1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NHTM ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

24 614 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động cho vay của NHTM đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các ngân hàng thương mại
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 78,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NHTM ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI CÁC NGÂN HÀNGTHƯƠNG MẠI 1.1 Tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.1.1 Tổng quan về

Trang 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NHTM ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI CÁC NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI 1.1 Tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.1.1 Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.1.1.1 Khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa

Khi nói đến DNNVV là nói đến quy mô của doanh nghiệp DNNVV lànhững doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu.DNNVV có thể chia thành 3 loại cũng căn cứ vào quy mô, đó là doanh nghiệp siêunhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàngThế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến 50 người, còn doanhnghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động Ở mỗi nước người ta có tiêu chí riêng đểxác định DNNVV ở nước mình Có thể một doanh nghiệp đối với quốc gia này làdoanh nghiệp vừa và nhỏ nhưng đối với nước khác là doanh nghiệp lớn Tuy nhiênkhông thể áp dụng khuôn mẫu cho tất cả các nước mà còn tuỳ vào sự phát triểnkinh tế của nước đó, tuỳ từng lĩnh vực ngành nghề và tuỳ từng giai đoạn nhất định

Có thể đưa ra khái niệm chung nhất về DNNVV như sau: “ DNNVV là những cơ

sở sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân kinh doanh vì mục đích lợi nhuận, có quy mô doanh nghiệp trong những giới hạn nhất định tính theo các tiêu thức vốn, lao động, doanh thu, giá trị gia tăng thu được trong từng thời kì theo quy định của từng quốc gia.”

Theo Điều 3 Nghị định 90/2001/NĐ-CP, ngày 23/11/2001 của Chính phủ vềtrợ giúp phát triển DNNVV thì “ Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinhdoanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng kýkhông quá 10 tỉ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300người” Theo cách xác định trên thì hiện nay nước ta có khoảng 270.000 doanh

Trang 2

nghiệp và hộ kinh doanh cá thể là DNNVV, chiếm tới 90% tổng số doanh nghiệptrên toàn quốc

Theo Nghị định 90/CP thì DNNVV gồm các loại sau: Doanh nghiệp tưnhân, Công ty cổ phần, Công ty hợp danh, doanh nghiệp Nhà nước, hợp tác xã, hộkinh doanh cá thể đăng kí kinh doanh theo Nghị định số 02/2000/NĐ - CP ngày03/02/2000 của Chính phủ về đăng kí kinh doanh

1.1.1.2 Đặc điểm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ

DNNVV là một loại hình doanh nghiệp nên nó mang đầy đủ đặc điểm củamột doanh nghiệp Ngoài ra DNNVV còn có đặc điểm riêng sau:

* Các DNNVV là những doanh nghiệp cần vốn đầu tư ban đầu thấp, quy môsản xuất kinh doanh nhỏ, khả năng thu hồi vốn nhanh, hiệu quả kinh tế cao Vì loạihình DNNVV có quy mô vừa phải nên yêu cầu về vốn đầu tư sản xuất không quálớn hơn nữa chu kỳ sản xuất kinh doanh thường ngắn, vòng quay của mỗi đồngvốn nhanh Chính vì thế mà quy mô cấp tín dụng cho loại hình doanh nghiệp nàycũng không lớn

* Các DNNVV thường là doanh nghiệp có năng lực tài chính thấp, thực hiệnquá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng chỉ bằng số vốn tự có của một hoặc một

số cá nhân Với lượng vốn ít như vậy doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn trongviệc đổi mới dây chuyền công nghệ, tăng năng suất, nâng cao chất lượng và hiệuquả của quá trình sản xuất kinh doanh

* Về cơ cấu tổ chức thì DNNVV là doanh nghiệp có quy mô nhỏ, cơ cấu tổchức đơn giản gọn nhẹ, có tính linh hoạt cao nên dễ thích nghi với sự thay đổi củamôi trường kinh doanh Cơ cấu gọn nhẹ là điều kiện thuận lợi để chủ doanh nghiệpquản lý, giám sát chặt chẽ tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đồngthời làm giảm thiểu sai lệch thông tin do giảm bớt cấp trung gian Vì có tính linhhoạt cao nên các DNNVV có thể nhanh chóng điều chỉnh các mục tiêu và chiếnlược kinh doanh để thích ứng với tình hình thị trường Tuy nhiên tính ổn định trong

Trang 3

sản xuất kinh doanh của DNNVV không cao gây khó khăn cho ngân hàng trongviệc thẩm định và theo dõi khoản vay.

* DNNVV có khả năng nắm bắt và ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại

và thường có những sáng kiến đổi mới công nghệ để phù hợp với quy mô nhỏ vàvừa của mình Trong thời đại bùng nổ khoa học công nghệ như hiện nay thì cácdoanh nghiệp không chỉ phải cạnh tranh về sản phẩm, về thị phần tiêu thụ mà cònphải cạnh tranh gay gắt về công nghệ kỹ thuật Việc đổi mới dây chuyền công nghệcủa DNNVV đòi hỏi nguồn vốn bổ sung không nhiều lại có thể thu hồi vốn nhanh.Lợi thế này giúp cho các DNNVV nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá bán giúptồn tại trên thị trường Tuy nhiên do tài chính thấp nên các DNNVV khó có thể tiếpcận được với công nghệ mới, các sản phẩm đưa ra thị trường không có tính cạnhtranh

* Năng lực quản trị điều hành của chủ DNNVV kém, còn thói quen điềuhành quản trị theo kiểu gia đình Đôi khi, việc tách bạch giữa các bộ phận không rõràng, những người quản lý các bộ phận cũng thường tham gia trực tiếp vào quátrình sản xuất Các chủ doanh nghiệp thường là những người chưa được qua đàotạo về quản lý, phần lớn thiếu hiểu biết về pháp luật Một số Luật nhiều doanhnghiệp không nắm được như: Luật Doanh nghiệp, Luật Đất đai, Luật Xây dựng,Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh Chính vì vậy nhiều doanh nghiệp vi phạmpháp luật mà cán bộ quản lí không biết

1.1.1.3 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa

DNNVV có vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển của nền kinh tế.Vai trò của DNNVV được thể hiện trên các mặt sau:

* DNNVV góp phần tạo ra nhiều công ăn việc làm mới cho người lao động, giảm bớt áp lực về việc làm và thất nghiệp Hiện nay, giải quyết việc làm

cho người lao động góp phần ổn định trật tự xã hội là vấn đề nan giải và cấp thiết

Trang 4

cho nhiều quốc gia Tỷ lệ lao động trong các doanh nghiệp Nhà nước và cơ quanhành chính sự nghiệp có chiều hướng giảm Trong hoàn cảnh này các DNNVVngoài quốc doanh trở thành nơi giải quyết nhu cầu về việc làm cho số lao độngđược tinh giảm trong các doanh nghiệp và hệ thống hành chính Nhà nước CácDNNVV còn là nơi tạo ra việc làm cho số lượng lớn những người mới tham giavào lực lượng lao động hàng năm Nhìn chung các DNNVV là nguồn chủ yếu tạo

ra việc làm trong tất cả các lĩnh vực Các DNNVV thường được dễ dàng thành lậpvới quy mô vốn không lớn, mặt khác nó có khả năng đáp ứng được nhu cầu thayđổi của thị trường Vì thế, tuy số lượng lao động trong các DNNVV là ít nhưngtheo quy luật số đông với số lượng rất lớn các DNNVV như vậy đã tạo ra công ănviệc làm cho hàng triệu người lao động

* DNNVV tham gia vào quá trình tạo lập sự phát triển công bằng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo vùng, lãnh thổ Một thực tế hiện nay là các

doanh nghiệp lớn thường tập trung chủ yếu ở các thành phố, thị xã lớn, chính xuhướng đó đã gây ra tình trạng mất cân đối nghiêm trọng về trình độ phát triển kinh

tế, văn hoá xã hội giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng miền trong cả nước

Sự phát triển của loại hình DNNVV là một giải pháp cho việc tạo lập lại sự cânbằng về trình độ phát triển giữa các vùng miền và sự phát triển đồng đều giữa cáclĩnh vực của nền kinh tế, đồng thời thu hút lao động trong xã hội Việc nhiều doanhnghiệp, chủ yếu là DNNVV được thành lập tại các vùng nông thôn, vùng miền núi,vùng sâu, vùng xa đã hạn chế sự chuyển dịch lao động từ nông thôn ra thành thịtìm việc làm, đồng thời làm giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng ngànhcông nghiệp và dịch vụ

* DNNVV cung cấp ra thị trường khối lượng sản phẩm hàng hoá, đa dạng và phong phú về mẫu mã, chủng loại, góp phần thúc đẩy tăng trưởng

Trang 5

kinh tế Mặt khác, do đặc tính linh hoạt, mềm dẻo các DNNVV có khả năng đáp

ứng các nhu cầu ngày càng cao của thị trường Bên cạnh đó, ở phần lớn các nềnkinh tế, các DNNVV là những nhà thầu phụ cho những nhà thầu lớn Sự điều chỉnhhợp đồng thầu phụ tại các thời điểm cho phép nền kinh tế có được sự ổn định Vìthế, DNNVV được ví là thanh giảm sóc cho nền kinh tế

* Sự ra đời của các DNNVVđã tạo ra môi trường cạnh tranh thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh và gia tăng nguồn hàng xuất khẩu. Quá trìnhhội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh và với mức độngày càng sâu, rộng vì thế các DNNVVphải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắtkhông chỉ với các doanh nghiệp trong nước mà còn phải cạnh tranh với các doanhnghiệp nước ngoài Do áp lực cạnh tranh mạnh mẽ như vậy buộc các doanh nghiệpphải thường xuyên cải tiến công nghệ, đổi mới mẫu mã chủng loại, nâng cao chấtlượng sản phẩm để có thể cạnh tranh thành công Hơn nữa, các DNNVV dànhđược ưu thế trong cạnh tranh do biết nắm bắt cơ hội, lựa chọn đầu tư đúng hướng

và là người đi tiên phong trong việc áp dụng các phát minh mới về công nghệ đãtạo ra một nguồn hàng lớn xuất khẩu ra thị trường quốc tế Do đó đem lại nguồnthu nhập lớn cho doanh nghiệp, đồng thời thu về một khối lượng lớn ngoại tệ cho

dự trữ ngoại hối quốc gia

* Bên cạnh đó, DNNVV còn góp phần quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư trong dân cư, đồng thời khai thác và sử dụng tối ưu các nguồn lực của địa phương Với quy mô hoạt động nhỏ và vừa thì DNNVV là mô hình đầu tư phù

hợp cho những chủ thể có nguồn vốn và trình độ hạn chế muốn tham gia kinhdoanh Trong quá trình hoạt động của mình, các DNNVV có khả năng huy độngvốn từ họ hàng, người thân, từ bạn bè đây được coi là phương tiện hiệu quả trongviệc huy động vốn từ các tầng lớp dân cư Số lượng các DNNVV đông và thường

Trang 6

phân tán ở hầu khắp các địa phương, chính vì thế sẽ tận dụng được lao động,nguyên nhiên vật liệu, các sản phẩm phụ, phế liệu ở các địa phương.

1.1.2 Tín dụng Ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.1.2.1 Khái niệm

Theo Mác, tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người

sở hữu sang người sử dụng, sau một thời gian nhất định quay về với một lượng giátrị lớn hơn lượng giá trị ban đầu

Trên cơ sở khái niệm tín dụng có thể khái niệm về tín dụng ngân hàng như

sau: Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản giữa bên cho vay (ngân hàng thương mại hoặc các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.

1.1.2.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng

a Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

Tín dụng ngân hàng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển củadoanh nghiệp trong đó có các DNNVV Tuy nhiên khu vực này đang gặp khó khăn

về vốn Đa phần các DNNVV có quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ lại luôn trongtình trạng thiếu vốn, “khát vốn” cho mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, đầu tưcải tiến máy móc, trang thiết bị mới Nhưng vốn huy động từ các dự án, hay nguồnvốn tài trợ của nước ngoài là rất hiếm hơn nữa vốn huy động từ thị trường chứngkhoán thì các DNNVV không đủ điều kiện Chính vì vậy, DNNVV chỉ có thể tiếpcận nguồn vốn duy nhất là vốn tín dụng ngân hàng để mở rộng sản xuất và pháttriển hoạt động kinh doanh Nhưng việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng của các ngân

Trang 7

hàng đang gặp nhiều trở ngại DNNVV đang “khát vốn” ngân hàng, chứng tỏ tíndụng ngân hàng có vai trò vô cùng to lớn đối với DNNVV Điều đó được thể hiệntrên các khía cạnh sau:

- Tín dụng ngân hàng giúp các DNNVV mở rộng sản xuất kinh doanh.

Ngân hàng mở rộng quy mô hoạt động của mình thông qua việc huy động nguồnvốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế để tài trợ cho các thành phần kinh tế nóichung và các doanh nghiệp nói riêng Tín dụng ngân hàng giúp các doanh nghiệpduy trì sản xuất, tái sản xuất mở rộng, phát triển các ngành nghề mũi nhọn Ngoài

ra, ngân hàng còn cung cấp các dịch vụ khác cho doanh nghiệp như dịch vụ bảolãnh, mở LC, tài trợ xuất nhập khẩu, nâng cao năng lực hoạt động đem lại ngàycàng nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp

- Góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của các DNNVV Đặc trưng

của tín dụng ngân hàng không chỉ là cung cấp một lượng giá trị trên cơ sở lòng tin

mà còn phải hoàn trả lượng giá trị đó trên nguyên tắc phải hoàn trả cả gốc và lãi

Vì vậy khi doanh nghiệp sử dụng vốn vay của các ngân hàng phải tìm mọi biệnpháp để đồng vốn đó sinh lời Doanh nghiệp phải đảm bảo sử dụng tiết kiệm vốn,tăng nhanh vòng quay của vốn, đảm bảo tỷ suất lợi nhuận lớn hơn lãi suất đi vaycủa ngân hàng thì doanh nghiệp mới có khả năng trả được nợ và có lợi nhuận

- Nâng cao năng lực cạnh tranh của DNNVV Trong điều kiện nền kinh tế

có sự cạnh tranh gay gắt như hiện nay, các DNNVV muốn tiếp tục đứng vững vàphát triển thì phải không ngừng cải tiến công nghệ, giảm chi phí, nâng cao chấtlượng sản phẩm để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng Muốn làmđược những điều đó thì điều kiện tiên quyết là doanh nghiệp phải có đủ vốn.Nhưng các DNNVV lại có vốn ít, trong khi đó trình độ tổ chức lại yếu kém, laođộng có tay nghề không cao vì thế buộc các doanh nghiệp phải tìm đến tín dụngngân hàng Nguồn vốn của Ngân hàng sẽ đem lại cho doanh nghiệp nguồn lợi ích

to lớn với mức lãi suất phù hợp đảm bảo cho doanh nghiệp kinh doanh có lãi, giúp

Trang 8

doanh nghiệp thực hiện được mục đích của mình, mở rộng sản xuất kinh doanh,chiếm lĩnh thị phần.

b Đối với sự phát triển kinh tế

Trong nền kinh tế thị trường khi mà các mối quan hệ hàng hoá tiền tệ ngàycàng được mở rộng thì nhu cầu giao lưu kinh tế - xã hội giữa các nước trên thế giớingày càng trở nên cần thiết và cấp bách Việc phát triển kinh tế của mỗi quốc qialuôn gắn chặt với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và là một bộ phận cấu thànhnên sự phát triển đó Vì vậy, nền tài chính của mỗi nước cũng phải hoà nhập vớinền tài chính quốc tế và ngân hàng thương mại cùng các hoạt động kinh doanh củamình đã đóng một vai trò quan trọng trong sự hoà nhập này.Với các hoạt động kinhdoanh của mình, ngân hàng thương mại đã tạo điều kiện thúc đẩy ngoại thươngkhông ngừng được mở rộng Thông qua các hoạt động thanh toán, kinh doanhngoại hối, quan hệ tín dụng với các ngân hàng thương mại nước ngoài, hệ thốngngân hàng thương mại đã thực hiện vai trò điều tiết nền tài chính trong nước phùhợp với nền tài chính quốc tế

Bên cạnh đó, bằng hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các ngân hàngthương mại trong hệ thống, các ngân hàng thương mại đã góp phần mở rộng khốilượng tiền cung ứng trong lưu thông Thông qua việc cung ứng tín dụng cho cácngành trong nền kinh tế, ngân hàng thương mại thực hiện việc dẫn dắt các luồngtiền, tập hợp và phân chia vốn của thị trường, điều khiển chúng một cách có hiệuquả và thực thi vai trò điều tiết gián tiếp vĩ mô: “ Nhà nước điều tiết ngân hàng,ngân hàng dẫn dắt thị trường”

Tín dụng ngân hàng còn là kênh tài trợ vốn cho nền kinh tế Muốn có nhiềuvốn phải tăng thu nhập quốc dân và có mức độ tiêu dùng hợp lý Để tăng thu nhậpquốc dân tức là phải mở rộng quy mô theo chiều rộng lẫn chiều sâu của sản xuất vàlưu thông hàng hoá, đẩy mạnh sự phát triển của các ngành trong nền kinh tế và

Trang 9

muốn làm được điều đó cần thiết phải có vốn NHTM là chủ thể chính đáp ứng nhucầu vốn cho sản xuất kinh doanh NHTM đứng ra huy động các nguồn vốn tạmthời nhàn rỗi ở mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế và thông qua hoạtđộng tín dụng sẽ cung cấp vốn cho mọi hoạt động kinh tế và đáp ứng các nhu cầuvốn một cách kịp thời cho quá trình tái sản xuất.

c Đối với ngân hàng

Nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ chiếm tỷ trọng lớn đồng thời là nghiệp vụsinh lời chủ yếu của ngân hàng Các NHTM đang và sẽ chú trọng đến đối tượngkhách hàng là các DNNVV Với số lượng đông đảo trong nền kinh tế thì loại hìnhdoanh nghiệp này mang đến cho các ngân hàng rất nhiều cơ hội Việc cấp tín dụngcho DNNVV một cách hợp lý sẽ giúp ngân hàng mở rộng khả năng cho vay, nângcao uy tín và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình Ngoài ra, ngânhàng còn có cơ hội để phát triển các sản phẩm dịch vụ đi kèm để thoả mãn nhu cầucủa khách hàng giúp ngân hàng thu hút nhiều khách hàng, xây dựng thương hiệuhình ảnh của mình trên thị trường

1.1.3 Đặc điểm của hoạt động cho vay ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.1.3.1 Về quy mô và tốc độ tăng trưởng dư nợ

Các DNNVV ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng Song vấn

đề nổi lên hiện nay đó là giải quyết vấn đề vốn cho DNNVV Trên thực tế, cácNHTM đang cạnh tranh mạnh mẽ để mở rộng cho vay đối với loại hình DNNVV,đặc biệt là trong nhu cầu vốn tín dụng để mở rộng sản xuất kinh doanh Tuy nhiênviệc tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng của các doanh nghiệp gặp rất nhiều trở ngại

do thiếu tài sản thế chấp, thủ tục phức tạp, lãi suất cao Hiện nay có ít DNNVVđược vay vốn ngân hàng, nhưng chủ yếu là tín dụng ngắn hạn, không đáp ứngđược nhu cầu đầu tư lớn và dài hạn

Trang 10

1.1.3.2 Về nợ quá hạn

Hoạt động kinh doanh của ngân hàng là hoạt động tiềm ẩn rất nhiều rủi ro.DNNVV vay vốn của ngân hàng thường có nhiều rủi ro hơn các doanh nghiệp lớn.Tuy nhiên rủi ro đó thường nhỏ và không mang tính hệ thống, khó gây ra phá sảncho ngân hàng vì các khoản vay của DNNVV thường là khoản vay nhỏ và thường

đi kèm với tài sản đảm bảo khi gặp rủi ro ngân hàng sẽ phát mại tài sản đảm bảo đểthu hồi khoản nợ Rủi ro đối với cho vay DNNVV chỉ ảnh hưởng đến thu nhập củangân hàng, không dẫn đến phá sản như trong hoạt động tín dụng đối với doanhnghiệp lớn

1.1.3.3 Khả năng sinh lời

Ngân hàng có thể thu được nguồn lợi lớn từ việc cho vay đối với DNNVV.Đây chính là thị trường tốt để các ngân hàng hoạt động Lãi suất đối với cho vayDNNVV thường cao hơn so với cho vay đối với doanh nghiệp lớn, nếu tính trênmột doanh nghiệp thì lượng chênh đó là không đáng kể nhưng tính trên tổng cáckhoản vay của DNNVV thì rất lớn Ngoài thu lợi từ khoản cho vay đối vớiDNNVV, các ngân hàng còn thu thêm được nhiều khoản khác đi kèm nhờ cungcấp thêm các dịch vụ: bảo lãnh, thanh toán, chuyển tiền, L/C

1.1.3.4 Chi phí thẩm định

Chi phí thẩm định của một khoản vay đối với DNNVV thường được coi làcao vì khoản vay có giá trị thấp nhưng vẫn phải tiến hành đầy đủ các bước của quytrình tín dụng Thời gian để cán bộ tín dụng thẩm định một DNNVV thường ít hơndoanh nghiệp lớn vì số lượng giao dịch ít, tài liệu lưu ít nên dễ dàng cho các cán bộtín dụng Chính vì thế, trong ngân hàng thì một cán bộ tín dụng có thể quản lýnhiều khoản vay, giao dịch của nhiều DNNVV

1.2 Hiệu quả hoạt động cho vay của NHTM đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.2.1 Khái niệm hiệu quả hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

Trang 11

Ngay từ buổi đầu sơ khai, hoạt động của các NHTM đã tập trung chủ yếuvào nghiệp vụ nhận tiền gửi và cho vay để đáp ứng nhu cầu thiếu hụt vốn tạm thờicủa các cá nhân, doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế Ngày nay khi nền kinh tế pháttriển cao, môi trường kinh doanh đã có nhiều thay đổi song cho vay vẫn là nghiệp

vụ chiếm tỷ trọng lớn nhất và mang lại nhiều thu nhập nhất cho các ngân hàng Tạihầu hết các ngân hàng, khoản mục cho vay chiếm quá nửa giá trị tổng tài sản, tạo

ra 1/2 đến 1/3 nguồn vốn thu của ngân hàng, tỷ trọng cho vay chiếm 70% tổng tàisản Có

Hiệu quả của hoạt động cho vay không chỉ giới hạn trong lĩnh vực của hoạtđộng ngân hàng mà còn thực hiện thông qua hiệu quả sử dụng vốn vay của kháchhàng vay vốn, qua sự tăng trưởng và phát triển của các ngành kinh tế

Hiệu quả của hoạt động cho vay có thể được hiểu như sau:

Hiệu quả của hoạt động cho vay là kết quả tổng hoà những thành tựu hoạt động tín dụng thể hiện ở sự phát triển ổn định vững chắc của nền kinh tế quốc dân, của ngân hàng và của khách hàng Hiệu quả hoạt động cho vay được hiểu đúng nghĩa là ngân hàng đáp ứng được nhu cầu vay vốn của khách hàng, đồng thời khách hàng vay vốn hoàn trả đúng thời hạn đầy đủ cả gốc và lãi cho ngân hàng Đối với khách hàng vay vốn thì hiệu quả của hoạt động cho vay đó chính là khách hàng có thể bù đắp kịp thời nhu cầu thiếu hụt vốn, trang trải được các chi phí hoạt động, đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp.

Ta xem xét từ các giác độ sau:

- Từ góc độ ngân hàng: Các khoản cho vay của ngân hàng đối với DNNVV

được coi là có hiệu quả khi ngân hàng có thể thu hồi được khoản nợ, khoản vay đóphù hợp với khả năng của ngân hàng và mang lại lợi nhuận cho ngân hàng Chính

vì vậy, trước khi cho vay ngân hàng phải thẩm định kĩ DNNVV vay vốn đồng thờitính toán một mức lãi suất cho vay hợp lý để có thể mang lại nguồn thu cho ngânhàng

Trang 12

- Từ phía DNNVV: Để hoạt động cho vay có thể diễn ra thì không thể thiếu

khách hàng vay vốn hay nói cụ thể là các DNNVV Nếu DNNVV thấy khoản vay

đó không có hiệu quả thì khoản vay đó không thể được coi là có hiệu quả Khoảnvay là hiệu quả khi nó đáp ứng kịp thời nhu cầu thiếu hụt vốn với lãi suất hợp lý,thủ tục nhanh gọn, thuận tiện tạo điều kiện cho doanh nghiệp tổ chức sản xuất kinhdoanh có hiệu quả

- Từ phía nền kinh tế: Hoạt động của NHTM luôn đặt trong mối quan hệ

chặt chẽ với nền kinh tế Hiệu quả của tín dụng ngân hàng đó là đảm bảo nền kinh

tế đi lên theo đúng hướng, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, khaithác có hiệu quả các tiềm năng sẵn có của đất nước góp phần làm cho nền kinh tếtăng trưởng và phát triển bền vững

1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động cho vay

(1) Doanh số cho vay: Là số tiền mà ngân hàng đã thực sự giải ngân cho

khách hàng được tính trong một khoảng thời gian nhất định Doanh số cho vay làchỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả của hoạt động cho vay Đây là vốn ngânhàng giúp doanh nghiệp trong đầu tư, cải tiến máy móc thiết bị, ứng dụng côngnghệ mới, mở rộng sản xuất kinh doanh Con số và tốc độ của doanh số cho vayqua các năm phản ánh quy mô và xu hướng của hoạt động tín dụng là đang mởrộng hay thu hẹp

(2) Doanh số thu nợ: Phản ánh lượng vốn mà ngân hàng đã thu hồi được từ

các khách hàng vay vốn trong một thời kỳ nhất định

(3) Dư nợ cho vay: Chỉ tiêu này được đo bằng số tuyệt đối giữa doanh số

cho vay và doanh số thu nợ, nó phản ánh lượng vốn mà khách hàng còn nợ ngânhàng tại một thời điểm cụ thể Tổng dư nợ thấp phản ánh hiệu quả cho vay thấp, nóchỉ ra ngân hàng không có khả năng mở rộng hoạt động cho vay, khả năng tiếp thịkhách hàng kém, thị phần thấp Tuy nhiên khi xem xét chỉ tiêu này không nên xem

Ngày đăng: 29/10/2013, 23:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1.1.1.2 Đặc điểm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ - CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NHTM ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1.2 Đặc điểm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (Trang 2)
DNNVV là một loại hình doanh nghiệp nên nó mang đầy đủ đặc điểm của  một doanh nghiệp - CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NHTM ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
l à một loại hình doanh nghiệp nên nó mang đầy đủ đặc điểm của một doanh nghiệp (Trang 2)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w