Trên cơ sở lý thuyết về tích hợp ứng dụng theo hướng công nghệ mới xuất hiện trong những năm gần đây, đã gợi ý cho tác giả nghiên cứu phát triển một mô hình hệ thống thông tin (HTTT) đ[r]
Trang 1
TrÇn thÞ kim oanh
x©y dùng m« h×nh hÖ thèng th«ng tin tÝch hîp cho doanh nghiÖp nhá vμ võa trong lÜnh vùc dÞch vô ë viÖt nam
Chuyªn ngμnh: hÖ thèng th«ng tin qu¶n lý
M· sè: 62340405
Hμ Néi - 2018
Trang 2Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án
cấp Trường Đại học kinh tế quốc dân
Vào hồi: 8 giờ 30 ngày 10 tháng 5 năm 2018
Có thế tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Đại học kinh tế quốc dân
Trang 3TÓM TẮT LUẬN ÁN
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, số lượng ứng dụng hỗ trợ các bài toán quản lý trong các doanh nghiệp tăng mạnh, trợ giúp đắc lực cho công tác quản lý của doanh nghiệp Có một thực tế là, các doanh nghiệp đã phát triển các ứng dụng cho từng phạm vi chức năng riêng biệt, độc lập với nhau, sử dụng các ngôn ngữ lập trình khác nhau và chạy trên các nền tảng công nghệ khác nhau Điều này dẫn tới sự hạn chế khả năng tương tác giữa các ứng dụng bên trong cũng như bên ngoài doanh nghiệp Với các ứng dụng độc lập như vậy sẽ có những tác động tiêu cực đến hiệu quả kinh doanh và năng lực cạnh tranh (Vandersluis, 2004; Norshidah Mohamed và cộng sự, 2013) Theo kết quả điều tra của tác giả đối với 200 DNNVV lĩnh vực dịch vụ ở Việt Nam, chỉ có 2% doanh nghiệp sử dụng hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (Enterprise Resource Planning - ERP) Có 9 doanh nghiệp (4,5%) chỉ triển khai một ứng dụng Phần lớn số doanh nghiệp còn lại triển khai từ hai ứng dụng trở lên Tuy nhiên, các ứng dụng này được liên kết với nhau chủ yếu là bằng những thao tác thủ công Chỉ có một số rất ít doanh nghiệp tự viết chương trình trợ giúp tương tác tự động giữa các ứng dụng khi cần Việc cung cấp thông tin cho lãnh đạo, phản hồi thông tin cho khách hàng, phản ứng nhanh nhạy đối với sự thay đổi của thị trường là hạn chế Đặc biệt, việc quản lý quy trình nghiệp vụ cứng nhắc, thiếu sự linh hoạt, ảnh hưởng nhiều đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Vì vậy, cần có các nghiên cứu giúp cho các chủ sở hữu, các nhà quản lý hiểu được vấn
đề tích hợp ứng dụng và hiệu quả của nó đối với quản lý, kinh doanh
Tích hợp ứng dụng đã được các tổ chức, doanh nghiệp trên thế giới nghiên cứu và áp dụng cách đây hàng chục năm, trong đó phải kể đến mô hình
hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp ERP Khái niệm ERP được ra đời
từ những năm 90 của thế kỷ XX Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu khẳng định ERP là chìa khóa cho sự thành công của doanh nghiệp trong thời đại kinh doanh toàn cầu Và thực tế, đã có nhiều doanh nghiệp lớn cũng như DNNVV trên thế giới triển khai ứng dụng ERP Ở Việt Nam, theo con số công
bố chính thức của VCCI thì mới chỉ có 3,48% số doanh nghiệp triển khai ERP, chủ yếu là doanh nghiệp lớn, chưa có con số thống kê riêng cho khối DNNVV Trong số doanh nghiệp đã triển khai ERP, cũng có rất ít doanh nghiệp chính thức công bố triển khai thành công Theo các chuyên gia nhận định, những doanh nghiệp chưa công bố có thể là triển khai thất bại hoặc ứng dụng không hiệu quả Mô hình ERP gắn liền với sự chuẩn hóa quy trình quản lý theo tiêu chuẩn quốc tế ISO (International Organization for Standardization) Nói đến ERP là nói đến giải pháp quản lý tổng thể nguồn lực doanh nghiệp theo tiêu
Trang 4chuẩn quốc tế trên nền tảng CNTT Theo kết quả các nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến việc triển khai thành công mô hình ERP, về phía doanh nghiệp cần đảm bảo các yêu cầu sau (Dimitrios Maditinos, Dimitrios Chatzoudes, Charalampos Tsairidis, 2012): nhân lực phải được đào tạo bài bản, có trình độ CNTT nhất định; kinh phí phải đảm bảo để có thể triển khai được mô hình ERP với giá từ hàng trăm nghìn USD đến hàng triệu USD; cơ sở hạ tầng phải đáp ứng để vận hành được hệ thống; quy trình nghiệp vụ phải được chuẩn hóa theo chuẩn quốc tế; chấp nhận thay đổi văn hóa doanh nghiệp của người dùng cuối
Nhưng với thực trạng DNNVV Việt Nam hiện nay: nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cũng như trình độ CNTT thấp, nguồn vốn hạn hẹp, cơ sở vật chất, tầm nhìn của doanh nghiệp không đủ điều kiện cho việc triển khai mô hình ERP Đặc biệt, quy trình nghiệp vụ của các doanh nghiệp chủ yếu là tự phát, chưa theo chuẩn quốc tế là một yếu tố khó khăn cho việc áp dụng mô hình này Về góc độ quản trị doanh nghiệp, thì DNNVV có sự quản trị phân mảnh, không có tính quản trị tổng thể trong việc thu thập, phân tích, tổng hợp và xử lý
dữ liệu Một khó khăn chung cho doanh nghiệp Việt Nam triển khai hệ thống ERP là lực lượng triển khai mỏng, đội ngũ tư vấn thiếu kiến thức quản trị, không
am hiểu về nghiệp vụ, họ chỉ chú trọng đầu tư thiết bị, đi thẳng vào cài đặt chương trình mà không xây dựng kế hoạch tổng thể Bên cạnh đó còn là sự cả
nể, chiều theo ý doanh nghiệp của chuyên gia tư vấn trong quá trình phân tích Khi triển khai ERP, doanh nghiệp phải thay đổi chính mình để phù hợp với phần mềm Điều này tốt cho doanh nghiệp vì có thể đưa vào doanh nghiệp các quy trình quản lý theo chuẩn, nhưng cũng nhiều khi gây cản trở cho doanh nghiệp vì không phù hợp với thói quen, cách tổ chức công việc,… Tất cả những yếu tố đó tạo sự khó khăn cho DNNVV Việt Nam khi triển khai mô hình ERP
Dịch vụ là lĩnh vực tạo ra giá trị rất lớn và là ưu thế của các DNNVV Lĩnh vực dịch vụ tuy không trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, nhưng góp phần thúc đẩy sản xuất, lưu thông, phân phối hàng hóa, thúc đẩy thương mại hàng hóa phát triển Các loại dịch vụ điển hình có thể kể đến như: dịch vụ vận tải, dịch vụ ngân hàng, dịch vụ y tế, dịch vụ viễn thông, dịch vụ bán buôn, bán lẻ, Các nền kinh tế lớn hiện nay đều là nền kinh tế dịch vụ và xu thế này cũng
sẽ được thể hiện rất rõ khi Việt Nam hội nhập quốc tế Tỷ trọng dịch vụ trong cơ cấu nền kinh tế ngày càng gia tăng Đặc điểm của loại hình doanh nghiệp này là cung cấp sản phẩm dịch vụ cho khách hàng, việc thu hồi vốn kinh doanh thường nhanh hơn và nhanh có lãi hơn doanh nghiệp sản xuất Vì vậy, khả năng đầu tư cho việc nâng cấp ứng dụng CNTT trong doanh nghiệp có tính khả thi cao Những đặc trưng trên đây của các DNNVV cho thấy, việc nghiên cứu các giải pháp đẩy mạnh ứng dụng CNTT cho khối doanh nghiệp này là hết sức cần thiết, trong đó, đặc biệt là giải pháp tích hợp các ứng dụng có sẵn Tuy nhiên, với thực trạng doanh nghiệp ở Việt Nam phần lớn là nhỏ và siêu nhỏ, nguồn lực rất hạn
Trang 5chế, đặc biệt về tài chính và nhân lực thì việc tìm kiếm giải pháp tích hợp ứng dụng phù hợp, khả thi với thực trạng doanh nghiệp là điều hết sức quan trọng
Đối với khối DNNVV Việt Nam nói chung và DNNVV trong lĩnh vực dịch
vụ nói riêng, với ưu thế tổ chức quản lý đơn giản, gọn nhẹ, năng động, linh hoạt, có thể nhanh chóng tạo ra những sản phẩm dịch vụ đáp ứng ngay nhu cầu thay đổi của thị trường Nhờ sự nhanh nhạy, dễ xoay xở để đáp ứng nhu cầu nhỏ lẻ nên các DNNVV dễ tạo ra sản phẩm, dịch vụ có giá trị riêng biệt và độc đáo Điều này đối với doanh nghiệp lớn, tổ chức quản lý cồng kềnh, công tác điều hành thông qua nhiều cấp sẽ khó khăn hơn nhiều so với DNNVV Tuy nhiên, để phát huy được các lợi thế đó, các DNNVV cần nâng cao ứng dụng CNTT, khai thác hiệu quả Internet, đặc biệt tìm kiếm giải pháp tích hợp các ứng dụng trong doanh nghiệp Có như vậy mới đảm bảo việc cung cấp thông tin tổng hợp nhanh nhẹn, chính xác, thậm chí theo thời gian thực, đáp ứng kịp thời nhu cầu khách hàng cũng như phản ứng nhanh với thị trường Giải pháp tích hợp ứng dụng phù hợp với đặc điểm của doanh nghiệp sẽ nâng cao tự động hóa quy trình nghiệp vụ, từ đó giảm nhân công lao động, giảm giá thành sản phẩm và dẫn tới tăng cơ hội cạnh tranh Việc tìm kiếm một giải pháp tích hợp ứng dụng phù hợp, khả thi với thực trạng doanh nghiệp là điều hết sức cấp thiết Kiến trúc hướng dịch vụ là một trong những giải pháp tạo
“cầu nối” giữa các ứng dụng đã có, phù hợp với khối doanh nghiệp này Trong hơn chục năm trở lại đây, kiến trúc hướng dịch vụ đang được các công ty lớn về công nghệ thông tin chú trọng và có nhiều hứa hẹn cho doanh nghiệp Tích hợp hệ thống theo SOA đã được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm và được giới doanh nghiệp lựa chọn Mô hình SOA chủ yếu tập trung nguồn lực phát triển vào các chức năng và tính năng phục vụ hoạt động và quy trình nghiệp vụ Điều này cho phép nhà quản lý chỉ cần dựa trên đặc điểm mang tính nghiệp vụ rà soát, xác định
rõ chi tiết, thành phần cần thêm, sửa đổi hoặc loại bỏ Do đó, các hệ thống phần mềm phát triển phía sau có thể được thiết kế nhằm đáp ứng những quy trình nghiệp
vụ, thay vì quy trình nghiệp vụ phải thay đổi để tận dụng những tính năng phần mềm như trong các mô hình thường thấy ở nhiều tổ chức với hạ tầng ứng dụng CNTT được phát triển từ trước Bằng cách phát triển và tập hợp danh mục các dịch
vụ, nhà phát triển có một bộ sưu tập những mô đun phần mềm có sẵn, có thể được
sử dụng để lắp ghép nên một ứng dụng mới Nhờ vậy sẽ đáp ứng được các yêu cầu đặt ra một cách nhanh chóng và hiệu quả mà không phải xây dựng hệ thống này từ đầu Danh mục dịch vụ này có thể ngày càng được gia tăng về quy mô và số lượng,
do vậy, việc phát triển các hệ thống mới ngày càng trở nên thuận tiện, nhanh chóng Khả năng sử dụng lại cũng cho phép giảm bớt chi phí phát sinh khi thêm các tính năng mới vào hệ thống Trong bối cảnh hiện nay, khi mà ở nước ta nhiều doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, năng suất hoạt động thấp, khả năng hợp tác giữa các phòng ban không cao, yêu cầu thay đổi mô hình quản trị để tăng hiệu quả hoạt
Trang 6động của các doanh nghiệp là rất cấp thiết Giải pháp SOA đáp ứng đầy đủ các yêu cầu này Hơn nữa giải pháp SOA đòi hỏi ít vốn đầu tư và dễ dàng tiếp cận với hầu hết nhân viên trong doanh nghiệp (Nguyễn Trúc Lê, 2014)
Qua phân tích và đánh giá tầm quan trọng của DNNVV lĩnh vực dịch vụ đối với nền kinh tế cũng như thực trạng của khối doanh nghiệp này cho thấy rằng: việc nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT để đáp ứng yêu cầu kinh doanh là vấn đề cấp bách Trên cơ sở lý thuyết về tích hợp ứng dụng theo hướng công nghệ mới xuất hiện trong những năm gần đây, đã gợi ý cho tác giả nghiên cứu phát triển một mô hình hệ thống thông tin (HTTT) để tích hợp các HTTT sẵn có trong doanh nghiệp bằng cách tạo “cầu nối” giữa chúng theo mô hình kiến trúc hướng dịch vụ Ngoài những lý do khách quan, bản thân tác giả đã có sự chuẩn
bị sẵn sàng cho hướng nghiên cứu và nếu nghiên cứu thành công thì việc triển khai áp dụng mô hình vào thực tế có tính khả thi cao Đó là lý do tác giả lựa
chọn đề tài nghiên cứu “Xây dựng mô hình hệ thống thông tin tích hợp cho
doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực dịch vụ ở Việt Nam” làm đề tài luận
hình đã đề xuất
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Nghiên cứu về lợi ích và các yếu tố đảm bảo cho việc tích hợp ứng dụng trong môi trường doanh nghiệp
- Nghiên cứu các công nghệ và giải pháp tích hợp ứng dụng
- Nghiên cứu về sự phù hợp của giải pháp SOA cho khối DNNVV lĩnh vực dịch vụ ở Việt Nam hiện nay
- Đánh giá thực trạng ứng dụng hệ thống thông tin quản lý (HTTTQL) trong các DNNVV lĩnh vực dịch vụ, làm cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng mô hình
- Đề xuất mô hình HTTT tích hợp theo giải pháp SOA cho các DNNVV lĩnh vực dịch vụ ở Việt Nam, khả thi trên các mặt: tài chính, công nghệ, nhân lực và thời gian triển khai
- Đề xuất các giải pháp liên quan đảm bảo áp dụng được mô hình và phát triển lâu dài
Trang 7- Mô phỏng liên kết giữa các bài toán
- Liên kết giữa các bài toán
Phát triển
- Mô hình HTTT tích hợp trong điều kiện cụ thể ở Việt nam
- Giải pháp tích hợp
- Các công cụ tích hợp
Vấn đề trích rút
từ thực trạng
Tri thức
áp dụng để giải quyết vấn đề
Thực hiện
Tinh chỉnh
Đóng góp cho
cơ sở tri thức Ứng dụng cho doanh nghiệp
nhỏ và vừa lĩnh vực dịch vụ
Trang 84 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
4.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là mô hình hệ thống thông tin tích hợp cho khối DNNVV trong lĩnh vực dịch vụ Đối tượng nghiên cứu bao gồm ba yếu
tố chính là: (1) Các HTTT hỗ trợ các bài toán quản lý; (2) Mối liên kết giữa các bài toán; (3) Điều kiện về tổ chức, về con người và về công nghệ để triển khai tích hợp HTTT
+ Về không gian: DNNVV trong lĩnh vực dịch vụ ở Việt Nam
+ Về thời gian: Dữ liệu được sử dụng là số liệu điều tra trong năm 2015
và dữ liệu thứ cấp từ năm 2010 đến 2015 Thời gian nghiên cứu: Luận án được tiến hành tìm hiểu, nghiên cứu từ tháng 10/2013 đến tháng 10/2017
+ Về nội dung: Trước hết, luận án chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề tích hợp
HTTT trên cơ sở nền tảng CNTT sẵn có của doanh nghiệp theo mô hình SOA, với sự hỗ trợ của công nghệ Web Services Sau đó, tiến hành nghiên cứu thực trạng ứng dụng CNTT trong các DNNVV lĩnh vực dịch vụ ở Việt Nam hiện nay,
để nhận biết các bài toán nghiệp vụ đã được hỗ trợ bởi HTTTQL và mối liên kết giữa chúng Tiếp đến nghiên cứu đề xuất mô hình HTTT tích hợp và quy trình áp dụng mô hình cho khối doanh nghiệp này Cuối cùng là triển khai tích hợp thử nghiệm và áp dụng cho một doanh nghiệp lĩnh vực dịch vụ cụ thể
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
- Phương pháp thống kê mô tả
- Phương pháp tiếp cận hệ thống
- Phương pháp phân tích và thiết kế hệ thống
- Phương pháp mô hình hóa
5 Kết cấu luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và các phụ lục, luận án được chia thành 4 chương chính, bao gồm:
Chương 1 Lý thuyết về tích hợp ứng dụng
Chương 2 Những vấn đề lý luận của việc tích hợp ứng dụng trong doanh
nghiệp nhỏ và vừa lĩnh vực dịch vụ ở Việt Nam
Trang 9Chương 3 Thực trạng ứng dụng hệ thống thông tin quản lý trong doanh
nghiệp nhỏ và vừa lĩnh vực dịch vụ ở Việt Nam hiện nay
Chương 4 Xây dựng mô hình hệ thống thông tin tích hợp cho doanh
nghiệp nhỏ và vừa lĩnh vực dịch vụ ở Việt Nam
6 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Từ những năm 1980 của thế kỷ 20, đã có nhiều nhà nghiên cứu HTTT quan tâm đến vấn đề tích hợp ứng dụng Tác giả M Solotruk, M Krištofič
(1980) với nghiên cứu “Nâng cao mức độ tích hợp ứng dụng và phát triển ứng
dụng tích hợp”, đã đưa ra các khái niệm cốt lõi về HTTT, HTTT tích hợp, sự
cần thiết của việc tích hợp HTTT cũng như mục tiêu của tích hợp HTTT Đặc biệt, tác giả đã đề cập đến các mức độ tích hợp HTTT và làm thế nào để nâng cao mức độ tích hợp HTTT trong doanh nghiệp Nhiều bài báo đã khẳng định xu thế tất yếu của việc tích hợp ứng dụng doanh nghiệp trong thời đại kinh doanh
toàn cầu Nghiên cứu của Norshidah Mohame (2013) “Tích hợp HTTT: tổng
quan và phân tích tình huống cụ thể”, đã có cái nhìn sâu sắc về đặc điểm, lợi
ích, sự cần thiết của việc tích hợp ứng dụng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức, đồng thời cũng chỉ ra những thách thức của vấn đề tích hợp Trên
cơ sở nghiên cứu tổng quan lý thuyết, nghiên cứu đã sử dụng phương pháp tiếp
cận nghiên cứu tình huống đối với một tổ chức cụ thể Nghiên cứu “Vai trò của
ứng dụng CNTT và truyền thông: nhìn từ doanh nghiệp nhỏ và vừa” của Hellen
Shiels và cộng sự năm 2003, đã nhận định rằng: sự ra đời và phát triển của Internet đã buộc các doanh nghiệp và các tổ chức đánh giá lại hoạt động kinh doanh hiện tại để có giải pháp đổi mới, làm hài lòng khách hàng hiện tại và cả khách hàng tiềm năng Nghiên cứu đã phân tích thí điểm 24 DNNVV, nhằm phát hiện những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định và mức độ tinh tế ứng dụng CNTT trong doanh nghiệp Các tác giả cũng đã phân tích các phương pháp sử dụng, tạo thuận lợi cho việc giới thiệu và áp dụng các công nghệ mới với tầm nhìn đạt được là tích hợp quy trình kinh doanh Trong nghiên cứu của mình, tác giả Martin Hughes và cộng sự (2003) đã khám phá sự tiến bộ của hệ thống liên
tổ chức từ hệ thống đóng truyền thống đến hệ thống mở linh hoạt dựa trên Internet Nghiên cứu đã điều tra 25 DNNVV có ứng dụng hệ thống liên tổ chức dựa trên Internet với các công nghệ mới Các doanh nghiệp này lấy khách hàng làm trung tâm và đã sử dụng Internet, công nghệ Web để đưa sản phẩm và dịch
vụ của họ đến khách hàng ngày càng hiệu quả hơn (Martin Hughes và cộng sự, 2003)
Bên cạnh những nghiên cứu về lợi ích của tích hợp ứng dụng, nhiều nghiên cứu cũng đã phân tích sâu sắc những khó khăn mà doanh nghiệp phải đối mặt với tích hợp ứng dụng Ngoài những nghiên cứu về vai trò, lợi ích của việc tích hợp ứng dụng trong doanh nghiệp, trên thế giới cũng đã có nhiều nghiên
Trang 10cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tích hợp ứng dụng của lãnh đạo doanh nghiệp cũng như khó khăn, thách thức của vấn đề tích hợp Đặc biệt là có nhiều nghiên cứu về sự thay đổi văn hóa doanh nghiệp trong môi trường tích
hợp ứng dụng (Alexandra Simon, 2012; Teresa, 2012) Trong nghiên cứu “Khó
khăn và lợi ích của tích hợp ứng dụng” của Alexandra Simon và cộng sự (2012),
đã nêu rõ 4 nhóm khó khăn trong việc tích hợp ứng dụng, bao gồm: (1) Thiếu nguồn lực, chẳng hạn như thiếu chuyên gia tư vấn, thiếu đội ngũ kỹ thuật, chi phí thời gian cho việc tích hợp; (2) Thiếu sự thống nhất giữa các chuẩn trong doanh nghiệp, như sự khác biệt về mô hình các chuẩn của quy trình nghiệp vụ; (3) Khó khăn nội bộ, như thiếu động lực của nhân viên, hạn chế về văn hóa doanh nghiệp; (4) Khó khăn về nguồn nhân lực, như thiếu đội ngũ nhân viên làm việc đạt chuẩn, thiếu sự phối hợp giữa các đơn vị phòng ban Như vậy, trước khi triển khai tích hợp ứng dụng, doanh nghiệp cần chủ động đánh giá và lường trước những khó khăn để có thể hạn chế sự rủi ro
Kiến trúc hướng dịch vụ là một giải pháp tích hợp ứng dụng đang được các nhà cung cấp giải pháp công nghệ thông tin và các doanh nghiệp hướng đến
Thomas Erl đã có một xê ri các cuốn sách về SOA Trong cuốn “Kiến trúc
hướng dịch vụ: khái niệm, công nghệ và thiết kế” (Thomas Erl, 2005) đã nêu các
khái niệm, tính chất, nền tảng lý thuyết của SOA và Web Services cũng như lợi ích kinh tế mà SOA mang lại Nội dung cuốn sách giúp nhà phát triển CNTT hiểu được làm thế nào để xây dựng mô hình SOA, những công nghệ hỗ trợ mô
hình SOA Cuốn tiếp theo phải kể đến là “Kiến trúc hướng dịch vụ: nguyên tắc
thiết kế dịch vụ” (Thomas Erl, 2007), mục đích của cuốn sách này nói về nguyên
lý thiết kế dịch vụ - yếu tố then chốt trong kiến trúc hướng dịch vụ Đây có thể coi là những tài liệu gốc dùng tham khảo cho các nghiên cứu về SOA Thomas Erl đã đề xuất quy trình thiết kế hệ thống theo SOA theo cả hai chiến lược Top-down và Bottom-up, tuy nhiên đây đang là quy trình khái quát cho mọi tổ chức, chưa đi vào chi tiết và cụ thể cho tổ chức doanh nghiệp để họ có thể áp dụng
được ngay Hai tác giả Mark và Bell trong cuốn “Kiến trúc hướng dịch vụ: kế
hoạch và hướng dẫn triển khai cho doanh nghiệp” (Marks E.A, Bell.M, 2006)
đã đề cập đến việc lập kế hoạch và cách thức triển khai kiến trúc hướng dịch vụ trong doanh nghiệp Cuốn sách giúp nhà quản trị CNTT, lãnh đạo doanh nghiệp trả lời những câu hỏi như: làm thế nào để bắt đầu với SOA? bắt đầu từ đâu? tập trung chính vào những điểm nào? nên bắt đầu với những dịch vụ gì? giúp doanh nghiệp đạt được mục đích kinh doanh như mong muốn Tác giả Mike
Rosen và cộng sự đã viết cuốn “Kiến trúc hướng dịch vụ và chiến lược thiết kế”
(Mike Rosen và cộng sự, 2008) cung cấp cho các kiến trúc sư, nhà thiết kế và các nhà phân tích các nguyên tắc và kỹ thuật cần thiết để tạo ra kiến trúc hướng dịch vụ chất lượng cao cùng với các giải pháp Trên thế giới đã có hàng trăm bài báo, công trình nghiên cứu về SOA, đặc biệt là SOA cho doanh nghiệp, SOA
Trang 11cho trường học hay SOA trong các lĩnh vực tài chính, ngân hàng (WU Ying-pei, SHU Ting-ting, 2011) Trong bài báo của mình năm 2013, hai tác giả Mohsen Mohammadi và Muriati Mukhtar (2013) đã đề cập đến nền tảng lý thuyết SOA
và cơ sở phát triển HTTT tích hợp bằng giải pháp SOA Kết quả bài báo là các
mô hình HTTT tích hợp dựa trên SOA Tác giả Saulo Barbará de Oliveira và
cộng sự (2012) trong cuốn “Thông tin, kiến trúc hướng dịch vụ và công nghệ
Web Services: khả năng tích hợp và tổ chức linh hoạt” đã đưa ra mô hình kiến
trúc thông tin mới theo SOA và công nghệ Web Services, giúp giải quyết mối quan tâm lớn nhất của doanh nghiệp liên quan đến những khó khăn trong việc thực hiện mô hình kinh doanh và CNTT
Mặc dù tích hợp hệ thống theo giải pháp SOA đã được thế giới áp dụng hơn 10 năm, nhưng ở Việt Nam khái niệm này mới chỉ được các doanh nghiệp quan tâm mấy năm trở lại đây Có nhiều bài báo trên tạp chí PC World Việt Nam đã viết về SOA, tuy nhiên cũng chỉ dừng lại mức khái niệm, tổng quan về SOA hay so sánh việc tích hợp ứng dụng theo giải pháp ERP và SOA Về tình hình triển khai ứng dụng SOA ở Việt Nam hiện nay, những doanh nghiệp tài chính, ngân hàng nhắm tới SOA trước nhất và đã triển khai áp dụng thực tế Một
số tổ chức, doanh nghiệp công bố đã triển khai SOA thành công hoặc đang triển khai: Bộ Tài chính, Ngân hàng Viettin Bank, Ngân hàng SCB Những tổ chức, doanh nghiệp này sử dụng giải pháp của các công ty lớn như SAP, Oracle, IBM, Microsoft Hiện tại có nhiều doanh nghiệp tầm nhỏ và vừa đang hướng đến triển khai giải pháp SOA theo sự tư vấn của các công ty cung cấp giải pháp trong nước như: Meliasoft, FPT, CSC,…Tuy nhiên, các công ty này chưa đưa ra được
cơ sở lý luận thuyết phục cũng như chưa có mô hình cụ thể nên các doanh nghiệp chưa thực sự mạnh dạn đầu tư
7 Đóng góp của luận án về lý luận và thực tiễn
7.1 Về mặt lý luận
- Nghiên cứu và làm sâu sắc thêm lý luận về vấn đề cấp thiết trong việc nâng cao ứng dụng CNTT cho khối DNNVV lĩnh vực dịch vụ Việt Nam, trong thời đại mạng Internet bùng nổ và kinh doanh toàn cầu
- Xác định được 5 bài toán nghiệp vụ được triển khai ứng dụng HTTTQL nhiều nhất trong khối DNNVV lĩnh vực dịch vụ ở Việt Nam hiện nay Đó là: (1) Bài toán quản lý kế toán tài chính; (2) Bài toán quản lý lương; (3) Bài toán quản lý nhân sự; (4) Bài toán quản lý bán hàng; (5) Bài toán quản lý kho
- Nghiên cứu và đưa ra lập luận xác đáng về các vấn đề liên quan đến ứng dụng HTTT tích hợp trong môi trường doanh nghiệp
- Nghiên cứu tổng quan về phương pháp luận tích hợp ứng dụng theo giải pháp SOA, từ đó đánh giá sự phù hợp của việc ứng dụng SOA cho khối
Trang 12DNNVV lĩnh vực dịch vụ
- Đề xuất mô hình HTTT tích hợp theo giải pháp SOA cho khối DNNVV lĩnh vực dịch vụ, nhằm tích hợp các ứng dụng sẵn có và có thể mở rộng tích hợp các ứng dụng xây dựng mới của doanh nghiệp Luận án cũng đã đưa ra quy trình gồm 6 bước để triển khai tích hợp ứng dụng theo mô hình
đã đề xuất
7.2 Về mặt thực tiễn
- Đánh giá thực trạng ứng dụng CNTT trong khối DNNVV lĩnh vực dịch
vụ hiện nay trên các mặt: đầu tư cơ sở hạ tầng, triển khai ứng dụng hỗ trợ các bài toán quản lý, hoạt động nhập dữ liệu, đồng bộ dữ liệu, lưu trữ dữ liệu, sự không nhất quán dữ liệu và thực trạng liên kết giữa các ứng dụng
- Mô hình đề xuất nhằm tích hợp các ứng dụng trên cơ sở hạ tầng CNTT sẵn có của doanh nghiệp, sẽ tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp trên các mặt: tài chính, thời gian triển khai, việc đào tạo lại nhân viên sử dụng
- Mô hình đề xuất cho phép doanh nghiệp xây dựng sẵn một tập hợp các dịch vụ, sẵn sàng cho việc cung cấp thông tin cho các ứng dụng khi cần Các dịch vụ sẽ được tái sử dụng khi xây dựng các ứng dụng mới Đồng thời, hệ thống xây dựng theo mô hình đề xuất có thể dễ dàng tương tác với các hệ thống của đối tác, thông qua việc sử dụng các dịch vụ của nhau
- Mô hình đề xuất có thể hỗ trợ cho doanh nghiệp trong việc quản lý quy trình nghiệp vụ Đặc điểm quy trình nghiệp vụ của các DNNVV thường chưa được chuẩn hóa và thường hay thay đổi, việc quản lý quy trình nghiệp vụ dựa trên giải pháp SOA sẽ tạo sự linh hoạt, nhanh chóng thích ứng với nhu cầu thị trường
- Mô hình đề xuất có tính mở cao, khi doanh nghiệp có nhu cầu xây dựng thêm ứng dụng hỗ trợ các bài toán quản lý trong doanh nghiệp, thì việc xây dựng và kết nối chúng vào hệ thống tích hợp rất nhanh chóng và dễ dàng
Trang 13CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ TÍCH HỢP ỨNG DỤNG
1.1 Tích hợp ứng dụng
1.1.1 Tích hợp ứng dụng và sự cần thiết của tích hợp ứng dụng trong môi trường doanh nghiệp
Trình bày khái niệm tích hợp ứng dụng, sự ra đời của tích hợp ứng dụng,
sự cần thiết của tích hợp ứng dụng trong doanh nghiệp, lợi ích của tích hợp ứng dụng; đồng thời cũng nêu những khó khăn, thách thức của việc tích hợp ứng dụng trong doanh nghiệp
1.1.3 Tích hợp dữ liệu và tích hợp quy trình nghiệp vụ
Trình bày mô hình tích hợp dữ liệu và tích hợp quy trình nghiệp vụ
+ Công nghệ Web Services
1.1.5 Các tiêu chí đảm bảo sự tích hợp ứng dụng thành công
Các tiêu chí đảm bảo sự thành công được đưa ra ở các giai đoạn khác
nhau của quá trình tích hợp, bao gồm: giai đoạn phân tích, giai đoạn thiết kế và