Nguyên nhân chủ quan của những hạn chế là tăng trưởng kinh tế nước ta trong thời gian qua có suy hướng giảm so với giai đoạn trước; áp lực vốn đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, trong[r]
Trang 1MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT
DANH MỤC VIẾT TẮT TIẾNG ANH
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
DANH MỤC HÌNH
TÓM TẮT LUẬN VĂN
LỜI MỞ ĐẦU Error! Bookmark not defined CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NỢ NƯỚC NGOÀI Error!
Bookmark not defined
CỦA CHÍNH PHỦ Error! Bookmark not defined 1.1 Tổng quan về nợ nước ngoài của Chính phủ Error! Bookmark not defined.
1.1.1 Khái niệm Error! Bookmark not defined 1.1.2 Vai trò của nợ nước ngoài Error! Bookmark not defined 1.1.3 Các hình thức vay nợ nước ngoài Error! Bookmark not defined 1.2 Quản lý nợ nước ngoài của Chính phủ Error! Bookmark not defined.
1.2.1 Khái niệm và sự cần thiết của quản lý nợ nước ngoàiError! Bookmark not defined
1.2.2 Nội dung quản lý nợ nước ngoài Error! Bookmark not defined 1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nợ nước ngoài của Chính phủError!
Bookmark not defined
1.3.1 Môi trường kinh tế vĩ mô Error! Bookmark not defined 1.3.2.Môi trường chính sách Error! Bookmark not defined 1.3.3 Cân bằng ngân sách Error! Bookmark not defined 1.3.4 Lãi suất và cán cân thương mại Error! Bookmark not defined 1.3.5 Tỷ giá hối đoái Error! Bookmark not defined 1.3.6 Rủi ro Error! Bookmark not defined 1.4 Kinh nghiệm của một số quốc gia Error! Bookmark not defined.
Trang 21.4.1 Quốc gia thất bại trong việc quản lý nợ nước ngoài (Philippines) Error! Bookmark not defined
1.4.2 Quốc gia thành công trong quản lý nợ nước ngoài (Malaysia) Error! Bookmark not defined
1.4.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Error! Bookmark not defined CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ NƯỚC NGOÀI CỦA CHÍNH PHỦ Error! Bookmark not defined 2.1 Thực trạng về nợ nước ngoài của Chính phủ giai đoạn 2011 - 2016 Error!
Bookmark not defined
2.1.1 Vay ODA, vay ưu đãi và vay thương mạiError! Bookmark not defined 2.1.2 Về phát hành trái phiếu quốc tế Error! Bookmark not defined 2.1.3 Về cấp bảo lãnh Chính phủ Error! Bookmark not defined 2.2 Quản lý nợ nước ngoài của Chính phủ Error! Bookmark not defined.
2.2.1 Mục tiêu quản lý nợ nước ngoài của Chính phủError! Bookmark not defined
2.2.2 Hệ thống tổ chức quản lý nợ nước ngoài của Chính phủError! Bookmark not defined
2.2.3 Cơ chế, chính sách quản lý nợ nước ngoài hiện nayError! Bookmark not defined
2.2.4 Quản lý công tác nợ nước ngoài của Chính phủError! Bookmark not defined
2.3 Đánh giá về công tác quản lý nợ nước ngoài của Chính phủError! Bookmark not defined
2.3.1 Những thành tựu đạt được Error! Bookmark not defined 2.3.2 Những hạn chế trong công tác quản lý nợ của Chính phủError! Bookmark not defined
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế Error! Bookmark not defined CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ NƯỚC NGOÀI CỦA CHÍNH PHỦ Error! Bookmark not defined 3.1 Mục tiêu và quan điểm Error! Bookmark not defined 3.1.1 Mục tiêu Error! Bookmark not defined
3.1.2 Một số quan điểm tăng cường công tác quản lý nợ nước ngoài của Chính
phủ Error! Bookmark not defined
Trang 33.2 Một số giải pháp tăng cường công tác quản lý nợ nước ngoài của Chính phủ Error! Bookmark not defined.
3.2.1 Nhóm giải pháp về nợ nước ngoài của Chính phủError! Bookmark not defined
3.2.2 Nhóm giải pháp hoàn thiện mô hình quản lý nợ nước ngoài của Chính phủ
Error! Bookmark not defined 3.2.3 Các giải pháp khác Error! Bookmark not defined KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, các quốc gia đều hướng tới sự tăng trưởng, phát triển cao và bền vững Để đạt được điều này, các quốc gia đều phải dựa vào các nguồn vốn đầu tư cho phát triển trong đó bao gồm vốn trong nước và vốn nước ngoài.“Tại Việt Nam, quản lý nợ nước ngoài chỉ thực sự được bắt đầu từ năm 1993 khi Việt Nam chính thức thiết lập quan hệ hợp tác đa phương với các tổ chức tín dụng lớn trên thế giới như WB, IMF và ADB.”Số lượng vay, số khoản vay, tính đa dạng của hình thức vay và trả nợ của Việt Nam đang tăng dần lên về quy mô và số lượng Trong khi đó, hiện nay chưa có các tiêu chí đánh giá mức độ nợ nần phù hợp với đặc điểm của Việt Nam, chưa xây dựng được giới hạn an toàn cho nợ vay nói chung và nợ nước ngoài nói riêng và đảm bảo được các cân đối vĩ mô của nền kinh tế mà mới chỉ tập trung vào việc sửa đổi, hoàn thiện cơ chế chính sách huy động nguồn hỗ trợ phát triển chính thức tuy
đã được cải thiện, nhưng vẫn chưa thích ứng với yêu cầu thực tiễn quản lý Với sự cần thiết của vấn đề này, học viên đã chọn đề tài “Tăng cường công tác quản lý nợ nước ngoài ở Việt Nam” làm đề tài luận văn của mình.”
Mục đích nghiên cứu là nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý công tác huy động vốn vay nợ nước ngoài của Chính phủ;phân tích thực trạng công tác quản lý huy động
nợ nước ngoài của Chính phủ giai đoạn 2011-2016; đánh giá những mặt được và chưa được về công tác quản lý nợ, những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu sửa đổi, bổ sung hoàn thiện, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay nước ngoài của Chính phủ.”
Trang 4Đề tài tập trung vào việc nghiên cứu quản lý nợ nước ngoài của Chính phủ thông qua các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô và tài chính, chủ yếu nghiên cứu công tác quản lý nợ nước ngoài của Chính phủ Việt nam về huy động vốn vay nước ngoài, thực trạng từ năm 2011 – 2016 và nghiên cứu giải pháp cho giai đoạn 2017-2020
Trang 5CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NỢ NƯỚC NGOÀI CỦA CHÍNH
PHỦ 1.1 Tổng quan về nợ nước ngoài
Luật Quản lý nợ công năm 2009 định nghĩa, “Nợ Chính phủ là khoản nợ phát sinh từ vay trong nước, nước ngoài, được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các khoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, uỷ quyền phát hành theo quy định của pháp luật Nợ Chính phủ không bao gồm khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ” “Nợ Chính phủ bảo lãnh là các khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính tín dụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh”
- Đối với quốc gia đi vay, vốn vay“nước ngoài‟đóng vai trò là một‟nguồn‟bổ„sung cho nguồn vốn phát triển‟kinh tế - xã hội của mỗi quốc‟gia, đặc biệt với các nước đang phát triển luôn trong tình trạng thiếu hụt về vốn; đồng thời bổ sung nguồn lực để nhập khẩu các máy móc, thiết bị hiện đại công nghệ tiên tiến cùng với kỹ năng quản lý hiệu quả từ nước ngoài là điều cần thiết;“khi xuất hiện tình trạng thâm hụt cán cân thanh toán“có thể sử dụng biện pháp vay nợ nước ngoài để bù đắp phần thâm hụt này.”
- Đối với quốc gia cho vay và quốc tế, việc cho vay vốn giúp các nhà đầu tư thích hợp, thu được lợi nhuận cao nhất, tránh được hiện tượng tồn đọng, dư thừa vốn; giảm thiểu rủi ro cho các nhà đầu tư; đồng thời nâng cao vị thế kinh tế chính trị của quốc gia cho vay trên trường quốc tế, thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa.”
- Việc đi vaycủa Chính phủ có thể được thực hiện thông qua 2 hình thức là phát hành trái phiếu Chính phủ”và vay trực tiếp
1.2 Quản lý nợ nước ngoài
Quản lý nợ nước ngoài là một phần của công tác quản lý nền kinh tế vĩ mô Nó bao gồm việc hoạch định, triển khai, duy trì và từ bỏ các khoản nợ nước ngoài để tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường kinh tế, giảm tình trạng đói nghèo và tiếp tục duy trì
sự phát triển mà không tạo ra những khó khăn trong thanh toán
- Mục tiêu quản lý nợ nước ngoài của Chính phủ là: duy trì mức nợ nước ngoài cần thiết; đảm bảo mục tiêu an toàn nợ, duy trì một danh mục nợ hợp lý trong giới hạn an
Trang 6toàn về nợ, đảm bảo sự bền vững về nợ trong dài hạn, an ninh tài chính và tiền tệ quốc gia; xác định sớm các rủi ro tiềm ẩn đối với danh mục nợ; tăng cường minh bạch tài chính, tăng cường quản lý các nghĩa vụ dự phòng; nâng cao hiệu quả công tác phân tích,
dự báo tài chính, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và hoạch định chính sách kinh tế vĩ
mô trong từng thời kỳ.”
- Chủ thể quản lý nợ nước ngoài của Chính phủ là một hệ thống các cơ quan được sắp xếp từ thấp đến cao theo chức năng, nhiệm vụ quản lý nợ
- Công vụ quản lý nợ là chiến lược, chương trình quản lý nợ và kế hoạch vay trả nợ Chiến lược quản lý nợ nước ngoài của Chính phủ được lập trong dài hạn trong khi chương trình quản lý nợ được lập trong trung hạn và kế hoạch vay trả nợ được lập hàng năm
- Quản lý công tác huy động nợ nước ngoài bao gồm quản lý về quy mô nợ, cơ cấu
nợ và các chỉ tiêu giám sát nợ
1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nợ nước ngoài của Chính phủ Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nợ nước‟ngoài của Chính phủ, có những nhân tố bên trong nền kinh tế và cũng có những nhân tố bên ngoài Các nhân tố này có thể có những ảnh hưởng thuận lợi, cũng có thể có những ảnh hưởng bất lợi đến công tác quản lý nợ nước ngoài của Chính phủ Các nhân tố chủ quan bao gồm môi trường kinh tế
vĩ mô; môi trường chính sách; cân bằng ngân sách Ngoài ra còn có cá nhân tố khách quan ảnh hưởng đến công tác quản lý nợ như lãi suất và cán cân thương mại; tỷ giá hối đoái; các rủi ro liên quan đến thanh khoản và thị trường…
1.4 Kinh nghiệm của một số quốc gia
Philippines có nợ của khu vực công bằng 125% GDP; trả lãi và gốc là chiếm đến 68% chi tiêu của Chính phủ trong năm 2004, tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm nhanh, tốc
độ tăng trưởng xuất khẩu cũng giảm dần trong giai đoạn 1982 - 1985 Từ năm 1976, nợ quá hạn tăng từ 1 triệu USD lên đến 762 triệu USD năm 1985, đẩy Philippines rơi vào khủng hoảng nợ, cùng với thâm hụt ngân sách triền miên, cơ cấu đầu tư không hợp lý, bên cạnh đó, hệ thống tài chính yếu kém làm cho Philippines rơi vào khủng hoảng nợ
Malaysia xây dựng chiến lược quản lý nợ nước ngoài với hai mục tiêu rõ ràng:
Trang 7đảm bảo cân đối giữa tổng nguồn tài trợ và tổng nhu cầu, đồng thời vẫn duy trì một nguồn tiền thanh toán nợ nước ngoài phù hợp với khả năng trả nợ của nền kinh tế Malaysia có một cơ quan quản lý nợ thống nhất là Ủy Ban Quản lý nguồn thu từ nước ngoài, ngoài ra, NHTW giám sát mọi nguồn ngoại hối; công tác thu thập, duy trì, xử lý
và phổ biến thông tin liên quan đến vấn đề nợ, cơ cấu nợ, nghĩa vụ thanh toán nợ, duy trì
nợ ở mức tối đa cho phép Malaysia linh hoạt trong phản ứng đối phó với khủng hoảng nợ: xây dựng được một thị trường vốn tự do và mở cửa; duy trì nợ ngắn hạn nhỏ;
hệ thống ngân hàng có tỷ lệ nợ không sinh lãi thấp hơn; dự trữ ngoại tệ lớn hơn; nguồn ngoại tệ tập trung vào một cơ quan duy nhất là NHTW chứ không phân tán rải rác trong
Bộ Tài chính và các cơ quan khác Chính vì vậy mà nền kinh tế Malaysia ít bị tổn thương trong khủng hoảng
Qua nghiên cứu thành công cũng như bài học thất bại của Philippines, Malaysia, có thể rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc tăng cường công tác quản lý nợ nước ngoài trong quá trình phát triển kinh tế như sau: không nên quá phụ thuộc vào nguồn vốn vay bên ngoài; cần có một lộ trình tự do hóa các giao dịch trên tài khoản vốn thích hợp; duy trì một tỷ lệ nợ ngắn hạn hợp lý; đảm bảo duy trì ba cân đối
vĩ mô chính; cần đảm bảo một cơ sở thể chế quản lý nợ mang tính pháp lý cao
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ NƯỚC NGOÀI CỦA
CHÍNH PHỦ 2.1 Tình hình quản lý nợ nước ngoài của Chính phủ Việt Nam giai đoạn 2011-2016
Mức huy động vốn vay của Chính phủ từ năm 2011 - 2014 tăng qua các năm So với năm 2011, nhu cầu vay vốn của Chính phủ năm 2015 tăng 1,94 lần Năm 2015, 2016, mức huy động vốn vay của Chính phủ đang giảm xuống, điều đó cho thấy là Chính phủ đang từng bước dịch chuyển cơ cấu huy động vốn vay hướng vào nguồn vốn trong nước Mức huy động vốn bình quân hàng năm giai đoạn 2011-2015 là 16% Trong đó, ODA là nguồn huy động vốn vay‟nước ngoài chủ‟yếu của Chính phủ, chiếm tỷ trọng cao (trên 94%) với kỳ hạn còn lại bình quân trên 10 năm, lãi suất bình quân tính đến cuối năm
2015 khoảng 2%/năm
Trang 8Trong giai đoạn 2011 - 2015, nguồn vốn vay thương mại giải ngân chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng vốn nước ngoài giải ngân, chủ yếu vẫn là vốn ODA và„vốn vay‟ưu đãi Thực hiện chủ trương tập trung huy động vốn cho đầu tư phát triển, tỷ lệ vốn vay cho mục đích HCSN vẫn duy trì ở mức thấp khoảng 3 - 4%, chủ yếu ở các dự án lĩnh vực xã hội (y tế, giáo dục) và một phần chi cho công tác giám sát, chi quản lý dự án… Tỷ trọng giải ngân cho đầu tư XDCB chiếm trên dưới 50% tổng vốn vay ODA và vốn vay ưu đãi Điểm đáng chú ý là tỷ trọng vốn giải ngân cho vay lại có mức tăng đều từ 44,4% năm
2011 và đạt gần 50% năm 2014
Thực hiện Nghị quyết số 66/NQ-CP ngày 6/9/2014 về việc phát hành trái phiếu quốc tế, Chính phủ đã thực hiện đợt phát hành trái phiếu quốc tế lần thứ 3 với khối lượng
1 tỷ USD, lợi tức phát hành/coupon là 4,8%, kỳ hạn trái phiếu 10 năm Đợt phát hành trái phiếu nhằm cơ cấu lại các trái phiếu quốc tế chính phủ đã phát hành trước đây nhằm kéo dài thời hạn trái phiếu, giảm rủi ro thanh khoản Đợt phát hành này được các nhà đầu tư đánh giá là thành công với khối lượng đặt mua gấp 10 lần so với khối lượng dự kiến phát hành và lợi tức thấp hơn hẳn so với các đợt phát hành trái phiếu của Chính phủ trước đây hoặc tốt hơn hẳn so với trái phiếu của một số quốc gia có mức xếp hạng tín nhiệm tương đương (như Srilanka,)
Trong giai đoạn 2011-2016, tổng giá trị cấp bảo lãnh vay nước ngoài đạt 14,1 tỷ USD (khoảng 301 nghìn tỷ đồng), trong đó đã giải ngân 235 nghìn tỷ đồng (gấp 3,2 lần so với giai đoạn 2006-2010), bằng 79% tổng số vốn cam kết
2.2 Quản lý nợ nước ngoài của Chính phủ ở Việt Nam
Mục tiêu cụ thể của quản lý nợ nước ngoài:“Theo Quyết định số 958/QĐ-TTg ngày 27/7/2012 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược nợ công và chiến lược nợ nước ngoài của quốc gia giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2030, mục tiêu quản
lý nợ công của Chính phủ là: nợ công không quá 65% GDP, trong đó, dư nợ Chính phủ không quá 55%, nợ nước ngoài quốc gia không quá 50% GDP; nghĩa vụ trả nợ trực tiếp Chính phủ (không bao gồm cho vay lại và đảo nợ) so với tổng thu NSNN hàng năm không quá 25%; đảm bảo Nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của quốc gia hàng năm dưới 25% giá trị xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ; dự trữ ngoại hối nhà nước so với tổng dư nợ nước
Trang 9ngoài ngắn hạn hàng năm trên 200%; dư nợ nước ngoài Chính phủ dưới 45% tổng nợ Chính phủ.”
Nợ nước ngoài của Chính phủ do nhà nước thống nhất quản lý toàn diện Cụ thể, từ khâu huy động vốn, tiếp nhận, phân bổ sử dụng, quản lý, theo dõi và giám sát đều phải được các cơ quan đã được phân công thực thiện Chiến lược nợ nước ngoài của Chính phủ
và các kế hoạch vay và trả nợ trung hạn và dài hạn của Chính phủ đều được Quốc hội phê duyệt Còn Thủ tướng Chính phủ thì trực tiếp phê duyệt một số nội dung cụ thể có tầm quan trọng chiến lược
2.3 Về công tác huy động nợ nước ngoài
Về quy mô nợ: Giai đoạn 2010 - 2015, tổng huy động vốn vay công ở mức cao với tổng khối lượng khoảng 2.801 nghìn tỷ đồng, bằng khoảng 14% GDP, chiếm 44% tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội, tốc độ tăng bình quân hàng năm ở mức nhanh (16,7%/năm) Nguồn vốn vay cơ bản đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư cho phát triển kinh tế -
xã hội, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội, các chỉ tiêu cân đối kinh tế vĩ
mô và NSNN đã được Quốc hội quyết định trong giai đoạn 5 năm và hàng năm
Về cơ cấu nợ: Tính trên tổng khối lượng huy động vốn vay công, vốn vay của Chính phủ chiếm 75% (bình quân 351 nghìn tỷ đồng/năm); bảo lãnh Chính phủ chiếm 20% (bình quân khoảng 95 nghìn tỷ đồng/năm) và vay của chính quyền địa phương
chiếm 5% (khoảng 22 nghìn tỷ đồng/năm)
Nhìn chung, ta thấy các chỉ tiêu giám sát nợ vẫn trong ngưỡng an toàn, cụ thể: dư
nợ nước ngoài so với GDP vẫn trong ngưỡng cho phép Quốc hội đề ra trong Chiến lược
nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2030, trong đó, giai đoạn 2011-2016 không có năm nào nợ nước ngoài quốc gia vượt quá 50% GDP; dư nợ nước ngoài so với xuất khẩu giai đoạn 2011-2016 trong khoảng 49%, trong
đó, cao nhất là năm 2011 với 52,2% và giảm dần xuống 49,4% năm 2015, còn thấp hơn rất nhiều so với con số 165%, có thể giải thích điều này đó là trong giai đoạn vừa qua, giá trị xuất khẩu của Việt Nam tương đối cao trong tổng giá trị quốc nội Tuy nhiên, cũng không nên quá ỷ lại vào nguồn thu chủ yếu từ xuất khẩu sản phẩm thô, sản phẩm mới qua
sơ chế
Trang 102.4 Đánh giá về công tác quản lý nợ nước ngoài của Chính phủ
Những thành tựu đạt được: Huy động được khối lượng lớn vốn cho cân đối NSNN
và đầu tư phát triển; Hệ thống khuôn khổ pháp lý về quản lý nợ nước ngoài của Chính phủ nói riêng, quản lý nợ công nói chung đang từng bước được nghiên cứu, xây dựng, ban hành, bổ sung và hoàn thiện, tạo điều kiện cho công tác quản lý nợ nước ngoài hướng tới mục tiêu huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn lực quốc tế phục vụ cho sự phát triển kinh tế quốc gia, đảm bảo quản lý nợ nước ngoài an toàn và hiệu quả
Những hạn chế còn tồn tại trong công tác quản lý nợ: Tỷ trọng các khoản vay có lãi suất thả nổi trong danh mục nợ nước ngoài của Chính phủ có xu hướng tăng, từ mức 7% năm 2010 lên khảng 11% năm 2015, chủ yếu là do tăng các khoản vay từ nguồn IBRD của
WB và nguồn OCR của ADB; danh mục nợ nước ngoài của Chính phủ vẫn tập trung vào
03 loại tiền chủ đạo là USD, JPY và EUR, là những đồng tiền có biến động lớn trong thời gian vừa qua Ngoài ra, việc điều chỉnh tỷ giá theo hướng giảm giá trị VND cũng làm tăng giá trị danh nghĩa các khoản nợ công bằng ngoại tệ khi quy sang VND; Việc sử dụng vốn vay còn dàn trải, vẫn còn tư tưởng vào sự bao cấp của Nhà nước; việc xây dựng,“triển khai các công cụ nợ (chiến lược nợ dài hạn; chương trình quản lý nợ trung hạn; kế hoạch vay, trả nợ hàng năm của Chính phủ…) còn mang tính bị động, chưa gắn kết chặt chẽ với kế
cập nhật thường xuyên và đầy đủ, các quy định trong công tác quản lý nợ còn thiếu
Nguyên nhân chủ quan của những hạn chế là tăng trưởng kinh tế nước ta trong thời gian qua có suy hướng giảm so với giai đoạn trước; áp lực vốn đầu tư phát triển kinh tế -
xã hội, trong đó có nguồn vốn vay rất lớn; chế tài quy định trong quản lý nợ công chưa thể hiện đầy đủ, rõ ràng và tách bạch các nghiệp vụ quản lý nợ chủ động; quy định về
quản lý nợ được đề cập ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, còn sự mâu thuẫn, chồng chéo hoặc bỏ sót chế tài, gây khó khăn cho việc áp dụng và thi hành; nhiệm
vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước liên quan đến quản lý nợ công chưa được phân định cụ thể, phù hợp với thông lệ quốc tế; công tác đề xuất dự án, thẩm định, ký hiệp định vay; công tác quản lý, phân bổ vốn chưa phù hợp với kế hoạch đầu tư công, dự báo