2 Với mục tiêu làm sáng tỏ thêm thành phần hoá học và những tác động dƣợc lý chƣa đƣợc tìm hiểu đầy đủ trên cây Nở ngày đất, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Khảo sát sơ bộ thành phần
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGUYỄN TẤT THÀNH
LÊ THỊ THANH TÂM
KHẢO SÁT SƠ BỘ THÀNH PHẦN HOÁ THỰC VẬT VÀ TÁC ĐỘNG GIẢM ĐAU, AN THẦN CỦA CAO CHIẾT CÂY NỞ NGÀY ĐẤT
(Gomphrena celosioides Mart., Amaranthaceae)
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ ĐẠI HỌC
TP.HCM – NĂM 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGUYỄN TẤT THÀNH
LÊ THỊ THANH TÂM
KHẢO SÁT SƠ BỘ THÀNH PHẦN HOÁ THỰC VẬT VÀ TÁC ĐỘNG GIẢM ĐAU, AN THẦN CỦA CAO CHIẾT CÂY NỞ NGÀY ĐẤT
(Gomphrena celosioides Mart., Amaranthaceae)
Chuyên ngành: Sản xuất và phát triển thuốc
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ ĐẠI HỌC
Hướng dẫn khoa học: Thạc sĩ Võ Thị Thu Hà
TP.HCM – NĂM 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường cùng toàn thể các thầy cô giáo đang trực tiếp giảng dạy tại khoa Dược trường Đại học Nguyễn Tất Thành Trong suốt những năm học tập tại trường, nhờ sự tận tình giảng dạy của quý thầy cô, em đã tiếp thu được nhiều kiến thức quý báu để từ đó những bài học chính
là hành trang vững chắc để em bước vào đời, vào ngành nghề mà em đã chọn
Em vô cùng biết ơn cô Võ Thị Thu Hà đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn và truyền đạt cho em những kiến thức, kinh nghiệm trong quá trình nghiên cứu khoa học và giúp
đỡ em hoàn thành tốt bài luận văn tốt nghiệp này
Em cũng xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới tập thể giảng viên bộ môn Dược lý đã quan tâm, chỉ dạy và tạo điều kiện thuận lợi nhất trong suốt thời gian em thực hiện
đề tài Vì còn nhiều bỡ ngỡ trong bước đầu tiếp xúc công việc nghiên cứu khoa học nên không thể tránh khỏi những sai sót, khiếm khuyết trong lúc làm việc, em kính mong quý thầy cô bỏ qua và mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô về bài báo cáo này
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
SINH VIÊN
LÊ THỊ THANH TÂM
Trang 5i
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Tổng quan về cây Nở ngày đất (Gomphrena celosioides Mart.) 3
1.1.1 Đặc điểm thực vật và phân bố 3
1.1.2 Thành phần hóa học 4
1.1.3 Độc tính cấp 5
1.1.4 Tác dụng dược lý 6
1.2 Đại cương về đau 9
1.2.1 Định nghĩa 9
1.2.2 Phân loại 10
1.2.3 Dẫn truyền cảm giác đau 10
1.2.4 Cơ chế tác dụng của thuốc giảm đau 11
1.2.5 Thuốc giảm đau 12
1.2.6 Nguyên tắc sử dụng thuốc giảm đau 12
1.2.7 Các mô hình giảm đau thực nghiệm 12
1.3 Đại cương về an thần 15
1.3.1 Ngủ 15
1.3.2 Mất ngủ 15
1.3.3 Thuốc an thần, gây ngủ 16
1.3.4 Các mô hình an thần thực nghiệm 17
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Đối tượng nghiên cứu 18
2.1.1 Dược liệu nghiên cứu 18
2.1.2 Động vật thử nghiệm 18
2.1.3 Thiết bị, dụng cụ 18
2.1.4 Dung môi, hóa chất 18
2.2 Phương pháp nghiên cứu 19
2.2.1 Chiết xuất dược liệu 19
Trang 6ii
2.2.2 Khảo sát hoá thực vật trong cao chiết 19
2.2.3 Khảo sát tác động giảm đau 23
2.2.4 Khảo sát tác động an thần 24
2.3 Phân tích thống kê kết quả 25
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 26
3.1 Kết quả 26
3.1.1 Chiết xuất dược liệu 26
3.1.2 Kết quả khảo sát sơ bộ thành phần hoá thực vật 26
3.1.3 Kết quả khảo sát tác động giảm đau trung ương 31
3.1.4 Kết quả khảo sát tác động giảm đau ngoại biên 34
3.1.5 Kết quả khảo sát tác động an thần 39
3.2 Bàn luận 42
3.2.1 Khảo sát sơ bộ thành phần hoá thực vật 42
3.2.2 Khảo sát tác động giảm đau của cao chiết Nở ngày đất 42
3.2.3 Khảo sát tác động an thần của cao chiết Nở ngày đất 43
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 45
4.1 Kết luận 45
4.2 Đề nghị 45
Trang 7iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TBARS Thiobarbituric acid reactive
substances
Các chất phản ứng acid thiobarbituric
BUN Blood Urea Nitrogen Xét nghiệm đo lƣợng ure nitrogen
trong máu
LD50 hay MLD Mean lethal dose Liều chết trung bình
IASP International Association for
the Study of Pain
Hiệp hội nghiên cứu đau quốc tế
OECD Organization for Economic
Co-operation and Development
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh
tế
Trang 8iv
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Cây Nở ngày đất 3
Hình 1.2 Hình thái thực vật cây Nở ngày đất 4
Hình 2.1 Sơ đồ chuẩn bị dịch chiết định tính sơ bộ hóa thực vật 19
Hình 2.2 Định tính các nhóm hợp chất trong dịch chiết cloroform 20
Hình 2.3 Định tính các nhóm hợp chất trong dịch chiết ethanol 21
Hình 2.4 Định các nhóm hợp chất trong dịch chiết nước 22
Hình 3.1 Cao Nở ngày đất (a) chiết bằng nước cất và (b) chiết bằng cồn 50% 26
Hình 3.2 Kết quả định tính cao cồn Nở ngày đất 29
Hình 3.3 Kết quả định tính cao nước Nở ngày đất 30
Hình 3.4 Biểu đồ so sánh tiềm thời giật đuôi chuột giữa các lô 32
Hình 3.5 Biểu đồ so sánh số lần đau quặn của lô chứng và đối chứng 35
Hình 3.6 Biểu đồ số lần đau quặn của lô chứng, đối chứng và lô thử nghiệm 1 35
Hình 3.7 Biểu đồ số lần đau quặn của lô chứng, đối chứng và lô thử nghiệm 2 36
Hình 3.8 Biểu đồ số lần đau quặn của lô chứng, đối chứng và lô thử nghiệm 3 37
Hình 3.9 Biểu đồ số lần đau quặn của lô chứng, đối chứng và lô thử nghiệm 4 37
Hình 3.10 Biểu đồ số lần đau quặn của lô thử nghiệm 1 và 2 38
Hình 3.11 Biểu đồ số lần đau quặn của lô thử nghiệm 3 và 4 39
Hình 3.12 Biểu đồ thời gian chuột bám trên máy Rota-rod của lô chứng, đối chứng 40
Hình 3.13 Biểu đồ thời gian chuột bám trên máy quay Rota-rod của lô chứng, 40
Hình 3.14 Biểu đồ thời gian chuột bám trên máy quay Rota-rod của lô chứng, 41
Trang 9v
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Hiệu suất chiết và độ ẩm các cao Nở ngày đất 26
Bảng 3.2 Kết quả khảo sát hoá thực vật trên cao cồn Nở ngày đất 27
Bảng 3.3 Kết quả khảo sát hoá thực vật trên cao nước Nở ngày đất 28
Bảng 3.4 Thành phần hoá học cao cồn và cao nước Nở ngày đất 31
Bảng 3.5 Tiềm thời giật đuôi (giây) của các lô trong các khoảng thời gian 31
Bảng 3.6 Số lần đau quặn của các lô trong từng khoảng thời gian 34
Bảng 3.7 Thời gian chuột bám lên máy quay Rota-rod của các lô 39
Trang 10vi
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ ĐẠI HỌC – NĂM HỌC 2018-2019 KHẢO SÁT SƠ BỘ THÀNH PHẦN HOÁ THỰC VẬT VÀ TÁC ĐỘNG GIẢM ĐAU, AN THẦN CỦA CAO CHIẾT CÂY NỞ NGÀY ĐẤT
(Gomphrena celosioides Mart., Amaranthaceae)
Lê Thị Thanh Tâm Hướng dẫn khoa học: ThS Võ Thị Thu Hà
Mở đầu:
Tại Việt Nam, Nở ngày đất (Gomphrena celosioides Mart., Amaranthaceae) là một
loại thảo dược được sử dụng khá phổ biến nhưng những nghiên cứu về cây Nở ngày đất vẫn còn hạn chế Do đó đề tài được thực hiện với mục tiêu xác định thành phần hoá học và đánh giá tác động giảm đau, an thần của cây Nở ngày đất
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:
Cây Nở ngày đất được thu hái tại Tp Hồ Chí Minh Chiết bằng nước cất và cồn 50% Các nhóm hợp chất trong cao được định tính bằng các phản ứng hoá học Nghiên cứu tác dụng giảm đau trung ương theo mô hình nhúng đuôi chuột, tác dụng giảm đau ngoại biên theo mô hình gây đau quặn bằng acid acetic 1% và tác dụng an thần theo thí nghiệm Rota-rod
Kết quả:
Cao cồn và cao nước Nở ngày đất có chứa triterpenoid, polyphenol, saponin, hợp chất polyuronic, flavonoid, alkaloid và acid hữu cơ Ở liều 300 và 600 mg/kg, cả 2 cao đều làm giảm đáng kể số lần đau quặn trong mô hình gây đau bằng acid acetic (p<0,05) nhưng không làm tăng thời gian phản ứng trong mô hình nhúng đuôi chuột (p>0,05)
Ở liều 600 mg/kg, cao cồn Nở ngày đất làm giảm đáng kể thời gian bám trên máy quay Rota-rod so với lô chứng (p<0,01)
Kết luận:
Cao cồn và cao nước toàn cây Nở ngày đất có chứa triterpenoid, polyphenol, saponin, hợp chất polyuronic, flavonoid, alkaloid và acid hữu cơ Ở liều 300 và 600 mg/kg, cả 2 cao đều có tác dụng giảm đau ngoại biên nhưng không có tác dụng giảm đau trung ương Cao cồn Nở ngày đất có tác dụng an thần ở liều 600 mg/kg
Từ khoá: Nở ngày đất; thành phần hoá học; giảm đau; an thần; acid acetic
Trang 11vii
FINAL ASSAY FOR THE DEGREE OF BS PHARM - ACADEMIC YEAR:
2018 – 2019 PHYTOCHEMICAL SCREENING AND ANALGESIC, SEDATIVE EFFECTS
OF THE EXTRACT OF GOMPHRENA CELOSIOIDES MART
AMARANTHACEAE
Le Thi Thanh Tam Supervisor: MPharm Vo Thi Thu Ha Introduction:
In Vietnam, Gomphrena celosioides Mart (Amaranthaceae) is a popular herb, but the researches on Gomphrena celosioides are still limited The aim of this work was to
determine the chemical composition and to evaluate the analgesic and sedative effects
of Gomphrena celosioides
Materials and methods:
Gomphrena celosioides were collected at Ho Chi Minh city Then they were created
aqueous and ethanol extracts Qualitative compounds were conducted by chemical reactions Central antinociceptive effect was evaluated with tail immersion model, peripheral antinociceptive effect was evaluated with writhing test by acetic acid 1% in mice and sedative effect was evaluated by the Rota-rod performance
Results:
Chemical tests showed the presence of: Triterpenoids, flavonoids, alkaloids, saponins, polyphenols, organic acids in both extracts At dosage 300 and 600 mg/kg, both extracts weren't found to increase the reaction time of the mice in tail immersion method, while the number of writhing movement of the mice were reduced Ethanol extract shortened the stay time on the rotating cylinder at dosage 600 mg/kg
Conclusion:
The aqueous and ethanol extracts of Gomphrena celosioides have triterpenoids,
flavonoids, saponins, polyphenols, polyuronic compounds, alkaloids, organic acids All extracts have peripheral antinociceptive effect but no central antinociceptive effect
at dosage 300 and 600 mg/kg Ethanol extract has sedative effect at dosage 600 mg/kg
Key words: Gomphrena celosioides; phytochemical; analgesic; sedative; acetic acid.
Trang 121
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, việc sử dụng các loại thuốc có nguồn gốc từ dược liệu đang ngày càng trở nên phổ biến vì các thuốc này không những đem lại hiệu quả cao mà còn an toàn cho người sử dụng Việt Nam thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với thảm thực vật phong phú, giàu tiềm năng về cây thuốc kết hợp với nền y học cổ truyền lâu đời đã trở thành một lợi thế to lớn cho việc nghiên cứu, phát triển thuốc có nguồn gốc tự nhiên để phục vụ nhu cầu chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ con người Tuy nhiên, phần lớn các cây được sử dụng làm thuốc chưa được nghiên cứu đầy đủ và hệ thống về mặt hóa học cũng như hoạt tính sinh học mà chủ yếu dựa trên kinh nghiệm dân gian Do đó vẫn chưa phát huy được hết tối đa hiệu quả của nguồn tài nguyên này
Nở ngày đất (Gomphrena celosioides Mart., Amaranthaceae) là một loại thảo dược
được sử dụng khá phổ biến trong dân gian Nở ngày đất có thể được sử dụng một mình hoặc kết hợp với các loại cây khác để điều trị các bệnh ở người và động vật [33] Nở ngày đất kết hợp với dầu bơ hạt mỡ được sử dụng tại chỗ để điều trị vết thương và ngăn ngừa nhiễm trùng hay dùng trong thức ăn chăn nuôi để điều trị các vấn đề về đường ruột của động vật [33] Các xét nghiệm hóa học cho thấy sự hiện diện của saponin, steroid, hợp chất phenolic, flavonoid, acid amin, đường và betacyanin trong cây [18] Nở ngày đất cũng đã được chứng minh có chứa các dẫn xuất acid benzoic có hoạt tính kháng khuẩn [30] Nghiên cứu từ các tài liệu cho thấy
Nở ngày đất có khả năng kháng khuẩn trên các chủng Staphylococcus aureus, Pseudomonas aeruginosa, Escherichia coli [24], [30]; kháng nấm [13], [24]; kháng
ký sinh trùng [24], [35]; kháng viêm [33]; lợi tiểu [22], [23] Ở Nigeria, cây này được sử dụng để điều trị các bệnh về da [35] Cây cũng có tác dụng giảm đau và lợi tiểu [27] Ở Benin, các thầy lang truyền thống sử dụng dịch chiết nước trong điều trị vàng da, sốt rét và đau bụng kinh [16] Ở Việt Nam, năm 2016, Đỗ Duy Cường và cộng sự đã chứng minh tác dụng hạ glucose huyết và giảm acid uric huyết của các cao chiết từ cây Nở ngày đất [3] Năm 2017, Đặng Kim Thu và cộng sự đã chứng minh tác dụng ức chế enzyme xanthine oxidase của cây [11]
Trang 132
Với mục tiêu làm sáng tỏ thêm thành phần hoá học và những tác động dƣợc lý chƣa đƣợc tìm hiểu đầy đủ trên cây Nở ngày đất, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Khảo sát sơ bộ thành phần hoá thực vật và tác động giảm đau, an thần của cao chiết cây
Nở ngày đất (Gomphrena celosioides Mart., Amaranthaceae)” với các mục tiêu cụ
Trang 145
Năm 2014, Dosumu và cộng sự đã phân lập được 2 hợp chất là aurantiamide và aurantiamide acetate [25] Các hợp chất này đã được chứng minh là có khả năng kháng khuẩn ngay cả ở nồng độ rất thấp [26] Phát hiện này đã hỗ trợ việc sử dụng loại cây này trong y học dân gian để điều trị các bệnh về đường tiêu hóa, hô hấp hoặc truyền nhiễm [25]
Nghiên cứu của Ogundipe và cộng sự (2008) cho thấy hàm lượng nước trong lá chiếm 75,68% và trong thân chiếm 75,31% Dịch chiết nước và dịch chiết ethanol của lá và thân Nở ngày đất đều có sự hiện diện của các hợp chất khử, saponin, flavonoid, anthocyanosid và coumarin; không có tanin, alkaloid, anthraquinon, sterol và triterpen [32]
Nghiên cứu của De Moura và cộng sự (2004) đã phân lập được acid benzoic (1), acid 4-hydroxy-3-methoxybenzoic hay acid vanillic (2), stigmasterol, sitosterol và campesterol từ dịch chiết các bộ phận trên mặt đất; ecdysterone, methyl palmitate (3), stigmast-6-en-3-O-β-(D-glicopiranoside) (4) và stigmasterol
4-hydroxy-từ dịch chiết rễ cây Nở ngày đất 1, 2, 3, 4 là những hợp chất đầu tiên được phân lập
từ Nở ngày đất [30]
1.1.3 Độc tính cấp
Năm 2015, Abou và cộng sự đã khảo sát độc tính cấp của dịch chiết ethanol cây Nở ngày đất theo phương pháp của OECD Chuột bạch cho uống cao chiết với liều lượng: 5, 50, 300, 2000 và 5000 mg/kg và quan sát Kết quả cho thấy không có phản ứng gây độc sau 48 giờ theo dõi Tiếp tục theo dõi trong vòng 14 ngày Sau 14 ngày trọng lượng của các cơ quan (gan, thận và tim) không có sự khác biệt đáng kể (p>0,05), phân tích các chỉ số sinh hóa có sự khác biệt ở liều 5000 mg/kg (p<0,05)
Trang 156
Kết luận cao chiết ethanol Nở ngày đất không gây độc, LD50 lớn hơn 5000 mg/kg
và việc sử dụng cao chiết cây Nở ngày đất với liều trên 5000 mg/kg gây ra các rối loạn chức năng gan [14]
1.1.4 Tác dụng dược lý
Tác dụng kháng viêm, giảm đau
Năm 2016, Nghiên cứu của Adeoti và cộng sự cho thấy khả năng kháng viêm của cây Nở ngày đất Dịch chiết ethanol Nở ngày đất liều 200 mg/kg gây ra sự ức chế rõ rệt của chứng phù chân sau do carrageenan gây ra ở chuột so với diclofenac natri 10 mg/kg [15]
Năm 2009, Oladele và cộng sự đã nghiên cứu về khả năng kháng viêm và giảm đau của dịch chiết nước lá của cây Nở ngày đất và cây Khổ qua Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng dịch chiết từ lá của hai loại cây này có tác dụng kháng viêm vì làm giảm đáng kể độ phù do carrageenan gây ra ở bàn chân chuột (p<0,05) Dịch chiết lá của
Nở ngày đất cũng được tìm thấy làm tăng đáng kể (p<0,05) thời gian phản ứng của chuột trong phương pháp gây đau bằng tấm nóng, trong khi số lần đau quặn trong phương pháp gây đau bằng acid acetic của chuột giảm đáng kể (p<0,05) [33] Kết quả này cho thấy tiềm năng kháng viêm và giảm đau của dịch chiết nước lá của hai cây trên
Tác dụng lợi tiểu
Năm 2018, Paula Vasconcelos và cộng sự tiếp tục khảo sát tác động của dịch chiết
Nở ngày đất trên huyết áp động mạch trong mô hình cấp tính 28 ngày và tác dụng lợi tiểu để điều trị tăng huyết áp Kết quả cho thấy dịch chiết Nở ngày đất làm giảm huyết áp động mạch ở liều 100 mg/kg Dịch chiết ethanol Nở ngày đất có tác động như thuốc lợi tiểu sau 4 tuần điều trị [23]
Năm 2017, Paula Vasconcelos và cộng sự khảo sát tác dụng lợi tiểu của dịch chiết ethanol Nở ngày đất Kết quả khi dùng đường uống dịch chiết ethanol Nở ngày đất với liều 100 và 300 mg/kg, lượng nước tiểu sau 8 giờ tăng đáng kể so với nhóm đối chứng Sau 7 ngày điều trị, hiệu quả được duy trì và nồng độ aldosteron huyết thanh
cũng giảm [22]
Trang 167
Tác dụng kháng khuẩn
Nghiên cứu của Sharma và Vijayvergia về khả năng kháng khuẩn của cây Nở ngày
đất trên các chủng Escherichia coli, Pseudomonas aeroginosa và Staphylococcus aureus cho thấy dịch chiết methanol của lá, thân và rễ là có hiệu quả nhất đối với ba
loại vi khuẩn được thử nghiệm [38]
Moura và cộng sự đã tiến hành xác định hoạt tính kháng khuẩn của hoạt chất acid hydroxy-3-methoxy-benzoic được phân lập trong thân, lá, hoa và rễ của Nở ngày
4-đất Kết quả cho thấy có tác động kháng khuẩn trên Staphylococcus aureus và Salmonella typhi [30]
Nghiên cứu của Dosumu và cộng sự chỉ ra rằng dịch chiết ethyl acetate và methanol
cây Nở ngày đất có khả năng ức chế hoạt động của Staphylococcus aureus, Bacillus subtilis, Pseudomonas aeruginosa, Escherichia coli và Salmonella typhi [24]
Kết quả nghiên cứu của Ogundipe và cộng sự cũng cho thấy dịch chiết nước và dịch chiết ethanol lá và thân cây Nở ngày đất có tác dụng ức chế sự tăng trưởng của
Pseudomonas aeruginosa, Escherichia coli và Staphylococcus aureus Nồng độ ức
chế tối thiểu là 120 μg/ml và nồng độ diệt khuẩn tối thiểu là 1200 μg/ml [32]
Tác dụng kháng nấm, kháng ký sinh trùng
Tác dụng kháng nấm của Nở ngày đất đã được nghiên cứu ở các nồng độ khác nhau
trên Aspergillus niger, Candida albicans và Trichophyton rubrum Kết quả cho thấy
dịch chiết methanol của Nở ngày đất có tác dụng diệt nấm đối với các chủng nấm được chọn ở nồng độ 2000 μg/ml [13] Nghiên cứu của Dosumu cũng chỉ ra dịch
chiết methanol cây Nở ngày đất có khả năng ức chế Candida albicans, Aspergillus niger và Trichophyton với các vùng kháng khuẩn có đường kính trong khoảng từ 14
đến 20 mm [24]
Hoạt tính chống giun sán được khảo sát ở dịch chiết ethyl acetate và methanol Kết
quả cho thấy dịch chiết Nở ngày đất có tác dụng trên Fasciola gigantica, Taenia solium và Pheretima pasthuma Trong đó dịch chiết ethyl acetate có tác động mạnh nhất, gây tê liệt Taenia solium trong vòng 15 phút và gây chết Fasciola gigantica
trong vòng 20 phút sau khi sử dụng [24]
Trang 178
Tác dụng hạ glucose huyết và giảm acid uric
Trong nghiên cứu của Đặng Kim Thu và cộng sự (2017) về các phân đoạn được chiết từ Nở ngày đất, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng phân đoạn n-butanol và phân đoạn ethyl acetate từ cây Nở ngày đất có tiềm năng trong phòng và điều trị bệnh gout [11]
Năm 2016, Đỗ Duy Cường và cộng sự đã nghiên cứu tác dụng hạ glucose huyết và làm giảm acid uric huyết của các cao chiết từ cây Nở ngày đất Kết quả cho thấy cao ethanol 45% liều 1 g/kg và cao nước liều 1,38 g/kg có tác dụng ức chế sự tăng glucose huyết trong nghiệm pháp dung nạp glucose Trên chuột gây bệnh đái tháo đường bằng streptozotocin (liều 170 mg/kg), cao ethanol 45% liều 0,5 g/kg và cao nước liều 0,69 g/kg và 1,38 g/kg sau 7 ngày điều trị thể hiện tác dụng hạ glucose huyết ở thời điểm đo lúc đói và ở thời điểm 120 phút sau khi uống glucose trong nghiệm pháp dung nạp glucose Trên mô hình gây tăng acid uric cấp bằng kali oxonat (liều 300 mg/kg), các cao chiết từ cây Nở ngày đất thể hiện tác dụng làm giảm acid uric huyết có ý nghĩa thống kê so với lô chứng bệnh lý, tương tự như tác dụng của thuốc đối chiếu allopurinol liều 10 mg/kg [3]
Tác dụng bảo vệ dạ dày
Năm 2015, Ige Janet Oluwabunmi và Tijani Abiola đã nghiên cứu ảnh hưởng của dịch chiết methanol Nở ngày đất trên chuột được gây loét dạ dày bằng indomethacin Dịch chiết methanol Nở ngày đất được dùng bằng đường uống với các mức liều 200, 500 và 800 mg/kg Kết quả chuột được điều trị bằng dịch chiết
Nở ngày đất cho thấy giảm đáng kể điểm loét, chỉ số loét, thể tích dạ dày và tổng lượng acid dạ dày trong các mô hình loét do indomethacin gây ra khi so sánh với nhóm đối chứng [34]
Tác dụng chống oxy hoá
Meite Souleymane và cộng sự đã đánh giá hiệu quả chống oxy hoá in vivo và in vitro của cây Nở ngày đất Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng dịch chiết Nở ngày đất có khả năng khử gốc tự do mạnh [39]
Trang 189
Nghiên cứu của Adeoti và cộng sự cũng cho thấy dịch chiết ethanol cây Nở ngày đất làm giảm hàm lượng dẫn xuất của acid thiobarbituric (TBARS: sản phẩm của quá trình peroxid hóa lipid màng) trong huyết thanh, cho thấy khả năng chống oxy hóa của cây Nở ngày đất [15]
Nghiên cứu của Neha Sharma (2012) đã cho thấy rằng gốc của cây Nở ngày đất là nguồn tiềm năng cung cấp chất chống oxy hoá [37]
Phòng ngừa sỏi tiết niệu
Năm 2015, Priyanka Kantivan Goswami và cộng sự đã đánh giá hiệu quả của dịch chiết rễ cây Nở ngày đất trên mô hình sỏi tiết niệu ở chuột gây ra bởi ethylen glycol Dịch chiết nước và ethanol của rễ cây Nở ngày đất liều 250 và 500 mg/kg được dùng cùng với ethylen glycol trong 15 ngày Các mẫu máu và nước tiểu được thu thập để tính nồng độ BUN (là xét nghiệm đo lượng urea nitrogen trong máu), creatinin, acid uric trong huyết tương và nồng độ canxi, magiê, oxalat và creatinin trong nước tiểu Việc sử dụng ethylen glycol dẫn đến tăng tất cả các thông số trên
và giảm ở chuột sử dụng dịch chiết Nở ngày đất Phân tích mẫu mô bệnh học cũng cho thấy chuột được điều trị bằng ethylen glycol có lượng lớn tinh thể canxi oxalat
và điều này giảm ở chuột sử dụng dịch chiết Nở ngày đất [28]
Tác dụng bảo vệ gan
Nở ngày đất được sử dụng trong y học cổ truyền để điều trị bệnh gan [36] Trong nghiên cứu của Sangare và cộng sự (2012), carbon tetrachloride (CCl4) đã được sử dụng để gây nhiễm độc gan ở chuột Chất độc gan này gây ra sự gia tăng đáng kể các men gan và bilirubin Điều trị dự phòng bằng dịch chiết Nở ngày đất liều 500 mg/kg và silymarin liều 300 mg/kg dẫn đến giảm transaminase huyết thanh, phosphatase kiềm và bilirubin với sự bảo vệ lần lượt là 65,06% đối với dịch chiết
Nở ngày đất và 78,34% đối với silymarin [36]
1.2 Đại cương về đau
1.2.1 Định nghĩa
Trang 19 Phân loại theo nguyên nhân gây đau:
- Đau thực thể: Do kích hoạt các cơ chế cảm nhận đau bình thường, đau thường khu trú rõ [20]
- Đau nội tạng: Thường ít khu trú hơn đau thực thể, bao gồm các loại đau như tắc ruột, táo bón, đau màng trong tử cung…[20] Cảm giác đau ở các tạng trong ổ bụng
và trong lồng ngực được dẫn truyền bởi các sợi cảm giác đi trong dây thần kinh giao cảm của tạng Các sợi này là các sợi nhỏ thuộc loại C, chỉ dẫn truyền cảm giác đau mạn, đau ê ẩm, nhức nhối [6]
- Đau do thần kinh: Có nguồn gốc đau hoặc tổn thương khu trú tại hệ thần kinh trung ương Đặc trưng bởi cảm giác ngứa ran, cảm giác đau nhói [20]
Phân loại đau theo thời gian
- Đau cấp tính (acute pain): Là những cơn đau kéo dài dưới 30 ngày Loại đau này được xem như một dấu hiệu báo động hữu ích giúp bảo vệ cơ thể [20]
- Đau mạn tính (chronic pain): Là những cơn đau kéo dài hơn 6 tháng Loại đau này
ít có ý nghĩa bảo vệ, nó vẫn tồn tại sau chấn thương hoặc bệnh tật và có thể gây cản trở trong sinh hoạt [20]
- Đau bán cấp: Là những cơn đau tiếp diễn xảy ra từ cuối tháng thứ nhất đến đầu tháng thứ bảy [20]
1.2.3 Dẫn truyền cảm giác đau
Dẫn truyền từ receptor vào tuỷ
Cảm giác đau cấp được truyền về sừng sau tuỷ theo các sợi Aẟ (có ít myelin) với tốc độ 6-30 m/sec; còn cảm giác đau mạn được truyền theo sợi C (không có myelin)
Trang 20 Dẫn truyền từ tuỷ lên não
Từ tuỷ lên não, cảm giác đau được dẫn truyền theo nhiều đường:
- Bó gai-thị nằm ở cột trắng trước-bên Bó này có nhiều sợi nhất
- Bó gai-lưới tận cùng ở các vùng khác nhau ở hành não, cầu não, não giữa của cả hai bên
- Các bó gai-cổ-đồi thị từ tuỷ cùng đi lên
Tại các synap với nơron thứ hai ở sừng sau tuỷ, các sợi C tiết ra chất dẫn truyền P Chất P thuộc loại peptide thần kinh có đặc điểm chung là bài tiết chậm và bị khử hoạt chậm Phải nhiều giây sau khi có kích thích chất P mới được bài tiết và nó tồn tại nhiều giây, thậm chí hàng phút sau khi cảm giác đau đã hết Điều này giải thích
lý do vì sao cảm giác đau mạn vẫn còn tồn tại một thời gian sau khi nguyên nhân gây đau đã hết [6]
Nhận cảm ở vỏ não
Nơron thứ ba từ đồi thị lên nhiều vùng khác nhau ở nền não và ở vùng khác nhau của võ não Một số điểm trên vùng cảm giác của vỏ não khi bị kích thích bằng vi điện cực có thể gây ra cảm giác đau vừa Vị trí của cảm giác đau cấp được não xác định chính xác hơn là cảm giác đau mạn [6]
1.2.4 Cơ chế tác dụng của thuốc giảm đau
Làm tăng ngưỡng đau
Những thuốc làm tăng ngưỡng đau là những thuốc giảm đau vì khi dùng thuốc này, ngưỡng đau tăng lên, nên đối với những kích thích trước đây đã đến ngưỡng đau, đã thấy đau, nhưng do ngưỡng đau tăng lên nên ta vẫn không cảm nhận thấy đau [7]
Làm thay đổi giá trị cảm giác đau của bệnh nhân
Trang 2112
Có những thuốc làm thay đổi giá trị cảm giác đau nhƣ làm cho cảm giác đau ít khó chịu hơn Sợ làm giảm ngƣỡng đau, có thể làm giảm hoặc mất sợ đi bằng cách dùng thuốc giải lo âu [7]
Làm cho bệnh nhân giảm khả năng tiếp nhận kích thích đau
Có những yếu tố vật lý, hoá học, sinh học tác động lên các thụ thể đau làm cho bệnh nhân giảm khả năng tiếp nhận các kích thích đau, kể cả các chất nội sinh gây đau nhƣ bradykinin, histamin, prostaglandin, serotonin Các chất gây tê tại chỗ là chất làm giảm khả năng tiếp nhận kích thích đau [7]
1.2.5 Thuốc giảm đau
Thuốc giảm đau đƣợc chia làm 3 loại [9]:
Thuốc giảm đau loại morphin
Ví dụ: Morphin, pethidin, methadon, fentanyl…
Thuốc giảm đau không phải loại morphin
Paracetamol và thuốc chống viêm không steroid (Ví dụ: Aspirin, diclofenac, ibuprofen, naproxen, meloxicam, celecoxib…)
Thuốc giảm đau hỗ trợ:
Là những thuốc có tác dụng làm tăng hiệu quả giảm đau hoặc giảm nhẹ tác dụng không mong muốn của các thuốc trên Ví dụ: Thuốc chống động kinh, thuốc chống trầm cảm, thuốc giải lo âu, thuốc chống co thắt cơ trơn…
1.2.6 Nguyên tắc sử dụng thuốc giảm đau
Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo nên uống thuốc theo bậc thang giảm đau:
- Bậc 1 (đau nhẹ): Dùng thuốc giảm đau không phải opioid nhƣ paracetamol, thuốc chống viêm không steroid
- Bậc 2 (đau vừa): Phối hợp các opioid yếu (codein, oxycodon) với paracetamol, thuốc chống viêm không steroid hoặc thuốc giảm đau hỗ trợ
- Bậc 3 (đau nặng): Phối hợp thuốc giảm đau loại opioid mạnh nhƣ morphin, hydromorphon, methadon… với thuốc chống viêm không steroid
1.2.7 Các mô hình giảm đau thực nghiệm
Các phương pháp gây đau bằng hóa chất
Trang 2213
Mô hình 1: Gây đau bằng acid acetic
Sau khi chuột dùng thuốc hoặc chất thử được 1 giờ (hấp thu nhanh thì 45 phút, tiêm thì sau 20–30 phút), tiến hành gây đau bằng cách tiêm phúc mạc dung dịch acid acetic Dung dịch acid acetic sẽ làm cho chuột đau quặn với các biểu hiện là toàn thân vươn dài, ưỡn cong người, một hoặc cả hai chân sau duỗi ra, xoắn mình sang một bên, co thót bụng, bụng chạm sát vào sàn Các biểu hiện của đau quặn như trên tạo thành từng cơn Đếm các cơn quặn đau [7]
Tính tỷ lệ % ức chế các cơn quặn đau (I%) của mỗi lô so với lô đối chứng theo công thức:
I% = 100× (Mc-Mt)/Mc Trong đó:
- Mc là số cơn quặn đau trung bình ở lô chứng
- Mt là số cơn quặn đau trung bình ở lô thử
Khoảng thời gian có tỷ lệ ức chế lớn nhất được xem là đỉnh tác động của thuốc và
tỷ lệ ức chế dưới 70% được xem là có tác động yếu [17]
Mô hình 2: Gây đau bằng benzoquinon
Benzoquinon (p-benzoquinon, phenylquinon hoặc quinon) khi tiêm vào phúc mạc chuột nhắt trắng cũng có khả năng gây ra các cơn đau quặn biểu hiện bằng toàn thân vươn dài, hai chân sau duỗi ra, ưỡn cong người, xoắn mình sang một bên, co thót bụng, bụng chạm sát vào sàn, giống như khi tiêm phúc mạc dung dịch acid acetic Các biểu hiện của đau quặn như trên tạo thành từng cơn So sánh số lần đau quặn giữa các lô trong cùng thời điểm Nếu số lần đau ở lô thử giảm có ý nghĩa thống kê
so với lô chứng thì chất thử nghiệm có tác dụng giảm đau [7]
Các phương pháp gây đau bằng nhiệt
Mô hình 1: Gây đau bằng tấm nóng trên chân chuột
Để chuột lên một tấm kim loại nóng có nhiệt độ 55 ± 10C Nhiệt ở tấm nóng làm đau chân chuột Khi chuột cảm nhận thấy đau, chuột liếm chân sau hoặc nhảy lên Ghi nhận tiềm thời ở các thời điểm: trước khi dùng thuốc 60 và 30 phút; sau khi dùng thuốc 0, 30, 60, 90 và 120 phút Tiềm thời nhận cảm đau của chuột bình
Trang 2314
thường là từ 10 – 20 giây Đối với chuột đã dùng thuốc, nếu sau 30 giây, chuột vẫn chưa cảm nhận được đau thì ngừng thí nghiệm và ghi nhận tiềm thời là 30 giây Thuốc có tác dụng giảm đau trong mô hình này sẽ có tiềm thời dài hơn so với lô không dùng thuốc [7], [31]
Mô hình 2: Gây đau bằng nước nóng trên đuôi chuột
Tác nhân gây đau trong mô hình này là nước nóng Nhúng đuôi chuột được đánh dấu khoảng 5 cm trong nước nóng ở nhiệt độ chính xác khoảng 550C, chuột sẽ cảm nhận được đau mà biểu hiện là đuôi chuột quẫy mạnh hoặc giật đuôi ra khỏi nước Thời gian từ khi nhúng đuôi chuột vào nước nóng đến khi đuôi chuột quẫy mạnh gọi là tiềm thời cảm nhận đau, thường dưới 5 giây Thời gian này được ghi nhận bằng đồng hồ bấm giây Cho chuột dùng chất thử, sau đó lại đo tiềm thời Nếu chuột không cảm nhận được đau sau 6 giây thì chất này có tác dụng giảm đau [7]
Các phương pháp gây đau bằng điện
Mô hình 1: Gây đau bằng điện dùng điện cực ở trực tràng chuột
Đặt điện cực vào trực tràng rồi tăng dần điện áp kích thích cho đến khi chuột cảm nhận được đau với các biểu hiện như giãy giụa, phát ra tiếng kêu Điện áp thấp nhất làm cho chuột cảm nhận được đau là điện áp đau ngưỡng ở trạng thái bình thường Cho chuột dùng thuốc giảm đau thì khi kích thích ở mức điện áp này, chuột sẽ không thấy đau Muốn cho chuột cảm nhận được đau, phải dùng một điện áp lớn hơn Như vậy, nếu sau khi dùng chất thử mà điện áp đau ngưỡng đo được lớn hơn
có ý nghĩa thống kê so với mức bình thường thì chất đó có tác dụng giảm đau [7]
Mô hình 2: Gây đau bằng điện dùng điện cực là sàn chuồng chuột
Kích thích gây đau trong mô hình này là dùng dòng điện tác động lên chân chuột nhắt trắng Cho chuột đứng trên sàn của chuồng được làm bằng kim loại không rỉ, nối với một nguồn điện Tăng dần điện áp kích thích cho đến khi chuột cảm nhận được đau (biểu hiện là chuột chạy loạn xạ hoặc phát ra tiếng kêu) Điện áp thấp nhất làm cho chuột cảm nhận được đau là điện áp đau ngưỡng ở trạng thái bình thường Cho chuột dùng một thuốc giảm đau thì khi kích thích ở mức điện áp này, chuột sẽ không thấy đau Muốn cho chuột cảm nhận được đau, phải dùng một điện áp lớn
Trang 2415
hơn Như vậy, nếu sau khi dùng chất thử mà điện áp đau ngưỡng đo được lớn hơn
có ý nghĩa thống kê so với mức bình thường thì chất đó có tác dụng giảm đau [7]
Các phương pháp gây đau cơ học
Mô hình 1: Gây đau bằng cách kẹp đuôi chuột
Kẹp đuôi chuột nhắt trắng hoặc chuột cống trắng bằng một cái kẹp với một lực kẹp tối thiểu nhưng đủ để chuột có cảm nhận đau, mà biểu hiện là chuột vùng vẫy hoặc phát ra tiếng kêu Cho chuột dùng chất thử, rồi kẹp với một lực tương tự Nếu chuột không thấy đau thì chất này có tác dụng giảm đau [7]
Mô hình 2: Gây đau bằng cách ép lên chân chuột bị viêm
Trên mô hình gây đau bằng cách ép lên chân chuột, áp suất đau ngưỡng rất lớn ở chuột bình thường, thường khoảng 10 vạch trên thang 20 vạch của máy đo đau Mức này có thể làm chuột tổn thương Nếu trước khi đo áp suất đau ngưỡng gây viêm chân chuột bằng một chất gây viêm cấp như caragenin thì khi chân chuột bị viêm sưng lên, áp suất đau ngưỡng giảm rất nhiều, thường chỉ khoảng 5 vạch trên thang 20 vạch Như vậy, nếu cho chuột dùng chất thử mà thấy áp suất đau ngưỡng tăng có ý nghĩa thống kê so với không dùng thì chất này có tác dụng giảm đau [7]
1.3 Đại cương về an thần
1.3.1 Ngủ
Ngủ là trạng thái sinh lý không có ý thức và có thể thức tỉnh trở lại do kích thích cảm giác hoặc do kích thích khác [12]
Người ta thường chia giấc ngủ làm hai loại:
- Loại giấc ngủ sóng chậm: Trong giấc ngủ này, các chức năng thực vật đều giảm như giảm nhịp tim, nhịp thở, giảm huyết áp, nhiệt độ, giảm chuyển hoá cơ bản [12]
- Loại giấc ngủ REM (còn gọi là ngủ nghịch thường, khử đồng bộ): Là giấc ngủ sinh lý bình thường, trong lúc đó mắt có cử động nhanh dù vẫn nhắm Trong giấc ngủ này, não đang hoạt động nhưng không có ý thức Cứ khoảng 90 phút lại có một giấc ngủ REM xen kẽ vào giấc ngủ sóng chậm [12]
1.3.2 Mất ngủ
Trang 2516
Mất ngủ là một tình trạng lâm sàng phổ biến được đặc trưng bởi khó ngủ hoặc khó duy trì giấc ngủ (thường xuyên tỉnh giấc, khó trở lại giấc ngủ sau khi thức dậy hoặc thức dậy sớm vào buổi sáng) [19]
Tỷ lệ mắc các triệu chứng mất ngủ hàng năm ở người trưởng thành dao động từ 35% đến 50% và tỷ lệ rối loạn mất ngủ dao động từ 12% đến 20% [19]
Các yếu tố nguy cơ bao gồm: Trầm cảm, giới tính nữ, người cao tuổi, tình trạng kinh tế xã hội thấp, tình trạng hôn nhân (nguy cơ cao hơn trong ly dị/ly thân so với người đã kết hôn hoặc chưa từng kết hôn) và chủng tộc [19]
Phân loại
- Mất ngủ cấp tính: Nguyên nhân có thể do bệnh tật, thay đổi thuốc hoặc do căng thẳng Mất ngủ cấp tính nên được điều trị bằng cách giải quyết nguyên nhân cơ bản (nếu có thể) và phối hợp với thuốc an thần, gây ngủ [40]
- Mất ngủ mạn tính: Có thể phát triển khi mất ngủ cấp tính xảy ra kéo dài [40] Mất ngủ mạn tính được điều trị tốt nhất bằng cách sử dụng các phương pháp không dùng thuốc như liệu pháp hành vi nhận thức [21]
tế bào, làm tăng ưu cực gây ức chế thần kinh trung ương Ngoài ra, các thuốc an thần gây ngủ còn tác dụng theo một số cơ chế khác: kích thích receptor của serotonin, ức chế acid glutamic, kháng histamin và ức chế kênh Na+ [7]
Phân loại:
Theo cấu trúc, các thuốc an thần, gây ngủ được chia thành 3 nhóm:
- Dẫn chất acid barbituric (các barbiturat): Barbital, pentobarbital, butobarbital…
- Dẫn chất benzodiazepin: Diazepam, clonazepam, lorazepam, triazolam…
- Thuốc cấu trúc khác: Buspiron, zolpidem, glutethimid…
Trang 2617
1.3.4 Các mô hình an thần thực nghiệm
Mô hình leo cây (Grip test)
Chuột được đặt lên một dây thép dài 50cm, cách mặt đất 45cm bằng hai chân trước Quan sát khả năng bám trên dây của chuột Thí nghiệm này đánh giá khả năng đeo bám và phối hợp vận động của chuột, từ đó đánh giá được tác dụng giãn cơ cũng như tác dụng an thần của thuốc Hầu hết các thuốc an thần loại diazepam đều có tác dụng giãn cơ [8]
Mô hình chuột bơi
Cơ sở của thử nghiệm cũng là dựa trên sự phối hợp vận động thần kinh-cơ và bản năng sống sót của động vật Thuốc an thần làm giảm sự phối hợp thần kinh-cơ của động vật, do đó, khi uống thuốc an thần, khả năng bơi của chuột sẽ giảm đi Thử nghiệm dựa trên sự quan sát chuột bơi trong nước [8]
Mô hình kéo dài thời gian ngủ với pentobarbital
Chuột được coi là ngủ khi mất phản xạ thăng bằng, ghi nhận thời gian ngủ được tính từ lúc chuột mất phản xạ thăng bằng đến khi phục hồi phản xạ này Chất thử có tác dụng hiệp lực với pentobarbital khi tiềm thời ngủ ngắn đi và thời gian ngủ được kéo dài Chất thử có tác dụng đối kháng pentobarbital khi thời gian ngủ ngắn đi [5]