về thẻ thanh toán

Vì vậy, việc nghiên cứu để hoàn thiện khung pháp lý điều chỉnh các vấn

đề về thẻ thanh toán đang là một nhu cầu cấp bách và cần thiết trong giai đoạn hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trên thế giới, thẻ thanh toán và việc nghiên cứu về thẻ thanh toán không còn nhiều mới mẻ Các tổ chức thẻ quốc tế như Visa, MasterCard, American Express, JCB, Diner Club…đã tổ chức nhiều chương trình nghiên cứu, tổ chức nhiều diễn đàn, chương trình đào tạo… về thẻ thanh toán

Ở Việt Nam, thẻ thanh toán vẫn còn khá mới mẻ nhưng pháp luật hiện

hành cũng đã có quy định về lĩnh vực này, đó là: “Quy chế về phát hành, sử

dụng và thanh toán thẻ ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định số 371/1999/QĐ-NHNN1 ngày 19/10/1999” của Ngân hàng Nhà nước

Bên cạnh đó, các cuộc hội thảo về thẻ thanh toán cũng thường xuyên được

tổ chức như: Hội thảo “Công nghệ thông tin với mở rộng thanh toán không dùng

tiền mặt tại Việt Nam” do Cục Công nghệ Tin học Ngân hàng (Ngân hàng Nhà

nước Việt Nam) và Tập đoàn dữ liệu Quốc tế (IDJ) phối hợp tổ chức tại Hà Nội

trong hai ngày 15-16/6/2004, Hội thảo: “Quản lý rủi ro và giả mạo thẻ” do Hội

thẻ Ngân hàng Việt Nam phối hợp với Tổ chức thẻ quốc tế MasterCard tổ chức

vào ngày 14/12/2005, Hội thảo “Thanh toán không dùng tiền mặt trong khu vực

Chính phủ: Giải pháp thẻ thương mại” do Ngân hàng Nhà nước tổ chức vào

ngày 24/3/2006, Hội thảo “Các biện pháp phòng ngừa gian lận thẻ” do Hiệp hội

thẻ Ngân hàng Việt Nam tổ chức vào ngày 07/4/2006…

Thẻ thanh toán cũng được một số tác giả đi sâu nghiên cứu như:

- Tác giả Nguyễn Danh Lương với Luận án Tiến sĩ kinh tế: “Những giải

pháp nhằm phát triển thanh toán thẻ ở Việt Nam”

Trang 9

- Tác giả Trần Hoàng Anh với Luận văn Thạc sĩ: “Khảo sát thị trường

thẻ tín dụng tại Tp.Hồ Chí Minh”

- PGS.TS Lê Văn Tề, Thạc sĩ Trương Thị Hồng với đề tài “Thẻ thanh

toán quốc tế và việc ứng dụng thẻ thanh toán tại Việt Nam”

- Một số khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp của các sinh viên Học viện Ngân hàng cũng đề cập tới vấn đề này

Ngoài ra, cũng có một số bài viết về thẻ thanh toán trên tạp chí, báo chuyên ngành như Tạp chí Ngân hàng, Thời báo Ngân hàng, các Báo điện tử trên mạng Internet

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu đã nêu chỉ xem xét thẻ từ góc độ kinh tế, cụ thể là quan hệ thanh toán, tín dụng… chưa đi sâu nghiên cứu và đưa ra các giải pháp cụ thể về mặt pháp lý

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Trong khuôn khổ một bản Luận văn Thạc sĩ với một đề tài mới, với khả năng nghiên cứu và nguồn tài liệu tham khảo còn hạn chế công trình nghiên cứu này chưa thể bao quát hết được các vấn đề pháp lý về thẻ thanh toán mà chỉ dừng lại ở những tiếp cận ban đầu và các giải pháp mang tính gợi mở Luận văn không nhằm cung cấp tất cả các vấn đề pháp lý liên quan tới thẻ thanh toán mà chỉ nhằm giới thiệu về thẻ thanh toán và nghiên cứu một số vấn đề pháp lý đặt ra đối với thẻ thanh toán

Luận văn cũng đưa ra một cách tổng quát về sự phát triển của thẻ thanh toán và thực trạng điều chỉnh pháp luật về thẻ thanh toán ở Việt Nam hiện nay

Trên cơ sở đó Luận văn cũng đưa ra một số gợi ý và đề xuất một vài vấn

đề chủ yếu để hoàn thiện khung pháp luật điều chỉnh và thẻ thanh toán và đảm bảo cho khung pháp luật đó được khả thi trên thực tế

Trang 10

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Phương pháp luận để nghiên cứu đề tài này là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử kết hợp song song với các phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê, so sánh, sơ đồ

Phương pháp phân tích được dùng để làm rõ khái niệm, bản chất của thẻ thanh toán, các vấn đề pháp lý đặt ra đối với thẻ thanh toán, làm rõ thực trạng điều chỉnh của pháp luật Việt Nam về thẻ thanh toán

Phương pháp thống kê, so sánh được sử dụng để làm rõ sự phát triển của thẻ thanh toán Ngoài ra, luận văn cũng sử dụng các bảng biểu, sơ đồ, số liệu trong và ngoài nước để phân tích, chứng minh các nội dung liên quan

Trên cơ sở đó, phương pháp tổng hợp được sử dụng để khái quát hóa nhằm đưa ra những đề xuất, kiến nghị của luận văn

5 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Thông qua việc nghiên cứu có hệ thống các vấn đề lý luận về thẻ thanh toán, các quy định của pháp luật thực định về thẻ thanh toán…Luận văn nhằm mục đích làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoàn thiện khung pháp luật điều chỉnh các quan hệ về thẻ thanh toán

Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là:

Thứ nhất, nghiên cứu các quan điểm về thẻ thanh toán, các quan hệ phát

sinh trong quá trình phát hành, sử dụng, thanh toán thẻ, các rủi ro phát sinh trong hoạt động kinh doanh thẻ, sự cần thiết điều chỉnh pháp luật về thẻ thanh toán

Thứ hai, nghiên cứu, phân tích, làm rõ thực trạng phát triển của thị

trường thẻ thanh toán ở Việt Nam và các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về thẻ thanh toán

Thứ ba, nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm xây dựng

và hoàn thiện các quy định của pháp luật về thẻ thanh toán

Trang 11

6 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được bố cục thành 03 chương:

- Chương 1: Thẻ thanh toán và sự cần thiết điều chỉnh pháp luật về thẻ thanh toán

- Chương 2: Thẻ thanh toán trong pháp luật Việt Nam hiện hành

- Chương 3: Một số kiến nghị về việc xây dựng và hoàn thiện các quy định của pháp luật về thẻ thanh toán

Trang 12

Chương 1 THẺ THANH TOÁN VÀ SỰ CẦN THIẾT ĐIỀU CHỈNH

PHÁP LUẬT VỀ THẺ THANH TOÁN

1.1 Khái niệm, bản chất của thẻ thanh toán

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của thẻ thanh toán

Lịch sử hình thành của thẻ thanh toán bắt đầu từ năm 1914 bằng việc các Liên hiệp miền Tây nước Mỹ cấp cho các khách hàng truyền thống của mình những tấm thẻ được sử dụng cho những dịch vụ đặc biệt Sau đó hàng loạt các khách sạn, nhà hàng, công ty…cũng đã cho ra đời các tấm thẻ của mình Năm 1946, hệ thống mua bán chịu do John Biggins sáng lập đã phát hành tấm thẻ tín dụng đầu tiên với tên gọi là Charg-It cho phép các khách hàng không cần trả tiền ngay cho những giao dịch mua bán lẻ tại địa phương Các cơ sở chấp nhận thẻ nộp biên lai bán hàng vào ngân hàng của Biggins, ngân hàng sẽ trả tiền cho họ và thu lại từ khách hàng sử dụng Charg-It

Đến cuối năm 1949, sau sự kiện bị từ chối thanh toán bằng séc trong khi không mang tiền mặt tại một quán ăn, ông Frank Mc Namara, một doanh nhân người Mỹ đã sáng chế ra chiếc thẻ Diner Club phát hành cho các hội viên của Diner Club sử dụng tại 27 cửa hiệu quen thuộc tại New York Diner Club trả cho các chủ hiệu tiền thanh toán thẻ hàng tháng sau khi đã trừ đi chi phí dịch vụ thẻ cùng với yêu cầu các chủ thẻ phải thanh toán ngay số tiền khi nhận được bảng kê

Năm 1951, các ngân hàng đã bắt đầu quan tâm tới thẻ thanh toán Mở đầu bằng việc Ngân hàng quốc gia Franklin ở Long Island, New York (nay là European American Bank - EAB) phát hành tấm thẻ tín dụng ngân hàng đầu tiên, theo đó thì ngân hàng sẽ xem xét uy tín và khả năng tài chính của người

có nhu cầu sử dụng để cấp cho họ một giá trị tín dụng và một loại thẻ dùng để

Trang 13

mua hàng hóa hoặc sử dụng dịch vụ Ngân hàng phát hành sẽ thanh toán cho người bán hàng trị giá hàng đã bán sau khi trừ đi khoản phí đã thỏa thuận trước và sẽ quản lý các trị giá đã sử dụng của các chủ thẻ như những khoản nợ vay ngân hàng

Năm 1953, Schneider và Alfred Blooming Dale đã tiếp nhận hệ thống Diner Club từ Franklin Mc Namara và tiếp tục phát triển hệ thống này

Năm 1955, theo chân Diner Club, hàng loạt các loại thẻ khác ra đời như Gold Key, Esquire Club, Gourmet Club, Trip Charge…đánh dấu một bước phát triển mới của thẻ thanh toán

Năm 1958, American Express Company - một tổ chức phi ngân hàng -

đã phát hành thẻ American Express Card (Amex) Loại thẻ này được Carte Blanch phát triển vào những năm 1960 và nó đã thống lĩnh thị trường thẻ thời bấy giờ

Trong giai đoạn này, phần lớn thẻ thanh toán được dùng bởi những người có tiềm lực kinh tế, có vị thế trong xã hội nhưng các ngân hàng đã nhận thấy giới bình dân mới là đối tượng sử dụng thẻ tiềm năng và họ đã lao vào cuộc đua tranh

Năm 1960, Ngân hàng Mỹ (Bank of America) đã phát hành tấm thẻ đầu tiên cho mọi đối tượng sử dụng với tên gọi Bank Americard Bank Americard

đã mang lại sự phát đạt cho Bank of America Những thành công của Bank Americard đã thúc đẩy các nhà phát hành thẻ khác trên khắp nước Mỹ liên kết với nhau để cạnh tranh với loại thẻ này

Năm 1966, mười bốn ngân hàng hàng đầu của Mỹ đã thành lập Hiệp hội thẻ liên Ngân hàng để phối hợp hoạt động với tên gọi là Interbank Card Association (ICA) để giúp thẻ của họ có khả năng cạnh tranh với hệ thống thẻ Bank Americard

Trang 14

Năm 1967, bốn ngân hàng bang California lập ra Hiệp hội thẻ các bang Miền Tây (Western State Bank Card Association - WSBA) WSBA đã phát hành thẻ Master Charge cũng để cạnh tranh chủ yếu với Bank Americard Nhưng sau đó, WSBA đã bán thương hiệu Master Charge của mình cho ICA và từ đó ICA đã lấy Master Charge làm tên thẻ và biểu tượng của mình Với sự xuất hiện của hai loại thẻ lớn nhất là Bank Americard và Master Charge, từ 1968 các ngân hàng đã không còn đơn lẻ tham gia vào lĩnh vực thẻ thanh toán trừ một vài trường hợp ngoại lệ Các hiệp hội, chương trình thẻ đang hoạt động độc lập khác cũng dần sáp nhập vào một trong hai tổ chức thẻ nói trên

Năm 1976, Bank Americard được đổi tên thành Visa và kể từ đó thẻ tín dụng Visa đã trở nên thông dụng trên thế giới

Cũng trong khoảng thời này ICA đã mở rộng thành viên từ Châu Phi tới Châu Úc Để thể hiện cam kết vì sự phát triển toàn cầu mà ICA đã đổi tên thẻ Master Charge thành MasterCard và cũng kể từ đó thì MasterCard cũng trở thành một thương hiệu mạnh đủ sức cạnh tranh với Visa

Cùng với sự phát triển của hai thương hiệu thẻ trên, hàng loạt các thương hiệu thẻ khác cũng được ra đời bởi các định chế tài chính khác làm cho thị trường thẻ ngày càng phong phú: American Express (Amex), Diner Club, JCB, Euro Card

Tính đến thời điểm hiện nay, thẻ thanh toán đã trở thành một phương tiện thanh toán thông dụng và không thể thiếu trong đời sống kinh tế xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới

Ở Việt Nam, thẻ thanh toán mới chỉ xuất hiện từ những năm 1990 mà

mở đầu là sự kiện Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam ký kết Hợp đồng đại lý thanh toán thẻ với Ngân hàng BFCE Singapore vào ngày 27/6/1990

Trang 15

Ngay sau đó, tháng 7 năm 1990, Ngân hàng Sài Gòn Công Thương - ngân hàng liên doanh với một công ty con của Tyndall Group của Anh - thành lập nên Trung tâm thanh toán Visa tại thành phố Hồ Chí Minh

Ngày 24/7/1991, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam lại tiếp tục ký Hợp đồng đại lý thanh toán thẻ tín dụng quốc tế MasterCard với Công ty thẻ MBF Malaysia

Ngày 18/9/1991, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam ký Hợp đồng đại lý thanh toán thẻ JCB Card với Công ty JCB International Co.Ltd của Nhật Bản Tuy nhiên, thẻ thanh toán chỉ thực sự được phát hành tại Việt Nam qua

sự kiện Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam thí điểm phát hành thẻ Vietcombank Card (VCB Card) vào ngày 01/7/1993

Năm 1994, một số ngân hàng khác cũng tham gia thị trường thanh toán thẻ như Ngân hàng Công thương Việt Nam với thẻ Visa, Eximbank với thẻ Visa và MasterCard…

Cho đến nay, ở Việt Nam đã có 17 ngân hàng thương mại tham gia phát hành thẻ nội địa với các thương hiệu như: Thẻ đa năng của Ngân hàng Đông

Á, Connect 24 của Vietcombank, Cash Card của Incombank, Power của BIDV, Access của Techcombank…

Về lĩnh vực phát hành thẻ quốc tế thì hiện có 6 ngân hàng thương mại tham gia phát hành thẻ quốc tế cho các thương hiệu nổi tiếng như Visa, MasterCard, JCB, Amex, Diner Club…

Về lĩnh vực liên kết thẻ, hiện tại mới có 3 liên minh thẻ là Liên minh giữa Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam với 17 ngân hàng thương mại cổ phần, Công ty cổ phần chuyển mạch tài chính quốc gia - Banknet (có 14 ngân hàng thương mại tham gia với VDC), Hệ thống VNBC (có 4 ngân hàng thương mại tham gia) Tuy nhiên, trên thực tế các liên minh thẻ này chưa đi vào hoạt động

Trang 16

1.1.2 Khái niệm, bản chất của thẻ thanh toán

Khi nhắc tới thẻ thanh toán ai cũng nghĩ ngay tới một tấm plastic có kích thước tiêu chuẩn trên đó có biểu tượng của một ngân hàng phát hành, tên người sử dụng thẻ, số thẻ…dùng để rút tiền tại các máy ATM hay dùng để thanh toán hàng hóa, dịch vụ tại các cơ sở chấp nhận thẻ (POS) Tuy nhiên, không phải ai cũng nắm rõ được khái niệm và bản chất của thẻ thanh toán Hiện nay có nhiều cách định nghĩa khác nhau về thẻ thanh toán tùy thuộc vào góc độ nhìn nhận của các nhà nghiên cứu nhưng tất cả các định nghĩa đều nhằm một mục đích là nêu bật được nội dung của thẻ thanh toán một cách khái quát nhất

Dưới góc độ cấu tạo vật lý, thẻ thanh toán là một miếng plastic có kích thước tiêu chuẩn và có một dải băng từ ở mặt sau ghi thông tin về thẻ và chủ thẻ, cũng có thể có chip điện tử để ghi các thông tin phụ thêm khác

Dưới góc độ phát hành, thẻ thanh toán là một công cụ thanh toán được phát hành bởi các ngân hàng, các tổ chức tài chính hay các công ty

Dưới góc độ công nghệ thanh toán, thẻ thanh toán là phương thức thanh toán ghi sổ điện tử số tiền của các giao dịch cần thanh toán thông qua hệ thống thanh toán được kết nối giữa các chủ thể tham gia dựa trên nền tảng công nghệ ngân hàng, tin học và viễn thông Nó cho phép thực hiện thanh toán nhanh chóng, thuận lợi và an toàn đối với các chủ thể tham gia

Dưới góc độ mục đích sử dụng, thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ không dùng tiền mặt hoặc có thể được dùng

để rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động, các ngân hàng đại lý

Nhìn chung tất cả các định nghĩa trên đều chỉ ra rằng thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán nhưng các định nghĩa đó chưa nêu bật được đầy

đủ bản chất pháp lý của thẻ thanh toán

Trang 17

Thẻ thanh toán không đơn thuần chỉ là một miếng plastic có kích thước tiêu chuẩn dùng để thanh toán hàng hóa, dịch vụ mà thẻ thanh toán là loại chứng chỉ đặc biệt thể hiện sự cam kết của tổ chức phát hành bảo đảm thanh toán cho những khoản tiền do chủ thẻ sử dụng bằng tiền của tổ chức phát hành cho chủ thẻ vay hoặc tiền của chính chủ thẻ đã gửi tại tổ chức phát hành Việc thanh toán qua thẻ thực chất là việc chủ thẻ ủy nhiệm cho tổ chức phát hành thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình bằng các bút toán ghi trên tài khoản của chủ thẻ có tại tổ chức phát hành thông qua hệ thống thanh toán điện tử được kết nối giữa các chủ thể tham gia dựa trên nền tảng công nghệ ngân hàng, tin học và viễn thông Vì vậy, thẻ thanh toán là một phương thức thanh toán điện tử không dùng tiền mặt

Về mục đích sử dụng của thẻ thanh toán cũng không còn bó hẹp trong từng lĩnh vực cụ thể như lúc mới hình thành Với một tấm thẻ, khách hàng có thể vừa dùng để vừa mua hàng, rút tiền mặt, chuyển khoản, xem sao kê tài khoản của mình tại ngân hàng, giao dịch mua bán qua Internet, trả cước phí dịch vụ công cộng Chủ thẻ có thể vừa sử dụng bằng tiền gửi của mình tại ngân hàng, vừa sử dụng tiền vay nếu được ngân hàng chấp nhận…Tóm lại, mục đích sử dụng của thẻ thanh toán là nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của chủ thẻ trên cơ sở sự đáp ứng về mặt công nghệ

Có thể định nghĩa về thẻ thanh toán như sau: Thẻ thanh toán là một công

cụ thanh toán không dùng tiền mặt do ngân hàng, các tổ chức tài chính hoặc các công ty phát hành được người sở hữu thẻ sử dụng để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của mình, kể cả rút tiền mặt, thực hiện các dịch vụ tự động do ngân hàng hoặc các tổ chức khác cung cấp thông qua hệ thống thanh toán điện tử

1.1.3 Phân loại thẻ:

1.1.3.1 Dựa vào công nghệ sản xuất và đặc tính kỹ thuật, người ta chia thẻ thanh toán thành ba (03) loại chính:

Trang 18

- Thẻ khắc chữ nổi (Embossing Card): Đây là loại thẻ được sản xuất dựa trên công nghệ khắc chữ nổi, các thông tin cơ bản được khắc nổi trên thẻ

- Thẻ từ (Magnetic Stripe): Đây là loại thẻ được sản xuất dựa trên kỹ thuật thư tín với một băng từ có hai (02) hoặc ba (03) dải ghi các thông tin cần thiết Các thông tin này thường là các thông tin cố định về chủ thẻ và về thẻ cũng như số liệu kết nối

- Thẻ thông minh - Thẻ Chip (Smart Card): Đây là loại thẻ được sản xuất dựa trên nền tảng kỹ thuật vi xử lý Mặt trước của thẻ được gắn một chip điện

tử theo nguyên tắc xử lý như một máy tính nhỏ

1.1.3.2 Dựa vào tính chất thanh toán, người ta chia thẻ thanh bốn (04) loại chính:

- Thẻ ghi nợ (Debit Card): Đây là loại thẻ được dùng để thanh toán, chi trả hoặc rút tiền mặt trên cơ sở số tiền của chính chủ thẻ gửi tại ngân hàng Thẻ này không tạo tín dụng và hoạt động theo nguyên tắc tương tự thẻ ATM Mỗi lần sử dụng, ngân hàng sẽ tự động trừ ngay số tiền tương ứng trên tài khoản của chủ thẻ Thẻ ghi nợ có hai loại cơ bản:

+ Thẻ online: là loại thẻ mà giá trị những giao dịch được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản chủ thẻ

+ Thẻ offline: là loại thẻ mà giá trị những giao dịch được khấu trừ vào tài khoản của chủ thẻ sau đó vài ngày

- Thẻ tín dụng (Credit Card): Đây là loại thẻ được sử dụng rất phổ biến, theo đó chủ thẻ sẽ được cấp một khoản tín dụng không phải trả lãi (nếu chủ thẻ hoàn trả số tiền sử dụng đúng thời hạn, thường là cuối tháng) để mua hàng hóa dịch vụ tại những cơ sở chấp nhận loại thẻ này hoặc để rút tiền mặt tại quầy giao dịch của ngân hàng Hạn mức tín dụng này tương đối nhỏ so với các khoản vay thông thường và khác nhau đối với từng loại khách hàng khác nhau theo chính sách của từng ngân hàng

Trang 19

- Thẻ thanh toán trả sau (Charge Card): Loại thẻ này thường do các tổ chức phi ngân hàng phát hành; đơn vị phát hành thẻ sẽ tham gia giải quyết trực tiếp mọi giao dịch giữa chủ thẻ và cơ sở chấp nhận thẻ; là loại thẻ không quy định trước hạn mức chi tiêu, cuối tháng khách hàng sẽ phải thanh toán theo bảng kê thông báo tài khoản

- Thẻ rút tiền mặt (Cash Card): Đây là loại thẻ được dùng để rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động (ATM) hoặc ở ngân hàng Với chức năng chuyên biệt chỉ dùng để rút tiền, chủ thẻ phải ký quỹ tiền gửi vào tài khoản ngân hàng hoặc chủ thẻ được cấp tín dụng thấu chi mới sử dụng được Số tiền rút ra mỗi lần sẽ được trừ dần vào số tiền ký quỹ

1.1.3.3 Dựa vào chủ thể phát hành, người ta chia thẻ ra thành hai (02) loại chính:

- Thẻ do ngân hàng phát hành (Bank Card): Đây là loại thẻ do các ngân hàng phát hành giúp cho khách hàng sử dụng linh động tài khoản của mình tại ngân hàng, hoặc sử dụng một số tiền do ngân hàng cấp tín dụng

- Thẻ do các tổ chức phi ngân hàng phát hành (Non-Bank Card): Đây là loại thẻ du lịch và giải trí do các tập đoàn kinh doanh lớn hoặc các Công ty xăng dầu…phát hành như Dinner Club, Amex…

1.1.3.4 Dựa vào chủ thẻ, người ta chi thẻ ra thành hai (02) loại:

- Thẻ công ty: Đây là loại thẻ do một tổ chức yêu cầu ngân hàng phát hành Những người sử dụng thẻ này là người được tổ chức đó ủy quyền và

có tên in nổi trên thẻ cùng với tên của tổ chức Tổ chức yêu cầu phát hành chịu trách nhiệm thanh toán trực tiếp với ngân hàng Người sử dụng thẻ chỉ

có nghĩa vụ tuân thủ các quy định về sử dụng thẻ và không có nghĩa vụ thanh toán

- Thẻ cá nhân: Đây là loại thẻ do một cá nhân có nhu cầu và có đủ điều kiện trực tiếp đứng ra yêu cầu ngân hàng phát hành thẻ cho mình Ở thẻ cá

Trang 20

nhân, chủ thẻ và người sử dụng thẻ là một Do vậy, cá nhân đó có trách nhiệm

sử dụng thẻ đúng quy định và có nghĩa vụ thanh toán với ngân hàng Thẻ cá nhân có hai loại:

+ Thẻ chính: do cá nhân đứng tên xin phát hành thẻ cho chính mình sử dụng và cá nhân đó là chủ thẻ

+ Thẻ phụ: chủ thẻ chính có thể đứng tên xin phát hành thẻ phụ cho người khác sử dụng (chủ thẻ phụ) và chịu trách nhiệm thanh toán toàn bộ các khoản chi tiêu của chủ thẻ phụ

1.1.3.5 Dựa vào phạm vi lãnh thổ sử dụng, người ta chia thẻ ra thành hai (02) loại chính là:

- Thẻ nội địa: Đây là loại thẻ được giới hạn sử dụng trong phạm vi một quốc gia, chủ yếu cho mục đích tiêu dùng Đồng tiền được sử dụng của loại thẻ này là đồng bản tệ của quốc gia đó

- Thẻ quốc tế: Đây là loại thẻ do tổ chức thẻ quốc tế, hoặc thành viên của

tổ chức này phát hành Loại thẻ này có tính chất toàn cầu, tức là có thể thanh toán ở bất cứ nước nào có cơ sở chấp nhận loại thẻ đó Cũng vì mang tính chất toàn cầu nên đồng tiền được sử dụng của loại thẻ này phải là các ngoại tệ mạnh Thẻ quốc tế được hỗ trợ và quản lý trên toàn thế giới, bởi những tổ chức thẻ quốc tế như MasterCard, Visa, Amex…

Ngoài ra, dựa vào mức độ tín nhiệm của chủ thẻ và trị giá sử dụng của thẻ, người ta chia thẻ ra thành ba (03) loại chính: Thẻ thường, Thẻ vàng và Thẻ thượng hạng

1.2 Vai trò của thẻ thanh toán trong nền kinh tế:

Xã hội ngày càng phát triển, quy trình công nghệ ngày càng được nâng cao, thì phương thức thanh toán cũng ngày càng hiện đại Thanh toán không dùng tiền mặt ra đời góp phần làm đa dạng hoá phương thức thanh toán trong nền kinh tế Chính vì thế các chủ thể trong nền kinh tế có thêm cơ hội để lựa

Trang 21

chọn phương thức cho phù hợp với ngành và lĩnh vực kinh doanh của mình Khác với nền kinh tế sản xuất giản đơn, nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần nảy sinh nhiều mối quan hệ thanh toán lớn ở mức độ ngày càng tăng Chính vì vậy, thanh toán không dùng tiền mặt nói chung và thẻ thanh toán nói riêng đóng một vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội

Thứ nhất, thẻ thanh toán có vai trò tạo điều kiện để nhà nước quản lý nền

kinh tế và chỉ đạo thực hiện chính sách kinh tế tốt hơn, giúp giảm chi xã hội cho nền kinh tế Vai trò quản lý vĩ mô của nhà nước chỉ thực hiện đầy đủ, phát huy tác dụng của mình khi khối lượng thanh toán phần lớn được tập trung qua ngân hàng, có nghĩa là các chủ thể của nền kinh tế trao đổi, thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ thông qua hệ thống ngân hàng

Trong nền kinh tế xã hội, ngân hàng là một ngành kinh tế đặc thù, thực hiện các chính sách của nhà nước về tiền tệ, tín dụng và thanh toán, việc mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt nói chung và thẻ thanh toán nói riêng tạo điều kiện cho nhà nước quản lý một cách tổng thể quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá của các doanh nghiệp thông qua hệ thống ngân hàng Mặt khác, cũng thông qua ngân hàng, nhà nước kiểm soát mức tạo tiền và cấp tín dụng thông qua sử dụng các công cụ thanh toán tại các ngân hàng, góp phần thực hiện tốt chính sách tiền tệ, kiểm soát lạm phát và tạo điều kiện tăng trưởng kinh tế

Ngoài ra, thẻ thanh toán đã giúp cho khối tiền “bất động” trở thành sống động hơn, di chuyển từ nơi này sang nơi khác, từ khách hàng này sang khách hàng khác để phục vụ sản xuất kinh doanh, thúc đẩy nguồn vốn luân chuyển nhanh chóng

Thứ hai, thẻ thanh toán tạo điều kiện thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ

an toàn, chính xác, hiệu quả giúp giảm thiểu thời gian, chi phí để đạt hiệu quả cao trong thanh toán

Trang 22

Ngoài ra, bộ nhớ cài đặt trên thẻ ghi lại chính xác từng giao dịch, cuối kỳ chủ thẻ có thể nhận được báo cáo giao dịch qua thẻ Do đó chủ thẻ có thể quản lý chi tiêu của mình

Thứ ba, thẻ thanh toán tạo cho các giao dịch tính an toàn và bảo mật rất

cao Chỉ với một thẻ thanh toán, người tiêu dùng có thể thanh toán một khối lượng lớn hàng hóa dịch vụ mà không phải mang theo tiền mặt Nhà nước cũng có thể giảm chi phí bảo quản, vận chuyển tiền, cũng như các chi phí phát hành và lưu thông tiền tệ (in ấn, quản lý tiền , hủy tiền…), qua đó, các hoạt động kinh tế ngầm, tiêu cực và tệ nạn xã hội sẽ được hạn chế

Thứ tư, thẻ thanh toán tạo điều kiện cho hoạt động huy động vốn của

ngân hàng Để thực hiện việc thanh toán, khách hàng phải tiến hành mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng Như vậy, ở tài khoản tiền gửi của khách hàng luôn phải duy trì một khoản tiền nhất định, số tiền này sẽ trở thành nguồn vốn nhàn rỗi, ngân hàng có thể sử dụng số tiền này để kinh doanh, sau khi đã duy trì một tỷ lệ dự trữ bắt buộc đủ chi trả cho các chủ tài khoản trong mọi trường hợp

Thanh toán qua thẻ vừa tạo ra nguồn thu từ phí thanh toán cho ngân hàng, vừa góp phần làm cơ sở tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng khi thực hiện việc cấp tín dụng cho khách hàng Thông qua tài khoản tiền gửi của khách hàng, ngân hàng có thể nắm được thông tin về tình hình hoạt động của khách hàng, từ đó có thể kiểm soát được khách hàng dễ dàng hơn, giúp ngân hàng đưa ra các quyết định tín dụng, đầu tư một cách đúng đắn, an toàn và hiệu quả

Mở rộng và phát triển dịch vụ thẻ thanh toán mang lại hiệu quả kinh tế lớn cho các ngân hàng thương mại, nhờ việc khai thác và sử dung linh hoạt nguồn vốn tiền gửi thanh toán của các tổ chức kinh tế và các cá nhân trên tài khoản tiền gửi thanh toán, với chi phí sử dụng vốn thấp (chi phí trả lãi thấp)

Trang 23

Ngoài ra, thẻ thanh toán có tác động tích cực, kích thích các hoạt động dịch vụ ngân hàng liên quan phát triển

1.3 Các quan hệ pháp lý phát sinh từ việc phát hành, sử dụng, thanh toán thẻ

1.3.1 Các quan hệ pháp lý phát sinh từ việc phát hành thẻ

Các chủ thể tham gia quan hệ phát hành thẻ bao gồm tổ chức thẻ quốc tế, ngân hàng phát hành thẻ, khách hàng (chủ thẻ), đại lý phát hành thẻ

Tổ chức thẻ quốc tế là một tổ chức gồm một hoặc một số các ngân hàng,

định chế tài chính hoặc tổ chức phi tài chính gắn với một thương hiệu độc quyền sản phẩm thẻ (như Visa International, Mastercard International, American Express, Diner Club, JCB…) Trên cơ sở thương hiệu đã có các Tổ chức thẻ quốc tế có thể ủy quyền cho các ngân hàng, tổ chức khác phát hành thẻ Tổ chức thẻ quốc tế có điều lệ và quy chế hoạt động riêng, chịu trách nhiệm tổ chức và hướng dẫn các thành viên của mình thực hiện theo đúng quy chế, quy định đề ra cũng như có trách nhiệm phân xử, hòa giải những tranh chấp trong quá trình vận hành

Ngân hàng phát hành thẻ là tổ chức được ngân hàng trung ương hoặc cơ

quan có thẩm quyền cho phép thực hiện nghiệp vụ phát hành thẻ, cấp thẻ cho các chủ thẻ sử dụng, chịu trách nhiệm thanh toán và cung cấp các dịch vụ liên quan đến thẻ đó Trong trường hợp phát hành thẻ quốc tế, ngân hàng phát hành thẻ còn phải được sự cho phép của các tổ chức thẻ quốc tế

Chủ thẻ là cá nhân hoặc tổ chức được ngân hàng phát hành thẻ cấp thẻ

để sử dụng Chủ thẻ bao gồm chủ thẻ chính và chủ thẻ phụ Chủ thẻ chính là người đứng tên đề nghị ngân hàng phát hành cấp thẻ và phải chịu hoàn toàn trách nhiệm thanh toán, xử lý các vấn đề liên quan đến việc sử dụng thẻ của mình (kể cả thẻ phụ phát hành kèm theo thẻ chính) Chủ thẻ phụ là người được cấp thẻ theo đề nghị của chủ thẻ chính

Trang 24

Đại lý phát hành thẻ là cá nhân, tổ chức được ngân hàng phát hành thẻ

ủy quyền thực hiện một số nghiệp vụ phát hành thẻ trực tiếp cho chủ thẻ thông qua hợp đồng đại lý phát hành thẻ

Ngoài ra, trong quá trình phát hành thẻ còn có thể có sự tham gia của các chủ thể khác như các công ty chuyển phát, bưu điện thực hiện việc giao nhận thẻ từ ngân hàng phát hành tới chủ thẻ, người được chủ thẻ ủy quyền đến nhận thẻ…

Với sự tham gia của các chủ thể trên, việc phát hành thẻ được tiến hành theo quy trình sau:

- Khách hàng gửi cho ngân hàng phát hành thẻ (trực tiếp hoặc thông qua đại lý phát hành thẻ) đơn yêu cầu sử dụng thẻ và các hồ sơ, tài liệu liên quan theo yêu cầu của ngân hàng phát hành thẻ

- Ngân hàng phát hành thẻ hoặc đại lý phát hành thẻ sẽ tiến hành thẩm định các điều kiện của khách hàng và ra quyết định chấp nhận hoặc từ chối phát hành

- Với những hồ sơ được chấp nhận, ngân hàng phát hành thẻ yêu cầu khách hàng ký kết hợp đồng sử dụng thẻ và tiến hành mở tài khoản thẻ cho khách hàng, cập nhật hồ sơ và tiến hành in thẻ

- Sau khi in thẻ, ngân hàng phát hành thẻ sẽ tiến hành giao thẻ cho khách hàng theo phương thức đảm bảo bí mật thông tin cho khách hàng Việc giao nhận thẻ có thể được tiến hành theo các phương thức sau:

+ Khách hàng trực tiếp đến nhận thẻ tại ngân hàng phát hành thẻ, đại lý phát hành thẻ hoặc ủy quyền cho người khác đến nhận thẻ

+ Ngân hàng phát hành thẻ gửi thẻ cho khách hàng thông qua các công

ty chuyển phát, bưu điện theo một phương thức bảo đảm an toàn, bí mật Chúng ta có thể thấy các quan hệ chủ yếu phát sinh từ việc phát hành thẻ bao gồm:

Trang 25

(1) Quan hệ giữa khách hàng (chủ thẻ) với ngân hàng phát hành thẻ Có thể nói đây là quan hệ chính trong việc phát hành thẻ Quan hệ này được phát sinh trên cơ sở hợp đồng sử dụng thẻ, theo đó NHPHT đồng ý cung cấp dịch

vụ và khách hàng đồng ý sử dụng dịch vụ thẻ của NHPHT Tuy nhiên, quan

hệ này chỉ thực sự phát sinh nếu khách hàng có đủ điều kiện được sử dụng thẻ theo quy định của NHPHT Ngoài các điều kiện về năng lực chủ thể, khách hàng còn có thể phải đáp ứng năng lực về tài chính tùy theo loại thẻ, đặc biệt

là việc duy trì số dư tiền gửi tối thiểu trên tài khoản thẻ

Trong quan hệ này, các chủ thể tham gia có quyền và nghĩa vụ sau:

- Chủ thẻ có quyền lựa chọn NHPHT cung cấp dịch vụ thẻ cho mình

- Chủ thẻ có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ và chính xác thông tin cần thiết theo yêu cầu của NHPHT khi xin phát hành thẻ và trong quá trình sử dụng thẻ Chủ thẻ phải có trách nhiệm bảo mật các thông tin về thẻ và tài khoản của mình

- NHPHT có quyền chấp nhận hoặc từ chối các đơn xin phát hành thẻ không đảm bảo được các điều kiện theo yêu cầu của NHPHT; có quyền quy định về loại thẻ, thời hạn sử dụng cũng như các yêu cầu về khả năng tài chính của chủ thẻ; có quyền yêu cầu các bên có liên quan cung cấp các thông tin cần thiết cho ngân hàng nếu được yêu cầu; có quyền từ chối các thẻ không hợp lệ hay chấm dứt việc sử dụng thẻ của những chủ thẻ vi phạm

- NHPHT có nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin về giao dịch tài khoản của chủ thể theo quy định của pháp luật; thực hiện tra soát và giải quyết các khiếu nại của chủ thẻ Trong trường hợp thẻ bị lợi dụng, nếu NHPHT không chứng minh được việc thẻ bị lợi dụng là do lỗi của chủ thẻ thì NHPHT phải gánh chịu toàn bộ thiệt hại phát sinh

(2) Quan hệ giữa khách hàng (chủ thẻ) với đại lý phát hành thẻ Quan hệ này phát sinh trên cơ sở khách hàng đến thực hiện thủ tục phát hành thẻ tại

Trang 26

ĐLPHT Trong quan hệ này thì khách hàng có trách nhiệm cung cấp thông tin

để ĐLPHT thẩm tra điều kiện phát hành và điền đầy đủ thông tin vào hồ sơ yêu cầu phát hành theo hướng dẫn của ĐLPHT Đại lý phát hành thẻ có trách nhiệm tiếp nhận thông tin và căn cứ vào quy định của NHPHT để thẩm tra điều kiện khách hàng, nếu khách hàng có đủ điều kiện thì ĐLPHT sẽ thông báo chấp nhận và hướng dẫn khách hàng khai báo hồ sơ yêu cầu Sau đó, ĐLPHT có trách nhiệm chuyển toàn bộ hồ sơ yêu cầu cho ngân hàng phát hành thẻ để cấp thẻ cho khách hàng Ngoài ra, ĐLPHT còn có trách nhiệm nhận thẻ từ NHPHT để trả cho khách hàng

(3) Quan hệ giữa đại lý phát hành thẻ với ngân hàng phát hành thẻ Quan

hệ này phát sinh trên cơ sở hợp đồng đại lý phát hành thẻ Nhằm phát triển hơn nữa dịch vụ thẻ của mình trong khi mạng lưới Chi nhánh không đáp ứng được yêu cầu mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ, các NHPHT có thể lựa chọn một số cá nhân, tổ chức theo tiêu chuẩn của mình để ủy quyền thực hiện một

số công đoạn của nghiệp vụ phát hành như marketing, tiếp nhận thông tin khách hàng, nhận và trả thẻ cho khách hàng…

Ngoài ra, một số NHPHT còn có thể cho phép các ĐLPHT của mình thực hiện nghiệp vụ in thẻ trên cơ sở tuân thủ quy định của NHPHT Trong quan hệ này thì ĐLPHT phải tuân thủ các quy định, hướng dẫn của NHPHT

về việc thực hiện các nghiệp vụ đại lý phát hành thẻ NHPHT sẽ tạo điều kiện

về cơ sở vật chất, kỹ thuật cho ĐLPHT thực hiện công việc của mình theo thỏa thuận của các bên

(4) Quan hệ giữa ngân hàng phát hành thẻ với tổ chức thẻ quốc tế: Quan

hệ này phát sinh trong trường hợp NHPHT thực hiện việc phát hành các loại thẻ quốc tế như: Visa, MasterCard, DinerClub, Amex, JCB… Các NHPHT chỉ được thực hiện việc phát hành thẻ quốc tế nếu là thành viên của TCTQT

đó trên cơ sở hợp đồng đại lý phát hành thẻ quốc tế với TCTQT đó Thủ tục

Trang 27

tham gia thành viên của TCTQT cũng hết sức phức tạp, TCTQT sẽ thẩm định điều kiện về mặt công nghệ của tổ chức xin làm thành viên, nếu tổ chức đó đủ điều kiện thì TCTQT mới chấp nhận, cấp giấy phép sử dụng thương hiệu thẻ

và ký kết hợp đồng đại lý phát hành thẻ quốc tế với tổ chức đó Khi được chấp thuận làm thành viên của TCTQT thì NHPHT phải tuân thủ quy định của TCTQT về phát hành, thanh toán thẻ Mỗi thành viên được cấp một mã số ngân hàng (BIN) và phải chịu hoàn toàn trách nhiệm đối với các giao dịch có

mã số BIN của ngân hàng mình

1.3.2 Các quan hệ phát sinh từ việc sử dụng thẻ

Sau khi được NHPHT cấp thẻ thì chủ thẻ có thể sử dụng thẻ để chi trả tiền mua hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền mặt hoặc thực hiện các giao dịch tại máy rút tiền tự động (ATM)

Quan hệ phát sinh chủ yếu ở đây là quan hệ giữa chủ thẻ và ngân hàng phát hành thẻ thông qua việc chủ thẻ sử dụng các máy móc, trang thiết bị do NHPHT lắp đặt Thiết bị này chủ yếu là ATM, máy đọc thẻ

Ngoài ra, với một máy tính cá nhân được nối mạng Internet, chủ thẻ có thể sử dụng số thẻ và PIN của mình để mua hàng hóa, dịch vụ hoặc chuyển tiền cho người khác Tuy nhiên, hiện nay sử dụng phương thức này dễ xảy ra rủi ro, tranh chấp do tin tặc có thể sao chép số liệu về thẻ để lợi dụng thực hiện các giao dịch giả mạo nên phương thức này cũng được ít người sử dụng Thông qua các trang thiết thiết bị đó, chủ thẻ thực hiện yêu cầu thanh toán của mình bằng cách nhập lệnh theo chỉ dẫn và các yêu cầu thanh toán đó của chủ thẻ được hệ thống truyền dẫn về trung tâm xử lý thanh toán của đơn

vị chấp nhận thẻ, ngân hàng thanh toán thẻ hoặc ngân hàng phát hành thẻ Trong quan hệ này, các chủ thể tham gia có các quyền và nghĩa vụ sau:

- Chủ thẻ có quyền sử dụng thẻ để thực hiện các dịch vụ do NHPHT cung cấp Trong quá trình sử dụng thẻ, chủ thẻ có thể yêu cầu NHPHT thay

Trang 28

đổi hạn mức tín dụng thẻ hay hạng của thẻ… Chủ thẻ có quyền chủ động trong việc tạm thời hoặc chấm dứt sử dụng thẻ khi cần thiết Chủ thẻ có quyền khiếu nại NHPHT hay các bên có liên quan khi phát hiện sai sót hoặc nghi ngờ có sai sót trong thanh toán gây ảnh hưởng đến quyền lợi của chủ thẻ

- Chủ thẻ phải có trách nhiệm giữ gìn, bảo quản, bảo đảm an toàn, bí mật

số PIN thẻ của mình để tránh bị người khác biết và lợi dụng

- NHPHT có quyền tăng hoặc giảm hạn mức tín dụng đối với chủ thẻ; quyết định thu hồi số tiền NHPHT cho chủ thẻ vay trên tài khoản thẻ; quy định các hình thức bảo đảm tín dụng cho việc sử dụng thẻ; quy định loại lãi và mức lãi cho vay đối với chủ thẻ; quy định về loại phí, mức phí sử dụng dịch

vụ được áp dụng đối với chủ thẻ…

- NHPHT có nghĩa vụ đảm bảo an toàn, an ninh hệ thống truyền tải thông tin để tránh tình trạng thông tin bị sai lệch khi được truyền dẫn về trung tâm xử

lý hay tình trạng tin tặc đột nhập ăn cắp thông tin…gây thiệt hại cho khách hàng; giải quyết các khiếu nại của chủ thẻ có liên quan đến việc sử dụng thẻ…

1.3.3 Các quan hệ phát sinh từ việc thanh toán thẻ

Các chủ thể tham gia quan hệ thanh toán thẻ cũng hết sức đa dạng, bao gồm chủ thẻ, ngân hàng phát hành, ngân hàng thanh toán thẻ, đơn vị chấp nhận thẻ, tổ chức thẻ quốc tế, trung tâm chuyển mạch

Ngân hàng thanh toán thẻ là ngân hàng được ngân hàng phát hành thẻ ủy

quyền thực hiện dịch vụ thanh toán thẻ theo hợp đồng hoặc là thành viên chính thức, thành viên liên kết của một tổ chức thẻ quốc tế thực hiện dịch vụ thanh toán theo thỏa ước ký kết với tổ chức thẻ quốc tế đó Ngân hàng thanh toán thẻ trực tiếp ký hợp đồng với các đơn vị chấp nhận thẻ để tiếp nhận và xử lý các giao dịch tại ĐVCNT, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ, hướng dẫn cho các ĐVCNT nghiệp vụ xử lý cũng như chuyển tải các thông tin cần thiết trong quá trình giao dịch Ngân hàng thanh toán thẻ có thể đồng thời là ngân hàng phát hành thẻ

Trang 29

Đơn vị chấp nhận thẻ là tổ chức hoặc cá nhân chấp nhận thanh toán tiền

mua hàng hóa, dịch vụ bằng thẻ theo hợp đồng ký kết với NHPHT hoặc NHTTT ĐVCNT có thể được trang bị máy IDC, CAT hoặc máy cà hóa đơn thẻ (Imprinter) để thực hiện việc xin cấp phép hoặc thanh toán

Trung tâm chuyển mạch (Switching Center) là một đầu mối kết nối hệ

thống thanh toán giữa các hệ thống NHTTT, các tổ chức thanh toán thẻ khác nhau để các NHTTT đó có thể thực hiện trao đổi giao dịch với nhau mặc dù mỗi hệ thống có những đặc thù riêng Trung tâm chuyển mạch được hình thành nhằm mục tiêu kết nối các đơn vị chấp nhận thẻ, ngân hàng thanh toán thẻ, ngân hàng phát hành thẻ, tổ chức thẻ quốc tế thành một mạng lưới rộng khắp, giúp cho chủ thẻ có thể sử dụng thẻ ở phạm vi rộng lớn hơn mà không

bị bó hẹp trong phạm vi đơn vị chấp nhận thẻ thuộc hệ thống thẻ của mình Mặt khác trung tâm chuyển mạch còn giúp cho các ngân hàng phát hành thẻ tiết kiệm chi phí đáng kể cho việc đầu tư mở rộng mạng lưới chấp nhận thẻ do việc tận dụng được đầu tư của các ngân hàng phát hành thẻ khác Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với lĩnh vực thẻ ATM

Với việc tham gia của nhiều chủ thể như trên thì việc thanh toán thẻ cũng hết sức phức tạp:

- Chủ thẻ xuất trình thẻ thanh toán tại đơn vị chấp nhận thẻ để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ

- ĐVCNT kiểm tra thẻ, nếu thẻ đủ điều kiện thanh toán thì lập hoá đơn thanh toán thông qua thiết bị đọc thẻ được trang bị Kiểm tra kỹ chữ ký, giao hoá đơn cùng với tiền và trả lại thẻ cho khách hàng

- ĐVCNT nộp hoá đơn thanh toán thẻ hoặc truyền thông tin giao dịch thanh toán thẻ về NHTTT để được tạm ứng thanh toán số tiền trên các hoá đơn giao dịch

Trang 30

- NHTTT sau khi kiểm tra tính hợp lệ trên hoá đơn, hoặc tiếp nhận thông tin do đơn vị chấp nhận thẻ truyền về sẽ làm thủ tục tạm ứng thanh toán cho đơn vị chấp nhận thẻ

- NHTTT truyền thông tin các giao dịch đã tạm ứng cho đơn vị chấp nhận thẻ về ngân hàng phát hành thẻ

- NHPHT sau khi tiếp nhận thông tin giao dịch của các chủ thẻ từ ngân hàng thanh toán thẻ sẽ thực hiện thanh toán cho ngân hàng thanh toán thẻ

- NHPHT thông báo về các giao dịch thẻ phát sinh cho chủ thẻ vào ngày quy định và đề nghị chủ thẻ thanh toán lại số tiền họ đã tiêu dùng bằng thẻ

- Chủ thẻ thanh toán số tiền giao dịch phát sinh cho NHPHT

- Đối với việc thanh toán thẻ quốc tế thì NHPHT sẽ thực hiện thanh toán thông qua hệ thống thanh toán của tổ chức thẻ quốc tế

- Còn trong thường hợp liên kết thẻ, việc thanh toán còn phải qua một khâu trung gian là hệ thống chuyển mạch thông tin của các Trung tâm chuyển mạch

Như vậy, chúng ta có thể thấy các quan hệ phát sinh chủ yếu trong quá trình thanh toán thẻ bao gồm:

(1) Quan hệ giữa chủ thẻ với đơn vị chấp nhận thẻ

(2) Quan hệ giữa đơn vị chấp nhận thẻ với ngân hàng thanh toán thẻ (3) Quan hệ giữa Trung tâm chuyển mạch với với ngân hàng phát hành thẻ, đơn vị chấp nhận thẻ, ngân hàng thanh toán thẻ, tổ chức thẻ quốc tế (4) Quan hệ giữa ngân hàng thanh toán thẻ với ngân hàng phát hành thẻ (5) Quan hệ giữa ngân hàng phát hành thẻ với tổ chức thẻ quốc tế

Các mối quan hệ trên chủ yếu là quan hệ trao đổi thông tin và thanh toán Quá trình thông tin và thanh toán giữa ngân hàng phát hành thẻ, ngân hàng thanh toán thẻ, tổ chức thẻ quốc tế hoàn toàn được thực hiện qua hệ thống kết nối on-line Còn việc thông tin và thanh toán giữa ngân hàng phát

Trang 31

hành thẻ, ngân hàng thanh toán thẻ và các đơn vị chấp nhận thẻ có thể được thực hiện thông qua hai chế độ on-line hoặc off-line (chỉ để kiểm tra tính xác thực của thẻ qua việc định dạng mã số bằng máy cà tay) Với việc ứng dụng các thành tựu khoa học kĩ thuật công nghệ, tốc độ thanh toán thẻ được coi là đứng đầu trong số các dịch vụ thanh toán điện tử Quá trình thanh toán khép kín trong mạng lưới đem lại độ an toàn cao cho tất cả các bên tham gia trong hoạt động thanh toán thẻ

1.4 Rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ:

Rủi ro là điều không ai muốn nhưng thực tế lại luôn có thể xảy ra trong mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống con người

Trong bất kỳ loại hoạt động kinh doanh nào của ngân hàng thương mại đều chứa đựng rủi ro Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt mà đặc biệt là hoạt động kinh doanh thẻ cũng không nằm ngoài quy luật đó Điều đó đòi hỏi

sự chú ý quan tâm của nhiều tổ chức, cá nhân liên quan Nhìn nhận từ góc độ ngân hàng thì đó là sự nghiên cứu, phân tích, học hỏi, phối hợp với nhau để có thể đương đầu với những rủi ro và phòng ngừa nguy cơ rủi ro bằng các biện pháp kỹ thuật và nghiệp vụ thích hợp một cách có hiệu quả

Rủi ro trong hoạt động thẻ là các tổn thất về vật chất hoặc phi vật chất có liên quan tới hoạt động kinh doanh thẻ, bao gồm hoạt động phát hành, sử dụng, thanh toán thẻ Đối tượng chịu rủi ro có thể là chủ thẻ, ngân hàng phát hành thẻ, ngân hàng thanh toán thẻ, đơn vị chấp nhận thẻ

Rủi ro và nguy cơ của nó có thể xuất hiện bất cứ lúc nào và ở bất cứ khâu nào trong toàn bộ quá trình phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ Sau đây là các loại rủi ro chính trong kinh doanh thẻ

1.4.1 Rủi ro trong khâu phát hành thẻ:

Thứ nhất, đơn xin phát hành thẻ với thông tin không chính xác dẫn đến rủi ro cho ngân hàng (Fraudulent Application):

Trang 32

Rủi ro này xảy ra khi khách hàng có đơn xin phát hành thẻ với các thông tin giả mạo hoặc không đầy đủ Nếu NHPHT thẩm định không kỹ, không phát hiện ra mà vẫn xử lý dựa trên các yêu cầu đó sẽ dẫn đến những tổn thất, rủi ro tín dụng cho NHPHT

Kèm theo loại rủi ro này là rủi ro khách hàng không có khả năng thanh toán trong khi NHPHT không có địa chỉ đòi nợ hoặc không thể đòi được nợ Tuy nhiên, trên thực tế có thể khẳng định rằng tỷ lệ phát sinh loại rủi ro này là rất thấp

Thứ hai, thẻ giả (Counterfeit Card):

Thẻ giả là loại rủi ro lớn nhất và nguy hiểm nhất hiện nay mà tất cả các

tổ chức thẻ rất quan tâm Đây là trường hợp do các tổ chức, cá nhân làm giả thẻ căn cứ vào các thông tin có được từ các chứng từ giao dịch thẻ hoặc từ thẻ

đã bị mất cắp, thất lạc

Thẻ giả được sử dụng tạo ra các giao dịch giả mạo sẽ gây tổn thất cho NHPHT kể cả trong trường hợp phát hành thẻ quốc tế vì theo quy định của tổ chức thẻ quốc tế thì NHPHT phải chịu hoàn toàn trách nhiệm đối với các giao dịch có mã số ngân hàng (BIN) của mình Thẻ giả có các loại sau:

- Thẻ bị thay đổi thông tin trên thẻ: Tội phạm dùng thẻ thật không còn giá trị lưu hành để thay đổi các thông tin trên thẻ Tuy nhiên, do việc thay đổi thông tin bằng các công nghệ đơn giản nên có thể kiểm tra dễ dàng bằng mắt thường thông qua cách kiểm tra so sánh thông tin in nổi trên thẻ với các thông tin được in trên băng chữ ký mặt sau của thẻ hoặc với dữ liệu trên băng từ khi đọc thẻ qua máy EDC

- Thẻ giả mạo: Tội phạm làm thẻ giả dựa trên các thông tin lấy được từ việc đánh cắp các dữ liệu của thẻ thật bằng các thủ đoạn khác nhau Loại giả mạo này thường liên quan đến tội phạm có tổ chức (vì yêu cầu công nghệ cao hơn) Các giao dịch giả mạo được thực hiện từ thẻ giả khó phát hiện và có thể được

Trang 33

NHPHT hoặc TCTQT cấp phép chuẩn chi giao dịch NHPHT chỉ phát hiện ra khi khách hàng thật đến khiếu nại về những giao dịch không được thực hiện

- Thẻ chỉ giả mạo băng từ: Đây là trường hợp thẻ giả có băng từ được mã hóa dựa trên dữ liệu của thẻ thật nhưng không có các thông tin dập nổi và những đặc điểm bảo mật trên thẻ Tội phạm sử dụng thẻ tại các ĐVCNT thông đồng có EDC hoặc tại các điểm bán hàng tự động không được kiểm soát chặt chẽ

- Thẻ bị làm giả hoàn toàn: Đây là loại thẻ giả hoàn chỉnh với băng từ được mã hóa và trên phôi thẻ có đầy đủ những yếu tố như thẻ thật Tuy nhiên, có thể, phát hiện giả mạo bằng cách kiểm tra theo đúng quy trình chấp nhận thẻ

Thẻ giả là loại rủi ro đặc biệt nguy hiểm và khó quản lý vì nó nằm ngoài

sự tiên liệu của NHPHT Để kiểm soát loại rủi ro này các NHPHT phải có những biện pháp bảo mật thông tin trên thẻ cũng như các ràng buộc kiểm tra

Thứ ba, thẻ bị mất cắp, thất lạc (Lost-Stolen Card):

Đây là trường hợp chủ thẻ bị mất cắp hoặc làm thất lạc thẻ mà chưa kịp thông báo đến ngân hàng phát hành để có những biện pháp hạn chế sử dụng hoặc thu hồi thẻ mà thẻ đó bị người khác lợi dụng và gây tổn thất cho chủ thẻ Tuy nhiên, đây cũng có thể là rủi ro đối với NHPHT trong trường hợp chủ thẻ cố tình gian lận báo mất thẻ nhưng sau đó vẫn sử dụng thẻ

Thứ tư, chủ thẻ không nhận được thẻ do ngân hàng phát hành gửi (Never Received Issue):

Rủi ro này phát sinh khi NHPHT gửi cho chủ thẻ bằng đường bưu điện nhưng thẻ bị đánh cắp trên đường đi Thẻ bị sử dụng trong khi chủ thẻ đích thực không hay biết gì về việc thẻ đã gửi cho mình Trong trường hợp này, NHPHT phải chịu rủi ro toàn bộ đối với các giao dịch bị lợi dụng đó

Trang 34

Thứ năm, tài khoản của chủ thẻ bị lợi dụng (Account Takeover):

Rủi ro xảy ra trong trường hợp khi đến kỳ phát hành lại thẻ, NHPHT nhận được thông báo thay đổi địa chỉ của chủ thẻ và được yêu cầu gửi thẻ mới

về địa chỉ mới Do không kiểm tra tính xác thực của yêu cầu đó nên NHPHT

đã thực hiện yêu cầu Thẻ bị lợi dụng bởi người khác đồng nghĩa với việc tài khoản của chủ thẻ bị người khác sử dụng Rủi ro này chỉ được phát hiện khi chủ thẻ đích thực không nhận được thẻ và thông báo cho ngân hàng hoặc NHPHT thông báo yêu cầu của chủ thẻ thanh toán sao kê

Thứ sáu, sao chép thông tin tạo băng từ giả (Skimming):

Rủi ro này xảy ra khi ĐVCNT phối hợp với các tổ chức tội phạm lấy cắp thông tin trên bằng từ của thẻ thật sử dụng tại cơ sở mình để tạo ra các thẻ giả

sử dụng Đây là một hình thức lợi dụng rất tinh vi, vô cùng khó phát hiện, gây tổn thất tương đối lớn cho NHPHT

1.4.2 Rủi ro trong khâu sử dụng thẻ:

Thứ nhất, các giao dịch giả mạo thực hiện thanh toán qua thư, điện thoại, Internet:

Rủi ro này xảy ra khi các ĐVCNT cung cấp hàng hóa, dịch vụ theo yêu cầu bằng thư, bằng điện thoại, fax…của chủ thẻ dựa trên các thông tin giả mạo như: loại thẻ, số thẻ, ngày hiệu lực, tên chủ thẻ…Đặc biệt, khi công nghệ Internet phát triển, e-commerce đã trở thành phổ biến thì rủi ro này rất

dễ xảy ra

Thứ hai, lộ mã số bí mật cá nhân (PIN):

Mã số bí mật cá nhân được giao cho chủ thẻ và chủ thẻ có quyền thay đổi để đảm bảo yếu tố cá nhân và bí mật PIN được sử dụng khi thực hiện các giao dịch tự động với các thiết bị tự động (Self Service), đặc biệt là ATM Do vậy, khi để lộ PIN, trong trường hợp thẻ bị lấy cắp mà chủ thẻ chưa kịp báo

Trang 35

cho NHPHT hoặc trong trường hợp thẻ bị “lấy cắp tạm thời” và bị sử dụng rút tiền tại ATM hoặc dùng để trích chuyển tiền từ tài khoản của chủ thẻ khi sử dụng các thiết bị tự động khác sẽ gây nên rủi ro cho chủ thẻ Bên cạnh đó, trường hợp này còn có thể xảy ra khi NHPHT gửi thẻ và PIN cho chủ thẻ bằng đường bưu điện không tuân thủ nguyên tắc bảo đảm an toàn, bí mật và PIN đó bị đánh cắp để sử dụng Trong trường hợp này NHPHT phải hoàn toàn chịu rủi ro

Thứ ba, rủi ro do sử dụng vượt hạn mức (rủi ro tín dụng):

Đây là rủi ro đối với NHPHT khi chủ thẻ lợi dụng quy định về hạn mức phải xin cấp phép Chủ thẻ cố tình sử dụng nhiều lần các giao dịch dưới mức phải xin cấp phép giao dịch và kết cục dẫn đến tổng số sử dụng vượt trội rất nhiều so với hạn mức được cấp NHPHT chỉ phát hiện ra khi tổng kết các hóa đơn quay về ngân hàng hoặc khi sao kê thanh toán

Thứ tư, rủi ro do lợi dụng tính chất và quy định sử dụng thẻ để lừa gạt ngân hàng:

Do quy định về giao dịch bằng thẻ không đòi hỏi chủ thẻ phải xuất trình giấy tờ tùy thân mà chỉ có thể thực hiện xin cấp phép, kiểm tra chữ ký của người sử dụng thẻ với chữ ký mẫu của chủ thẻ ký trước trên thẻ Rủi ro này thường xảy ra đối với thẻ tín dụng quốc tế Lợi dụng quy định nói trên, chủ thẻ thông đồng và giao thẻ cho người khác mang ra nước ngoài sử dụng Trong thời gian đó, ở trong nước, chủ thẻ cố tình tạo ra chứng cứ pháp lý chứng tỏ sự có mặt của mình ở nhà Do chữ ký trên hóa đơn là chứng cứ duy nhất để ĐVCNT có thể kiểm tra trong khi công việc đó hoàn toàn khó xác định hoàn hảo 100% (vì ngay bản thân chủ thẻ ký cũng chưa chắc bảo đảm hoàn toàn giống chữ ký trên thẻ) Kết cục, đến kỳ thanh toán, NHPHT đòi tiền chủ thẻ thì bị từ chối hoàn trả Với các bằng chứng hoàn toàn hợp lý, hợp

Trang 36

pháp việc chủ thẻ “không sử dụng” do thời điểm đó chủ thẻ “không thể có mặt tại nơi xảy ra giao dịch”, NHPHT sẽ phải gánh chịu rủi ro

Thứ năm, rủi ro do sử dụng thẻ đã báo mất:

Trong một số trường hợp chủ thẻ thông báo cho NHPHT đã thất lạc và ngay sau đó, trong khoảng thời gian NHPHT chưa kịp đăng ký vào danh sách thẻ cấm lưu hành (bulettin) chủ thẻ sử dụng bằng cách ký trên hóa đơn hơi khác chữ ký trên thẻ Cũng có trường hợp chủ thẻ thay băng chữ ký trên thẻ, tên chủ thẻ vẫn như cũ, ký lại chữ ký khác so với trước và sử dụng bằng chữ

ký đó Trong trường hợp này, chủ thẻ có cơ sở để thoái thác trách nhiệm đối với hành vi gian lận của mình Rủi ro này đặc biệt nghiêm trọng nếu chủ thẻ cấu kết với ĐVCNT

1.4.3 Rủi ro trong khâu thanh toán:

Thứ nhất, việc bồi hoàn tổn thất đối với các giao dịch đã được thực hiện không đúng với các quy định của tổ chức thẻ quốc tế:

Rủi ro loại này có thể xảy ra với bất cứ chủ thể nào khi không thực hiện đúng các quy định của tổ chức thẻ do các chủ thể liên quan khác đòi bồi hoàn tổn thấy gây nên cho họ và kể cả các khiếu nại do bên liên quan phát hiện ra

và lợi dụng để từ chối nghĩa vụ của mình Ví dụ như ĐVCNT chấp nhận chữ

ký trên hóa đơn sai với chữ ký trên thẻ, mặc dù chính bản thân chủ thẻ sử dụng họ vẫn có quyền từ chối thanh toán…

Thứ hai, rủi ro do sử dụng cấp phép ủy quyền (Stand-In):

Chế độ cấp phép Stand-In được thực hiện bởi trung tâm cấp phép của TCTQT khi hệ thống cấp phép của NHPHT trục trặc hoặc phản hồi xin cấp phép quá thời gian quy định hoặc đối với các thương vụ xác định là ít rủi ro

do NHPHT quy định Theo nguyên tắc cấp phép này, NHPHT đăng ký hạn mức cho từng loại giao dịch, trên cơ sở đó trung tâm cấp phép sẽ cấp phép khi phát sinh những trường hợp như trình bày trên mà không cần biết đến hạn

Trang 37

mức của thẻ Do vậy, với cách cấp phép như trên rất dễ xảy ra tình trạng chủ thẻ tiêu vượt hạn mức dẫn đến mất khả năng thanh toán

Thứ ba, rủi ro do thanh toán các giao dịch bằng thư (Mail Order), bằng điện (Telegrame Order) hoặc thương mại điện tử (e-commerce) giả mạo:

Trường hợp này khách hàng lấy thông tin của thẻ thật của một người khác để đặt mua hàng hóa hay dịch vụ tại các ĐVCNT Khi ngân hàng yêu cầu thanh toán sao kê thì bị chủ thẻ từ chối thanh toán do thực chất chủ thẻ không sử dụng thẻ để mua hàng hóa hay dịch vụ

Thứ tư, rủi ro phát sinh do nhân viên ĐVCNT cố tình in nhiều hóa đơn

từ một giao dịch thanh toán thẻ (Multi Imprint):

Đây là trường hợp khi thực hiện một giao dịch, nhân viên ĐVCNT cố tình in ra nhiều bộ hóa đơn thanh toán, nhưng chỉ giao một bộ cho chủ thẻ ký

để hoàn thành giao dịch Sau đó nhân viên ĐVCNT giả mạo chữ ký của chủ thẻ nộp cho ngân hàng để thanh toán tiền

Thứ năm, rủi ro phát sinh trong trường hợp ĐVCNT vô tình hoặc cố ý

chấp nhận thẻ giả mạo, thẻ hết hiệu lực, thẻ mất cắp, thất lạc, các trường hợp skimming hoặc trong trường hợp NHTTT không cung cấp kịp thời danh sách đen (black list) cho ĐVCNT dẫn đến ĐVCNT thanh toán thẻ đã cấm lưu hành

Thứ sáu, ĐVCNT thanh toán vượt hạn mức giao dịch không xin cấp phép, bị ngân hàng từ chối toàn bộ trị giá giao dịch:

Rủi ro này phát sinh do ĐVCNT không nắm vững quy định là đối với các giao dịch vượt hạn mức phải xin giấy phép hoặc do quan niệm sai cho rằng ĐVCNT chỉ chịu rủi ro ở phần vượt hạn mức nên đã thanh toán và nghĩ rằng mình có thể chịu đựng được Song thực tế, ngân hàng từ chối toàn bộ giao dịch đó chứ không phải chỉ từ chối phần vượt mà thôi Đối với rủi ro này đương nhiên ĐVCNT phải chịu toàn bộ

Trang 38

Thứ bảy, ĐVCNT cố tình tách một thương vụ giao dịch lớn thành nhiều giao dịch nhỏ để trốn tránh việc xin cấp phép:

Rủi ro này phát sinh do ĐVCNT lợi dụng quy định về hạn mức phải xin cấp phép để thực hiện nên nếu NHPHT phát hiện ra sẽ từ chối thanh toán và ĐVCNT sẽ phải gánh chịu rủi ro

Thứ tám, sửa chữa hóa đơn:

Theo quy định, khi thực hiện giao dịch, chủ thẻ sẽ giữ lại một liên hóa đơn làm cơ sở đối chiếu sau này Trong trường hợp vô tình hay cố ý mà ĐVCNT sửa chữa, tẩy xóa hóa đơn khi xuất trình thanh toán tại ngân hàng, ngân hàng có thể căn cứ vào đó để từ chối thanh toán cho ĐVCNT

Thứ chín, rủi ro hối đoái:

Rủi ro này phát sinh do biến động chênh lệch tỷ giá giữa đồng tiền các nước và thời hạn quy định từ khi xảy ra giao dịch đến khi xuất trình chứng từ thanh toán

1.4.4 Rủi ro trong khâu công nghệ ngân hàng, công nghệ thông tin:

Các loại rủi ro này xảy ra khi hệ thống máy móc, trang thiết bị, viễn thông, trung tâm chuyển mạch…có trục trặc, không ổn định, ngừng hoạt động hoặc gây lỗi trong quá trình xử lý ảnh hưởng đến việc phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ Trong điều kiện hiện nay, khi khối lượng giao dịch tăng lên đến mức khổng lồ dẫn đến việc xử lý nghiệp vụ lệ thuộc vào hệ thống máy móc, công nghệ, cũng như việc lưu trữ chứng từ điện tử trên vật mang tin như đĩa từ, băng từ…là tất yếu Vì vậy, rủi ro chứa đựng trong khâu này cũng rất lớn Bên cạnh đó, việc bảo mật công nghệ, bảo mật dữ liệu lỏng lẻo cũng có thể là nguyên nhân gây nên nhiều rủi ro vô cùng nghiêm trọng

1.5 Sự cần thiết điều chỉnh pháp luật về thẻ thanh toán:

Như phân tích ở trên, thẻ thanh toán có vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế Do đó, việc phát triển thẻ thanh toán là một nhu cầu tất yếu của

Ngày đăng: 24/01/2021, 19:43

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w