hình thái khác…cuối cùng nó lại quay về hình thái tiền tệ để hoàn trả ngân hàng.Trong dòng lưu chuyển vốn đó rủi ro có thể xảy ra ở bất kỳ khâu nào và điều cầnlưu ý ở đây là rủi ro đó sẽ
Trang 1LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG KINH DOANH NGÂN HÀNG
1.1 TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG.
1.1.1.Tín dụng ngân hàng
1.1.1.1 Khái niệm
Trước hết tín dụng ngân hàng được định nghĩa là hoạt động giao dịch vềtài sản giữa ngân hàng và khách hàng Trong đó ngân hàng chuyển giao vốn tíndụng cho khách hàng dưới dạng một vài loại tài sản nào đó và khách hàng cam kết
sẽ trả lại trong một khoảng thời gian nhất định
Hoạt động tín dụng ngân hàng có những đặc điểm cần lưu ý sau:
Thứ nhất, giao dịch tín dụng được thực hiện trên cơ sở sự tin tưởng giữa
hai bên khách hàng và ngân hàng Trong đó khách hàng tin tưởng ngân hàng vềkhả năng cung cấp dịch vụ và thực hiện những cam kết đối với khách hàng cònngân hàng tin tưởng ở khả năng hoàn trả cũng như tính sẵn lòng hoàn trả của kháchhàng Nghiên cứu lý luận quản trị rủi ro tức là đứng trên góc độ ngân hàng thì đặcđiểm này có ý nghĩa quan trọng vì rủi ro ở đây nằm ở chỗ khách hàng có hoàn trảkhoản vay cho ngân hàng hay không trong đó tính “sẵn lòng hoàn trả” của kháchhàng giữ vai trò quyết định
Thứ hai, giao dịch được thực hiện trên cơ sở chuyển giao tài sản từ phía ngân hàng cho khách hàng Ngân hàng cấp tín dụng thực chất là tài trợ vốn cho
khách hàng mà vốn là một khái niệm mang tính vô hình do đó nó phải được biểuhiện dưới một hình thái hữu hình nào đó mà ta gọi là tài sản Tài sản này có thể làtiền, máy móc, thiết bị, hàng hóa, …nhưng chủ yếu là dưới hình thái tiền Ý nghĩacủa việc nghiên cứu đặc điểm này trong quản trị rủi ro tín dụng nằm ở chỗ rủi ro ởđây nằm trong quá trình lưu chuyển vốn Cụ thể là vốn được chuyển từ ngân hàngtới tay khách hàng dưới hình thái tiền tệ (là chủ yếu), sau đó tùy theo mục đích sửdụng của mình mà khách hàng tiếp tục chuyển hóa hình thái tiền tệ đó sang các
Trang 2hình thái khác…cuối cùng nó lại quay về hình thái tiền tệ để hoàn trả ngân hàng.Trong dòng lưu chuyển vốn đó rủi ro có thể xảy ra ở bất kỳ khâu nào và điều cầnlưu ý ở đây là rủi ro đó sẽ xảy ra đối với khách hàng trước rồi mới đến ngân hàng.Bởi vậy để quản trị được rủi ro thì ngân hàng phái kiểm soát khách hàng từ việckhách hàng đã chuyển hóa đồng vốn vay như thế nào.
Thứ ba, giá trị hoàn trả của khách hàng phải lớn hơn giá trị ban đầu.
Đến kỳ đáo hạn, khách hàng phải hoàn trả khoản vay cho ngân hàng bao gồmkhoản vay gốc và một khoản lãi vay Khoản lãi vay này dùng để trang trải các chiphí mà ngân hàng bỏ ra (như chi phí huy động vốn, chi phí các hoạt động…) và đểngân hàng có lợi nhuận Việc tính toán lãi của khoản vay liên quan đến vấn đề lãisuất và rủi ro lãi suất cũng nằm trong hệ thống rủi ro kinh doanh mà ngân hàngphải đối mặt, tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này thì rủi ro lãi suất
sẽ không được đề cập đến
Thứ tư, khách hàng cam kết sẽ hoàn trả khoản vay cho ngân hàng đúng hạn Đặc đỉểm này hết sức quan trọng trong quá trình nghiên cứu quản trị rủi ro tín
dụng vì những lý do sau Trước hết, khoản tiền mà ngân hàng cho vay không thuộc
sở hữu của ngân hàng vì ngân hàng chỉ là một đơn vị trung gian tài chính thực hiện
“kinh doanh tiền gửi” nói nôm na là “đi vay để cho vay” Hoạt động kinh doanhtiền gửi này có một quy tắc là khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng với bất kỳthời hạn nào thì ngân hàng không có quyền từ chối nếu khách hàng đó muốn rúttiền trước thời hạn, ngược lại khi ngân hàng cho vay một khách hàng nào đó thì dù
có bất cứ lý do gì cũng không được phép đòi khách hàng đó thanh toán nếu chưađến hạn Bởi vậy, việc các khoản vay được thanh toán đúng hạn có ý nghĩa quantrọng trong việc đảm bảo khả năng thanh khoản của ngân hàng Trong trường hợpnày, rủi ro tín dụng nếu xảy ra sẽ có thể là nguyên nhân của rủi ro thanh khoản màbất kỳ ngân hàng nào cũng luôn lo sợ phải đối mặt Một điều nữa đối với tính đúnghạn của khoản hoàn trả là “liệu ngân hàng có muốn khách hàng trả trước hạn haykhông?” Tất nhiên sẽ không có một cán bộ tín dụng nào từ chối nếu khách hàngđến trả tiền trước hạn Tuy nhiên nếu chuyện đó xảy ra cũng sẽ ảnh hưởng đến kếhoạch dư nợ của ngân hàng cũng như lợi nhuận dự kiến mà ngân hàng tính toán.Tóm lại, việc tính toán thời hạn của khoản vay và quản lý để thu nợ đúng hạn có
Trang 3vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa sử dụng vốn sai mục đích của khách hàngcũng như thực hiện các kế hoạch của ngân hàng.
1.1.1.2 Các loại tín dụng ngân hàng
Hoạt động tín dụng ngân hàng có thể phân loại theo các tieu thức sau đây:
Thứ nhất, Theo phương thức cấp tín dụng thì tín dụng ngân hàng bao gồm
các loại: Cho vay, chiết khấu thương phiếu, bảo lãnh ngân hàng, cho thuê tài chính,thẻ tín dụng
Thứ hai, theo thời hạn cấp tín dụng bao gồm :
- Ngắn hạn: thời hạn <= 1 năm ( chủ yếu tài trợ bằng vốn lưu động)
- Trung hạn: 1< thời hạn <= 5 năm ( tài trợ dự án)
- Dài hạn: thời hạn > 5 năm
Thứ ba, theo mục đích sử dụng bao gồm : Tín dụng tiêu dùng, tín dụng
1.1.2.1 Khái niệm rủi ro
Trong nền kinh tế thị trường, bất kỳ hoạt động kinh doanh nào cũng tiềm
ẩn những rủi ro Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cũng khôngtránh khỏi rủi ro Vậy rủi ro là gì?
Rủi ro là sự kiện xảy ra không theo ý muốn và ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại
Hoạt động kinh doanh ngân hàng rất nhạy cảm, có liên quan đến nhiều lĩnhvực khác nhau của nền kinh tế, chịu sự tác động của nhiều nhân tố khách quan vàchủ quan như kinh tế, chính trị, xã hội … Từ đó cũng gây ra những thiệt hại khôngnhỏ cho ngân hàng Hơn nữa, ngân hàng kinh doanh không những chỉ huy độngvốn và cho vay mà còn rất nhiều lĩnh vực khác như thanh toán, bảo lãnh, kinhdoanh ngoại hối, chứng khoán, góp vốn liên doanh, dịch vụ thẻ đại lý … Vì vậy có
Trang 4thể nói rằng rủi ro ngân hàng rất đa dạng.
Do đặc thù kinh doanh của mình nên hoạt động kinh doanh ngân hàng córất nhiều các loại rủi ro, bao gồm:
- Rủi ro tín dụng
- Rủi ro lãi suất
- Rủi ro thanh khoản
- Rủi ro hối đoái
Rủi ro tín dụng có nhiều cách định nghĩa trong đó theo Điều QĐ493 củaThống đốc ngân hàng Nhà Nước Việt Nam thì rủi ro tín dụng được định nghĩa là
“là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”
Như vậy rủi ro tín dụng phát sinh khi một hoặc các bên trong hợp đồng tíndụng không có khả năng thanh toán cho các bên còn lại Ngân hàng thương mại làmột trung gian tài chính thực hiện nghiệp vụ vay tiền của người này để cho ngườikhác vay Như vậy rủi ro tín dụng đối với ngân hàng xuất phát từ cả hai phía làngười cho vay (chủ nợ của ngân hàng) và người đi vay (con nợ của ngân hàng).Trường hợp thứ nhất là người gửi tiền (người cho ngân hàng vay) muốn rút tiền màngân hàng lại không thanh toán được, thực ra bản chất đấy là rủi ro thanh khoảnnhưng nó lại liên quan mật thiết đến trường hợp thứ hai là ngân hàng không thuđược đầy đủ các khoản cho vay bao gồm cả khoản gốc và lãi, hoặc việc thanh toáncác khoản nợ (gồm gốc và lãi vay) không đúng hạn Điều này xảy ra khi kháchhàng vay tiền của ngân hàng không có khả năng trả nợ hoặc cố ý không trả nợ.Ngoài ra rủi ro tín dụng được biểu hiện là tỷ lệ nợ quá hạn cao Ở các nước tỷ lệ
Trang 5này lên đến 5% tổng dư nợ thì được coi là báo động Ở nước ta tỷ lệ này dao độngtrong khoảng 10 –11% tổng dư nợ
1.1.2.2 Các loại rủi ro tín dụng.
Việc phân loại rủi ro tín dụng nhằm hiểu rõ hơn về từng loại rủi ro và cóbiện pháp quản lý riêng cho từng loại Rủi ro tín dụng có thể được phân loại nhưsau:
a) Theo nguyên nhân của rủi ro
Phân loại theo nguyên nhân thì rủi ro tín dụng bao gồm 2 loại là rủi ro do
nguyên nhân khách quan và rủi ro do nguyên nhân chủ quan, cụ thể như sau:
Thứ nhất, rủi ro tín dụng do nguyên nhân khách quan bao gồm:
- Rủi ro do môi trường kinh tế có biến động bất lợi: điều này dẫn đếnviệc đầu tư vốn kinh doanh của khách hàng gặp khó khăn và khách hàng không thểtrả nợ cho ngân hàng
- Rủi ro do môi trường pháp lý chưa thuận lợi: Hệ thống văn bản phápluật còn nhiều bất cập, quản lý của các cơ quan nhà nước tại địa phương còn nhiềuyếu kém, hệ thống thông tin quản lý hạn chế
- Rủi ro từ chính sách: Những thay đổi trong chính sách của nhà nướchoặc thay đổi một số quy định của luật pháp cũng có thể gây nên rủi ro cho hoạtđộng tín dụng ngân hàng.Ví dụ khi ngân hàng đã kí quyết định cho một DN vayvốn sản xuất pháo vào thời điểm Nhà nước chưa cấm buôn bán sản xuất pháo đếnkhi Nhà nước ra quyết định cấm sản xuất pháo (khi hợp đồng còn hạn) thì rõ ràng
DN không thể hoạt động và tất nhiên không thể trả nợ cho ngân hàng
Thứ hai, rủi ro tín dụng do nguyên nhân chủ quan bao gồm:
- Rủi ro do nguyên nhân từ phía khách hàng: Sử dụng vốn sai mục đích đã camkết, không thiện chí trong việc trả nợ, khả năng quản lý kinh doanh kém, tình hìnhtài chính không lành mạnh…
- Rủi ro do nguyên nhân từ phía ngân hàng : công tác kiểm tra nội bộ yếu
kém, cán bộ còn bất cập về trình độ chuyên môn hoặc đạo đức nghề nghiệp dẫnđến các sai phạm, thiếu kiểm tra và giám sát khách hàng sau khi cho vay; sự liênkết và hợp tác giữa các ngân hàng thương mại còn lỏng lẻo, CIC (trung tâm thôngtin tín dụng) chưa phát huy được vai trò…
Trang 6b)Theo tính chất của rủi ro
Theo cách phân chia nàythì rủi ro tín dụng có thể phân làm hai loại:
Một là, rủi ro mất vốn: ngân hàng không thu được các khoản gốc và lãi của
khoản vay do người vay cố ý không trả nợ hoặc mất khả năng trả nợ
Hai là, rủi ro đọng vốn: do khách hàng sử dụng vốn không hiệu quả hoặc
gặp phải rủi ro nên không thể thanh toán khoản nợ đúng hạn
1.1.2.3 Sự cần thiết phải quản trị rủi ro tín dụng trong kinh doanh ngân hàng
Trong nền kinh tế thị trường, chức năng kinh tế cơ bản của ngân hàng làcung cấp tín dụng Trong cơ cấu tổng tài sản của phần lớn các ngân hàng thươngmại thì dư nợ tín dụng chiếm tới hơn 50%, thu nhập từ tín dụng chiếm khoảng từ50% đến gần 70% tổng thu nhập của ngân hàng Bên cạnh đó, rủi ro trong kinhdoanh ngân hàng có xu hướng tập trung vào danh mục tín dụng Bởi vậy, khi ngânhàng lâm vào tình cảnh khó khăn về tài chính thì nguyên nhân thường phát sinh từhoạt động tín dụng của ngân hàng Rủi ro tín dụng nếu xảy ra sẽ có thể gây nên cácthiệt hại sau đây:
Thứ nhất, đối với nền kinh tế: hoạt động ngân hàng có liên quan đến hoạt
động của nhiều đối tượng khác nhau trong nền kinh tế Bởi vậy, khi rủi ro tín dụngxảy ra đối với một ngân hàng nào đó thì sẽ tác động đến tâm lý những người gửitiền ở những ngân hàng khác và nghiêm trọng nhất là tình trạng đổ xô đến ngânhàng rút tiền Như vậy, chỉ một ngân hàng phá sản cũng có thể gây ra hội chứngDomino khiến một loạt các ngân hàng khác gặp khó khăn Ngoài ra, ngân hàng phásản sẽ tác động đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, không có tiền trảlương dẫn đến đời sống công nhân viên gặp khó khăn Hơn nữa, sự hoảng loạn củacác ngân hàng ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ nền kinh tế Nó làm cho nền kinh tế
bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, xã hội mất ổn định Thêmnữa, với xu thế toàn cầu hóa hiện nay thì nền kinh tế của một quôc gia có vấn đềcòn có thể tác động xấu đến nền kinh tế thế giới, bời mỗi quốc gia đều có sự phụthuộc hay liên hệ với một vài quốc gia nào đó trong khu vực hoặc trên thế giới.Hãynhìn lại cuộc khủng hoảng tài chính châu Á (1997) hay gần hơn là cuộc khủnghoảng tài chính Nam Mỹ (2001-2002) đã làm rung chuyển toàn cầu
Trang 7Thứ hai, đối với ngân hàng: khi gặp rủi ro tín dụng, ngân hàng không thu
được vốn và lãi của khoản cho vay nhưng vẫn phải trả vốn và lãi cho khoản tiền đãvay từ người gửi khi đến hạn, điều này làm cho ngân hàng mất cân đối trong việcthu chi Nợ không thu được làm giảm vòng quay vốn tín dụng và do đó việc kinhdoanh không hiệu quả.Như đã phân tích ở phần trước, rủi ro tín dụng xảy ra thìngân hàng phải tiếp tục đối mặt với rủi ro thanh khoản tức là mất khả năng thanhtoán cho người gửi tiền và do đó mất uy tín với khách hàng.bản than ngân hàngcũng không thể thanh toán các khoản lương cho nhân viên của mình nên nhữngngười có năng lực sẽ thuyên chuyển công tác, gây khó khăn cho ngân hàng
Nói tóm lại, rủi ro tín dụng của một ngân hàng khi đã xảy ra có thể gâynên thiệt hại ở mức độ khác nhau: nhẹ nhất là ngân hàng bị giảm lợi nhuận khikhông thu hồi được lãi cho vay, nặng nhất khi ngân hàng không thu được vốn lãi,
nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến ngân hàng bị lỗ và mất vốn Nếu tình trạng nàykéo dài không khắc phục được, ngân hàng sẽ bị phá sản, gây hậu quả nghiêmtrọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng Chính vì vậytrong công tác quản trị ngân hàng thương mại không thể không quan tâm đếnquản trị rủi ro đặc biệt là rủi ro trong hoạt động tín dụng
Trang 81.2 NỘI DUNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1 Nghiên cứu xác định các loại rủi ro
Để quản trị được rủi ro, trước hết phải xác định được các loại rủi ro màngân hàng có thể gặp phải Công việc này bao gồm:
Nhận dạng rủi ro: ngân hàng trước hết phân tích cơ cấu cho vay theo các
tiêu thức như thời hạn, khách hàng, phương thức cấp vốn, hình thức tài trợ…và xácđịnh các loại rủi ro có thể có đối với mỗi loại hình và khả năng rủi ro xảy ra củatừng loại Đối với mỗi loại rủi ro thì việc nhận dạng bao gồm theo dõi rủi ro, xemxét rủi ro, nghiên cứu môi trường hoạt động cụ thể nhằm thống kê những rủi ro đã
và đang xảy ra đồng thời cố gắng dự báo những rủi ro có thể xảy ra trong tương lai
để đề ra những biện pháp kiểm soát và tài trợ phù hợp Các phương pháp thườngđược sử dụng là phân tích các báo cáo, phân tích các hợp đồng vay vốn cụ thể vàlàm việc trực tiếp với các bộ phận có liên quan khi rủi ro xảy ra
Phân tích định tính rủi ro: Đây là một phương pháp truyền thống và đơn
giản nhất để phân tích và đo lường rủi ro tín dụng Việc phân tích rủi ro tín dụng sửdụng công cụ chính là hệ thống chỉ tiêu tài chính đánh giá khách hàng:
- Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán (Liquidity ratios)
- Nhóm chỉ tiêu khả năng sinh lời (Profitability ratios)
- Nhóm chỉ tiêu cơ cấu tài chính (Leverage ratios)
- Nhóm chỉ tiêu hoạt động (Activity ratios)
Việc phân tích này nhằm mục đích trả lời câu hỏi “liệu khách hàng vayvốn này có thể tin tưởng được không” Trong kinh doanh ngân hàng thì “chữ tínquý hơn vàng” Ngân hàng chấp nhận cho vay dựa trên niềm tin rằng khách hàng
sẽ trả nợ cho mình đúng hạn Mà sự tin tưởng là một khái niệm trừu tượng vì vậy
ngân hàng cố gắng thẩm định khách hàng thông qua những tiêu chí có thể đo lườngđược để khẳng định được thiện chí trả nợ của người vay Như đã nói ở phần trước,việc khách hàng có trả nợ hay không phụ thuộc vào việc người đó có “khả năng trảnợ” và tính sẵn lòng trả nợ” trong đó tính sẵn lòng trả nợ là quyết định vì nếungười vay sẵn sàng trả nợ thì dù tài chính có khó khăn anh ta cũng sẽ cố gắng xoay
Trang 9sở để tìm cách trả ngân hàng nhưng nếu anh ta không muốn trả (đúng hạn) thì dù
có khả năng trả nợ đi nữa thì ngân hàng cũng không thể đòi được nợ (đúng hạn)
Những tiêu chí được dùng để đánh giá thường được các chuyên gia kháiquát với tên gọi “6C” : tư cách (character), năng lực (Capacity),thu nhập (Cash),bảo đảm (Collateral), điều kiện (Conditions), kiểm soát (Control)
Đo lường rủi ro:đây là điều mà các nhà quản lý ngân hàng rất quan tâm,
vì rủi ro nếu đo lường được thì việc phòng ngừa sẽ dễ dàng hơn Trong hoạt độngngân hàng thì đo lường rủi ro được thể hiện trên 2 phương diện:
Một là, đo lường hay xác định số thiệt hại do rủi ro gây ra: phản ánh hậu
quả rủi ro được xác định sau khi rủi ro đã xảy ra rồi Số này có thể là số tuyệt đối,hoặc số tương đối theo các tiêu thức khác nhau như giá trị thiệt hại, số lần bị rủi ro,
tỉ lệ tài sản bị rủi ro Sau một thời gian nhất định, các con số phản ánh rủi ro trong
=
Tổng giá trị TS rủi ro trong kỳ x 100%
Tổng giá trị các TS có sinh lời trong kỳ
Hai công thức trên dùng để xác định tài sản bị rủi ro đã xảy ra Theo quanđiểm xác suất thống kê, ta có thể lượng hoá được khả năng bị rủi ro của mỗi loạitài sản có của ngân hàng
Hai là, đo lường khả năng bị rủi ro (xác suất bị rủi ro): dựa vào công thức
tính xác suất của một biến cố ngẫu nhiên theo quan điểm thống kê, xác định xácsuất rủi ro tín dụng ngân hàng như sau:
P rủi ro = Số món cho vay bị rủi ro trong
kỳ báo cáo
x100%
Trang 10Tổng số lần cho vay trong kỳ Báo cáo
hoặc
P rủi ro = Tổng giá trị tài sản bị rủi ro Tổng giá trị các món cho vay x100%
trong kỳ Đồng thời, ngân hàng còn có thể tính xác suất rủi ro dự kiến, hay tổn thất
dự kiến EL (Expected Loss) theo khả năng vỡ nợ PD (Probability of Default) vớimức độ tổn thất khi vỡ nợ LGD (Loss Given Default) theo công thức sau:
EL = Giá trị khoản vay x PD x LGD
Theo các công thức này, nếu mỗi món cho vay coi như thực hiện một phépthử và nếu có số liệu thống kê rủi ro đầy đủ, xác suất bị rủi ro của từng loại tài sảncủa ngân hàng có thể xác định được một cách tương đối chính xác trong từng thời
kỳ, từng lĩnh vực đầu tư, từng loại hình tín dụng, Điều này có ý nghĩa rất quantrọng thể hiện ở các góc độ sau:
- Trên cơ sở xác suất rủi ro đã tính toán, ngân hàng có thể xây dựng cơ cấulãi suất cho phù hợp đảm bảo kinh doanh có lãi Bởi vì, lợi nhuận ngân hàng thuđược trên cơ sở lãi cho vay, lãi suất này phải đảm bảo chi trả phần tiền lãi đi vay,chi phí quản lý ngân hàng, bù đắp được rủi ro và có lãi Đối với mỗi tài sản có củangân hàng, nếu mức độ rủi ro cao, độ an toàn thấp thì lãi suất của chúng phải caohơn
- Dựa vào xác suất rủi ro của từng loại tài sản có, người ta xây dựng các
hệ số rủi ro của từng loại tài sản làm cơ sở tính hệ số an toàn vốn của ngân hànghoặc làm cơ sở để tính phí bảo hiểm cho từng loại tài sản
Trang 111.2.2 Xây dựng chiến lược, kế hoạch QTRR tín dụng
Trên cơ sở việc nghiên cứu tính toán các loại rủi ro ngân hàng mình đã và
có thể gặp phải, ngân hàng tiến hành xây dựng các chiến lược dài hạn để quản trịnhững rủi ro đó và cụ thể hóa thành các kế hoạch quản trị cho từng giai đoạn cụthể
1.2.2.1 Chiến lược quản trị rủi ro
Tại các ngân hàng thương mại Việt nam, việc triển khai quản trị rủi ro mới
ở thời kỳ sơ khai nên việc xây dựng chiến lược quản trị rủi ro cho một thời kỳ dàicũng chưa được thực hiện một cách đầy đủ, chỉ có một số ngân hàng lớn làm đượcviệc này Theo xu thế phát triển chung thì quản trị rủi ro phải trở thành hoạt độngtrung tâm trong các tổ chức tài chính_ngân hàng Bởi lẽ quản lý và kiểm soát chặtchẽ các rủi ro giúp cho việc sử dụng vốn có hiệu quả từ đó nâng cao hiệu quả cáchoạt động khác trong ngân hàng Đặc trưng của kinh doanh ngân hàng là tính rủi rolớn hơn bất kì một hoạt động kinh doanh nào khác nên chấp nhận kinh doanh ngânhàng tức là phải chấp nhận rủi ro Cũng với lý do như vậy bất kì ngân hàng thươngmại nào cũng phải thực hiện quản trị rủi ro tín dụng nhằm nhằm đảm bảo cho hoạtđộng tín dụng ngân hàng nói riêng và việc kinh doanh của ngân hàng đó nói chung.Xây dựng chiến lược quản trị rủi ro tín dụng là xây dựng và thực thi các chính sách
và biện pháp quản lý tín dụng nhằm đạt mục tiêu an toàn, hiệu quả và phát triểnbền vững Chiến lược quản trị rủi ro tín dụng phải đạt được mục tiêu tối đa hóa tỷsuất thu nhập đã được điều chỉnh rủi ro hoặc giảm tối đa chênh lệch giữa mức sinhlời thực tế và kỳ vọng Nói cách khác mục tiêu của quản trị rủi ro tín dụng là đểkiểm soát mức độ rủi ro hoặc tổn thất tín dụng trong phạm vi mà ngân hàng cho làhợp lý và chấp nhận được Để làm được điều đó, các ngân hàng đều cố gắng đánhgiá, ước lượng và dự đoán mức tổn thất dự kiến trung bình và cả mức tổn thấtngoài dự kiến nữa
1.2.2.2 Kế hoạch quản trị rủi ro
Đây là sự cụ thể hóa chiên lược quản trị rủi ro thành những công việc cụthể nhằm quản lý rủi ro tín dụng trong mỗi giai đoạn Đó là các kế hoạch quản lýcác khoản nợ vay, quản lý khách hang, quản lý các khoản nợ xấu Trong mỗi kếhoạch phải có tính toán các bước công việc cần thực hiện, dự trù các biện pháp giải
Trang 12quyết những vấn đề nảy sinh (các biện pháp có thể xử lý khi rủi ro xảy ra) Kếhoạch quản trị rủi ro cũng phải để ra các công cụ mà ngân hàng sử dụng để quản trịrủi ro Các công cụ thường được sử dụng như:
a) Chính sách tín dụng.
Đây là một văn bản cung cấp cho cán bộ tín dụng và các nhà quản lý mộtkhung chỉ dẫn chi tiết để ra các quyết định tín dụng và định hướng danh mục đầu
tư tín dụng của ngân hàng Nội dung cơ bản thường gồm:
- Mô tả thị trường tín dụng mục tiêu
- Công bố các tiêu chuẩn đối với danh mục cho vay
- Phân định quyền hạn, trách nhiệm những người liên quan trong việc raquyết định cho vay
Giới hạn tín dụng được hiểu là mức tín dụng an toàn tối đa trong đó doanhnghiệp quản trị được hoạt động của mình một cách hiệu quả và với mức này rủi rongân hàng có thể chịu đối với doanh nghiệp là thấp nhất.Giới hạn tín dụng gồmhạn mức của toàn bộ các hoạt động hay dịch vụ chứa đựng rủi ro mà ngân hàngcấp cho khách hàng (như dư nợ, mở L/C, bảo lãnh…) Khi vượt qua giới hạn này,rủi ro đã ở quá mức cho phép
Giới hạn tín dụng được tính toán trên cơ sở chính sách tín dụng ngân hàng,xếp hạng tín dụng của khách hàng, lĩnh vực kinh doanh và quy mô hoạt động củakhách hàng, khả năng quản trị của bản thân ngân hàng
c) Xếp hạng tín dụng khách hàng.
Ngân hàng thực hiện việc đánh giá rủi ro của khách hàng theo định kỳ từ
đó xếp hạng tín dụng cho khách hàng Việc xếp hạng này giống như phân loại các