Sau thời gian “giấu mình chờ thời” để củng cố và tăng cường nguồn lực, bước sang thế kỷ 21, đặc biệt đầu thập kỷ thứ 2 thế kỷ 21, khi nguồn lực đã mạnh, cách tiếp cận này c[r]
Trang 11 Đặt vấn đề
Năm 1991, Trung Quốc trở thành Đối
tác đối thoại của ASEAN và đến năm 1996
trở thành Đối tác đối thoại toàn diện của
ASEAN(1) Trung Quốc hiện là đối tác thương
mại lớn nhất của ASEAN, ASEAN là đối tác
lớn thứ 4 của Trung Quốc Bên cạnh những
thành tựu đạt được, quan hệ ASEAN – Trung
Quốc cũng đã xuất hiện những thách thức mà
nguyên nhân chính là do vấn đề tranh chấp Biển
Đông Quá khứ ám ảnh các quốc gia ASEAN
về một Trung Quốc hùng mạnh sẽ bá chủ và
thôn tính hoặc khống chế các quốc gia láng
giềng yếu hơn Khống chế Biển Đông được các
nhà nghiên cứu đánh giá là bước đi thiết thực
đầu tiên cho giấc mơ bá chủ này Hành vi phủ
định của Trung Quốc đối với phán quyết của
Tòa Trọng tài quốc tế ngày 12/7/2016 đã tạo
* ĐT.: 84-912093346, Email: ngocanh2us@vnu.edu.vn
1 http://www.aseanvietnam.vn/Default.aspx?page=intro
duction&introId=48604
ra những thách thức trong quan hệ ASEAN - Trung Quốc Tranh chấp Biển Đông không chỉ
là vấn đề của một số nước trong ASEAN với Trung Quốc, mà là của cả khối ASEAN, thậm chí của cả thế giới vì 1/3 lưu lượng thương mại quốc tế qua lại trên Biển Đông Theo đánh giá của các học giả thì khống chế Biển Đông
là một phần trong kế hoạch xưng bá ở Châu
Á của Trung Quốc (2) Nếu chiếm được Biển Đông, Trung Quốc sẽ có khả năng khống chế
cả khối ASEAN, thậm chí cả những nước ngoài ASEAN Do hành động của Trung Quốc trên Biển Đông luôn là nhân tố quyết định và nhân
tố này lại được định hình bởi cách tiếp cận về quyền lực trong quan hệ quốc tế nên nghiên cứu này sẽ lý giải thách thức trong quan hệ ASEAN
- Trung Quốc thông qua phân tích cách tiếp cận của Trung Quốc về quyền lực trong quan hệ quốc tế
2 http://www.fpri.org/article/2012/06/china-set-for-naval-hegemony/
ASEAN - TRUNG QUỐC NHÌN TỪ CÁCH TIẾP CẬN
CỦA TRUNG QUỐC VỀ QUYỀN LỰC
Nguyễn Ngọc Anh*
Trung tâm Ngôn ngữ & Quốc tế học, Trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN
Phạm Văn Đồng, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam
Nhận bài ngày 14 tháng 09 năm 2016 Chỉnh sửa ngày 29 tháng 12 năm 2016; Chấp nhận đăng ngày 04 tháng 01 năm 2017
Tóm tắt: Bài viết dựa trên lý thuyết quyền lực trong quan hệ quốc tế để xem xét cách tiếp cận của
Trung Quốc trong tranh chấp Biển Đông với một số quốc gia ASEAN đặt trong tổng thể quan hệ ASEAN – Trung Quốc và hệ quả của nó Bài viết lập luận rằng, cách tiếp cận của Trung Quốc về quyền lực là nguồn lực sản sinh quyền lực, quyền lực dùng để ép buộc và giành thắng lợi trong xung đột Vì vậy, khi nguồn lực của Trung Quốc lớn hơn thì khả năng xung đột trên Biển Đông giữa Trung Quốc với các nước ASEAN cũng sẽ gia tăng Bài viết cho rằng một trong những giải pháp căn bản ngăn ngừa xung đột là tác động làm thay đổi cách tiếp cận của Trung Quốc về quyền lực
Từ khóa: ASEAN, Trung Quốc, quyền lực, Biển Đông
Trang 22 Tranh chấp Biển Đông: Thách thức trong
quan hệ ASEAN - Trung Quốc
Tranh chấp Biển Đông là một thách thức
to lớn dẫn đến chia rẽ khối ASEAN, thậm chí
tiềm ẩn nguy cơ xung đột giữa một số quốc
gia trong ASEAN với Trung Quốc Vì vấn đề
tranh chấp Biển Đông mà Hội nghị Bộ trưởng
ASEAN - Trung Quốc năm 2012 ở Campuchia
lần đầu tiên không đưa ra được tuyên bố
chung; Hội nghị đặc biệt Bộ trưởng ASEAN -
Trung Quốc tại Côn Minh Trung Quốc tháng
6/2016, do sức ép của Trung Quốc, bản tuyên
bố chung ASEAN – Trung Quốc đã phải rút
lại(3); Hội nghị Bộ trưởng ASEAN – Trung
Quốc tháng 7/2016 tại Lào sau rất nhiều căng
thẳng và nỗ lực mới cho ra đời một bản tuyên
bố chung nhưng đã xuất hiện sự bất đồng trong
nội khối ASEAN(4) Trung Quốc đã có những
hành động quân sự làm leo thang căng thẳng
với ASEAN như: năm 2011 cắt cáp tàu khảo
sát của Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh
tế của Việt Nam; năm 2012 cưỡng chiếm bãi
cạn Scarborough; năm 2014 hạ đặt trái phép
giàn khoan HD 981 vào vùng đặc quyền kinh
tế của Việt Nam; năm 2014 triển khai đội gồm
3 tàu tới bãi ngầm James chỉ cách Malaysia 80
km; năm 2015 tăng cường bồi đắp đảo và tăng
tốc quân sự hóa ở Biển Đông; tháng 7/2016
tuyên bố phớt lờ phán quyết của Tòa Trọng tài
bằng cả những động thái quân sự…
3 Cưỡng ép và giành thắng lợi trong xung đột
Quyền lực là “khả năng gây ảnh hưởng
lên hành vi của người khác để đạt được kết
quả mình mong muốn” (Joseph S Nye, 2004)
Có rất nhiều phương thức khác nhau để tác
3
http://thediplomat.com/2016/06/china-not-asean-the-real-failure-at-south-china-sea-kunming-meeting/
4
http://www.reuters.com/article/us-southchinasea-ruling-asean-idUSKCN1050F6
động lên hành vi của người khác như cưỡng
ép, đe dọa, sử dụng vũ lực, quyễn rũ, thuyết phục, khuyến khích, hợp tác, mua chuộc… Mỗi phương thức khác nhau sẽ mang lại kết quả khác nhau Chẳng hạn như kết quả lý tưởng là chủ thể tác động dùng phương thức quyến rũ, khuyến khích và chủ thể bị tác động
sẽ là tự nguyện làm theo Mức thứ hai là chủ thể tác động dùng phương thức thuyết phục, hợp tác và chủ thể bị tác động sẽ cảm thấy hợp lý và chấp nhận được Mức thứ ba, cũng
là mức xấu nhất, là chủ thể tác động cưỡng ép,
đe dọa, sử dụng vũ lực và chủ thể bị tác động
sẽ buộc phải cam chịu khuất phục
Trong lịch sử Trung Quốc đã từng xuất hiện cách tiếp cận khá hiện đại về quyền lực trong quan hệ quốc tế; đó là cách tiếp cận của Nho giáo Cách tiếp cận này có những điểm tương đồng với cách tiếp cận “định hình tính quy chuẩn” (Hoàng Khắc Nam, 2011) - cách tiếp cận khoa học trong lý thuyết quan hệ quốc tế hiện đại Khổng Tử từng nói: “Nếu như những người ở xa vẫn không chịu qui phục thì cần phải sửa lại lễ nhạc và nhân đức để khiến cho họ đến qui phục” (张燕英, 2007) hay “mềm mỏng với các nước xung quanh, bốn phía sẽ đến qui phục; vỗ về chư hầu, thiên hạ sẽ sợ phục” (吕友仁、吕咏
梅, 1998) Mạnh Tử phát triển tư tưởng của Khổng Tử cho rằng “người dựa vào vũ lực mượn danh nhân nghĩa để chinh phạt, có thể xưng bá chư hầu, nhưng đòi hỏi đất nước phải có tiềm lực rất mạnh; người dựa vào đạo đức, thực hiện nhân nghĩa có thể xưng vương thiên hạ, không nhất thiết đất nước phải có tiềm lực rất mạnh…dựa vào đạo đức khiến người ta đến qui phục, trong lòng người ta
sẽ vui vẻ thuần phục” (杨伯峻, 1988) Cách tiếp cận này là sự dung hòa lợi ích của đôi bên theo hướng tự nguyện chấp nhận
Trang 3Tuy nhiên, cách tiếp cận của hai ông ít
được quan tâm, bản thân hai ông cũng không
được trọng dụng Cách tiếp cận nguồn lực
(chủ yếu là quân sự) sinh ra quyền lực và mục
tiêu của quyền lực là ép buộc, giành thắng lợi
trong xung đột vẫn là chủ đạo trong lịch sử
Trung Quốc Biểu hiện chính của cách tiếp
cận này là trong lịch sử Trung Quốc luôn định
ra các mục tiêu ở nước ngoài cần thực hiện
như lời nhận xét của học giả Bá Dương người
Đài Loan là: “Dân tộc Trung Hoa là dân tộc dễ
bành trướng nhất thiên hạ” (柏杨, 1986) Mỗi
khi Trung Quốc có nguồn lực mạnh thì đe dọa
hoặc phát động chiến tranh bắt các nước láng
giềng phải khuất phục, Việt Nam là một ví dụ
điển hình Cách tiếp cận này có nguồn gốc
từ tâm lý vượt trội trong so sánh nguồn lực,
thường được gọi là tư tưởng Đại Hán, trong
một không gian nằm trong tầm ảnh hưởng
của Trung Quốc, hay còn gọi là “Thiên hạ”,
ở đó quan điểm của Trung Quốc là “bách tính
Trung Quốc là thân, gốc rễ thiên hạ, Tứ Di chỉ
là cành lá.” (许嘉璐, 2004) và “Trung Quốc là
nước lớn, các nước khác là nước nhỏ”(5)
Thế hệ lãnh đạo đầu tiên nước Cộng hòa
Nhân dân Trung Hoa chịu ảnh hưởng rất lớn
của cách tiếp cận này Mao Trạch Đông nói:
“Việc của Trung Quốc, xưa nay súng được
dùng vào việc lớn” (中共中央文献研究室,
2008), “Chính quyền sinh ra từ họng súng…
súng sinh ra tất cả…cả thế giới này chỉ có
dùng súng mới thay đổi được” (中共中央文
献编辑委员会, 1991) Đặng Tiểu Bình đã
vạch ra cho Trung Quốc bước đi trong cuộc
chơi quyền lực đó là âm thầm tích lũy nguồn
lực (resources), thường được gọi là “giấu
mình chờ thời” Biểu hiện rõ nét nhất của
cách tiếp cận này là chiến lược “Bốn hiện đại
5 http://www.washingtonpost.com/wp-dyn/content/
article/2010/07/29/AR2010072906416.html
hóa” (hiện đại hóa nông nghiệp, hiện đại hóa công nghiệp, hiện đại hóa quốc phòng, hiện đại hóa khoa học công nghệ) từ đầu thập niên
60 thế kỷ 20, từ đó, tăng cường sức mạnh cho
3 thành tố quan trọng nhất cấu thành quyền lực là kinh tế, quốc phòng và khoa học kỹ thuật Đặng Tiểu Bình từng phát biểu: “Khi thực hiện xong Bốn hiện đại hóa, kinh tế quốc dân phát triển rồi, chúng ta sẽ có thể đóng góp nhiều hơn cho nhân loại đặc biệt là thế giới thứ ba Là nước Xã hội chủ nghĩa, Trung Quốc mãi mãi thuộc về thế giới thứ ba, vĩnh viễn không xưng bá… Nếu đến lúc đó Trung Quốc vênh mặt lên, xưng vương xưng bá, chỉ tay ra lệnh với thế giới, thì sẽ khiến cho chúng
ta bị khai trừ khỏi thế giới thứ ba, chắc chắn
sẽ không còn là nước Xã hội chủ nghĩa nữa” (中共中央文献编辑委员会, 1993) Phát biểu này cho chúng ta biết cách tiếp cận của Đặng Tiểu Bình về quyền lực trong quan hệ quốc tế và từ cách tiếp cận đó có thể tiên liệu được những gì sau này có thể sẽ xảy ra khi các nghiên cứu chỉ ra rằng Trung Quốc không phải là nước Xã hội chủ nghĩa(6) Minh chứng cho cách tiếp cận của Đặng Tiểu Bình là năm
1979 Trung Quốc phát động cuộc Chiến tranh Biên giới với Việt Nam kéo dài tới gần 10 năm, hay trận Hải chiến Trường Sa năm 1988 cướp đoạt một phần lãnh thổ của Việt Nam Sau thời gian “giấu mình chờ thời” để củng
cố và tăng cường nguồn lực, bước sang thế kỷ 21, đặc biệt đầu thập kỷ thứ 2 thế kỷ 21, khi nguồn lực đã mạnh, cách tiếp cận này của Trung Quốc lại được thể hiện không chỉ bằng tuyên bố đe dọa sử dụng vũ lực mà bằng cả những hành động ngày càng tăng về số lượng
và nguy hiểm về mức độ như ban hành các
6 http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-trung- quoc/4878-trung-quoc-phien-ban-dac-biet-cua-chu-nghia-xa-hoi
Trang 4lệnh cấm, tăng cường quân sự hóa gồm: Bồi
đắp đảo, xây đường băng, điều vũ khí hạng
nặng ra Biển Đông(7), tiến hành nhiều cuộc
tập trận quy mô lớn, bắt bớ và ngược đãi các
ngư dân… nhằm cưỡng ép và giành thắng lợi
trong xung đột
Biểu hiện cụ thể của cách tiếp cận ép
buộc, giành thắng lợi trong xung đột trên Biển
Đông của Trung Quốc gồm:
Đưa ra luật chơi ép các nước khác tuân thủ
Trung Quốc tuyên bố có chủ quyền với
80% diện tích Biển Đông, ban bố các lệnh
cấm trên Biển Đông bắt các quốc gia khác
phải tuân thủ
Trì hoãn và phủ nhận các giải pháp pháp lý
Sau 10 năm (1992-2002) kiên trì đàm
phán, ASEAN và Trung Quốc đã kí kết bản
Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông
(gọi tắt là D.O.C.) Tuy nhiên, một số học giả
cho rằng D.O.C là “một văn kiện nửa chính trị
nửa pháp lý và không có giá trị ràng buộc Hiệu
lực của văn bản này tùy thuộc vào thiện chí thi
hành của các bên”(8) Khi ASEAN đề xuất đàm
phán thỏa thuận mang tính ràng buộc pháp lý
C.O.C thì Trung Quốc tìm cách trì hoãn “Bộ
quy tắc ứng xử mang tính ràng buộc C.O.C
mà các bên đã cam kết hướng tới dường như
đang bị lảng tránh, hay nói theo cách tích cực
nhất là bị đóng băng, nhất là khi Trung Quốc
cố ý trì hoãn đàm phán”(9) vì vậy “các cuộc
tham vấn của ASEAN và Trung Quốc về một
C.O.C mang tính ràng buộc có thể bị kéo dài,
nếu không muốn nói là không thể kết thúc”
7
https://jamestown.org/program/beijing-ups-the-ante-in-south-china-sea-dispute-with-hq-9-deployment/
8
http://thediplomat.com/2016/06/china-not-asean-the-real-failure-at-south-china-sea-kunming-meeting/
9
http://www.nationmultimedia.com/opinion/We-need-another-name-for-the-South-China-Sea-30259386.html
(Carlyle A Thayer, 2013) Đáng chú ý là phán quyết của Tòa Trọng tài quốc tế cũng bị Trung Quốc phủ nhận và coi đó là “tờ giấy lộn”(10)
Sử dụng và đe dọa sử dụng vũ lực
Trung Quốc đã dùng vũ lực đánh chiếm một số đảo, quần đảo ở Biển Đông như năm
1974 đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa, năm
1988 đánh chiếm đảo Gạc Ma, năm 1995 đánh chiếm đảo Vành Khăn, 2012 cưỡng chiếm bãi cạn Scarborough, năm 2014 hạ đặt giàn khoan vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam trên Biển Đông…
Trung Quốc đe dọa sử dụng vũ lực không chỉ bằng những phát ngôn cứng rắn như lời tuyên bố của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Trung Quốc Thường Vạn Toàn(11) “không thỏa hiệp, không nhân nhượng, (và) không đánh đổi”
và “quân đội Trung Quốc sẽ nhanh chóng tập hợp, sẵn sàng chiến đấu và giành chiến thắng”,
mà còn là những cuộc tập trận quân sự với đội quân hùng hậu và vũ khí hạng nặng, tăng cường quân sự hóa trên Biển Đông, nguy hiểm hơn khi kêu gọi trang bị vũ khí cho ngư dân và sẵn sàng chiến tranh nhân dân trên biển(12)…
4 Giải pháp cho xung đột
Với cách tiếp cận như trên, khả năng xảy
ra xung đột sẽ tỷ lệ thuận với sự chênh lệch trong so sánh các nguồn lực chủ chốt sản sinh
ra quyền lực giữa Trung Quốc và ASEAN Chúng ta hãy xem xét sự tương quan giữa các nguồn lực chủ chốt:
10 Nhân Dân Nhật báo, bản in tiếng Trung tháng 7 năm 2016: Ngày 10 trang 3, ngày 11 trang 1, ngày 12 trang 3, ngày 13 trang 3, ngày 14 trang 3, ngày 17 trang 3, ngày
21 trang 21
11 http://thediplomat.com/2014/07/china-and-strategic-imbalance/2/
12 http://military.people.com.cn/n1/2016/0803/c1011-28606439.html
Trang 5Diện tích và dân số:
Biểu đồ so sánh diện tích và dân số giữa
ASEAN với Trung Quốc
(Nguồn: CIA, truy cập tại: https://www.cia
gov/library/publications/the-world-factbook/
rankorder/2119rank.html; WorldBank, truy cập tại:
http://data.worldbank.org/indicator/SP.POP.TOTL)
Diện tích của Trung Quốc lớn gấp 2,1 lần
cả khối ASEAN và xếp thứ 3 thế giới Dân
số Trung Quốc lớn gấp 2,1 lần 10 quốc gia
ASEAN, nhưng xếp số 1 thế giới Trong đó,
người Hán chiếm tới trên 91,5% (trên 1,2 tỷ
người)(13) là một lợi thế lớn của Trung Quốc
trong việc thống nhất sức mạnh tổng hợp
Ngoài ra, Trung Quốc còn có một lực lượng
Hoa Kiều rất lớn lên tới 24 triệu người tại các
quốc gia ASEAN và người Hoa nắm giữ huyết
mạch kinh tế của các nền kinh tế lớn nhất
ASEAN như Thái Lan, Malaysia, Singapore,
Indonesia(14) Người Hoa cũng đã và đang cầm
quyền tại một số quốc gia như Philippines
(Tổng thống Corazon Aquino), Thái Lan (Thủ
tướng: Thaksin, Yingluck), Singapore (Thủ
tướng Lý Quang Diệu, Lý Hiển Long)…
Biểu đồ so sánh tỷ lệ % người Hoa trên tổng
dân số ở các quốc gia ASEAN
4.1 11 23.7
77
4.5 16 1.67 5 4.8 15 0
20
40
60
80
100
(Nguồn: Văn phòng Hoa Kiều Chính phủ Trung
Quốc, truy cập tại: http://qwgzyj.gqb.gov.cn/
yjytt/155/1830.shtml)
13 http://www.stats.gov.cn/tjsj/pcsj/rkpc/6rp/indexch.htm
14
http://baotangnhanhoc.org/vi/tin-tuc-su-kien/su-kien-noi-bat/1084-ngi-hoa ong-nam-a-th-lc-ang-gm.html
Quân sự
Quân số và khí tài của quân đội Trung Quốc nhiều hơn cả 10 nước ASEAN cộng lại(15) Chi phí quân sự thường được xem là yếu tố quan trọng hàng đầu giúp gia tăng sức mạnh quân sự Chi phí quân sự của Trung Quốc tăng đều đặn và luôn gấp hơn 5 lần so với cả khối ASEAN Khoảng cách chi phí quân sự giữa Trung Quốc và ASEAN ngày càng gia tăng, nếu năm 2010 là 110.8 tỷ USD, thì năm 2015 đã là 172.8 tỷ USD
Biểu đồ so sánh chi phí quân sự giữa Trung Quốc và ASEAN giai đoạn 2010-2015 (Đơn vị: Tỷ USD)
199 215
33,2 34,3 35,5 38,9 38,7 42,2 0
50 100 150 200 250
2010 2011 2012 2013 2014 2015
Trung Quốc ASEAN Expon (Trung Quốc) Linear (ASEAN)
(Nguồn: Viện nghiên cứu hòa bình quốc tế Stockholm, truy cập tại: https://www.sipri.org/
databases/milex)
Kinh tế
GDP của Trung Quốc xếp thứ 2 thế giới, nhưng dự trữ ngoại hối lại xếp số 1 thế giới, cả hai đều lớn gấp gần 5 lần so với cả khối ASEAN Biểu đồ so sánh GDP và dữ trữ ngoại hối giữa ASEAN và Trung Quốctính đến năm 2015
(Đơn vị: Tỷ USD)
(Nguồn: Ngân hàng Thế giới, truy cập tại: http:// data.worldbank.org/indicator/FI.RES.TOTL.CD)
15 http://www.globalfirepower.com
Trang 6Công nghệ
Số lượng sáng chế là một trong những
yếu tố quan trọng phản ánh trình độ công nghệ
của quốc gia Tổng số lượng sáng chế áp dụng
tại Trung Quốc gấp gần 22 lần ASEAN, gấp
1,6 lần Hoa Kỳ (578802) Nhưng quan trọng
nhất là số lượng sáng chế của người bản địa
Trung Quốc (801135/928177, chiếm tới 86%)
gấp 153 lần số lượng sáng chế của người bản
địa ASEAN (5213/42212, chỉ chiếm 12% ),
gấp 2,8 lần Hoa Kỳ (285096) Đầu tư cho
KHCN của Trung Quốc gấp 17 lần ASEAN(16)
Biểu đồ so sánh sáng chế và kinh phí
khoa học-công nghệ giữa ASEAN và
Trung Quốc 2015
928177
801135
217988.4
42212
5213 12798.6 0
100000
200000
300000
400000
500000
600000
700000
800000
900000
1000000
Tổng số lượng
sáng chế áp dụng Số lượng sáng chế của người
bản địa
Đầu tư cho KHCN(Triệu USD)
Trung Quốc ASEAN
Nguồn(17): World Intellectual Property Indicators
2015 và The Global Innovation Index 2015
(Ghi chú: Mục đầu tư cho KHCN không có thông
tin 4 quốc gia: Brunei, Capuchia, Myanmar và Lào)
Qua những so sánh trên có thể thấy,
nguồn lực của Trung Quốc vượt trội so với
cả khối ASEAN Với cách tiếp cận nguồn
lực sinh ra quyền lực, quyền lực để ép buộc
khuất phục và giành thắng lợi trong xung
đột thì Trung Quốc sẽ tăng cường răn đe, áp
16 Không có số liệu đầu tư cho KHCN của 4 quốc gia:
Brunei, Capuchia, Myanmar và Lào
17 http://www.wipo.int/edocs/pubdocs/en/wipo_pub
_941_2015.pdf
https://www.globalinnovationindex.org/userfiles/file/
reportpdf/GII-2015-v5.pdf
đặt, nguy cơ xảy ra những xung đột vì thế
sẽ rất cao
Tuy nhiên, quyền lực và thực thi quyền lực phụ thuộc vào 3 yếu tố là nguồn lực, năng lực sử dụng nguồn lực của chủ thể và những nhân tố bên ngoài (nằm ngoài các chủ thể) làm tăng giảm quyền lực
Tiết Lực, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược quốc tế thuộc Viện Hàn lâm khoa học xã hội Trung Quốc từng nói: “Bản thân Trung Quốc cũng không biết mình muốn gì trên Biển Đông, có những quyền lợi cụ thể nào?”(18) Câu nói này mâu thuẫn với những tuyên bố về yêu sách chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông, có lẽ điều mà Trung Quốc không biết ở đây là đâu là lợi ích tối đa
sẽ đạt được và thời điểm nào, bằng cách nào
để đạt được lợi ích tối đa đó
Hội nhập và toàn cầu hóa đã làm gia tăng đáng kể sức mạnh của những nhân tố bên ngoài trong quan hệ quốc tế Sai lầm thường thấy là khi chủ thể quá coi trọng sự chênh lệch
về nguồn lực hoặc đánh giá quá cao năng lực
sử dụng nguồn lực của mình, trong khi đó lại không đánh giá hết được những nhân tố bên ngoài nhưng lại có tác động làm tăng hoặc giảm khả năng thực thi quyền lực của các chủ thể Những sai lầm nghiêm trọng đã xảy ra như Hoa Kỳ tham chiến tại Việt Nam (1954-1975)
và Trung Quốc phát động cuộc chiến tranh biên giới với Việt Nam (1979) Nguyên nhân sai lầm chủ yếu là do nguồn lực là yếu tố dễ nhận biết,
dễ đánh giá nhất và năng lực sử dụng nguồn lực thường được đánh giá dựa trên lý thuyết
và kinh nghiệm Trong khi đó, những nhân tố bên ngoài (nhiều khi là ẩn số) nhưng lại có thể làm tăng hoặc giảm đáng kể khả năng thực thi quyền lực của chủ thể thì lại rất khó đánh giá hết Một ví dụ khác là nguồn lực và năng lực
18 http://thediplomat.com/2016/07/interview-xue-li-on-the-south-china-sea/
Trang 7sử dụng nguồn lực của Hoa Kỳ được đánh giá
là số 1 thế giới, tuy nhiên sau hơn 50 năm, Hoa
Kỳ vẫn không thể hoàn thành được mục tiêu và
lợi ích tại Cuba Gần đây, để thực thi quyền lực,
Hoa Kỳ đã phải thay đổi cách tiếp cận về mục
tiêu của quyền lực trong quan hệ với Cuba Một
ví dụ nữa là dù trải qua hàng chục năm xung
đột, Israel không thể xóa bỏ được nhà nước
Palestine Một ví dụ gần nhất là cuộc chiến tại
Syria do Hoa Kỳ dẫn dắt, cục diện hiện tại vẫn
nằm ngoài khả năng của cả hai chủ thể là Hoa
Kỳ và Syria
Trung Quốc từng kêu gọi các bên gác
tranh chấp cùng khai thác Ngày 1/7/2016,
trong diễn văn kỉ niệm 95 năm thành lập
Đảng Cộng sản Trung Quốc, Tổng Bí thư
Đảng Cộng sản Trung Quốc Tập Cận Bình đã
kêu gọi thực hiện chính sách đối ngoại “lấy
hợp tác thay đối đầu, lấy cùng thắng thay độc
chiếm”(19), tuy nhiên, sau đó tuyên bố: “Dù là
quốc gia nào cũng đừng mơ Trung Quốc sẽ
chấp nhận đem các ‘lợi ích cốt lõi’ của mình đi
đổi chác, đừng mơ Trung Quốc sẽ chấp nhận
ăn ‘trái đắng’ tổn hại đến chủ quyền, an ninh
và lợi ích phát triển quốc gia”(20) Tuyên bố
này nếu ám chỉ tranh chấp Biển Đông thì mọi
nỗ lực để giải quyết tranh chấp đều sẽ trở nên
vô nghĩa Biển Đông hiện không chỉ là vấn đề
chủ quyền của các bên có tuyên bố chủ quyền,
mà còn là lợi ích của rất nhiều quốc gia trong
đó có các cường quốc hàng đầu thế giới như
Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ, là vấn đề an ninh
của cả khu vực Châu Á Thái Bình Dương
Bên cạnh đó còn có các thể chế quốc tế như
Liên hợp quốc, Tòa án quốc tế, Tòa Trọng tài
quốc tế…được bảo trợ bởi các quy tắc, luật
19 Nhân Dân Nhật báo (phiên bản hải ngoại), số ra ngày
2/7/2016, Trg3
20 Nhân Dân Nhật báo (phiên bản hải ngoại), số ra ngày
2/7/2016, Trg3
pháp và công ước Một sức mạnh đáng kể nữa
là dư luận quốc tế Tất cả tạo nên sức mạnh tổng hợp làm suy yếu quyền lực, đặc biệt là quyền lực mềm của Trung Quốc trong quan
hệ quốc tế nếu Trung Quốc không thay đổi cách tiếp cận
Trung Quốc hiện là đối tác thương mại lớn nhất của ASEAN, ASEAN là đối tác thương mại lớn thứ 4 của Trung Quốc, lợi ích kinh tế và tiềm năng hợp tác giữa hai bên rất lớn Không một quốc gia nào trong ASEAN muốn và đủ khả năng gây nên mối đe dọa đối với Trung Quốc và không một quốc gia nào trên thế giới có thể bất chấp luật pháp và dư luận quốc tế để làm theo ý mình Đối với ASEAN, dù Trung Quốc đưa ra những khẩu hiệu, phương châm tốt đến mấy, đi kèm với đó
là những chương trình, dự án hợp tác và những khoản tiền khổng lồ… thì cũng không thể so sánh được với chủ quyền lãnh thổ và tự do hàng hải Đối với các quốc gia trong ASEAN, việc nâng cao nguồn lực và năng lực sử dụng nguồn lực là rất quan trọng Một điểm đáng chú ý là hiện đại hóa quân đội để tự vệ là cần thiết, tuy nhiên, với tiềm lực kinh tế như hiện nay sẽ không dễ để có thể hiện đại hóa đến mức khiến cho Trung Quốc phải chùn bước, thậm chí nếu không thận trọng
dễ dẫn đến căng thẳng hoặc xung đột Bất cứ ý tưởng hay hình thức đối đầu nào đều dẫn đến bế tắc và xung đột Song song với nâng cao nguồn lực và năng lực sử dụng nguồn lực, các quốc gia trong ASEAN cần đoàn kết, không ngừng tăng cường và tận dụng sức mạnh của các nhân tố bên ngoài để tác động làm thay đổi cách tiếp cận của Trung Quốc, từ đó hình thành nên các chuẩn mực buộc Trung Quốc phải tuân thủ
Một trong những giải pháp căn bản là Trung Quốc thay đổi cách tiếp cận theo hướng dung hòa lợi ích của các bên, từ đó cho ra đời bản C.O.C phù hợp với các chuẩn mực quốc tế và mang tính ràng buộc về mặt pháp lý để giải quyết tranh chấp
Trang 8Biển Đông Khi đó, lòng tin sẽ được củng cố, hợp
tác sẽ được tăng cường, những nguy cơ xung đột
trên Biển Đông sẽ được khống chế Có như vậy
mới góp phần giải quyết được thách thức giữa
ASEAN và Trung Quốc một cách bền vững
Tài liệu tham khảo
Tiếng Việt
Hoàng Khắc Nam (2011) Quyền lực trong quan
hệ quốc tế, lịch sử và vấn đề Hà Nội: Nxb
Văn hóa thông tin
Đặng Đình Quý (2011) Biển Đông - Hướng tới
một khu vực hòa bình, an ninh và hợp tác Hà
Nội: Nxb Thế giới
Tiếng Trung
中 共 中 央 文 献 研 究 室 ( 2 0 0 8 ) 《 毛 泽 东 年
谱》.北京:中央文献出版社
中共中央文献编辑委员会(1991).《毛泽东选
集》 北京:人民出版社
中共中央文献编辑委员会(1993) 《邓小平文
选》 北京:人民出版社
张燕英译注(1998).《论语》.北京:中华书局
吕友仁、吕咏梅译注 (1998).《礼记-孝经全 译》.贵阳:贵州出版社
杨伯峻 (1988).《孟子译注》.北京:中华书局
柏杨 (1986).《丑陋的中国人》.长沙:湖南 文艺出版社
许嘉璐 (2004).《二十四史全译》.北京:汉 语大词典出版社
中国共产党.《人民日报》.北京:人民出版社
Tiếng Anh
Joseph S Nye (2004) Soft Power: The Means to
Success in World Politics New York: Public
Affairs
Carlyle A Thayer (2013) ASEAN, China and the Code of Conduct in the South China Sea, SAIS
Review of International Affairs, Vol.33, No.2.
Tim Dunne, Milja Kurki, Steve Smith (2013)
International Relations Theories Discipline and Diversity Oxford: Oxford University Press.
Karen A Mingst, Ivan M Arreguin – Toft (2014)
Essentials of International Relations New
York: W.W Norton&Company
Robert Dahl (1957) Concept of Power Behavioral
Science, 2:3.
SOUTH CHINA SEA DISPUTE: THE CHALLENGE TO
THE ASEAN - CHINA RELATIONSHIP FROM CHINA’S PERSPECTIVE OF POWER
Nguyen Ngoc Anh
Center of Linguistics and International Studies, VNU University of Languages and International
Studies, Pham Van Dong, Cau Giay, Hanoi, Vietnam
Abstract: With reference to power theories in international relation, the research analyzed China’s
views on disputes in South China sea with some ASEAN countries placed in the overall of China – ASEAN
relationship and its consequences The research argues that China’s approach of power is resourses bring
power and power is to force others and win conflicts Therefore, the stronger China’s resources, the higher
the possibility of conflict in South China sea between China and some ASEAN countries The research posits that one of the basic solutions to prevent conflicts is making China change its approach of power
Keywords: ASEAN, China, power, South China sea