Từ những thực trạng trong hoạt động kinh doanh và ứng dụng marketing tại QTDND Vân Canh, mục tiêu phát triển của Quỹ, tác giả đã đưa ra một số giải pháp tăng cường ứng dụng marketing t[r]
Trang 1nước ta, với hơn 70% dân số sản xuất nông nghiệp Chính vì vậy, Đảng ta luôn khẳng định: phát triển nông nghiệp nông thôn là vấn đề chiến lược hết sức quan trọng, có ý nghĩa to lớn trong công cuộc phát triển kinh tế nước ta, là mục tiêu trước mắt và lâu dài vì khi kinh tế nông nghiệp ổn định sẽ làm tiền đề cho công nghiệp và dịch vụ phát triển Và một vấn đề đặt ra là muốn phát triển nông nghiệp nông thôn thì ngoài các điều kiện con người, đất đai, vật tư… thì đòi hỏi người nông dân phải
có vốn Do đó, việc tạo ra một thị trường vốn để đáp ứng cho nhu cầu phát triển sản xuất nông nghiệp là một vấn đề cấp thiết
Năm 1993, Thống đốc NHNN Việt Nam trình Chính phủ “Đề án thí điểm thành lập Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND)” ở Việt Nam và ngày 27/7/1993, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định 390/TTg cho phép triển khai đề án thành lập hệ thống QTDND Đây là một trong những bước đi đầu tiên cụ thể hóa các quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước đáp ứng với yêu cầu đòi hỏi thực tiễn ở nông thôn Sau
20 năm đi vào hoạt động, mô hình QTDND đang được tiếp tục phát triển
Là 1 trong số 98 QTDND cơ sở trên địa bàn TP Hà Nội, QTDND Vân Canh
có trụ sở chính tại xã Vân Canh, huyện Hoài Đức, TP Hà Nội
Hoạt động Marketing tuy vẫn còn mới mẻ đối với mô hình QTDND nhưng
nó góp phần quan trọng đến sự phát triển của các QTDND cơ sở nói chung và QTDND Vân Canh nói riêng Bởi lẽ, bằng việc thực thi các giải pháp và chính sách marketing linh hoạt sẽ giúp QTDND tạo ra được những sản phẩm dịch vụ thỏa mãn nhu cầu khách hàng, trên cơ sở đó đạt được các mục tiêu đề ra Muốn vậy, QTDND Vân Canh phải thực sự hiểu biết về Marketing, từ đó đề ra những chính sách Marketing phù hợp để có thể tồn tại và đứng vững trên thị trường, tạo động lực thúc đẩy phát triển bền vững thị trường tín dụng nông nghiệp nông thôn
Xuất phát từ những lý do nêu trên, tôi đã chọn đề tài: “Ứng dụng Marketing nhằm phát triển QTDND cơ sở Vân Canh, huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội”
làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ của mình
Trang 2Cấu trúc của luận văn gồm:
Lời mở đầu
Chương 1: Lý luận cơ bản về marketing của Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở Chương 2: Thực trạng hoạt động kinh doanh và ứng dụng marketing tại Quỹ
tín dụng nhân dân cơ sở Vân Canh
Chương 3: Các giải pháp tăng cường ứng dụng marketing tại Quỹ tín dụng
nhân dân cơ sở Vân Canh
Kết luận
Trong phần mở đầu, tác giả tập trung trình bày tính cấp thiết của đề tài; mục đích nghiên cứu; đối tượng và phạm vi nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu; tổng quan các nghiên cứu liên quan
Đề tài được nghiên cứu nhằm vận dụng các lý thuyết về marketing của QTDND cơ sở để đánh giá các hoạt động marketing tại QTDND cơ sở Vân Canh trong thời gian qua, phân tích những mặt hạn chế, nguyên nhân tồn tại, đề xuất một
số giải pháp chủ yếu để tăng cường ứng dụng marketing nhằm tăng hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh của QTDND Vân Canh
Trên cơ sở định hướng mục tiêu chung đó, đề tài thực hiện các mục tiêu nghiên cứu cụ thể như sau: (1) Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về marketing của QTDND cơ sở; (2) Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh và ứng dụng marketing tại QTDND cơ sở Vân Canh; (3) Đề xuất các giải pháp tăng cường ứng dụng marketing nhằm phát triển QTDND cơ sở Vân Canh
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động marketing của QTDND cơ sở Trong quá trình tiếp cận, đề tài sẽ đi sâu khảo sát quá trình tổ chức và thực hiện các hoạt động marketing tại QTDND cơ sở Vân Canh Đối tượng khảo sát là khách hàng đang sử dụng các sản phẩm dịch vụ tại QTDND cơ sở Vân Canh
Phạm vi nghiên cứu về không gian là địa bàn hoạt động của QTDND Vân Canh; về thời gian: sử dụng số liệu phân tích thực trạng thuộc giai đoạn 2008-2012
và tìm các giải pháp đề xuất cho giai đoạn 2013-2017
Trang 3Trong chương 1, trước hết tác giả nêu lên những vấn đề chung về QTDND
cơ sở, bao gồm: khái niệm QTDND cơ sở, tổ chức và hoạt động, một số đặc trưng của QTDND cơ sở, vai trò của việc phát triển QTDND cơ sở Theo đó, QTDND cơ
sở có 02 hoạt động kinh doanh chính là Nhận tiền gửi và Cho vay bằng đồng Việt Nam; địa bàn hoạt động chủ yếu trong phạm vi một xã/phường/thị trấn; khách hàng của QTDND cơ sở chủ yếu là cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp, tổ chức kinh tế hiện đang cư trú, làm việc hoặc kinh doanh trên địa bàn hoạt động của QTDND cơ
sở, trong đó riêng đối với khách hàng vay vốn thì bắt buộc phải là thành viên QTDND cơ sở
Tiếp đó là những vấn đề cơ bản về marketing của QTDND cơ sở Đây là mục chính của phần lý luận chung Trong phần này, tác giả đã đề cập đến khái niệm
và vai trò của marketing QTDND cơ sở; các đặc điểm về thị trường và khách hàng của QTDND cơ sở; nội dung hoạt động marketing của QTDND cơ sở Về khái
niệm, “Marketing QTDND cơ sở là tập hợp các hành động khác nhau của QTDND
cơ sở nhằm hướng mọi nguồn lực hiện có của QTDND cơ sở vào việc phục vụ tốt hơn nhu cầu khách hàng, trên cơ sở đó thực hiện các mục tiêu của QTDND cơ sở”
Nội dung hoạt động marketing của QTDND cơ sở bao gồm: Tổ chức nghiên cứu môi trường kinh doanh của QTDND và các hoạt động marketing mix (7P: sản phẩm, giá cả, phân phối, truyền thông marketing tích hợp, con người, quy trình, bằng chứng vật chất)
Và phần cuối cùng của chương 1 là quy trình ứng dụng marketing cho QTDND cơ sở có 3 bước: Lập kế hoạch marketing, tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá
Trong chương 2: Trước hết, tác giả giới thiệu chung về QTDND Vân Canh,
đó là những thông tin về: Quá trình hình thành và phát triển, cơ cấu tổ chức, tình hình hoạt động của Quỹ trong những năm gần đây; các hoạt động kinh doanh chính của Quỹ là huy động vốn, tín dụng Vốn huy động được hình thành chủ yếu từ tiền gửi tiết kiệm dân cư kỳ hạn ngắn từ 1 đến 3 tháng đã gây khó khăn cho Quỹ trong việc định kỳ hạn cho vay và đáp ứng các nhu cầu vay vốn có kỳ hạn dài Còn cho
Trang 4vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn (trên 80% tổng dư nợ), tỷ trọng cho vay kinh
doanh dịch vụ chiếm ưu thế và có xu hướng tiếp tục gia tăng; nợ xấu vẫn còn tồn tại; mức vốn cho vay đối với 01 khách hàng rất thấp so với các NHTM và chưa đủ đáp ứng được nhu cầu vốn ngày càng cao Ngoài ra, các dịch vụ chuyển tiền và sản phẩm thẻ mới bắt đầu được triển khai gần đây
Phần chính của chương 2 là phân tích thực trạng ứng dụng marketing tại QTDND Vân Canh Thứ nhất là thực trạng khách hàng và môi trường marketing; Thứ hai là thực trạng các chính sách marketing (cụ thể là các chính sách về sản phẩm, lãi suất, phân phối, truyền thông marketing tích hợp, con người, quy trình, bằng chứng vật chất); Thứ ba là tổ chức thực hiện và kiểm tra Tại mỗi nội dung, bên cạnh việc nêu lên những hoạt động marketing đã được tổ chức thực hiện tại Quỹ, tác giả đã đề cập đến những hạn chế còn tồn tại, cần phải khắc phục Cụ thể những hạn chế, đó là:
Công tác nghiên cứu khách hàng chưa được Quỹ chú trọng (đặc biệt là phát triển khách hàng mới, Quỹ chưa tổ chức điều tra thu thập thông tin qua các mẫu phiếu điều tra khách hàng, chưa thực hiện tổ chức phân loại khách hàng chi tiết, khoa học), do đó việc tổ chức kinh doanh chưa thực sự theo định hướng khách hàng
Đối với các chính sách marketing mix: Danh mục sản phẩm chưa đa dạng (chưa đưa ra các sản phẩm tiết kiệm riêng biệt mà mới chỉ dừng lại ở các hình thức huy động truyền thống như không kỳ hạn, có kỳ hạn; hình thức cho vay vốn còn đơn điệu, chỉ duy nhất là cho vay từng lần; công tác triển khai dịch vụ chuyển tiền
và sản phẩm thẻ chậm ); Mạng lưới phân phối mỏng, chỉ có duy nhất 01 loại kênh phân phối truyền thống, việc phát triển khách hàng sang khu vực mới khó khăn; Quảng cáo và khuyến mại chưa đa dạng, hấp dẫn, chưa tiến hành tổ chức các cuộc hội nghị khách hàng; các CBNV Quỹ chưa được trang bị các kiến thức cơ bản về marketing một cách bài bản; hệ thống truyền dữ liệu thông tin chưa được kết nối trực tuyến giữa Trung tâm và các phòng giao dịch; các Phòng giao dịch Quỹ vẫn
Trang 5đang phải đi thuê với mặt bằng chật hẹp, chưa đảm bảo tốt nhất cho các khách hàng đến giao dịch;
Về tổ chức thực hiện và kiểm tra: Quỹ tổ chức các hoạt động marketing theo kiểu phân tán ở nhiều bộ phận khác nhau, không tập trung đồng bộ nên chưa phát huy hết hiệu quả của các nguồn lực trong thực hiện các mục tiêu của marketing việc kiểm tra chưa xây dựng được các yêu cầu rõ ràng, chưa có chương trình, nội dung
cụ thể
Trong chương 3, tác giả đã nêu lên những cơ hội và thách thức đối với
QTDND Vân Canh; từ đó đề ra mục tiêu phát triển trong 5 năm (từ 2013 đến 2017) là: Duy trì mục tiêu hoạt động tương trợ vì lợi ích của các thành viên, nhưng luôn đảm bảo “Phát triển thịnh vượng, an toàn, hiệu quả”; từng bước nâng cao năng lực tài chính; khai thác triệt để các nguồn vốn nhàn rỗi tại địa phương và các địa bàn lân cận; mở rộng tín dụng đi đôi với tăng cường kiểm soát chất lượng tín dụng (giảm tỷ
lệ nợ quá hạn, không để phát sinh nợ xấu); sản phẩm đa dạng, có hàm lượng công
nghệ cao; …
Từ những thực trạng trong hoạt động kinh doanh và ứng dụng marketing tại QTDND Vân Canh, mục tiêu phát triển của Quỹ, tác giả đã đưa ra một số giải pháp tăng cường ứng dụng marketing tại QTDND Vân Canh, đó là: giải pháp về nghiên cứu thị trường và thông tin; giải pháp về chiến lược marketing; giải pháp về marketing mix Cụ thể: Tăng cường cho hoạt động nghiên cứu thị trường cả về lượng và chất (trong đó: cần tổ chức điều tra thu thập thông tin qua các mẫu phiếu điều tra khách hàng; các dữ liệu thông tin về khách hàng, thị trường, thông tin nội
bộ cần được xác lập đầy đủ, bài bản và khoa học); Tổ chức kinh doanh theo định hướng khách hàng, duy trì khách hàng cũ, thu hút khách hàng mới; Đa dạng hóa danh mục sản phẩm bằng cách đa đạng hơn kỳ hạn gửi, đa dạng kỳ tính lãi, triển khai thêm các hình thức tiết kiệm mới (như: Tiết kiệm hưởng lãi suất bậc thang theo thời gian gửi, tiết kiệm gửi góp hàng tháng, tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm rút gốc linh hoạt, …), phát triển sản phẩm mới về cho vay tín dụng (như: cho vay theo hạn mức tín dụng, cho vay trả góp, cho vay có đảm bảo bằng tài sản hình thành từ vốn
Trang 6tiền, dịch vụ thẻ ATM; Xây dựng lộ trình hạ lãi suất cho vay theo quy định của NHNN, duy trì việc áp dụng mức lãi suất huy động cao hơn các NHTM 0,5%/năm dưới sự cho phép của NHNN; Tiếp tục nghiên cứu mở rộng địa bàn hoạt động sang các xã lân cận chưa có QTDND; Xúc tiến việc xây dựng trang web riêng cho Quỹ, đa dạng hơn nữa các hoạt động quảng cáo, thường xuyên tổ chức các chương trình khuyến mại có tính quy mô, tổ chức hội nghị khách hàng; Trang bị kiến thức marketing một cách toàn diện cho CBNV, tuyển dụng và đào tạo nhân lực chất lượng cao, phân loại và đánh giá nhân viên theo các cấp độ khác nhau để phân công đúng việc tạo hiệu quả cao trong công việc; Nâng cao chất lượng dịch vụ, đơn giản hóa thủ tục; Hoàn thiện hệ thống thông tin hiện đại; …
Cuối cùng, tác giả đưa ra một số kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước, chính quyền địa phương (tại các địa bàn hoạt động của QTDND Vân Canh), Ngân hàng Hợp tác xã thông qua công tác chỉ đạo, định hướng và sự quan tâm, hỗ trợ tới hoạt động của các QTDND nói chung và QTDND Vân Canh nói riêng
Qua tìm hiểu về thực trạng ứng dụng Marketing tại QTDND Vân Canh, ta
có thể thấy rằng còn rất nhiều hạn chế trong nhận thức về Marketing, hoạt động Marketing còn rời rạc và thiếu bài bản, chỉ mới chú trọng bề nổi chưa chú trọng đến chiều sâu Chính vì vậy Marketing chưa được phát huy hết vai trò, sức mạnh,
Vì vậy, muốn tồn tại và đứng vững trên thị trường, trong thời gian tới QTDND Vân Canh phải luôn chú trọng, quan tâm đúng mức đến hoạt động Marketing; Phải luôn cải tiến, đổi mới, hoàn thiện về mọi mặt hoạt động mới có thể đạt được mục tiêu đề ra đó là trở thành một QTDND phát triển bền vững
Trong quá trình hoàn thành luận văn này, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ, đóng góp nhiệt tình của người hướng dẫn khoa học và các đồng nghiệp nơi tác giả công tác Tuy nhiên, do thời gian, kinh nghiệm và kiến thức còn hạn chế nên luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp để luận văn có tính thực tế và hoàn thiện hơn giúp QTDND Vân Canh ngày càng phát triển bền vững trên thị trường