1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁCLEENIN: Cách mạng công nghiệp 4.0, những cơ hội và thách thức đối với sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa

16 5,2K 43

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 265,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giới thiệu nội dung nghiên cứu Khái quát lí luận về sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội + Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất + Quy luật phát triển lực lượng

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

****************

TIỂU LUẬN MÔN HỌC KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC-LÊNIN

(Mã học phần SSH 1121)

ĐỀ TÀI: Cách mạng công nghiệp 4.0, những cơ hội và thách thức đối với

sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa

ĐIỂM NHẬN XÉT VÀ CHỮ KÝ CỦA GIẢNG VIÊN

Sinh viên thực hiện:

Giảng viên hướng dẫn:

Hà Nội, tháng 11 năm 2020

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 3

1 Sự cần thiết của đề tài 3

2 Đối tượng nghiên cứu 4

3 Phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Giới thiệu nội dung nghiên cứu 4

PHẦN NỘI DUNG 6

1 Khái quát lí luận về sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội 6

1.1 Một số khái niệm cơ bản 6

1.2 Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất 6

1.3 Quy luật phát triển lực lượng sản xuất xã hội 7

2 Ảnh hưởng của Cách mạng Công nghiệp 4.0 đến sức cạnh tranh của Việt Nam 8

2.1 Khái quát thành tựu của các cuộc Cách mạng KHKT trong lịch sử nhân loại 8

2.2 Cơ hội nâng cao sức cạnh tranh của Việt nam do cách mạng công nghiệp 4.0 9

2.3 Thách thức với khả năng cạnh tranh của Việt Nam 10

3 Một số khuyến nghị để khai thác cơ hội và vượt qua thách thức từ CM Công nghiệp 4.0 11

3.1 Mục tiêu 11

3.2 Một số khuyến nghị 12

PHẦN KẾT LUẬN 15

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Thuật ngữ “Công nghiệp 4.0” lần đầu tiên được đưa ra ở Cộng hòa Liên bang Đức năm 2011 tại Hội chợ Công nghệ Hannover Đến năm 2012, được sử dụng đặt tên cho một chương trình hỗ trợ của Chính phủ Đức hợp tác với giới nghiên cứu và các hiệp hội công nghiệp hàng đầu của Đức nhằm cải thiện quy trình quản lý và sản xuất trong các ngành chế tạo thông qua “điện toán hóa” Ngày 20/01/2016, tại Diễn đàn Kinh

tế thế giới đã khai mạc với chủ đề “Làm chủ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”

Từ đó, đến nay, thuật ngữ “Công nghiệp 4.0” được sử dụng rộng rãi trên thế giới để mô

tả cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất đã sử dụng năng lượng nước và hơi nước để cơ giới hóa sản xuất Lần thứ hai sử dụng năng lượng điện để tạo ra sản xuất hàng loạt Lần thứ ba sử dụng công nghệ điện tử và thông tin để tự động hóa sản xuất Giờ đây, một cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang được xây dựng trên nền tảng cuộc cách mạng công nghiệp thứ 3, cuộc cách mạng kỹ thuật số đã xảy ra từ giữa thế kỷ trước Nó được đặc trưng bởi sự hợp nhất của các công nghệ đang xóa nhòa ranh giới giữa các lĩnh vực vật lý, kỹ thuật số và sinh học

Có ba lý do tại sao ngày nay các biến đổi không chỉ đơn thuần là sự kéo dài của Cách mạng công nghiệp lần thứ ba mà là sự xuất hiện của cuộc cách mạng công nghiệp thứ tư mang tính đột phá về tốc độ biến đổi, phạm vi và tác động Khi so sánh với các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây, cuộc cách mạng lần thứ 4 đang phát triển theo cấp số nhân chứ không phải là một tốc độ tuyến tính Hơn nữa, nó đang phá vỡ hầu hết mọi ngành công nghiệp ở mọi quốc gia Chiều rộng và chiều sâu của những thay đổi này báo trước sự biến đổi của toàn bộ hệ thống sản xuất, quản lý và quản trị

Trang 4

Hàng tỷ người được kết nối bằng thiết bị di động, với sức mạnh xử lý chưa từng

có, khả năng lưu trữ và truy cập vào kiến thức là không giới hạn Và những khả năng này sẽ được nhân lên nhờ những đột phá công nghệ mới nổi trong các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, robot, Internet vạn vật, xe tự trị, in 3-D, công nghệ nano, công nghệ sinh học, khoa học vật liệu, lưu trữ năng lượng và điện toán lượng tử

Trước tình hình thực tiễn, cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ mang lại những cơ hội và thách thức tác động đến phát triển kinh tế Việt Nam thời gian tới

2 Đối tượng nghiên cứu

Tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đến nền kinh tế Việt Nam

3 Phạm vi nghiên cứu

Ảnh hưởng của nền công nghiệp 4.0 đến sức cạnh tranh của Việt Nam: Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế trong xu thế toàn cầu hóa; những cơ hội và thách thức với khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Dựa trên những hiểu biết và tìm hiểu về Cách mạng công nghiệp 4.0, nêu ra những thuận lợi và thách thức của nền kinh tế Việt Nam, từ đó tìm ra giải pháp phù hợp để thích nghi, phát triển

5 Giới thiệu nội dung nghiên cứu

Khái quát lí luận về sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội

+ Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

+ Quy luật phát triển lực lượng sản xuất xã hội trên phương diện Kinh tế - Kỹ thuật và Kinh tế-Xã hội

Ảnh hưởng của Cách mạng công nghiệp 4.0 đến sức cạnh tranh của Việt Nam + Tiến trình của Việt Nam hội nhập kinh tế thế giới trong xu hướng toàn cầu hóa

+ Thành tựu của Cuộc cách mạng KHKT trong lịch sử

Trang 5

+ Cơ hội nâng cao sức cạnh tranh và thách thức với khả năng cạnh tranh của Việt Nam

do Cách mạng công nghiệp 4.0

Một số khuyến nghị để khai thác cơ hội và vượt qua thách thức từ CM công nghiệp 4.0

+ Mục tiêu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và nền kinh tế độc lập

tự chủ

+ Một số khuyến nghị với Nhà nước, Doanh nghiệp và người lao động

Trang 6

PHẦN NỘI DUNG

1 Khái quát lí luận về sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội

1.1 Một số khái niệm cơ bản

Lực lượng sản xuất là khái niệm dùng để chỉ tổng thể các yếu tố cấu thành nội dung vật chất, kỹ thuật, công nghệ, của quá trình sản xuất, tạo thành năng lực thực tiễn cải biến giới tự nhiên của con người Với nghĩa như vậy, lực lượng sản xuất cũng đóng vai trò phản ánh căn bản trình độ chinh phục giới tự nhiên của con người

Quan hệ sản xuất là khái niệm dùng để chỉ quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất và trao đổi vật chất, thể hiện tập trung ở quan hệ về sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức quản lý sản xuất, quan hệ trao đổi hoạt động cho nhau

và quan hệ trong phân phối sản phẩm lao động

Phương thức sản xuất là cách thức con người tiến hành quá trình sản xuất vật chất

ở những giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người Phương thức sản xuất là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất với một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng

1.2 Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là một trong những nguyên lý cơ bản, cốt lõi của chủ nghĩa duy vật lịch sử, là quan hệ cơ bản của toàn xã hội, quyết định sự vận động phát triển của lịch sử xã hội loài người

Từ những tư tưởng của C.Mác và Ph Ăngghen, Lênin có thể tóm lược những nội dung cốt lõi của mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất như sau: Một là, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai thành tố cơ bản cấu thành nên phương thức sản xuất, chúng tồn tại trong mối quan hệ thống nhất, ràng buộc lẫn nhau trong quá trình sản xuất xã hội Mỗi phương thức sản xuất hay quá trình sản xuất

xã hội không thể tiến hành được nếu thiếu một trong hai thành tố trên Trong đó, lực lượng sản xuất chính là nội dung vật chất, kỹ thuật, công nghệ của quá trình này còn quan hệ sản xuất đóng vai trò là hình thức kinh tế của quá trình đó Sự phát triển của lực lượng sản xuất đòi hỏi quan hệ sản xuất phải được điều chỉnh, thay đổi cho phù hợp,

Trang 7

thích ứng với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Chỉ có sự thích ứng, phù hợp

đó của quan hệ sản xuất, lực lượng sản xuất mới có thể tiếp tục phát triển

Hai là, trong mỗi phương thức sản xuất thì lực lượng sản xuất đóng vai trò quyết định.Tính quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất được thể hiện trên hai mặt thống nhất với nhau: lực lượng sản xuất nào thì quan hệ sản xuất đó và cũng do

đó mà khi lực lượng sản xuất thay đổi thì cũng tất yếu đòi hỏi phải có những thay đổi nhất định đối với quan hệ sản xuất

Ba là, quan hệ sản xuất luôn có khả năng tác động ngược trở lại, đối với việc bảo tồn, khai thác, sử dụng và phát triển lực lượng sản xuất Quá trình tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất có thể diễn ra với hai khả năng: tác động tích cực hoặc tiêu cực Khi quan hệ sản xuất phù hợp với nhu cầu khách quan bảo tồn, khai thác, sử dụng và phát triển của lực lượng sản xuất thì có tác động tích cực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, ngược lại, nếu trái với nhu cầu khách quan đó thì nhất định sẽ diễn ra quá trình tác động tiêu cực

Bốn là, mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là quan hệ mâu thuẫn biện chứng, tức là mối quan hệ thống nhất của hai mặt đối lập Sự vận động của mâu thuẫn biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là đi từ sự thống nhất đến mâu thuẫn và một khi mâu thuẫn được giải quyết thì tái thiết lập sự thống nhất mới; quá trình này lặp đi lặp lại trong lịch sử tạo ra quá trình vận động phát triển của phương thức sản xuất

1.3 Quy luật phát triển lực lượng sản xuất xã hội

Về phương diện kinh tế - kĩ thuật:

Để phát triển lực lượng sản xuất, con đường tất yếu là phải diễn ra cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật, công nghệ, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đó là quá trình phát triển không ngừng ở tất cả các nước dưới những hình thức và mức độ khác nhau Ở Liên Xô trước đây, trong chính sách kinh tế mới của Lênin, đã coi trọng phát triển lực lượng sản xuất trong cách thức tổ chức, quản lý của kinh tế thị trường Từ năm 1928, Liên Xô đẩy mạnh công nghiệp hóa và trong một thời gian không dài đã có nền công nghiệp phát triển, quốc phòng mạnh, đủ sức đánh thắng chủ nghĩa phát xít trong chiến

Trang 8

tranh vệ quốc và góp phần quyết định thắng lợi của phe Đồng minh trong Chiến tranh thế giới thứ II, trở thành một trong hai siêu cường của thế kỷ XX Sau Cách mạng thành công, từ cuối những năm 50, Trung Quốc đã đẩy mạnh phát triển công nghiệp gang thép, trong “đại tiến vọt” và trong công cuộc cải cách từ cuối những năm 70 đã chú trọng bốn hiện đại hóa, không ngừng phát triển lực lượng sản xuất hiện đại

Về phương diện kinh tế- xã hội:

Trong xã hội phong kiến, lực lượng sản xuất còn hết sức thấp kém, của cải làm ra chưa đủ bảo đảm những nhu cầu tối thiểu của con người, các yếu tố của quá trình tái sản xuất đóng khung sự vận động trong phạm vi cai quản của lãnh chúa phong kiến theo kiểu "Nội bất xuất, ngoại bất nhập" Thị trường, do đó, cũng bị vây chặn trong địa hạt của từng lãnh chúa

Lực lượng sản xuất trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế hiện nay, nó không chỉ được xã hội hóa như trước kia, mà nó ngày càng được toàn cầu hoá, quốc tế hoá Toàn cầu hoá kinh tế trước hết là toàn cầu hoá lực lượng sản xuất

2 Ảnh hưởng của Cách mạng Công nghiệp 4.0 đến sức cạnh tranh của Việt Nam 2.1 Khái quát thành tựu của các cuộc Cách mạng KHKT trong lịch sử nhân loại

Có bốn đại diện chính của xu hướng lớn về phát triển công nghệ , dễ dàng nhận thấy nhất là: xe tự lái, công nghệ in 3D, robot cao cấp, vật liệu mới

Xe tự lái: Xe hơi tự lái đang chiếm ưu thế nhưng hiện nay còn có nhiều kiểu phương tự lái khác bao gồm xe tải , thiết bị bay không người lái , máy bay và tàu thủy Cùng với quá trình phát triển của cảm biến và trí tuệ nhân tạo , khả năng của các phương tiện tự hành này cũng được cải thiện với tốc độ nhanh chóng

Công nghệ in 3D: Hay được gọi là chế tạo cộng , in 3D bao gồm việc tạo ra một đối tượng vật lý bằng cách in một mô hình 3D có trước Công nghệ in 3D bắt đầu với vật liệu rời và sau đó tạo ra một sản phẩm ở dạng ba chiều từ mẫu kĩ thuật số

Khoa học robot cao cấp: Ngày nay ,các robot đang được sử dụng nhiều hơn ở tất

cả các lĩnh vực từ nông nghiệp cho đến việc chăm sóc người bệnh Sự phát triển nhanh công nghệ robot làm cho sự hợp tác giữa người và máy móc sớm trở thành hiện thực

Trang 9

Hơn nữa, do tiến bộ công nghệ khác,robot đang trở nên thích nghi và linh hoạt hơn với thiết kế cấu trúc và chức năng của nó được lấy cảm hứng từ các cấu trúc sinh học phức tạp

Vật liệu mới: Với thuộc tính mà mà chỉ cách đây vài năm vẫn còn được coi là viễn tưởng , những vật liệu mới đang được đưa ra thị trường Về tổng thể , chúng nhẹ hơn , bền hơn , có thể tái chế và dễ thich ứng Hiện nay có các ứng dụng cho các vật liệu thông minh tự phục hồi hoặc tự làm sạch , các kim loại có khả năng khôi phục lại hình dạng ban Cau , ôm sử và pha lê biến áp lực thành năng lượng và nhiều vật liệu khác nữa

2.2 Cơ hội nâng cao sức cạnh tranh của Việt nam do cách mạng công nghiệp 4.0

Việt Nam hiện đang ở trên mức tăng trưởng trung bình của thế giới , cao hơn cả những nước có trình độ tương đương , nghĩa là Việt Nam đã đổi mới thi công Lợi thế

mà chúng ta có được liên quan đến yếu tố con người Đó là đặc tính của người Việt Nam: cần cù, quyết tâm Những vấn đề di dân, an ninh mạng sẽ có ảnh hưởng quan trọng tới quá trình hội nhập quốc tế và Việt Nam không nằm ngoài những rủi ro đó Việt Nam đang có những lợi thế sau: Thứ nhất, khi cuộc cách mạng mới bắt đầu lúc này, không phải chỉnh phù nào cũng nói về cuộc cách mạng này nhiều như ở Việt Nam

Thứ hai, từ khi ngành công nghệ thông tin đặt mục tiêu vươn ra thế giới thì tim lực ngành cũng vượt trội so với năng lực kinh tế Việt Nam

Thứ ba, cuộc cách mạng này không phải cuộc cách mạng của các đại gia mà là cuộc cách mạng của mọi người

Cuộc CMCN 4.0 đã mở ra những cơ hội có thể tranh thủ để thúc đẩy sự phát triển của của Việt Nam Cụ thể là:

Cuộc CMCN 4.0 có thể tạo ra lợi thế của những nước đi sau như Việt Nam so với các nước phát triển do không bị hạn chế bởi quy mô cồng kềnh, quán tính lớn; tạo điều kiện cho Việt Nam bứt phá nhanh chóng, vượt qua các quốc gia khác cho dù xuất phát sau;

Trang 10

Việc ứng dụng những công nghệ mới cho phép thúc đẩy năng suất lao động và tạo khả năng nâng cao mức thu nhập và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân; Khả năng biến đổi các hệ thống sản xuất, quản lý và quản trị cho doanh nghiệp trong nước;

Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, những phát triển về công nghệ có thể rút ngắn (cũng có thể gia tăng) khoảng cách chênh lệch về tiềm lực của các thế lực các quốc gia khác nhau

2.3 Thách thức với khả năng cạnh tranh của Việt Nam

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 ra đời ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực , nó cũng mở ra nhiều cơ hội và thách thức cho nền kinh tế và văn hóa Làm thế nào để tăng tốc phát triển hạ tầng thông tin trên cơ sở bảo đảm tính kế thừa và tận dụng những thành tựu , kết quả đã có , phù hợp với chiến lược , quy hoạch phát triển trong các lĩnh vực Trong đó phải ưu tiên công nghệ thông tin và truyền thông đây cũng là một thách thức lớn đối với một nước đang phát triển như Việt Nam

Bên cạnh đó phải đẩy mạnh ứng dụng công nghệ vào công tác quản lý , khai thác , vận hành hệ thống của kinh tế Đặt việc phát triển ứng dụng CNTT là nhiệm vụ hàng đầu trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa ở tất cả các ngành , lĩnh vực Điều chỉnh , bổ sung chiến lược phát triển cơ sở hạ tầng , ứng dụng CNTT trong phạm vi cả nước , đảm bảo tính đồng bộ và kết nối liên ngành liên vùng Ưu tiên khai thác phát triển nguồn nhân lực công nghệ chất lượng cao , tăng cường đào tạo nhân lực , đào tạo

kỹ năng sử dụng công nghệ , khả năng tiếp cận sử dụng ứng dụng công nghệ nhằm nâng cao dân trí Ví dụ đất nước ta thiếu hơn 900000 kĩ sư công nghệ thông tin mà đây là ngành xương sống của cách mạng công nghiệp 4 0 vì vậy mà đất nước ta đã và đang tập chung đào tạo nguồn tri thức CNTT chuyên nghiệp , hiệu quả để đáp ứng nhu cầu của đất nước

Thách thức trong việc phải có nhận thức đầy đủ về bản chất, tác động của cuộc CMCN4 và khả năng tư duy, quản lý điều phối tích hợp các yếu tố công nghệ, phi công nghệ, giữa thực và ảo, giữa con người và máy móc;

Ngày đăng: 24/01/2021, 18:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w