Các thế lực tội phạm thường lợi dụng sự quen biết hoặc thiếu hiểu biết pháp luật, hoàn cảnh khóa khăn, sự nhẹ dạ và lòng tham của một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số sống cạnh biên giớ[r]
Trang 1Tác động ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế-xã hội đối với tình hình tội phạm xuyên quốc gia ở vùng Tây Bắc
Đỗ Đức Minh*
Tóm tắt: Vùng Tây Bắc có vị thế địa chính trị vô cùng quan trọng, liên quan mật thiết đến
sự tồn vong và hưng thịnh của đất nước Nghiên cứu những tác động, ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế - xã hội đến việc phát sinh và phát triển của các loại tội phạm xuyên quốc gia ở vùng Tây Bắc góp phần nhận diện, làm rõ những đặc điểm, yêu cầu, thuận lợi và thách thức trong công tác đấu tranh phòng chống loại tội phạm này trên địa bàn chiến lược Tây Bắc nói riêng và cả nước nói chung.
Từ khóa: Tây Bắc, Ma túy, Tội phạm xuyên quốc gia
1 Một số vấn đề về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc
1.1 Điều kiện tự nhiên
(1) Vùng Tây Bắc có kiến tạo địa chất
đa dạng phức tạp và có địa hình cao
nhất, bị chia cắt nhất, hiểm trở và trọng
yếu nhất Việt Nam Là miền đất của
những núi cao và cao nguyên (đá vôi xen
lẫn núi đất), nơi đây đặc trưng có nhiều
dãy núi cao trải dài hình rẻ quạt hướng
tây bắc-đông nam (khu vực Lào Cai, Lai
Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình)
hoặc có những dãy núi cao chạy theo
hình cánh cung (khu Việt Bắc) Nhiều
khối liền mạch núi sông và dãy núi cao
kéo dài từ Vân Nam (Trung Quốc) và
thoải dần song song
với thung lũng sông Hồng Các dạng địa hình phổ biến ở đây là các dãy núi cao, thung lũng sâu hay hẻm vực làm cho địa hình chia cắt phức tạp Từ Đông sang Tây được đánh dấu bởi dãy núi cao và đồ sộ nhất là Hoàng Liên Sơn (dài 180km, rộng 30km) với nhiều đỉnh núi cao mây mù từ 2800-3000m Phía tây là dãy núi sông Mã dài 500 km và có những đỉnh cao trên 1800m Giữa hai dãy núi đồ sộ này là vùng đồi núi thấp tương đối rộng lớn thuộc lưu vực sông Đà (còn gọi là địa máng sông Đà) với nhiều cao nguyên đá vôi có độ cao trung bình chạy suốt từ Phong Thổ đến Thanh Hóa và có thể chia nhỏ thành các cao nguyên như Tà Phình, Mộc Châu, Nà Sản Xen giữa các dãy núi Hoàng Liên và dải cao nguyên phía Tây là một số đồng bằng nhỏ và thung lũng (vùng bồn địa,
* * Tiến sĩ Luật học, Ban Thanh tra và Pháp chế, Đại học Quốc gia Hà Nội
ĐT: 0983682040, Email: minhdd@vnu.edu.vn
Trang 2lòng chảo) như Điện Biên, Nghĩa Lộ, Mường Thanh (thung lũng lớn nhất nhưng chiếm phần nhỏ trong toàn bộ diện tích vùng) Địa hình Tây Bắc được đặc trưng bởi tính phức tạp và chia cắt mạnh đã tạo nên những vùng cảnh quan khá đa dạng: Vùng cao núi đồi cao và dốc lớn, nhiều ngọn núi cheo leo hiểm trở xen kẽ các thung lũng sâu và hẹp tạo thành một phức hợp của những bồn địa lớn, nhỏ nằm xen kẹp giữa các dãy núi cao bao bọc xung quanh; xen kẽ là các thung lũng có địa hình tương đối bằng phẳng (Mường
So, Tam Đường, Bình Lư, Than Uyên), Pu Sam Cáp [1, tr.76]
(2) Tây Bắc cũng là địa bàn có diện tích rừng tự nhiên khá lớn với hệ thống các
rừng rậm, rừng nguyên sinh, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng phục sở hữu nguồn tài nguyên phong phú, có giá trị đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển của đất nước và bảo
vệ bền vững môi trường sinh thái Đây là một vùng sinh thái đặc biệt, tính đa dạng sinh học cao và có tính đặc hữu; hệ thống vật rừng điển hình và phong phú về loài, nhiều loại cây gỗ, cây dược liệu quý hiếm có giá trị kinh tế, giá trị khoa học cao Tài nguyên rừng của Tây Bắc không chỉ cung cấp nguyên liệu giấy, chất đốt, phát triển vùng dược liệu, phát triển công nghệ sinh học (bảo tồn nguồn gen ) mà còn có vai trò quan trọng với du lịch sinh thái và vùng nguyên liệu gỗ, sản phẩm đặc sản của cả vùng Bắc Bộ; vai trò quyết định đối với bảo vệ môi trường sinh thái đầu nguồn và nguồn nước của đồng bằng Tây Bắc cũng là vùng trung chuyển của tất cả các con sông có dòng chảy lưu lượng lớn
ở phía Bắc bắt nguồn từ các đỉnh núi cao ở khu vực Trung Quốc chảy về Việt Nam cùng với hàng nghìn sông, suối lớn nhỏ ghềnh thác dày đặc nên tiềm năng điện rất lớn Tài nguyên nước dồi dào, không chỉ đáp ứng nhu cầu hoạt động kinh tế và dân sinh của toàn vùng mà còn chi phối sự phát triển tự nhiên của các vùng đồng bằng Bắc Bộ và Trung
Bộ [2] Tài nguyên đất đai, khoáng sản giàu và phong phú: đất đai tương đối rộng, thổ nhưỡng đa dạng, chứa đựng một số loại khoáng sản quan trọng như sắt (apatít), bôxít, chì, kẽm, đa kim, đất hiếm, đá quý, than đá với trữ lượng khá lớn1
(3) Là địa bàn vùng núi cao, địa hình chia cắt nhiều tầng trên một nền địa chất
phức tạp và sự phân hoá khí hậu sâu sắc nên thiên nhiên Tây Bắc khá đa dạng với nhiều tiểu vùng với các đặc trưng về địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu, thủy văn (Tây Bắc Bộ, Tây Thanh Hóa, Nghệ An) Khí hậu vùng Tây Bắc mang tính lục địa rõ rệt và khá phức tạp,
được chia làm hai mùa theo độ ẩm là: Mùa khô hạn kéo dài cộng với lượng gió Tây khô nóng gây khó khăn cho cây trồng và vật nuôi Mùa mưa thường có gió lốc, mưa đá và lũ
ống, lũ quét vào đầu mùa gây ra sự tàn phá bất thường đối với đất đai, sản xuất và đời sống; từ tháng 12 đến tháng 1 thường xuyên có sương muối và băng giá Khu vực này cũng chịu tác động của những biến cố khí hậu ở miền núi mang tính chất cực đoan, trong năm xuất hiện những hiện tượng, như: lạnh có tuyết, sương mù vào mùa Đông (Sa Pa, Mẫu Sơn) và hiện tượng “phơn” mùa hạ làm nhiệt độ có khi lên trên 40oC Biên độ nhiệt
1 Ngoài ra, dưới lòng đất khu vực này cũng có nhiều tài nguyên chưa được phát hiện, nhất là ở vùng sâu, vùng
xa, vùng hiểm trở đi lại khó khăn
Trang 3độ trong ngày khá lớn, nhiều nơi khí hậu mang nhiều sắc thái ôn đới; bị phân hóa mạnh theo không gian dưới tác động của các hệ thống hoàn lưu gió mùa, nhiễu động nhiệt đới
và sự tương tác của địa hình Sự phân hóa đó được thể hiện bởi sự khác biệt giữa phía tây và đông dãy Hoàng Liên Sơn và Trường Sơn Bắc Các hiện tượng mưa lớn tập trung khi kết hợp với một số điều kiện thì xuất hiện lũ, lũ quét Mùa khô thường xảy ra hạn hoặc hạn hán kéo dài ngoài sức chịu đựng của cây cối [3]
1.2 Tình hình kinh tế xã hội
(1) Về mặt hành chính, vùng Tây Bắc theo phạm vi chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Tây
Bắc gồm vùng diện tích của 12 tỉnh miền núi và trung du miền núi, gồm: Hà Giang, Lào
Cai, Yên Bái, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Phú Thọ, Tuyên Quang và 22 huyện/thị phía tây của hai tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An2 (gồm
144 huyện/thị, 2564 xã/phường với tổng diện tích 107,761 km2 chiếm 32,16% diện tích phần đất liền với dân số trên 15 triệu người chiếm 17% dân số cả nước (trong đó chủ yếu
là dân số ở nông thôn chiếm 83,7%) Đây là vùng rộng lớn, đất rộng người thưa nhưng
có vị trí địa - chính trị hết sức quan trọng, đóng vai trò “phên dậu” đối với an ninh quốc gia Trong lịch sử, Tây Bắc được xem là vùng đất có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng
“địa đầu” biên cương của Tổ quốc, che chắn cho trấn như “giậu” như “phên” án ngữ cho châu làm “then” làm “chốt” và nơi đây cũng được coi là vùng đất “Tam Mãnh” qua Lào vào Vân Nam và Hưng Hóa [4]
Hiện nay Tây Bắc có vị trí địa lý đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng và trong quan hệ giao lưu quốc tế; là địa bàn chiến lược, vùng biên cương trọng yếu của đất nước với gần 2600 km đường biên giới quốc gia tiếp giáp với Trung Quốc và Lào với nhiều cửa khẩu thông thương giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và nhiều lối mở tiểu ngạch buôn bán giao thương nhỏ trên tuyến đường mòn xuyên biên giới3 Khu vực biên giới Việt-Trung có cấu trúc địa hình tương đối phức tạp, độ chia cắt lớn, thấp dần từ Tây sang Đông dẫn đến hệ thống sông suối nơi đây phần lớn có
xu hướng chảy từ Tây Bắc xuống Đông Nam, ít có giá trị đối với giao thông đường thủy Tùy theo mùa và từng đoạn, mực nước biến đổi thất thường (có khi xuống thấp hoặc dâng cao), chảy mạnh gây bồi lở và đổi dòng dẫn đến biến đổi địa hình lòng sông và ảnh
2 Các huyện phía tây Thanh Hóa là: Quan Hóa, Mường Lát, Thường Xuân, Như Thanh, Ngọc Lặc, Cẩm Thủy,
Quan Sơn, Bá Thước, Như Xuân, Lang Chánh, Thạch Thành Các huyện phía Tây Nghệ An gồm: Quỳ Châu, Nghĩa Đàn, Thị xã Thái Hòa, Tương Dương, Tân Kỳ, Thanh Chương, Quỳ Hợp, Kỳ Sơn, Con Cuông, Anh Sơn, Quế Phong
3 Đường biên giới Việt-Trung dài 1375/1494km gồm 6/7 tỉnh giáp biên của Việt Nam [Hà Giang (274 km), Lai Châu (273 km), Lào Cai (203,5 km), Điện Biên (38,5km), Lạng Sơn (253 km), Cao Bằng (333.403 km)] với tỉnh Vân Nam, Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây của Trung Quốc Đường biên giới Việt-Lào dài 1221/2340km trải dài suốt 4/10 tỉnh của Việt Nam [Điện Biên (360km), Sơn La (250 km), Thanh Hóa (192 km), Nghệ An (419,5km), tiếp giáp với
5 tỉnh Phông Sa Lỳ, Luông Pha Băng, Hủa Phăn, Xiêng Khoảng, Bô Ly Khăm Xay của Lào Khu vực Tây Bắc có nhiều
cửa ngõ thông thương giữa Việt Nam với các nước trong khu vực như: 1/ Cửa khẩu quốc tế có, Đường bộ: Tà Lùng, Móng Cái, Hữu Nghị, Lào Cai, Thanh Thủy, Tây Trang, Na Mèo, Nậm Cắn Đường sắt: Đồng Đăng, Lào Cai 2/ Cửa
khẩu quốc gia: Hoành Mô, Bình Nghi, Chi Ma, Lý Vạn, Hạ Lang, Pò Peo, Trà Lĩnh, Sóc Giang, Săm Pun, Phó Bảng, Xín Mần, Mường Khương, Ma Lù Thàng, Huổi Pôc, A Pa Chải, U Ma Tu Khoàng, Chiềng Khương- Sông Mã, Nà Cài, Lóng Sập (Pa Háng)
Trang 4hưởng đến việc lưu thông qua lại [5] Phần lớn tuyến biên giới Việt-Lào đều đi qua đỉnh hoặc triền núi và qua rừng rậm nhiệt đới với độ cao trung bình hoặc cao (nơi thấp nhất khoảng 300m, cao nhất khoảng 2700m; khu vực các cửa khẩu có độ cao trung bình khoảng 500m, có nơi trên 1000m so với mực nước biển) Dãy núi cao Pu Xam Sẩu từ A
Pa Chải trải dài hình thành một đường biên giới tự nhiên giữa hai nước; một số đèo đã trở thành các cửa khẩu nối liền hai nước, còn trên các đoạn biên giới khác, hầu hết là núi non hiểm trở, giao thông đi lại rất khó khăn [6]
(2) Khu vực Tây Bắc còn là nơi tập trung đông các tộc người các dân tộc: trên địa
bàn khu vực hiện có 31 dân tộc thiểu số cư trú đan xen với nhau và đồng bào dân tộc thiểu
số chiếm khoảng 70% số dân của cả vùng Mật độ dân số thấp so với cả nước: bình quân
155 người/km2 (mật độ dân số bình quân cả nước là 274 người/km2); riêng các tỉnh có chung đường biên giới với Trung Quốc thuộc nhóm dưới 100 người/km2 Do tác động của quá trình tộc người (di cư từ bên ngoài tới hoặc các cuộc xung đột tộc người liên quan đến nơi cư trú) cũng như tập quán mưu sinh của các tộc người đã hình thành nên hiện tượng cư trú cài răng lược giữa đồng bào các dân tộc với mức độ phân bố cư dân không đều giữa các vùng cảnh quan, đặc biệt ở vùng rẻo cao, rẻo giữa (phân bố dân cư theo độ cao) Trong các dân tộc thiếu số, một số dân tộc đã đạt đến một giai đoạn phát triển cao (Tày, Nùng, Dao ) với sự xuất hiện các tầng lớp xã hội khác nhau, nhiều dân tộc còn chia thành đẳng cấp Mặc dù cũng có điểm khác biệt về tín ngưỡng và tôn giáo, song hầu hết các tộc người thiểu số sống ở vùng Tây Bắc đều theo tín ngưỡng đa thần và quan niệm về vũ trụ xung quanh con người được tạo bởi nhiều tầng thế giới; trong đó một bộ phận (khoảng trên 100.000 người) theo các tôn giáo [7] Các thiết chế xã hội truyền thống của các tộc người cư trú rất phong phú và phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử của họ, tạo nên những nét riêng biệt của mỗi tộc người ở đây Quan hệ dân tộc mang tính tộc người giữ vai trò chủ đạo, thông qua quan hệ hôn nhân nội tộc, họ hàng thân thích, láng giềng đồng tộc để thực hiện các nghi lễ tộc người (ma chay, cưới xin, lễ tết) Trong
đó, xu hướng chủ đạo là sự cố kết đồng tộc, hòa hợp dân tộc và đồng hóa tự nhiên Quan
hệ thân tộc gồm các mối quan hệ gia đình, quan hệ họ hàng được xem là sự khởi nguồn cho các mối quan hệ khác trong xã hội và được người dân Tây Bắc đặc biệt coi trọng Mặc dù đều có đặc điểm chung của khu vực miền núi phía Bắc nhưng do những đặc thù
về môi trường cư trú và lịch sử tộc người nên mỗi vùng và mỗi tộc người đều có những đặc điểm kinh tế-xã hội theo vùng cảnh quan, hình thành nên những truyền thống và đặc thù văn hoá của các tộc người (nhiều dân tộc còn lưu giữ nguyên vẹn bản sắc văn hóa truyền thống của mình) Ngoài ra, sự khác biệt về điều kiện sinh sống, phương thức lao động sản xuất cũng gây ra khác biệt văn hóa lớn mặc dù văn hóa chủ thể và đặc trưng chung
Trang 5Trên vùng Tây Bắc, đồng bào các dân tộc anh em cùng sinh sống gắn bó lâu đời,
có truyền thống yêu nước, đoàn kết, kiên cường chống ngoại xâm; có ý thức trong lao động, sản xuất, vươn lên thoát khỏi đói nghèo và quyết tâm xây dựng, bảo vệ Tổ quốc; sáng tạo và lưu giữ nhiều giá trị văn hóa Văn hóa các tộc người vùng Tây Bắc khá phong phú, đa dạng và giàu bản sắc, gắn liền với quá trình tụ cư lâu đời của cư dân từ nhiều nguồn và thời điểm khác nhau, được thể hiện trên các khía cạnh về nhà cửa, trang phục, ẩm thực, quan hệ gia đình và cộng đồng, các hình thức tổ chức xã hội, phong tục tập quán, lễ hội, trang phục, nhạc cụ, các điệu dân ca, dân vũ Mỗi nhóm dân tộc đều có nền văn hoá riêng biệt, giàu có và độc đáo và hợp thành một không gian văn hóa rộng lớn với nguồn tài nguyên văn hóa nhân văn to lớn và phong phú, đặc biệt là kho tàng tri thức bản địa và tiềm năng văn hóa phi vật thể đặc sắc của đồng bào các dân tộc
Sản xuất nông nghiệp mang tính tự cung tự cấp và tương đối khép kín là hoạt động kinh tế chủ yếu của hầu hết đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Bắc với nghề trồng lúa nương (刀 耕 火 种 đao canh hỏa chủng) và ruộng nước (刀 耕 水 耨 đao
canh thủy nậu), ngoài ra họ còn trồng rau màu hoặc săn bắn, đánh cá, hái lượm và sống
bán du mục, thực hiện nhiều hình thức chiếm đoạt các nguồn lợi tự nhiên sẵn có trong rừng quanh khu vực cư trú Mặc dù nông cụ sản xuất thô sơ nhưng họ đã sớm canh tác lúa trên ruộng ngập nước và tiến hành tưới tiêu, một số dân tộc biết các kỹ thuật canh tác tiến bộ và khá thành thục (Mường, Thái, Dao ) Ngoài ra, họ còn chăn nuôi gia súc, gia cầm hoặc thủy sản theo hộ gia đình, làm một số nghề thủ công gia đình (như dệt vải, đan lát, làm mộc, làm rèn, chế tác kim loại làm trang sức, làm giấy dó, ép dầu); một bộ phận đồng bào cư trú suốt dọc tuyến biên giới buôn bán tiểu ngạch Tập quán trồng trọt ở mỗi tộc người tại các vùng thung lũng, vùng rẻo giữa và vùng cao vẫn có những nét riêng biệt bởi những cách làm ăn này đã tồn tại qua hàng nghìn năm canh tác của họ Trao đổi hàng hoá là nhu cầu thiết yếu đã có từ lâu đời của các dân tộc thiểu số: họ thường cùng nhau họp chợ tại trung tâm xã, huyện hoặc ngay ven đường cái Do các tộc người đều cư trú ở vùng sâu vùng xa nên họ chỉ họp chợ 5 ngày (hoặc 1 tuần)/1 lần (chợ phiên), là một nét đặc trưng văn hóa vùng cao[3]
Ngoài ra, Tây Bắc còn được đặc trưng bởi một địa bàn dân cư và khu vực hành chính đặc biệt của vùng biên giới Việt-Trung và Việt-Lào Đây cũng là địa bàn cư trú chủ yếu của người dân tộc thiểu số thuộc các nhóm ngôn ngữ Tày-Thái, Tạng-Miến, H’Mông-Dao và Hán Một trong những đặc điểm nổi bật của dân cư vùng biên giới4 là
sự cư trú xen kẽ cài răng lược của nhiều tộc người cùng cộng cư trong quá trình lịch sử lâu dài; có mối quan hệ gần gũi về thân tộc, kinh tế, văn hóa, ngôn ngữ, phong tục tập
4 Theo Quy chế quản lý biên giới Việt Nam-Trung Quốc, Việt Nam-Lào thì: Vùng biên giới là chỉ khu vực
hành chính cấp huyện của hai Bên (Việt Nam và Trung Quốc) tiếp giáp đường biên giới Khu vực biên giới là khu vực
bao gồm các xã hoặc đơn vị hành chính tương đương của Việt Nam và các bản hoặc đơn vị hành chính tương đương
của Lào tiếp giáp với đường biên giới quốc gia giữa hai nước Cư dân biên giới là chỉ dân cư thường trú của mỗi nước
thuộc xã (trấn) tiếp giáp đường biên giới.
Trang 6quán lâu đời Các làng bản cư trú sát biên giới và tạo thành các quần thể dân cư đông đúc (nhất là dọc các triền núi hoặc các con sông lớn) có chung nguồn gốc, tương đồng về ngôn ngữ, phong tục tập quán và đặc biệt là cư trú trong một khu vực địa lý cận kề, người dân sống thưa thớt tại các làng bản rất xa nhau ở khu vực biên giới, đời sống vật chất và tinh thần còn nhiều thiếu thốn và lạc hậu Đặc biệt, nhiều dân tộc sinh sống trên đất nước ta có nguồn gốc từ Trung Quốc tới cư trú ở Việt Nam vào những thời kỳ lịch sử khác nhau nên phần lớn các dân tộc thiểu số của cả hai nước đều có những mối quan hệ khá sâu sắc về lịch sử, văn hóa (kể cả nguồn gốc tộc người)5 Với nhiều tộc người, quan
hệ tộc người xuyên biên giới đã trở nên một hiện tượng dân tộc học lịch sử rõ rệt và có sức sống lâu bền cho đến hôm nay
Do đặc điểm văn hóa, điều kiện lịch sử, phần lớn các tộc người cư trú xen kẽ dọc các tuyến biên giới Việt-Trung đều có mối quan hệ thân tộc khá mật thiết, gần gũi và gắn bó với đồng tộc của họ ở bên kia biên giới6 Do khoảng cách địa lý tại khu vực biên giới chỉ cách nhau một cây cầu, một con suối hay lối mòn nên họ dễ dàng qua lại thăm thân, cùng tham dự các nghi lễ tộc người hoặc mua bán, trao đổi hàng hóa với nhau từ
đó mạng lưới xã hội luôn được mở rộng [8, 98-99] Trong đó, những hoạt động thăm thân diễn ra thường xuyên và là tập quán quen thuộc của đồng bào các dân tộc vùng biên (phổ biến nhất là đi dự các đám cưới, đám tang, các nghi lễ cúng của gia đình và dòng họ) Văn hóa vùng biên gần như đã vượt qua giới hạn của nhà nước, của biên giới về lãnh thổ, địa lý, không chỉ kết nối con người và các thiết chế trong nội bộ một đất nước
mà còn gắn kết với những đất nước khác Vì vậy, hiện tượng hôn nhân xuyên biên giới (HNXBG) xảy ra khá phổ biến ở khu vực biên giới Tây Bắc, nhất là ở các vùng biên giới
có dân số đông, cư trú liền sát với đường biên giới [9, tr.49]
(3) Tóm lại: Tây Bắc nổi tiếng với đặc trưng về địa hình, khí hậu, địa chất, hệ
sinh thái, tài nguyên thiên nhiên đa dạng và phong phú; tiềm năng đất đai, rừng, nguồn nước, hệ sinh thái của Tây Bắc được xếp vào tốp đứng đầu trong 8 vùng kinh tế của cả nước) Đây là vùng có đặc trưng sắc thái văn hóa của các tộc người riêng biệt và đặc hữu, sở hữu nguồn tài nguyên văn hóa to lớn, quý báu và kinh tế xã hội rất đặc thù đồng thời là vùng đất lịch sử thiêng liêng, giàu truyền thống yêu nước và giá trị văn hóa - lịch
sử Không chỉ là nơi có tiềm năng lớn phát triển ngành công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản, kinh tế nông - lâm - ngư, dịch vụ - thương mại và kinh tế; Tây Bắc còn được thiên nhiên ban tặng một vùng cảnh quan kỳ vĩ, hiểm trở với nhiều danh lam thắng
5 Có khoảng trên 20 dân tộc thuộc các nhóm ngôn ngữ Tày-Thái, H’Mông-Dao, Tạng-Miến sinh sống tại các
tỉnh biên giới phía Bắc có quan hệ lịch sử với đồng tộc ở bên kia đường biên Người H’Mông là một nhóm dân tộc có địa bàn cư trú truyền thống là Trung Quốc và các nước lân cận thuộc tiểu vùng Đông Nam Á là Lào, Việt Nam , Thái Lan và Myanmar[7].
6 Các quan hệ thân tộc ở đây chủ yếu là quan hệ gia đình, dòng họ theo quan hệ phụ hệ tính theo dòng cha ở nhiều dân tộc thiểu số thuộc các nhóm ngôn ngữ Tày-Thái, H’Mông-Dao và Tạng Miến Ở các tộc người này, các mối quan hệ trong quan hệ gia đình, dòng họ còn khá chặt chẽ
Trang 7cảnh nổi tiếng và điểm nhấn du lịch lý tưởng đối với du khách Vị trí biên cương với nhiều của ngõ giao lưu quốc tế là điều kiện và cơ hội lớn để Tây Bắc đẩy mạnh thương mại quốc tế, tiến tới xây dựng khu vực này thành địa bàn trung chuyển chính trên tuyến đường xuyên Á phía Bắc, nối liền vùng Tây Bắc Việt Nam với khu vực Bắc Lào-Tây Nam Trung Quốc, Đông Bắc Myanma và trực tiếp giao lưu với các lục địa rộng lớn phía tây nam Trung Quốc Là vùng đất địa đầu có vị trí chiến lược về quốc phòng, an ninh chính trị và trật tự, tôn giáo tín ngưỡng và bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia với tiềm năng, ưu thế to lớn để phát triển triển kinh tế - xã hội cũng như phát triển mọi ngành nghề, lĩnh vực7 và sở hữu nguồn tiềm năng có sức hấp dẫn, thu hút rất lớn đối với du lịch, Tây Bắc đang là điểm đến làm ăn của nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước
Bên cạnh những thuận lợi như trên, điều kiện tự nhiên của Tây Bắc cũng có nhiều khó khăn, cản trở và tác động bất lợi đến đời sống kinh tế - xã hội của người dân Do địa hình phức tạp, bị chia cắt sâu và mạnh nên hình thành nhiều tiểu vùng khí hậu - sinh thái đặc thù thích hợp với nhiều loại cây trồng và cho phép phát triển một nền sản xuất nông-lâm nghiệp phong phú, phù hợp với cây trồng và vật nuôi vùng nhiệt đới và ôn đới, các loại rau, củ, quả vùng cao Tuy nhiên, do ảnh hưởng của điều kiện địa lý tự nhiên (địa hình sự đa dạng, đất đai chủ yếu là đồi núi cao dốc, diện tích canh tác nhỏ hẹp và chiếm
tỷ lệ rất thấp, khí hậu vùng núi cao thay đổi thường xuyên và chịu tác động trực tiếp của gió mùa, bão, lũ ) nên sản xuất khu vực này kém phát triển, ảnh hưởng không nhỏ đến sinh kế của người dân và phát triển kinh tế của vùng Đặc điểm địa hình nơi đây cũng tạo ra sự manh mún đất trong sản xuất nông nghiệp và nảy sinh một số hiện tượng tai biến như: động đất, nứt đất, rửa trôi, xói mòn sạt lở đất và lũ quét trong mùa mưa, có ảnh hưởng lớn đến việc giao lưu phát triển kinh tế - xã hội và đầu tư phát triển hệ thống hạ tầng giao thông Với điều kiện khí hậu cộng với điều kiện địa hình như trên, Tây Bắc được xem là vùng có điều kiện cực khó khăn về giao thông, canh tác nông nghiệp (chăn nuôi và trồng trọt một số loại cây lương thực quan trọng), lâm nghiệm vào loại nhất cả nước (an ninh lương thực luôn trong tình trạng báo động) Sự phân bố dân cư thưa cũng làm cho hiệu quả các chính sách xóa đói giảm nghèo, chương trình 30a và các chương trình mục tiêu quốc gia nói chung Sự chia cắt của địa hình không chỉ làm cho khu vực này thiếu đất và không gian để canh tác mà còn biến nơi đây thành các tiểu vùng tương đối độc lập nhau, do đó giao lưu kinh tế, văn hóa liên tiểu vùng và xuyên vùng không phát triển dẫn đến hoạt động kinh tế, văn hóa xã hội của toàn vùng được xếp vào loại thấp nhất cả nước Đồng thời, những khó khăn về phong tục, cách thức làm ăn truyền thống, ngôn ngữ, tập quán văn hoá đa dạng cũng là rào cản không nhỏ với sự phát triển
7 Tiềm năng, lợi thế của Tây Bắc gồm các thế mạnh trong sản xuất nông, lâm nghiệp; định hướng phát triển các loại hình dịch vụ, đầu tư chiều sâu để khai thác và chế biến khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, phát triển thủy lợi vừa và nhỏ gắn với thủy điện theo quy hoạch, các ngành công nghiệp chế biến và bảo quản nông lâm sản, kinh tế cửa khẩu.
Trang 8của Tây Bắc Là khu vực miền núi có những đặc trưng riêng không thấy ở nơi nào khác trên đất nước nhưng Tây Bắc cũng là địa bàn nghèo, xa xôi, địa hình hiểm trở, nhiều điểm đến khó tiếp cận, một số địa phương còn gặp rất nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế-xã hội [2]
1.3 Tây Bắc trong tiến trình đổi mới đất nước
(1) Những thành tựu chủ yếu
Thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước, trong những năm qua, các tỉnh
vùng Tây Bắc đã có bước chuyển biến về mọi mặt Kinh tế nông - lâm và thủy sản phát triển ổn định, trở thành điểm nhấn trong bức tranh kinh tế của Tây Bắc Nhờ đó, đã ổn định đời sống, an ninh trật tự của vùng với 83% cư dân nông thôn, hơn 80% lao động trong lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp Cùng với việc khai thác tối đa tiềm năng đất trồng cây lương thực kết hợp với việc sử dụng giống mới, đẩy mạnh thâm canh, tăng năng suất, nên an ninh lương thực trong toàn vùng cơ bản đã được đảm bảo Các vùng chuyên canh tập trung gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm tiếp tục phát triển và mang lại hiệu quả khá cao Nông - lâm - ngư nghiệp của vùng đã bắt đầu phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá Mặc dù thu hút đầu tư nước ngoài còn khiêm tốn, nhưng đã từng bước hình thành nên các khu công nghiệp ở các địa phương trong vùng, sản xuất công nghiệp từ các địa phương đang có lợi thế và đi vào chính quy tập trung Công nghiệp khai khoáng và chế biến cũng phát triển khá mạnh; công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản gắn với phát triển vùng nguyên liệu phát triển nhanh, đang tạo vị thế mới cho đầu tư, kinh doanh nông, lâm nghiệp Lĩnh vực thương mại, dịch vụ của khu vực Tây Bắc đã có những nét chấm phá, những khởi sắc gắn với kinh tế biên mậu, kinh tế cửa khẩu phát triển rất nhanh (nhất là các cửa khẩu của Lạng Sơn, Lào Cai); du lịch đã có những bước đột phá Tăng trưởng kinh tế hàng năm toàn vùng luôn ở mức 10% trở lên
Kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội của vùng được đặc biệt quan tâm đầu tư xây dựng, trong đó tập trung cao cho các dự án giao thông, thủy lợi, thủy điện trọng điểm Nhiều tuyến đường huyết mạch và nhiều công trình trọng điểm và đang đầu tư hoàn thiện Hạ tầng nông thôn đã có bước phát triển, nhất là về giao thông, điện, nước sạch, xóa nhà tạm Phong trào kiên cố hoá đường liên xã, liên thôn, đã làm cho mạng lưới giao thông được cải thiện rõ rệt (gần 3.700km quốc lộ, đường liên huyện, đường đến trung tâm xã được mở rộng, nâng cấp) Nhiều công trình kết cấu hạ tầng và phúc lợi công cộng, giúp
hộ nông dân tiếp cận với các dịch vụ xã hội cần thiết nhất là các vùng nghèo, vùng sâu, vùng biên giới được xây dựng hoàn thiện Phong trào xây dựng nông thôn mới được đẩy mạnh và rộng khắp trong nhân dân, kể cả đồng bào dân tộc ở vùng sâu, vùng xa Các chương trình xóa đói, giảm nghèo, phát triển nông thôn khác cũng được triển khai mạnh mẽ; diện mạo đô thị, nông thôn miền núi có nhiều khởi sắc Công tác chăm sóc sức khỏe
đối với các dân tộc ít người ở Tây Bắc đã có nhiều bước tiến đáng kể về mạng lưới y tế,
Trang 9sức khoẻ sinh sản cho phụ nữ, chăm sóc sức khoẻ trẻ em Việc phát triển giáo dục cho
vùng đồng bào dân tộc ít người đã đạt được nhiều thành tựu về quy mô, mạng lưới trường học đã phủ kín đến thôn bản Chất lượng giáo dục có nhiều chuyền biến tích cực, góp phần cải thiện đáng kể trong việc nâng cao dân trí cho đồng bào các dân tộc thiểu
số Quy mô nhân lực của vùng có xu hướng gia tăng cả về số lượng và tỷ trọng trong cơ
cấu lực lượng lao động cả nước, nguồn nhân lực đã qua đào tạo cũng tăng dần Bình
quân trong khu vực Tây Bắc các xã đã đạt 7,5% tiêu chí nông thôn mới, tăng 3,8 tiêu chí
so với năm 2010 Số xã đạt 19 tiêu chí là 27 xã, chiếm 1,2% tổng số xã trong vùng, trong đó có 13 xã được công nhận Trong số các tỉnh vùng Tây Bắc, Phú Thọ và Hòa Bình là hai tỉnh có mức đạt tiêu chí bình quân cao nhất, lần lượt đạt 9,72 và 9,38 tiêu chí Về lĩnh vực xã hội, xóa đói giảm nghèo các tỉnh vùng Tây Bắc đã đạt được tốc độ giảm nghèo tương đối cao Đời sống vật chất, tinh thần của người dân trong vùng Tây Bắc đã được cải thiện hơn: thu nhập bình quân đầu người của cả vùng đã tăng 35%, tỷ
lệ hộ nghèo giảm 8% so với trước[2] Thực hiện chủ trương phát triển mọi mặt đời sống
người dân, xây dựng nếp sống văn hóa mới, với sự vào cuộc của các cấp/ngành, nhiều
hủ tục lạc hậu đã từng bước bị đẩy lùi ra khỏi đời sống của đồng bào các dân tộc trên địa bàn miền núi; nhiều nét đẹp văn hóa mang bản sắc của vùng núi Tây Bắc vẫn được tiếp nối và phát huy Mặc dù có xuất phát điểm thấp, khó khăn hơn nhiều vùng trong cả nước nhưng vùng Tây Bắc đã có những chuyển biến quan trọng, bức tranh kinh tế - xã hội của các tỉnh trong vùng đã có những khởi sắc và thành tựu tích cực và sinh động Một cuộc sống mới, tiến bộ, phát triển đang dần hiện hữu ở từng bản làng vùng cao nơi đây
(2) Những tồn tại, hạn chế
Sau 30 năm đổi mới, mặc dù đã có những bước tiến đáng kể về kinh tế-xã hội nhưng các tỉnh vùng Tây Bắc vẫn còn nhiều khó khăn, yếu kém, đang đối diện với nhiều thách thức trong thực tiễn phát triển bền vững, như: kinh tế phát triển chậm, hiệu quả kinh tế còn thấp và thiếu ổn định; cơ cấu kinh tế chưa có bước chuyển dịch mang tính đột phá quan trọng cho sự phát triển nhanh và bền vững của toàn vùng Kinh tế khu vực phát triển chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh hiện có, tăng trưởng kinh tế chưa bền vững, tính liên kết (trong và ngoài vùng) còn yếu, hiệu quả chưa cao, các tiềm năng
và lợi thế lớn chậm được khai thác[10] Nhìn chung, trình độ phát triển kinh tế Tây Bắc chưa cao, giao thông khó khăn, hạ tầng còn nhiều hạn chế, đời sống nhân dân còn khó
khăn, mức sống của người dân vẫn còn khoảng cách lớn với mức trung bình cả nước
(bằng ½ thu nhập trung bình của người dân cả nước), tỷ lệ hộ nghèo còn cao (29,5%, cao gấp 2 lần bình quân cả nước theo tiêu chí mới) Vùng Tây Bắc đến nay vẫn chưa có khả năng tự cân đối ngân sách, là vùng nghèo nhất và trình độ phát triển kém nhất cả nước (vùng Tây Bắc đang thuộc lõi nghèo của cả nước) Kinh tế ở miền núi, các dân tộc thiểu
số còn chậm phát triển, tình trạng du canh, du cư, di dân tự do vẫn còn diễn biến phức tạp
Trang 10Các chương trình, dự án giảm nghèo triển khai thực hiện chưa đồng bộ, thiếu vốn đầu tư, chính sách còn chồng chéo, bất cập, người nghèo còn tập trung chủ yếu tại địa bàn vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Kết cấu hạ tầng ở vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng vẫn còn khó khăn, nhiều nơi môi trường sinh thái tiếp tục bị suy thoái Vùng đồng bào dân tộc miền núi, biên giới có địa hình rừng núi hiểm trở, kinh tế chậm phát triển, khoảng cách chênh lệch về mức sống, về trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các dân tộc và các vùng ngày càng gia tăng Chất lượng, hiệu quả giáo dục đào tạo còn thấp, tình hình y tế, chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn nhiều khó khăn, thiếu thốn (tập trung vào một số lĩnh vực, như: cơ sở hạ tầng còn yếu, nguồn nhân lực y bác sĩ còn thiếu) “Ở bậc học phổ thông, số lượng học sinh theo học của vùng Tây Bắc
có gia tăng qua các năm, song hầu hết tập trung tại bậc tiểu học, số học sinh theo học trung học cơ sở và trung học phổ thông ít Học sinh tiểu học chiếm hơn 50% trong số lượng học sinh của vùng Tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông của các tỉnh Tây Bắc thuộc nhóm thấp nhất trong cả nước và có xu hướng giảm Ở các cấp học cao hơn như đại học, cao đẳng, trung cấp và dạy nghề, số lượng sinh viên theo học tại vùng Tây Bắc
là rất ít và hầu hết theo học tại các trường công lập Đây là thực trạng chung của các vùng khó khăn và có sự cách trở về địa lý như Tây Bắc Nguồn nhân lực mỏng và ít được đào tạo, còn những khoảng cách lớn so với các vùng khác trong cả nước (nhiều tỉnh Tây Bắc xếp vị trí cuối cùng trong chỉ tiêu về chất lượng lao động so với các tỉnh khác trong cả nước)[11]8 Đây là một thách thức lớn đối với các tỉnh vùng Tây Bắc trong vấn đề đào tạo nghề và nâng cao chất lượng lao động trong tương lai” Hệ thống chính trị
cơ sở ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi còn yếu, trình độ và năng lực của một
bộ phận cán bộ cơ sở còn hạn chế, yếu kém Hoạt động của cấp ủy, chính quyền, mặt trận
và đoàn thể ở nhiều nơi chưa sát dân, chưa tập hợp được đồng bào Tình hình kinh tế - xã hội, an ninh trật tự của khu vực Tây Bắc cũng có những yếu tố phức tạp mới nảy sinh Một số bản sắc tốt đẹp trong văn hóa của các dân tộc thiểu số đang bị mai một, một số tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan có xu hướng phát triển và cuộc đấu tranh xóa bỏ tập quán lạc hậu, xây dựng văn hóa mới vẫn đang tiếp tục Vấn đề quản lý các mối quan hệ dân tộc xuyên biên giới Việt-Trung, trong đó có mối quan hệ thân tộc cũng đang đặt ra nhiều vấn đề nóng, liên quan chặt chẽ đến sự ổn định phát triển xã hội và an ninh biên giới; nhất là việc giải quyết vấn đề người di cư tự do và kết hôn không giá thú trong vùng Do ảnh hưởng của tập quán nên tình hình di cư tự do của người H’Mông vẫn còn dai dẳng, việc di dân theo mùa vụ sang Quảng Tây để tìm kiếm việc làm và thu nhập của người Tày, Nùng; quan hệ của người Hà nhì ở Bát Xát (Lào Cai) với đồng tộc bên kia biên giới nên số lượt người qua lại đường biên giới với tần suất ngày càng gia tăng
8 Sơ bộ đến năm 2014, toàn vùng có 9.894.900 người trong độ tuổi lao động từ 15 tuổi trở lên, trong số đó có 2.374,550 người đã qua đào tạo, chiếm 24% tổng số lao động, như vậy còn 76% lực lượng lao động chưa qua đào tạo [13, tr.23].