1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải quyết tranh chấp công ty theo thủ tục tư pháp những vấn đề lý luận và thực tiễn

77 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 616,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phan Chí Hiếu với bài “Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh theo Bộ luật tố tụng dân sự và các vấn đề đặt ra trong thực tiễn thi hành”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 6 năm

Trang 1

Bộ Tư pháp Bộ Giáo dục và Đào tạo

Trường Đại học Luật Hà Nội

Nguyễn Thị Vân Anh

Giải quyết tranh chấp công ty theo thủ tục tư pháp

- Những vấn đề lý luận và thực tiễn

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 60 38 50

Luận văn thạc sĩ luật học

Người hướng dẫn: TS Phan Chí Hiếu

Hà nội - 2006

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới TS.Phan Chí Hiếu, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu mà nếu không có sự giúp đỡ của Thầy thì tôi khó

có thể hoàn thành được luận văn của mình Tôi cũng xin cảm ơn bạn bè đồng nghiệp và gia đình đã tạo điều kiện, động viên và giúp

đỡ tôi rất nhiều để hoàn thành bản luận văn này!

Tác giả

Nguyễn Thị Vân Anh

Trang 3

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ TRANH CHẤP CÔNG TY VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CÔNG TY 5

1.1 Nhận thức chung về tranh chấp công ty 5

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm tranh chấp công ty 5

1.1.2 Phân loại tranh chấp công ty 11

1.2 Toà án trong hệ thống các phương thức giải quyết tranh chấp công ty 14

1.2.1 Các phương thức giải quyết tranh chấp công ty 14

1.2.2 Toà án- một phương thức giải quyết tranh chấp công ty chủ yếu ở Việt Nam hiện nay 20

1.3 Cơ sở pháp lí cho việc giải quyết tranh chấp công ty theo thủ tục tư pháp 22

1.3.1 Các quy định pháp luật tố tụng 24

1.3.2 Các quy định pháp luật nội dung 25

1.3.3 Hồ sơ pháp lí của công ty 26

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CÔNG TY THEO THỦ TỤC TƯ PHÁP 29

2.1 Thực trạng áp dụng pháp luật tố tụng trong việc giải quyết tranh chấp công ty 29

2.1.1 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp công ty của Toà án 29

2.1.2 Thời hiệu khởi kiện tranh chấp công ty 41

2.1.3 Đương sự trong tranh chấp công ty 43

2.2 Thực trạng áp dụng pháp luật nội dung giải quyết tranh chấp công ty 45

2.2.1 Các quy định về góp vốn 45

2.2.2 Các quy định về chuyển nhượng vốn góp 49

2.2.3 Các quy định về quản lí công ty 52

Trang 4

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CÔNG TY THEO THỦ

TỤC TƯ PHÁP 55

3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp công ty theo thủ tục tư pháp 55

3.2 Phương hướng hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp công ty theo thủ tục tư pháp 59

3.3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp công ty theo thủ tục tư pháp 62

3.3.1 Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp công ty của Toà án 62

3.3.2 Về thời hiệu khởi kiện 63

3.3.3 Về góp vốn và chuyển nhượng vốn góp 64

3.3.4 Đề cao vai trò của Điều lệ công ty trong việc điều chỉnh quan hệ phát sinh trong nội bộ công ty và giải quyết tranh chấp công ty 66

3.3.5 Nâng cao nhận thức về công ty và pháp luật về công ty 67

KẾT LUẬN 69

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 5

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT

BLTTDS : Bộ luật tố tụng dân sự

PLTTGQCVAKT : Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế

PLTTTM : Pháp lệnh trọng tài thương mại

TANDTC : Toà án nhân dân tối cao

LDN : Luật Doanh nghiệp

TNHH : Trách nhiệm hữu hạn

CTCP : Công ty cổ phần

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Thời gian gần đây, cùng với sự phát triển của các thành phần kinh tế, tranh chấp công ty gia tăng đáng kể ở Việt Nam Cùng với sự gia tăng của số lượng và quy mô hoạt động của công ty trong nền kinh tế, tranh chấp công ty theo dự kiến

sẽ là tranh chấp phổ biến và phức tạp

Tranh chấp công ty phát sinh đòi hỏi phải được giải quyết một cách thoả đáng Các bên tranh chấp có thể lựa chọn các phương thức giải quyết khác nhau như thương lượng, hoà giải, trọng tài và Toà án Tuy nhiên, với điều kiện thực tế

ở Việt Nam hiện nay thì tranh chấp công ty chủ yếu được giải quyết bằng Toà án Nhưng thực tế cho thấy việc áp dụng các quy định pháp luật giải quyết tranh chấp công ty tại Toà án bao gồm cả pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung đang còn nhiều vướng mắc và bất cập Do đó, Toà án thường rất lúng túng trong việc giải quyết loại tranh chấp này

Những vấn đề trên đã đặt ra yêu cầu nghiên cứu đề tài: “Giải quyết tranh

chấp công ty theo thủ tục tư pháp - những vấn đề lí luận và thực tiễn” để phát

triển về mặt khoa học cũng như đưa ra các giải pháp trước yêu cầu thực tiễn đòi hỏi đối với việc giải quyết tranh chấp công ty theo thủ tục tư pháp

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Giải quyết tranh chấp kinh doanh luôn thu hút được sự quan tâm của những nhà nghiên cứu và hoạt động thực tiễn, vì vậy đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này ở các mức độ khác nhau Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như sau: Luận án tiến sĩ của Đào Văn Hội với đề tài “Giải quyết tranh chấp kinh tế trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam”; Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Kim Vinh với đề tài “Pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế bằng con đường Toà án ở Việt Nam”; tác giả Đinh Hoài Nam với luận văn thạc sĩ

“Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế- thực tế áp dụng và hướng hoàn

Trang 7

thiện”; tác giả Bùi Nguyễn Phương Lê với đề tài “Thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh của Toà án theo Bộ luật tố tụng dân sự- những điểm mới và các vấn đề đặt ra cho thực tiễn thi hành”; TS Phan Chí Hiếu với bài “Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh theo Bộ luật tố tụng dân sự và các vấn đề đặt ra trong thực tiễn thi hành”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 6 năm 2005… Các công trình nghiên cứu nói trên mới đề cập đến việc giải quyết tranh chấp kinh doanh nói chung chứ chưa tập trung nghiên cứu sâu những quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp công ty theo thủ tục tư pháp

Có thể nói, đề tài “Giải quyết tranh chấp công ty theo thủ tục tư pháp- những vấn đề lí luận và thực tiễn” mà tác giả lựa chọn là công trình nghiên cứu đầu tiên được thực hiện ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu một cách chuyên sâu các quy định pháp luật về giải quyết một loại tranh chấp cụ thể là tranh chấp công ty trong điều kiện thực thi Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004

3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung giải quyết tranh chấp công ty Các quy định pháp luật

tố tụng được đặt trong mối liên hệ so sánh với các quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế để làm rõ những điểm mới của Bộ luật tố tụng dân sự

ở các quy định về thẩm quyền, thời hiệu khởi kiện, ngoài ra, luận văn còn đưa ra những vấn đề còn vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các quy định này Các quy định pháp luật nội dung được đề cập ở khía cạnh đánh giá những vướng mắc của việc áp dụng Luật Doanh nghiệp hiện hành

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện nhiệm vụ đề tài đặt ra, luận văn đã sử dụng phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như phương pháp lịch sử, phân tích, so sánh, chứng minh, tổng hợp và phương pháp xã hội học khác như lấy số liệu, tham khảo ý kiến của những người làm công tác thực tiễn… cũng được sử dụng trong quá trình nghiên cứu luận văn

Trang 8

5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài đặt ra mục đích làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc giải quyết tranh chấp công ty theo thủ tục tư pháp và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giải quyết tranh chấp công ty bằng Toà án ở Việt Nam

Từ mục đích nghiên cứu nói trên, đề tài đã đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu

cụ thể như sau:

- Làm rõ các dấu hiệu pháp lí đặc trưng của tranh chấp công ty và đánh giá vai trò của Toà án trong việc giải quyết tranh chấp công ty trong điều kiện thực tiễn ở Việt Nam hiện nay;

- Chỉ ra các vướng mắc, bất cập trong việc áp dụng các quy định pháp luật

tố tụng và pháp luật nội dung giải quyết tranh chấp công ty; phân tích nguyên nhân của các bất cập đó;

- Đánh giá được sự tác động của các quy định mới của Bộ luật tố tụng dân

sự tới hoạt động giải quyết tranh chấp công ty;

- Đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp công ty theo thủ tục tư pháp trong giai đoạn hiện nay

6 Những điểm mới của luận văn

- Lần đầu tiên một loại tranh chấp cụ thể là tranh chấp công ty được nghiên cứu một cách cụ thể, có hệ thống và toàn diện ở khía cạnh đánh giá những quy định pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung giải quyết tranh chấp công ty; làm rõ vai trò của Điều lệ công ty trong việc giải quyết tranh chấp công ty

- Trong quá trình phân tích các quy định của pháp luật giải quyết tranh chấp công ty, luận văn đã đưa ra được những vướng mắc, bất cập trong việc áp dụng các quy định trên;

- Trên cơ sở đó, luận văn đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp công ty như về thẩm quyền, thời hiệu; về góp vốn, chuyển nhượng vốn góp

Trang 9

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

- Chương 1: Những vấn đề lí luận về tranh chấp công ty và giải quyết

tranh chấp công ty

- Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp công ty

theo thủ tục tư pháp

- Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về giải quyết

tranh chấp công ty theo thủ tục tư pháp

Trang 10

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP CÔNG TY

VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CÔNG TY

1.1 Nhận thức chung về tranh chấp công ty

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm tranh chấp công ty

Thực hiện chủ trương xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo

cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ

VI tháng 12 năm 1986 khởi xướng, hàng loạt văn bản pháp luật về doanh nghiệp

đã ra đời tạo khung pháp lý thuận lợi các tổ chức, cá nhân mạnh dạn bỏ vốn kinh doanh, góp phần xây dựng kinh tế đất nước Các quan hệ kinh doanh ngày càng phát triển đa dạng về hình thức, chủ thể và phức tạp về nội dung Do đó, tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh là điều khó tránh khỏi Trong cơ chế

kế hoạch hoá tập trung, các tranh chấp phát sinh chủ yếu liên quan đến việc thực hiện hợp đồng kinh tế Trong giai đoạn hiện nay, với sự tham gia của các thành phần kinh tế và sự đa dạng của đối tượng, chủ thể và các lợi ích cần bảo vệ đã làm phát sinh nhiều loại tranh chấp mới mà một trong số đó là tranh chấp công ty Khi công ty ra đời thì đồng thời cũng xuất hiện khả năng phát sinh tranh chấp liên quan đến tổ chức, quản lý, hoạt động của công ty

Để có khái niệm khoa học về tranh chấp công ty, trước hết phải làm rõ thế nào là tranh chấp, tranh chấp kinh doanh, tranh chấp thương mại

Dưới góc độ khoa học pháp lý, tranh chấp được hiểu là những bất đồng, mâu thuẫn về quyền lợi, nghĩa vụ giữa các bên trong một quan hệ xã hội nhất định được pháp luật điều chỉnh

Hiện nay, khái niệm tranh chấp kinh tế, tranh chấp kinh doanh, tranh chấp thương mại hay tranh chấp về kinh doanh, thương mại được sử dụng không nhất quán Mỗi thuật ngữ có một cách hiểu khác nhau và chủ yếu dựa vào các văn bản pháp luật thực định

Trang 11

Theo cách hiểu mà giới luật học vẫn thừa nhận thì nội hàm của tranh chấp kinh tế bao trùm cả tranh chấp kinh doanh, tranh chấp thương mại hay tranh chấp

về kinh doanh, thương mại và những tranh chấp này chỉ là một dạng của tranh chấp kinh tế [8, tr.85] [34, tr.33] Điều này xuất phát từ lí do quan hệ kinh tế không chỉ bao gồm những quan hệ phát sinh trong hoạt động kinh doanh giữa các chủ thể có tư cách bình đẳng mà còn cả quan hệ quản lý có liên quan đến hoạt động kinh doanh

Tranh chấp kinh doanh (hay còn gọi là tranh chấp trong kinh doanh) là thuật ngữ được nhiều công trình, bài nghiên cứu của giới luật học sử dụng như một thuật ngữ chính thức để chỉ tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh Cụ thể, tranh chấp kinh doanh được hiểu là sự bất đồng, mâu thuẫn về các lợi ích kinh tế giữa chủ thể phát sinh trong quan hệ kinh doanh, chủ yếu là liên quan đến việc thực hiện hoặc không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình [10, tr.11] Xuất phát từ khái niệm kinh doanh theo quy định của LDN năm 1999 thì đó là tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi Đặc điểm của tranh chấp kinh doanh là luôn gắn liền với các hoạt động kinh doanh; chủ thể tham gia là các chủ thể kinh doanh và các bên có liên quan; tranh chấp kinh doanh thể hiện ra bên ngoài là những xung đột về lợi ích kinh tế giữa các bên

Tranh chấp thương mại được dùng để chỉ những tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại Trước đây, LTM năm 1997 quan niệm tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt động thương mại (Điều 238 LTM năm 1997) Trong khi đó, hoạt động thương mại được hiểu theo nghĩa rất hẹp, bị giới hạn bởi dấu hiệu chủ thể phải là thương nhân và dấu hiệu hành vi do chủ thể thực hiện phải là hành vi thương mại Hoạt động thương mại theo LTM năm 1997 chỉ bao gồm mua bán hàng hoá, dịch vụ gắn liền với mua bán hàng hoá và dịch vụ tìm kiếm, thúc đẩy

cơ hội mua bán hàng hoá và được cụ thể hoá thành 14 hành vi thương mại theo

Trang 12

quy định tại Điều 45 LTM năm 1997 Khái niệm hàng hoá có nội hàm rất hẹp khái niệm tranh chấp thương mại tiếp tục bị thu hẹp Tóm lại, khái niệm tranh chấp thương mại theo quan niệm của LTM năm 1997 chỉ là những tranh chấp trong việc thực hiện hợp đồng mua bán, các dịch vụ gắn liền với mua bán và các dịch vụ thúc đẩy, xúc tiến mua bán các loại hàng hoá là tài sản hữu hình LTM năm 2005 ra đời thay thế cho LTM năm 1997 đã có quan niệm về hoạt động thương mại rộng hơn Theo đó, hoạt động thương mại được hiểu theo nghĩa rất rộng gồm toàn bộ các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi như mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích thương mại khác (Khoản 1 Điều 3 LTM năm 2005) Như vậy thì tranh chấp trong hoạt động thương mại bao gồm tất cả các tranh chấp phát sinh trong quá trình các chủ thể là thương nhân thực hiện các hành vi nhằm mục đích sinh lời và thông thường là các tranh chấp về hợp đồng Do đó, tranh chấp thương mại do có giới hạn về chủ thể nên chỉ là một dạng của tranh chấp kinh doanh

BLTTDS năm 2004 sử dụng thuật ngữ tranh chấp về kinh doanh, thương mại Điều 29 BLTTDS đã liệt kê những tranh chấp được coi là tranh chấp về kinh doanh, thương mại Cụ thể gồm có 4 nhóm: Tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng kí kinh doanh với nhau và đều

có mục đích lợi nhuận; tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; tranh chấp công ty; tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định Việc sử dụng thuật ngữ kinh doanh, thương mại dường như là thừa từ ngữ bởi vì theo cách hiểu hiện nay thì kinh doanh và thương mại có nội hàm không khác nhau là mấy Hơn thế, việc sử dụng phương pháp liệt kê có ưu điểm là rõ ràng, dễ

áp dụng nhưng cũng có thể dẫn đến hiện tượng bỏ lọt những tranh chấp mang bản chất là tranh chấp kinh doanh khác

Như vậy, xét về mối quan hệ giữa tranh chấp thương mại và tranh chấp kinh doanh, chúng ta thấy rằng:

Trang 13

Tranh chấp thương mại phát sinh từ hoạt động thương mại và thông thường

là tranh chấp hợp đồng giữa các bên Xuất phát từ hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lời và được các chủ thể thực hiện thông qua hợp đồng trong hoạt động thương mại Chính vì vậy, cơ sở nảy sinh tranh chấp là chủ yếu

là từ hợp đồng kí kết giữa các bên

Tranh chấp kinh doanh được hiểu theo nghĩa rộng hơn, gần như mọi xung đột, bất đồng phát sinh từ hoạt động kinh doanh Do đó, tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh có thể là tranh chấp hợp đồng, tranh chấp trong nội bộ công

ty Ngoài ra, tranh chấp kinh doanh còn có thể bao hàm cả những tranh chấp phát sinh ngoài quan hệ hợp đồng như quan hệ bồi thường thiệt hại, cạnh tranh Như vậy, nội hàm của khái niệm tranh chấp kinh doanh bao hàm cả khái niệm tranh chấp thương mại

Qua việc tìm hiểu những khái niệm tranh chấp nêu trên, luận án tập trung làm rõ khái niệm tranh chấp công ty

Trước hết, nói đến công ty là nói đến hình thức tổ chức kinh doanh Công ty

là một chủ thể kinh doanh được tạo nên bởi quá trình đầu tư của một hay nhiều thành viên được tổ chức dưới hình thức công ty TNHH, CTCP, công ty hợp danh Công ty có tư cách pháp lý độc lập với thành viên công ty, người góp vốn thành lập ra nó Để thành lập, tồn tại và phát triển, công ty được các thành viên góp vốn, tổ chức và quản lý hoạt động Trong quá trình này thì các xung đột về lợi ích kinh tế giữa công ty với thành viên công ty, giữa thành viên này với thành viên khác hoặc giữa những người có liên quan khác là điều khó tránh khỏi Do đó, tranh chấp công ty rất dễ xảy ra

Việc tìm hiểu khái niệm tranh chấp công ty trong luận văn này lần lượt tiếp cận dưới góc độ quy định của pháp luật thực định và dưới góc độ khoa học pháp lý

Dưới góc độ pháp luật thực định, có hai văn bản pháp luật đề cập đến tranh chấp công ty Đó là PLTTGQCVAKT năm 1994 và BLTTDS năm 2004

Trang 14

Theo Điều 12 PLTTGQCVAKT thì tranh chấp công ty là một dạng tranh chấp kinh tế Cụ thể là các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công

ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể công ty

BLTTDS thì quan niệm tranh chấp công ty như sau: Là tranh chấp giữa giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty

Quan niệm về tranh chấp công ty theo BLTTDS cũng giống như PLTTGQCVAKT, phải là tranh chấp giữa công ty với thành viên công ty và giữa các thành viên công ty với nhau So với PLTTGQCVAKT, điểm mới của quy định về tranh chấp công ty theo BLTTDS là việc bổ sung một số tranh chấp liên quan đến chia, tách, hợp nhất, sáp nhập và các hình thức chuyển đổi công ty Sở

dĩ có điểm khác nhau này là do sự thay đổi của luật nội dung về các hình thức tổ chức lại từ Luật Công ty năm 1990 đến LDN năm 2000 Do đó, tranh chấp phát sinh trong quá trình công ty tiến hành các hoạt động trên cũng rất dễ xảy ra nên BLTTDS đã dự liệu và bổ sung

Ngoài ra, Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTDS đã quy định cụ thể thế nào là tranh chấp công ty với thành viên công ty, tranh chấp giữa các thành viên công ty tại mục 3.5 phần I Nghị quyết có quy định người chưa phải là thành viên công ty trong quan hệ chuyển nhượng vốn góp với thành viên công ty cũng là chủ thể của tranh chấp Quy định này cũng một phần khắc phục được điểm bất cập trong quy định của BLTTDS về chủ thể trong tranh chấp công ty

Như vậy, so với PLTTGQCVAKT, BLTTDS đã quy định mở rộng hơn phạm vi những tranh chấp được coi là tranh chấp công ty Tuy nhiên, cũng giống như PLTTGQCVAKT, BLTTDS cũng không đưa ra định nghĩa khái quát và các

Trang 15

dấu hiệu cụ thể để nhận biết tranh chấp công ty Tranh chấp công ty theo pháp luật thực định được xác định dựa trên tiêu chí chủ thể và lĩnh vực phát sinh tranh chấp cụ thể Do đó, dẫn đến trường hợp khó xác định thế nào là tranh chấp công

ty và không bao quát hết được các tranh chấp công ty xảy ra trên thực tế Nhiều tranh chấp liên quan đến thành lập, hoạt động và tổ chức công ty trên thực tế nhưng không được coi là tranh chấp công ty, dẫn đến việc giải quyết theo một thủ tục khác và ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự Tìm hiểu để xây dựng một khái niệm khoa học về tranh chấp công ty, chúng tôi thấy rằng, tranh chấp công ty có các đặc trưng sau:

Một là, chủ thể của tranh chấp công ty thông thường là công ty với thành

viên công ty hoặc người khác có liên quan; thành viên công ty với thành viên công ty hoặc với người khác có liên quan

Hai là, lĩnh vực phát sinh tranh chấp liên quan đến thành lập, tổ chức quản

lý và tổ chức hoạt động của công ty và không chỉ riêng công ty mà còn bao gồm các loại hình doanh nghiệp khác Bởi vì bản chất của quá trình thành lập, các hình thức quản lý và mối quan hệ giữa chủ thể kinh doanh với người tạo ra chủ thể kinh doanh của công ty và của các loại hình doanh nghiệp khác đều như nhau Do

đó, không chỉ trong quá trình thành lập, tổ chức, hoạt động của công ty có phát sinh tranh chấp mà trong các loại hình doanh nghiệp khác như hợp tác xã Cụ thể, lĩnh vực phát sinh tranh chấp liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách và chuyển đổi hình thức tổ chức

Ba là, tranh chấp công ty có biểu hiện ra bên ngoài là những xung đột, bất

đồng về mặt lợi ích kinh tế giữa các bên Đây là bản chất của bất cứ tranh chấp nào Cần phân biệt tranh chấp công ty với các việc về kinh doanh, thương mại phát sinh từ hoạt động của công ty, theo đó, các bên không có tranh chấp mà chỉ yêu cầu Toà án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ phát sinh quyền, nghĩa vụ của mình Ví dụ, yêu cầu huỷ quyết định của Đại hội đồng cổ đông của cổ đông công ty quy định tại Điều 79 LDN năm 1999

Trang 16

Từ những phân tích trên, luận văn xin đưa ra khái niệm tranh chấp công ty

theo nghĩa rộng như sau: Tranh chấp công ty là những mâu thuẫn, bất đồng về

quyền lợi và nghĩa vụ về mặt tài sản phát sinh giữa các chủ thể có liên quan trong quá trình thành lập, tổ chức quản lý, hoạt động, tổ chức lại, giải thể, phá sản của công ty nói riêng và các loại hình doanh nghiệp nói chung

1.1.2 Phân loại tranh chấp công ty

Các tranh chấp công ty xảy ra trên thực tế rất đa dạng và phức tạp Do đó, việc phân loại tranh chấp công ty là cần thiết và có ý nghĩa về cả lý luận và thực tiễn Phân loại tranh chấp công ty là việc chia các tranh chấp công ty thành từng nhóm khác nhau dựa trên các tiêu chí nhất định Việc phân loại tranh chấp công

ty sẽ cho thấy cái nhìn hệ thống, toàn diện về loại tranh chấp này và từ đó, xây dựng được cơ sở pháp lý giải quyết tranh chấp công ty phù hợp với từng loại tranh chấp

Người ta có thể phân loại tranh chấp công ty theo các tiêu chí khác nhau như tiêu chí chủ thể, tiêu chí tính chất tranh chấp, tiêu chí thời điểm phát sinh tranh chấp công ty

* Dựa trên tiêu chí chủ thể:

Theo tiêu chí này, có thể chia tranh chấp công ty thành 3 nhóm: tranh chấp giữa công ty với thành viên công ty, tranh chấp giữa thành viên công ty này với thành viên công ty khác và tranh chấp giữa công ty hoặc thành viên công ty với người có liên quan

- Tranh chấp giữa công ty với thành viên công ty: Công ty là một thực thể pháp lý độc lập do các thành viên công ty góp vốn tạo thành Công ty có tên gọi riêng, có trụ sở giao dịch, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ và có tài sản riêng độc lập với tài sản của thành viên công ty Là một chủ thể pháp lý độc lập, công ty có quyền và nghĩa vụ pháp lý Như vậy, công ty và các thành viên công ty là hai chủ thể độc lập Thành viên công ty là người góp vốn vào công ty và trở thành chủ sở hữu (đồng chủ sở hữu) của công ty Do đó, giữa công ty và thành viên công ty có

Trang 17

mối quan hệ liên quan đến quyền sở hữu tài sản Và đây là cơ sở chủ yếu nảy sinh tranh chấp giữa công ty và thành viên công ty Các tranh chấp có thể là tranh chấp về phần vốn góp của thành viên đối với công ty; về quyền sở hữu một phần tài sản của công ty tương ứng với phần vốn góp vào công ty; về quyền được chia lợi nhuận và nghĩa vụ chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp vào công ty; tranh chấp về quyền quản lý công ty giữa thành viên công ty với công ty

- Tranh chấp giữa thành viên công ty với thành viên công ty: Thành viên công

ty là những người góp vốn vào công ty Họ là những người đồng chủ sở hữu công

ty và có cùng lợi ích tài sản trong công ty Đây là cơ sở phát sinh tranh chấp giữa các thành viên công ty Tranh chấp giữa thành viên công ty này với thành viên công ty khác có thể là tranh chấp về trị giá phần vốn góp vào công ty giữa các thành viên; về quyền sở hữu tài sản tương ứng với phần vốn góp vào công ty

- Tranh chấp giữa công ty hoặc thành viên công ty với người có liên quan: Người có liên quan ở đây có thể là cá nhân, tổ chức không phải thành viên công ty

Họ có thể tham gia vào quá trình thành lập, tổ chức, quản lý công ty Ví dụ, tranh chấp giữa thành viên công ty và người nhận vốn góp từ thành viên nhưng chưa đăng ký tại cơ quan đăng kí kinh doanh; tranh chấp giữa công ty và người được công ty thuê làm giám đốc trong quá trình quản lý đã gây thiệt hại cho công ty

* Dựa trên tiêu chí tính chất tranh chấp:

Theo tiêu chí tính chất tranh chấp người ta chia tranh chấp công ty thành 2 nhóm: Tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu tài sản trong công ty và tranh chấp

liên quan đến quyền quản lý công ty

- Tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu một phần tài sản trong công ty: Tài sản trong công ty do các thành viên công ty góp vốn tạo thành, là sở hữu chung của các thành viên công ty Tài sản này các thành viên công ty không thể tự do định đoạt mà phải theo quy định của pháp luật và quy chế trong nội bộ công ty Đây là cơ sở chủ yếu nảy sinh tranh chấp Đó có thể là tranh chấp về phần vốn góp, về quyền được chia lợi nhuận, về nghĩa vụ chịu lỗ, thanh toán nợ của công

Trang 18

ty, về việc thanh lý tài sản, phân chia nợ giữa các thành viên trong trường hợp công ty bị giải thể

- Tranh chấp liên quan đến quyền quản lý công ty: Quyền quản lý công ty là quyền phát sinh từ quyền sở hữu một phần tài sản công ty Bởi vì tương ứng với

tỷ lệ vốn gốp vào công ty là quyền tham gia vào cơ quan quản lý công ty và tỷ lệ

số phiếu biểu quyết các quyết định quản lý công ty Nên thực chất tranh chấp liên quan đến quyền quản lý công ty là tranh chấp phái sinh từ quyền sở hữu công ty

Đó có thể là các tranh chấp liên quan đến quyền tham dự vào cơ quan quản lý công ty, quyền tham gia thảo luận, biểu quyết tương ứng với phần vốn góp

* Dựa trên tiêu chí thời điểm phát sinh tranh chấp công ty:

Căn cứ vào thời điểm phát sinh, tranh chấp công ty có thể chia thành các tranh chấp phát sinh trong giai đoạn thành lập công ty, trong giai đoạn hoạt động, trong giai đoạn tổ chức lại, trong giai đoạn chuyển đổi hình thức tổ chức công ty, trong giai đoạn giải thể, phá sản công ty

Công ty từ khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thì tồn tại với

tư cách là một chủ thể pháp lý độc lập Công ty cũng có giai đoạn từ “khai sinh”, tồn tại, phát triển đến chấm dứt hoạt động mà theo thuật ngữ luật học gọi là thành lập, hoạt động, giải thể, phá sản Trong mỗi giai đoạn tồn tại và phát triển của công ty đều có thể phát sinh tranh chấp Dựa trên tiêu chí này, có thể phân loại tranh chấp công ty như sau:

- Tranh chấp phát sinh trong giai đoạn thành lập công ty: Tranh chấp phát sinh trong giai đoạn này chủ yếu là tranh chấp về phần vốn góp giữa các thành viên góp vốn, tranh chấp liên quan đến các hợp đồng được kí kết trước khi công

ty được thành lập

- Tranh chấp phát sinh trong giai đoạn hoạt động của công ty: Đó là các tranh chấp như quyền được chia lợi nhuận và nghĩa vụ chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp vào công ty, tranh chấp về mệnh giá cổ phiếu, số cổ phiếu phát hành đối với mỗi CTCP

Trang 19

- Tranh chấp phát sinh trong giai đoạn tổ chức lại công ty như chia, tách, hợp nhất, sáp nhập và giai đoạn chuyển đổi công ty Các tranh chấp trong giai đoạn này chủ yếu liên quan đến trị giá phần vốn góp, về yêu cầu công ty thanh lý tài sản, thanh lý hợp đồng đã ký kết

- Tranh chấp phát sinh trong giai đoạn giải thể, phá sản công ty: Các tranh chấp về quyền sở hữu một phần tài sản tương ứng với phần vốn góp, về việc chia lợi nhuận hoặc nghĩa vụ chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp vào công ty, thanh

lý tài sản mà công ty ký kết trước khi giải thể

1.2 Toà án trong hệ thống các phương thức giải quyết tranh chấp công ty

1.2.1 Các phương thức giải quyết tranh chấp công ty

Giải quyết tranh chấp nói chung và giải quyết tranh chấp công ty nói riêng là việc các bên tranh chấp thông qua một phương thức nhất định nào đó nhằm chấm dứt xung đột, mâu thuẫn để bảo vệ hoặc khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của mình Tranh chấp công ty có thể được giải quyết bằng nhiều phương thức khác nhau Tuỳ thuộc vào sự lựa chọn của các bên đương sự, các bên có thể giải quyết tranh chấp công ty thông qua phương thức thương lượng, hoà giải, trọng tài hoặc toà án

1.2.1.1 Giải quyết tranh chấp công ty bằng thương lượng và hoà giải

Thương lượng và hoà giải là 2 hình thức giải quyết tranh chấp xuất hiện đầu tiên trong hệ thống các phương thức giải quyết tranh chấp và thường được các bên đương sự sử dụng trước tiên để giải quyết tranh chấp giữa họ Giải quyết tranh chấp bằng phương thức thương lượng là việc chính các bên tranh chấp cùng nhau bàn bạc, thoả thuận để đi đến thống nhất giải quyết bất đồng và tự nguyện thực hiện thoả thuận đó Còn hoà giải là phương thức giải quyết tranh chấp cũng giống như thương lượng nhưng có sự tham gia của người thứ ba trong vai trò là người trung gian Người trung gian này là người có hiểu biết trong lĩnh vực tranh chấp, được các bên tín nhiệm để hỗ trợ các bên tìm ra phương án giải quyết chứ không phải là người đưa ra phán quyết về vụ tranh chấp

Trang 20

Nhìn chung, thương lượng và hoà giải đều có đặc điểm chung như sau:

- Đây là những phương thức giải quyết tranh chấp không chính thức, được

áp dụng trên cơ sở sự thoả thuận của các bên đương sự; các nhà kinh doanh thường chỉ sử dụng phương thức trọng tài hoặc toà án khi việc giải quyết theo phương thức này không đạt được kết quả

- Các bên tranh chấp tự nguyện bàn bạc, thoả thuận để tìm phương án loại

bỏ mâu thuẫn mà không dựa vào phán quyết của bên thứ ba Kết quả của việc thương lượng, hoà giải thường là bản cam kết, biên bản hoà giải

- Qúa trình thương lượng, hoà giải giữa các bên không bị ràng buộc bởi bất

kỳ một thể thức nào Pháp luật thực định của nước ta chưa có quy định cụ thể về phương thức này mà chỉ là các quy định mang tính hình thức Kết quả của thương lượng và hoà giải hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng, kỹ năng đàm phán và thiện chí của hai bên

- Việc thi hành phương án giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng, hoà giải hoàn toàn “trông chờ” vào sự tự nguyện và thiện chí của các bên Hay nói cách khác, chưa có sự công nhận và sự hỗ trợ từ phía nhà nước đối với quá trình tiến hành thương lượng, hoà giải cũng như phương án thương lượng, hoà giải giữa các bên

1.2.1.2 Giải quyết tranh chấp công ty theo thủ tục trọng tài

Giải quyết tranh chấp công ty bằng trọng tài là một phương thức giải quyết tranh chấp, trong đó các bên có thoả thuận đưa vụ việc phát sinh ra trọng tài, sau khi xem xét sự việc, trọng tài sẽ ra phán quyết có giá trị cưỡng chế thi hành đối với các bên

Phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài có những đặc điểm sau:

- Giải quyết tranh chấp công ty bằng trọng tài dựa trên thoả thuận của các bên tranh chấp, theo đó, trước hoặc sau khi tranh chấp phát sinh các bên có thoả thuận giải quyết tranh chấp bằng trọng tài Thoả thuận trọng tài có thể là một điều

Trang 21

khoản của hợp đồng góp vốn hoặc trong Điều lệ công ty hoặc là một văn bản riêng (còn gọi là Hiệp nghị trọng tài) giữa các bên

- Giống như phương thức hoà giải, giải quyết tranh chấp công ty bằng trọng tài cũng có sự tham gia của người thứ ba Điểm khác nhau giữa hoà giải và trọng tài là trong hình thức hoà giải, vai trò của người thứ ba chỉ đóng vai trò là người trung gian, vận động hoà giải thì trọng tài ngoài ý nghĩa đó ra còn có vai trò là người đưa ra phán quyết về vụ tranh chấp giữa các bên

- Bản chất của trọng tài là cơ quan tài phán, tính tài phán thể hiện ở điểm trọng tài được quyền đưa ra quyết định giải quyết vụ việc và quyết định này có tính cưỡng chế thi hành đối với các bên tranh chấp

- Trọng tài hoạt động theo nguyên tắc xét xử một lần Phán quyết của trọng tài là chung thẩm và có giá trị cưỡng chế thi hành đối với các bên tranh chấp Các bên không thể kháng cáo, khiếu nại phán quyết này lên bất cứ cơ quan tài phán nào khác

- Hoạt động trọng tài được hỗ trợ tư pháp từ phía toà án đối với việc xem xét hiệu lực của thoả thuận trọng tài, áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, chỉ định trọng tài viên, huỷ bỏ quyết định trọng tài

- Các bên tranh chấp có thể lựa chọn hình thức trọng tài để giải quyết tranh chấp: trọng tài vụ việc (hội đồng trọng tài do các bên thành lập) và trọng tài thường trực (tồn tại dưới hình thức trung tâm trọng tài) Nếu như ở hình thức trọng tài thường trực, các bên có sẵn quy tắc tố tụng của trung tâm trọng tài thì ở hình thức trọng tài vụ việc, các bên tự xây dựng một quy tắc tố tụng riêng cho mình

Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài (với tư cách là tổ chức trọng tài phi chính phủ) là phương thức giải quyết tranh chấp xuất hiện ở nước ta từ những năm 60 của thế kỷ trước với sự thành lập của Hội đồng trọng tài hàng hải và Hội đồng trọng tài ngoại thương, tuy nhiên trên thực tế hoạt động giải quyết tranh chấp bằng trọng tài hầu như rất ít Trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới,

Trang 22

Nhà nước ta đã ban hành Nghị định số 116/CP ngày 5/9/1994 của Chính phủ về

tổ chức và hoạt động của trọng tài kinh tế, Quyết định số 204/TTg ngày 28/4/1993 của Thủ tướng chính phủ về tổ chức và hoạt động của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam và Quyết định số 114/TTg của Thủ tướng chính phủ về mở rộng thẩm quyền giải quyết của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam Các văn bản pháp luật trên là cơ sở pháp lý quan trọng cho tổ chức và hoạt động của trọng tài Tuy nhiên, nhìn chung khung pháp lý trên còn đơn giản, nhiều quy định mâu thuẫn, chồng chéo và chưa phù hợp với chuẩn mực quốc tế Trước tình hình đó,

từ ngày 1/7/2003, Pháp lệnh trọng tài năm 2003 có hiệu lực thi hành thay thế cho các văn bản pháp luật trước đó về trọng tài

Theo quy định của các văn bản pháp luật thực định của Việt Nam về trọng tài thì tranh chấp công ty là một loại tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài Nghị định số 116/CP ngày 5/9/1994 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của trọng tài kinh tế có quy định: Trọng tài kinh tế có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể công ty Theo PLTTTM có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2003 thì trọng tài thương mại

có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại Khoản 3 Điều 2 Pháp lệnh này có giải thích hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh trong đó

có hoạt động đầu tư Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư- kinh doanh (Khoản 1 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2005) Hành vi góp vốn kinh doanh của

cá nhân, tổ chức là việc đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của công ty về bản chất là hành vi đầu tư Do đó, mọi tranh chấp phát sinh từ quan hệ góp vốn giữa các bên được coi là tranh chấp trong hoạt động thương mại Như vậy, tranh chấp công ty cũng có thể giải quyết theo phương thức trọng tài theo quy định của PLTTTM

Trang 23

Tuy nhiên, theo PLTTTM và Nghị định số 25/2004/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của PLTTTM thì trọng tài thương mại có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại giữa các chủ thể là cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh Như vậy, chỉ trong trường hợp các bên trong tranh chấp công ty là cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh thì tranh chấp này mới thuộc thẩm quyền giải quyết tại trọng tài Quy định này tỏ ra không phù hợp, bởi

vì rõ ràng là cùng tính chất tranh chấp là tranh chấp công ty nhưng có tranh chấp lại được giải quyết có tranh chấp lại không được giải quyết theo thủ tục trọng tài mặc dù đã có sự thoả thuận của các bên Hơn nữa, tìm hiểu pháp luật về trọng tài của các nước trên thế giới cho thấy quy định trên không phù hợp với thông lệ quốc tế

Luật trọng tài Trung Quốc có quy định: Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng hoặc quyền sở hữu giữa các công dân, pháp nhân hoặc các tổ chức khác trên

cơ sở bình đẳng có thể được giải quyết bằng trọng tài [15]

Luật trọng tài Xinh-ga-po năm 2001 quy định: thoả thuận đưa vụ việc giải quyết tại trọng tài có thể bao gồm tất cả hoặc một vụ việc cụ thể nào đó phát sinh giữa họ mà vụ việc đó có thể phát sinh từ hợp đồng hoặc không phải

từ hợp đồng [16]

Như vậy, pháp luật về trọng tài của các nước trên thế giới đều quy định thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài rất rộng, theo hướng tất cả các tranh chấp liên quan đến tài sản giữa các bên Như vậy, tranh chấp công ty thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài nếu các bên có lựa chọn mà không bị bó hẹp bởi chủ thể tranh chấp

1.2.1.3 Giải quyết tranh chấp công ty theo thủ tục tư pháp

Giải quyết tranh chấp công ty theo thủ tục tư pháp là một phương thức giải quyết tranh chấp trên cơ sở đơn khởi kiện của một bên tranh chấp yêu cầu toà án

có thẩm quyền giải quyết vụ án và toà án sẽ đưa ra phán quyết theo quy định của pháp luật

Trang 24

Giải quyết tranh chấp công ty theo thủ tục tư pháp có một số đặc trưng sau:

- Toà án là cơ quan tài phán nhân danh quyền lực nhà nước để giải quyết tranh chấp và phán quyết của toà án có giá trị bắt buộc thi hành dựa vào sức mạnh cưỡng chế của nhà nước

- Giải quyết tranh chấp công ty theo thủ tục tư pháp có thể qua 2 cấp xét xử:

sơ thẩm và phúc thẩm Một số trường hợp, bản án, quyết định giải quyết tranh chấp đã có hiệu lực pháp luật có thể được xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm khi có các căn cứ theo quy định của pháp luật Điều này đảm bảo cho phán quyết của toà án là chính xác, khách quan và đúng pháp luật

- Toà án giải quyết tranh chấp công ty được xét xử theo nguyên tắc công khai, trừ trường hợp giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh theo yêu cầu chính đáng của đương sự thì Toà án xét xử kín nhưng phải tuyên án công khai (khoản 2 Điều 15 BLTTDS) Như vậy, trong quá trình giải quyết tranh chấp công

ty tại Toà án, các bên tranh chấp luôn bị đặt trước nguy cơ tiết lộ thông tin làm ảnh hưởng đến uy tín và bí mật kinh doanh

- Giải quyết tranh chấp công ty theo thủ tục tư pháp phải tuân thủ triệt để những quy định mang tính hình thức của pháp luật tố tụng nên các bên tranh chấp thường tốn nhiều thời gian theo kiện, ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh của mình

Nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết các tranh chấp kinh tế bằng Toà

án, PLTTGQCVAKT đã được ban hành ngày 16/3/1994 Đây là văn bản đầu tiên

và quan trọng đánh dấu chức năng giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế nói riêng và tranh chấp kinh tế nói chung được giao cho Toà án Tranh chấp kinh doanh nói chung được giao cho Toà kinh tế với tính chất là một toà chuyên trách

và các Thẩm phán chuyên trách của Toà án nhân dân cấp huyện Tuy nhiên, sau một thời gian dài có hiệu lực, nhiều quy định của PLTTGQCVAKT đã tỏ ra lỗi thời, không còn phù hợp với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế Có thể kể đến một số quy định như về thẩm quyền theo vụ việc, thẩm quyền theo cấp xét

Trang 25

xử, thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn, thời hiệu khởi kiện Điều này gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự Khắc phục tình trạng đó, từ ngày 1/1/2005 BLTTDS có hiệu lực thi hành đã thay thế cho PLTTGQCVAKT quy định về thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự trong đó có tranh chấp kinh doanh nói chung và tranh chấp công ty nói riêng So với PLTTGQCVAKT, BLTTDS đã có nhiều quy định mới, phù hợp, tiến bộ hơn Trong phần sau của luận văn chúng tôi sẽ trình bày cụ thể hơn về thủ tục giải quyết tranh chấp công ty bằng toà án theo quy định của pháp luật tố tụng hiện hành

1.2.2 Tòa án - một phương thức giải quyết tranh chấp công ty chủ yếu ở Việt Nam hiện nay

1.2.2.1 Vai trò của Toà án trong việc giải quyết tranh chấp công ty

Với tư cách là cơ quan tài phán nhà nước nhân danh quyền lực nhà nước để đưa ra phán quyết buộc các bên có nghĩa vụ thi hành, việc giải quyết tranh chấp công ty theo thủ tục tư pháp thể hiện rõ một số vai trò sau:

Thứ nhất, bảo vệ và khôi phục một cách có hiệu quả quyền và lợi ích chính

đáng của các bên đương sự trong tranh chấp công ty Khi tranh chấp công ty xảy

ra có nghĩa là quyền, lợi ích kinh tế của một bên chủ thể bị vi phạm Do đó, việc đòi hỏi phải khôi phục trạng thái vốn phải có trong quan hệ là nhu cầu tự nhiên và khách quan Đó cũng chính là mục đích của việc giải quyết tranh chấp công ty Pháp luật về giải quyết tranh chấp công ty, bao gồm cả pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng phải tạo được cơ sở pháp lý vững chắc để các nhà kinh doanh bảo vệ được quyền và lợi ích kinh tế chính đáng của mình

Thứ hai, góp phần đảm bảo được môi trường kinh doanh lành mạnh, hấp

dẫn Giải quyết tranh chấp công ty có hiệu quả sẽ khiến nhà đầu tư yên tâm góp vốn sản xuất kinh doanh Cùng với tiến trình đổi mới kinh tế, phương thức giải quyết tranh chấp công ty theo thủ tục tư pháp phải tạo được niềm tin cho các nhà đầu tư và tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh

Trang 26

Thứ ba, góp phần duy trì trật tự pháp luật trong hoạt động kinh doanh, bảo

vệ nguyên tắc pháp chế XHCN trong hoạt động kinh doanh Trong cơ chế kinh tế thị trường hiện nay, việc tạo ra các thiết chế giải quyết tranh chấp công ty nói riêng và tranh chấp kinh doanh nói chung thể hiện được yêu cầu bảo vệ một cách kiên quyết và có hiệu quả lợi ích hợp pháp của đương sự Hoạt động giải quyết tranh chấp công ty nói riêng và tranh chấp kinh doanh nói chung còn góp phần nâng cao hiểu biết và ý thức tuân thủ pháp luật đối với các doanh nghiệp Khi có tranh chấp phát sinh, các chủ thể phải thực sự nghiên cứu các văn bản pháp luật

có liên quan, tìm hiểu và thông qua quá trình thương lượng, hòa giải nắm vững thông tin, kiến thức pháp luật có liên quan trong quá trình tổ chức hoạt động kinh doanh của mình

1.2.2.2 Ưu thế của Toà án trong việc giải quyết tranh chấp công ty

Thực tế ở Việt Nam hiện nay cho thấy phần lớn tranh chấp công ty được giải quyết theo thủ tục tư pháp (giải quyết tại Toà án) Lí giải điều này không những xuất phát từ lợi thế của việc giải quyết tranh chấp công ty bằng Toà án mà còn từ yếu tố khách quan khác tạo ra ưu thế của Toà án trong việc giải quyết loại tranh chấp này

Thứ nhất, Toà án có những ưu thế vượt trội hơn so với các phương thức

giải quyết tranh chấp khác Đó là tính chuyên nghiệp và khả năng áp dụng các biện pháp mang tính cưỡng chế nhà nước Là cơ quan có chức năng hoạt động

là xét xử, Toà án có một bộ máy phục vụ cho hoạt động của mình; có đội ngũ thẩm phán xét xử chuyên nghiệp đáp ứng được yêu cầu công việc; có hệ thống pháp luật tố tụng áp dụng rõ ràng, cụ thể Bên cạnh đó, trong quá trình giải quyết vụ án khả năng áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước rất cao Nếu như Trọng tài thì còn phải thông qua cơ chế “nhờ” có sự hỗ trợ của Toà án bằng các biện pháp hỗ trợ tư pháp đối với hoạt động trọng tài thì Toà án có ưu thế hơn hẳn

Trang 27

Thứ hai, người Á đông nói chung và người Việt Nam nói riêng luôn có

xu hướng muốn giải quyết tranh chấp bằng con đường hoà bình; họ chỉ đưa tranh chấp ra giải quyết bằng cơ quan tài phán trong những trường hợp bất đắc dĩ để phân xử đúng – sai Và khi ấy, họ luôn có xu hướng và tin tưởng chọn Toà án, với tư cách là một cơ quan đại diện cho quyền lực nhà nước để giải quyết tranh chấp

Thứ ba, các phương thức giải quyết tranh chấp khác chưa tạo được niềm tin

đối với các bên tranh chấp Các quy định pháp luật về thương lượng và hoà giải chưa được quy định cụ thể mà chỉ là hình thức Việc giải quyết tranh chấp bằng thương lượng và hoà giải chỉ mang tính chất tự phát và chưa có cơ chế cưỡng chế thi hành đối với phương án giải quyết Phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thực chất mới được hình thành tại Việt Nam Sau một thời gian dài hoạt động không hiệu quả, các nhà kinh doanh chưa dám đặt niềm tin vào phương thức giải quyết tranh chấp này; việc phổ biến các quy định của pháp luật về trọng tài thương mại đến giới doanh nhân còn chưa nhiều nên giải quyết tranh chấp bằng trọng tài vẫn còn khá mới mẻ Bên cạnh đó, pháp luật

về trọng tài thương mại còn một số bất cập như các quy định về thẩm quyền giải quyết, về hiệu lực của thoả thuận ; đội ngũ trọng tài viên còn thiếu và năng lực giải quyết còn hạn chế

1.3 Cơ sở pháp lý cho việc giải quyết tranh chấp công ty theo thủ tục

Trang 28

Trong mỗi giai đoạn có sự tham gia của nhiều đối tượng khác nhau: các bên tranh chấp; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp; Toà

án (Thẩm phán, thư ký toà án), Viện Kiểm sát (kiểm sát viên trong một số trường hợp); người giám định, người phiên dịch, người làm chứng (nếu có)

Mỗi đối tượng phải thực hiện các hoạt động tố tụng khác nhau và có các quyền và nghĩa vụ tố tụng khác nhau Ví dụ: đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; Thẩm phán có nhiệm vụ tiến hành hoà giải để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án

Để thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng phải dựa trên những cơ sở pháp lý nhất định, đó là pháp luật tố tụng; pháp luật nội dung; những nội dung được các bên tham gia công ty cam kết với nhau và được cơ quan đăng ký kinh doanh xác nhận và những sự kiện, tình tiết xảy ra trên thực tế

Khởi kiện

Chuẩn bị xét xử Thụ lý

Thủ tục phúc thẩm

Phiên toà

sơ thẩm

Thủ tục xét lại bản án đã

có hiệu lực PL Thi hành

án

Trang 29

1.3.1 Các quy định pháp luật tố tụng

Giải quyết tranh chấp công ty theo thủ tục tư pháp là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của cơ quan tài phán Nhà nước, nhân danh quyền lực nhà nước để đưa ra phán quyết buộc các bên có nghĩa vụ thi hành Chính vì thế mà hoạt động giải quyết tranh chấp công ty tại Toà án phải tuân theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định trên những nguyên tắc nhất định Pháp luật

tố tụng là cơ sở pháp lý của hoạt động tố tụng để giải quyết tranh chấp công ty Pháp luật tố tụng áp dụng cho hoạt động giải quyết tranh chấp công ty theo thủ tục tư pháp là những quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội giữa cơ quan tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án

Nội dung cơ bản của pháp luật tố tụng là các quy định về thẩm quyền của Toà án; về thời hiệu khởi kiện, thời hạn tố tụng; điều kiện, trình tự thực hiện các hoạt động tố tụng từ khi nhận được đơn khởi kiện đến khi Toà án ra bản án, quyết định Tranh chấp công ty là một trong những tranh chấp mới phát sinh trong giai đoạn Việt Nam mở cửa nền kinh tế theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước phát sinh từ những năm đầu của thập kỷ 90 của thế kỷ trước cùng với sự ra đời của Luật Công ty Việc quy định về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp công ty bằng Toà án theo quy định tại PLTTGQCVAKT có hiệu lực từ ngày 1/7/1994, sau đó được thay thế bằng BLTTDS năm 2004 có hiệu lực từ ngày 1/1/2005 Cùng với hai văn bản pháp luật trên là các Nghị quyết, thông tư, công văn hướng dẫn của TANDTC về những vấn đề có liên quan

Giải quyết tranh chấp công ty theo thủ tục tư pháp có sự thay đổi trong 2 văn bản pháp luật về tố tụng trên xuất phát từ tư duy lập pháp của Nhà nước ta Trước đây, những tranh chấp công ty đáp ứng yêu cầu của khoản 2 Điều 12 PLTTGQCVAKT thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án và theo thủ tục tố tụng kinh tế Còn theo quy định của pháp luật hiện hành là BLTTDS năm 2004, tranh chấp công ty được giải quyết theo trình tự tố tụng dân sự BLTTDS năm

Trang 30

2004 được xây dựng theo hướng điều chỉnh hoạt động tố tụng giải quyết tranh chấp phát sinh từ quan hệ giữa các chủ thể bình đẳng và tự nguyện thoả thuận (quan hệ dân sự theo nghĩa rộng) Do tranh chấp công ty phát sinh từ quan hệ dân

sự theo nghĩa rộng nên được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự

1.3.2 Các quy định pháp luật nội dung

Giải quyết tranh chấp công ty về mặt nội dung phát sinh giữa các bên tranh chấp, Toà án phải căn cứ vào pháp luật nội dung Pháp luật nội dung quy định việc thành lập, tổ chức, quản lý và hoạt động của các loại hình công ty hoạt động trong nền kinh tế thị trường Cụ thể, những nội dung chính mà pháp luật nội dung điều chỉnh liên quan đến góp vốn và chuyển nhượng vốn góp; quyền lợi của các thành viên; tổ chức và hoạt động của các cơ quan quản lý nội bộ doanh nghiệp; quy định về tổ chức lại doanh nghiệp; về giải thể, phá sản doanh nghiệp

Luật Công ty được ban hành vào những năm đầu của công cuộc đổi mới và

sự ra đời của Luật Công ty năm 1990 tạo nền tảng pháp lý cho việc thành lập, hoạt động của các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, nhiều quy định trong Luật Công ty đã trở nên bất cập Từ ngày 1/1/2000, Luật này được thay thế bởi LDN được Quốc hội thông qua ngày 12/6/1999 Tuy nhiên, LDN năm 1999 chỉ điều chỉnh về tổ chức của các loại hình công ty mà có nguồn vốn đầu tư trong nước (khối doanh nghiệp trong nước) Như vậy, tranh chấp phát sinh từ các công ty này được áp dụng các quy định của LDN và các văn bản hướng dẫn thi hành

Song song với sự tồn tại của các doanh nghiệp trong nước là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Và pháp luật điều chỉnh tổ chức của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là pháp luật về đầu tư nước ngoài cũng song hành với pháp luật về tổ chức và hoạt động của các doanh nghiệp trong nước Quá trình thành lập, tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được điều chỉnh bởi Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 Cho đến nay, Luật đầu tư nước ngoài đã được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1990, 1992, 1996 và

Trang 31

2000 Cho đến thời điểm hiện nay, việc thành lập, tổ chức, hoạt động, giải thể của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chịu sự điều chỉnh của Luật sửa đổi,

bổ sung Luật đầu tư nước ngoài năm 2000 và các văn bản hướng dẫn thi hành

Hệ thống pháp luật về doanh nghiệp của nước ta được sắp xếp theo tính chất

sở hữu hay theo thành phần kinh tế của các nhà đầu tư Việc phân biệt này sẽ tạo

ra sự phân biệt đối xử trong việc giải quyết tranh chấp Cụ thể, với nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh về cùng loại hình tổ chức doanh nghiệp sẽ gây nhiều khó khăn trong phạm vi áp dụng Những quy định về thành lập, tổ chức quản lý, tổ chức hoạt động của cùng loại hình công ty lại được quy định khác nhau Cùng một loại hình tổ chức doanh nghiệp như nhau (công ty TNHH) nhưng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì lại chịu sự điều chỉnh của Luật sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư nước ngoài năm 2000 trong khi đó các doanh nghiệp trong nước lại chịu sự điều chỉnh của LDN năm 1999

Những bất cập này sẽ được xoá bỏ bởi sự ra đời của LDN (thống nhất) có hiệu lực pháp luật từ ngày 1/7/2006 Sứ mệnh của LDN năm 2005 là quy định thống nhất về trình tự, thủ tục thành lập và tổ chức, hoạt động các doanh nghiệp trên thương trường [28] Từ ngày 1/7/2006, giải quyết tranh chấp công ty về mặt nội dung sẽ được áp dụng thống nhất LDN năm 2005

1.3.3 Hồ sơ pháp lí của công ty

Công ty là một chủ thể pháp lý độc lập do các thành viên công ty thành lập ra Với tư cách là một chủ thể pháp lý độc lập thì công ty cũng phải có hồ

sơ hoạt động của nó Hồ sơ hoạt động của công ty gồm có: Điều lệ công ty, giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh, sổ đăng ký thành viên (đối với công ty TNHH và công ty hợp danh), sổ đăng ký cổ đông (đối với CTCP)

Điều lệ công ty là sự thoả thuận của các thành viên công ty biểu hiện sự

cam kết hợp tác giữa họ trên cơ sở xây dựng quy định về thành lập, tổ chức quản lý, tổ chức hoạt động của công ty Về mục đích thì Điều lệ công ty điều chỉnh hoạt động nội bộ của công ty; về mặt pháp lý, nó được coi là bản hợp đồng giữa công ty với cổ đông và giữa các cổ đông với nhau [2, tr.35]

Trang 32

Theo Khoản 1 Điều 10 Nghị định số 03/2000/NĐ-CP ngày 3/2/2000 về hướng dẫn thi hành LDN thì Điều lệ công ty là bản cam kết của tất cả các thành viên về việc thành lập, tổ chức, quản lý và hoạt động của công ty Nội dung Điều

lệ do các thành viên thoả thuận và bắt buộc phải có các nội dung chủ yếu theo quy định theo Điều 15 Nghị định số 03/2000/NĐ-CP Trong đó đáng chú ý là những quy định về phần vốn góp của thành viên công ty, quyền và nghĩa vụ của thành viên đối với công ty, điều kiện chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn góp, nguyên tắc phân chia lợi nhuận, cơ cấu tổ chức quản lý công ty, thể thức và thẩm quyền thông qua quyết định quản lý công ty và nguyên tắc giải quyết tranh chấp nội bộ của công ty

Trong mối quan hệ với LDN thì nội dung của Điều lệ công ty không được trái với các quy định của LDN và các văn bản pháp luật khác có liên quan (Khoản 1 Điều 10 Nghị định số 03/2000/NĐ-CP về hướng dẫn thi hành LDN) Tuy nhiên, hiểu như thế nào là không được trái với quy định của LDN và các văn bản pháp luật có liên quan? Theo cách hiểu thông thường, thì đối với những quy phạm mang tính bắt buộc của LDN thì Điều lệ công ty không được khác với quy định đó Ví dụ như quy định: “CTCP chỉ được trả cổ tức cho cổ đông khi công ty kinh doanh có lãi, đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật và ngay sau khi trả hết số cổ tức đã định, công ty vẫn bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản đến hạn phải trả” (Điều 67 LDN) Đối với những quy phạm mang tính tuỳ nghi thì Điều lệ công ty

có thể quy định khác với pháp luật Ví dụ như quyết định của Hội đồng thành viên được thông qua tại cuộc họp khi được số phiếu đại diện ít nhất 51% số vốn của các thành viên dự họp chấp thuận Tỉ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định” (điểm a khoản 2 Điều 39 LDN)

Nói về vai trò của Điều lệ công ty trong việc giải quyết tranh chấp công ty thì trước hết phải nói đến bản chất công ty là sự thoả thuận Sự thoả thuận này có thể biểu hiện dưới dạng biên bản hoặc hợp đồng và được cụ thể hoá thành Điều lệ công ty Hệ thống pháp luật châu Âu lục địa và hệ thống pháp luật Anh Mĩ đều

Trang 33

thừa nhận học thuyết này [4, tr.49] Xuất phát từ bản chất của mối quan hệ góp vốn thành lập công ty của các thành viên là quan hệ giữa các tổ chức, cá nhân bình đẳng, tự nguyện thoả thuận Do đó, việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ những quan hệ này trước hết phải căn cứ vào sự thoả thuận của các bên Thoả thuận này là căn cứ đầu tiên để giải quyết tranh chấp công ty khi đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của một giao dịch dân sự do pháp luật dân sự quy định Như vậy, giải quyết về mặt nội dung vụ án sẽ áp dụng Điều lệ công ty, những vấn đề nào Điều lệ công ty không quy định hoặc quy định trái thì áp dụng LDN

Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh là sự thừa nhận công ty với tư cách là

chủ thể pháp lý độc lập từ phía Nhà nước Nội dung Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh thể hiện rõ vốn điều lệ của doanh nghiệp, người đại diện theo pháp luật, thành viên công ty và số vốn góp của từng thành viên Việc thay đổi những nội dung trên đều phải được đăng kí lại tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Do

đó, Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định tư cách thành viên công ty và số vốn góp với những tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu tài sản, chuyển nhượng vốn góp và quản lí trong công ty Những tài liệu này là một chứng cứ quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoạt động của công ty

Sổ đăng kí thành viên (sổ đăng kí cổ đông): Cùng với Giấy chứng nhận đăng

kí kinh doanh thì sổ đăng kí thành viên và sổ đăng kí cổ đông là sự ghi nhận chính thức của công ty đối với người góp vốn để trở thành thành viên công ty (cổ đông công ty) Những thay đổi về thành viên công ty (cổ đông công ty) đều được ghi nhận trong sổ đăng kí thành viên (sổ đăng kí cổ đông) Ý nghĩa pháp lý của sổ đăng kí thành viên, sổ đăng kí cổ đông có giá trị nhất định bởi vì nó thừa nhận tư cách thành viên và số vốn góp của thành viên đó trên thực tế Tuy nhiên, do LDN chưa thừa nhận việc góp vốn thực tế mà chỉ thừa nhận tư cách thành viên công ty thông qua thủ tục đăng kí tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên giá trị chứng

cứ của Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh cao hơn so với sổ đăng kí thành viên, sổ đăng kí cổ đông

Trang 34

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT

TRANH CHẤP CÔNG TY THEO THỦ TỤC TƯ PHÁP

Như phần trên đã trình bày, pháp luật điều chỉnh quan hệ phát sinh trong quá trình giải quyết tranh chấp công ty tại Toà án gồm 2 bộ phận cấu thành cơ bản là pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung Phần viết dưới đây đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung mà trong thực tiễn áp dụng pháp sinh nhiều vướng mắc

2.1 Thực trạng áp dụng pháp luật tố tụng trong việc giải quyết tranh chấp công ty

Tranh chấp công ty là một loại tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án Do đó, thủ tục giải quyết các tranh chấp công

ty cũng tương tự thủ tục giải quyết các vụ án kinh doanh, thương mại nói riêng và các vụ án dân sự nói chung Từ ngày 1/1/2005, BLTTDS có hiệu lực và thủ tục giải quyết tranh chấp công ty cũng như tranh chấp dân sự theo nghĩa rộng đều theo quy định của Bộ luật này Thực tiễn áp dụng BLTTDS trong thời gian qua

đã và đang phát sinh nhiều vướng mắc Nhưng trong phạm vi luận văn này, chúng tôi chỉ đề cập đến một số vướng mắc đặc trưng nhất liên quan đến áp dụng các quy định pháp luật về thẩm quyền, thời hiệu và tư cách đương sự trong quá trình giải quyết tranh chấp công ty

2.1.1 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp công ty của Toà án

2.1.1.1 Thẩm quyền theo vụ việc

Thẩm quyền theo vụ việc là việc xác định phạm vi những tranh chấp phát sinh từ hoạt động của công ty thuộc quyền hạn giải quyết của Toà án Như chúng

ta đã biết, bên cạnh hệ thống toà án thì các tranh chấp kinh doanh, thương mại nói chung và tranh chấp công ty nói riêng còn có thể được giải quyết tại trọng tài thương mại Nguyên tắc thẩm quyền giải quyết theo vụ việc cho biết các vụ việc tranh chấp công ty nào thuộc thẩm quyền giải quyết của hệ thống Toà án và phân

Trang 35

biệt tranh chấp công ty với các tranh chấp kinh doanh, thương mại khác, giữa tranh chấp công ty với tranh chấp dân sự, tranh chấp lao động Chính vì vậy, việc xác định rõ tranh chấp công ty thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án có một ý nghĩa quan trọng để bảo đảm tốt nhất quyền lợi của các đương sự, tránh việc đùn đẩy trách nhiệm hay lấn quyền nhau giữa các cơ quan

Trước hết cần phân định thẩm quyền giải quyết tranh chấp công ty giữa Toà

án và trọng tài Cơ sở để phân định thẩm quyền giải quyết tranh chấp công ty của Toà án và Trọng tài là thoả thuận trọng tài giữa các bên Điều 5 PLTTTM năm

2003 quy định: “Trong trường hợp vụ tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài, nếu một bên khởi kiện tại Toà án thì Toà án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu”

Thoả thuận trọng tài là thoả thuận giữa các bên cam kết giải quyết bằng trọng tài vụ tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh giữa họ Thoả thuận trọng tài phải được lập thành văn bản, có thể dưới hình thức như điện báo, telex, fax, thư điện tử hoặc các hình thức văn bản khác, trong đó thể hiện rõ ý chí của các bên giải quyết vụ tranh chấp bằng trọng tài Thoả thuận trọng tài có thể là một điều khoản trong hợp đồng thành lập công ty hoặc Điều lệ công ty, Hợp đồng góp vốn liên doanh Thoả thuận trọng tài bị vô hiệu trong các trường hợp sau: Tranh chấp phát sinh không thuộc hoạt động thương mại được quy định tại PLTTTM; người ký thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền kí kết theo quy định của pháp luật; một bên ký kết thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; thoả thuận trọng tài không được lập dưới hình thức văn bản; bên ký kết thoả trọng tài không bị lừa dối, bị đe doạ và có yêu cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài

vô hiệu

Trong những trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu, cần chú ý đến trường hợp tranh chấp không thuộc hoạt động thương mại được quy định tại PLTTTM Như đã phân tích tại phần 1.2.1.2 về giải quyết tranh chấp công ty theo thủ tục trọng tài thì một tranh chấp được coi là tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương

Trang 36

mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài khi đáp ứng 2 điều kiện: một là tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại và hai là các bên tranh chấp phải có đăng kí kinh doanh Như vậy, mặc dù hành vi góp vốn là một hoạt động thương mại nhưng tranh chấp phát sinh từ hành vi này chỉ thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài nếu các bên tranh chấp là cá nhân, tổ chức có đăng kí kinh doanh

Ví dụ: Công ty TNHH A góp vốn vào công ty TNHH B để trở thành thành viên của công ty TNHH B Sau một thời gian, giữa công ty TNHH A và công ty TNHH B có phát sinh tranh chấp liên quan đến việc chia lợi nhuận Nếu trước hoặc sau khi phát sinh tranh chấp, các bên có thỏa thuận đưa vụ tranh chấp ra giải quyết tại Trọng tài thì Trọng tài sẽ có thẩm quyền giải quyết Cũng ví dụ trên nhưng nếu thay thành viên góp vốn là cá nhân (không có đăng kí kinh doanh) thì tranh chấp phát sinh từ hợp đồng góp vốn giữa thành viên đó và công ty TNHH B lại không thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài Trong khi đó, Điều lệ của công ty có thể quy định mọi tranh chấp phát sinh từ hoạt động của công ty được giải quyết tại một Trung tâm trọng tài cụ thể nào đó Trường hợp tranh chấp công

ty xảy ra sẽ phát sinh rủi ro như sau: nếu khởi kiện ra Trọng tài thì có thể tranh chấp không được Trọng tài giải quyết vì một bên trong tranh chấp không có đăng

kí kinh doanh; nếu khởi kiện ra Toà án thì có thể Toà án cũng không giải quyết với lí do các bên đã có thoả thuận trọng tài

Khi xác định được vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài thì chúng ta phải xem xét tiếp đến tranh chấp giữa các bên là tranh chấp công ty hay tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, tranh chấp dân sự, tranh chấp lao động Mặc dù, BLTTDS đã quy định trình tự, thủ tục giải quyết chung cho các vụ việc dân sự (theo nghĩa rộng) bao gồm cả các vụ việc dân sự, kinh doanh thương mại, lao động nhưng việc phân biệt tranh chấp công ty với tranh chấp dân sự, tranh chấp lao động hay với các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại vẫn cần thiết Bởi vì, tiêu chí phân định thẩm quyền theo cấp xét xử, thời hạn tố tụng được BLTTDS quy định rất khác nhau cho tranh chấp về kinh doanh, thương mại và tranh chấp dân sự Do đó, các tranh chấp nếu không nhận

Trang 37

diện được bản chất thì sẽ được giải quyết sai cấp xét xử, xác định thủ tục xét xử khác, thời hạn khác nên việc phân biệt này vẫn còn có ý nghĩa

PLTTGQCVAKT năm 1989, BLTTDS năm 2004 đều coi tranh chấp công

ty là một loại tranh chấp kinh tế, tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà kinh tế Toà án nhân dân cấp tỉnh Điểm mới của quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp công ty của Toà án theo BLTTDS

là việc bổ sung các tranh chấp liên quan liên quan đến việc sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức công ty Ngoài ra, Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTDS đã liệt kê cụ thể những tranh chấp nào được coi là tranh chấp công ty và mở rộng chủ thể trong quan hệ tranh chấp còn là tranh chấp giữa thành viên công ty với người chưa phải là thành viên công ty liên quan đến chuyển nhượng vốn góp Như vậy, quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp công ty của luật tố tụng dân sự hiện hành đã phần nào đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn tranh chấp công ty xảy ra trong giai đoạn hiện nay

Tuy nhiên, theo luật tố tụng hiện hành thì tranh chấp công ty thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án vẫn bị giới hạn về chủ thể tranh chấp và bó hẹp những tranh chấp liên quan đến thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức chỉ của các loại hình công ty Chính vì vậy mà trong quá trình áp dụng các quy định nhằm xác định thẩm quyền giải quyết theo vụ việc nảy sinh một số vướng mắc như sau:

Thứ nhất, thực tế đã phát sinh nhiều tranh chấp từ hoạt động của công ty

nhưng không được coi là tranh chấp công ty mà cũng không được coi là tranh chấp dân sự hay tranh chấp lao động

Ví dụ: CTCP A thuê ông Nguyễn Văn B làm giám đốc công ty Trong quá trình điều hành hoạt động của công ty, ông B đã đánh giá sai năng lực thị trường dẫn đến không kí nhiều hợp đồng, bỏ lỡ khoản lợi nhuận lẽ ra có được của công

Trang 38

ty Công ty A đã khởi kiện ông B ra Toà án yêu cầu bồi thường thiệt hại phát sinh trong quá trình điều hành công ty Tranh chấp giữa công ty và ông B là tranh chấp gì: tranh chấp công ty, tranh chấp hợp đồng lao động (hợp đồng thuê giám đốc) hay tranh chấp dân sự (bồi thường thiệt hại gây ra cho công ty)

Theo quy định hiện hành thì đây không được coi là tranh chấp công ty vì một bên tranh chấp là ông B không phải là thành viên công ty Đối chiếu với Điều 25 BLTTDS thì đây cũng không phải là tranh chấp dân sự bởi vì quan hệ phát sinh tranh chấp là từ hợp đồng kí kết giữa công ty A và ông B Đây là hợp đồng lao động, không phải là hợp đồng dân sự Thiệt hại do ông B gây ra trong quá trình quản lí, điều hành công ty phát sinh từ hợp đồng lao động nên không phải là tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Tuy nhiên, dẫn chiếu sang Điều 30 BLTTDS về những tranh chấp lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án thì thấy rằng đây cũng không phải tranh chấp lao động Trong tranh chấp về bồi thường thiệt hại trong quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động thì thiệt hại được coi là thiệt hại trực tiếp và tính được bằng tiền phát sinh từ hành vi vi phạm hợp đồng lao động Thực tế là ông B cũng không có hành vi vi phạm hợp đồng lao động thiệt hại ông B gây ra do năng lực yếu kém

Việc thuê giám đốc điều hành hoạt động công ty đã trở thành hiện tượng phổ biến ở nước ta không chỉ đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp ngoài quốc doanh mà cả các công ty nhà nước Tranh chấp phát sinh từ quan hệ này là điều khó tránh khỏi Đây thực chất là tranh chấp trong quá trình hoạt động của công ty nên xét về tính chất thì tranh chấp trên phải được coi

là tranh chấp công ty Tuy nhiên, với quy định của pháp luật thực định như hiện nay thì Toà án cũng rất khó xác định đây là tranh chấp gì để thụ lí và giải quyết cho đúng

Thứ hai, các tranh chấp phát sinh trong quá trình thành lập, tổ chức hoạt

động và tổ chức quản lý của hợp tác xã không được coi là tranh chấp công ty

Ngày đăng: 24/01/2021, 19:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w