1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ứng dụng cỏ vetiver để loại bỏ thành phần ô nhiễm trong nước kênh văn thánh bằng mô hình sỏi và thủy canh ở điều kiện tĩnh

95 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 3,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT LUẬN VĂN Bên cạnh các công nghệ xử lý nước thải truyền thống như hóa lý, sinh học thì hướng phát triển bền vững chính là sử dụng kết hợp hệ thực vật để xử lý, xử lý nước thải bằn

Trang 1

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG CỎ VETIVER ĐỂ

LOẠI BỎ THÀNH PHẦN Ô NHIỄM TRONG

NƯỚC KÊNH VĂN THÁNH BẰNG MÔ HÌNH

SỎI VÀ THỦY CANH Ở ĐIỀU KIỆN TĨNH

Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Ngọc Hồng Nhung

Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên và môi trường

Tp.HCM, tháng 9 năm 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGUYỄN TẤT THÀNH KHOA KỸ THUẬT THỰC PHẨM – MÔI TRƯỜNG

-o0o -

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG CỎ VETIVER ĐỂ

LOẠI BỎ THÀNH PHẦN Ô NHIỄM TRONG

NƯỚC KÊNH VĂN THÁNH BẰNG MÔ HÌNH

SỎI VÀ THỦY CANH Ở ĐIỀU KIỆN TĨNH

Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Ngọc Hồng Nhung

Mã số sinh viên : 1511538122

Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên và môi trường

Giảng viên hướng dẫn : ThS Trần Thành

Tp.HCM, tháng 9 năm 2019

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGUYỄN TẤT THÀNH

KHOA KỸ THUẬT THỰC PHẨM & MÔI TRƯỜNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Tp Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 9 năm 2019

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

HỌ VÀ TÊN SV: Nguyễn Thị Ngọc Hồng Nhung LỚP : 15DTNMT1A

NGÀNH: Quản lý Tài nguyên và Môi trường MSSV: 1511538122

1 Tên đề tài: NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG CỎ VETIVER ĐỂ LOẠI BỎ THÀNH

PHẦN Ô NHIỄM TRONG NƯỚC KÊNH VĂN THÁNH BẰNG MÔ HÌNH SỎI

VÀ THỦY CANH Ở ĐIỀU KIỆN TĨNH

2 Nhiệm vụ luận văn:

 Đánh giá và so sánh khả năng thích nghi và sinh trưởng của cỏ Vetiver đối với nước rạch Văn Thánh khi trồng trên các vật liệu khác nhau

 Đánh giá và so sánh khả năng xử lý COD, N-NH4+, P-PO43- trong nước rạch Văn Thánh của mô hình cỏ Vetiver với các vật liệu khác nhau

3 Ngày giao đề tài: 6/2019

4 Ngày hoàn thành đề tài: 09/2019

5 Họ tên người hướng dẫn: ThS TRẦN THÀNH

Nội dung và yêu cầu LVTN được thông qua Bộ môn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy cô khoa Kỹ thuật Thực Phẩm và Môi

Trường, Viện nghiên cứu trường Đại học Nguyễn Tất Thành nói chung và thầy cô trong

bộ môn Quản lý tài nguyên môi trường nói riêng đã tận tâm truyền đạt cho em những

kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong suốt những năm học vừa qua Đây là nền tảng

giúp em có những hành trang vững bước khi làm việc trong môi trường thực tế

Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Giảng viên hướng dẫn – Thầy Trần Thành

đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt thời gian em thực hiện đề tài Thầy đã chỉ

dẫn em rất nhiều trong phòng thí nghiệm cũng như quá trình vận hành mô hình Một

người thầy luôn tận tụy hết mình với sinh viên, luôn đưa ra những con đường những

cách làm sáng suốt và đổi mới trong quá trình học tập và làm việc, cho các bạn được

gắn liền với xã hội thực tế hơn Để có kết quả như ngày hôm nay là cả một quá trình

thầy trò chúng em đã cùng nhau cố gắng, thầy luôn động viên hỗ trợ sinh viên, luôn

hướng tới và quan tâm đến mỗi sinh viên của mình để dõi theo các bạn đang ở tiến độ

nào và đang mắc phải điều gì khó khăn để thầy hỗ trợ giúp đỡ Cảm ơn thầy-người lái

đò đã đưa thành công cập bến thêm một chuyến đò nữa Đồng thời em xin cảm ơn các

anh chị và các bạn của trường Đại học Bách Khoa – bạn Phan Thị Diễm Thúy cùng

chung nhóm đề tài nghiên cứu khoa học đã giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình thực

hiện luận văn này

Trong quá trình làm luận văn, vì chưa có kinh nghiệm thực tế và kĩ năng chuyên môn

cao nên không tránh khỏi những sai sót Em kính mong nhận được sự góp ý, nhận xét

từ Quý Thầy Cô để em có thể rút ra kinh nghiệm và kiến thức áp dụng một cách hiệu

quả trong tương lai Cuối cùng em kính chúc quý Thầy Cô dồi dào sức khỏe và thành

công trong sự nghiệp cao quý của mình Đồng kính chúc các toàn thể các bạn là sinh

viên của trường luôn vui khỏe, đạt được nhiều thành công tốt đẹp trong công việc sắp

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan kết quả của đề tài “Nghiên cứu ứng dụng của cỏ Vetiver để loại

bỏ thành phần ô nhiễm trong nước kênh Văn Thánh bằng mô hình sỏi và thủy canh

ở điều kiện tĩnh” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi đã thực hiện dưới sự hướng

dẫn của ThS Trần Thành Các số liệu và kết quả được trình bày trong luận văn là hoàn

toàn trung thực, không sao chép của bất cứ ai, và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học của nhóm nghiên cứu nào khác cho đến thời điểm hiện tại

Nếu không đúng như đã nêu trên, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về đề tài của mình và chấp nhận những hình thức xử lý theo đúng quy định

Tp.HCM, Ngày 29 tháng 9 năm 2019

Tác giả luận văn (Ký và ghi rõ họ tên)

Trang 6

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Bên cạnh các công nghệ xử lý nước thải truyền thống như hóa lý, sinh học thì hướng phát triển bền vững chính là sử dụng kết hợp hệ thực vật để xử lý, xử lý nước thải bằng phương pháp tự nhiên được biết đến là nhóm phương pháp đơn giản, ít tốn năng lượng, hạn chế việc sử dụng hóa chất trong quá trình xử lý mà sử dụng các hợp phần có sẵn trong tự nhiên

Với mục tiêu là kế thừa những nghiên cứu đã có, làm cơ sở để tiếp tục nghiên cứu và phát triển thêm một hệ xử lý sinh học bằng các loài thực vật và tiến hành ứng dụng thực tiễn các biện pháp xử lý nước thải bằng biện pháp sinh học

Để đạt được được mục tiêu trên, đề tài sẽ khảo sát, đánh giá thích nghi, sinh trưởng của loài thực vật được lựa chọn là cỏ Vetiver trong điều kiện nước thải kênh rạch Đồng thời đánh giá hiệu quả xử lý nước thải kênh rạch bằng mô hình đất ngập nước loại vật liệu là sỏi chạy song song cùng với mô hình thủy canh nhằm đánh giá khả năng xử lý của cỏ khi có giá thể bám vào và không có giá thể

Nghiên cứu được thực hiện qua 2 giai đoạn:

- Giai đoạn 1: Đánh giá khả năng thích nghi và sinh trưởng của cỏ Vetiver đối với nước kênh Văn Thánh

- Giai đoạn 2: Đánh giá khả năng thích nghi và sinh trưởng, khả năng loại bỏ thành phần ô nhiễm COD, P-PO43- , N-NH4+ của cỏ Vetiver trong mô hình sỏi và thủy canh

Kết quả nghiên cứu cho thấy, cỏ vetiver có khả năng sinh trưởng tốt trong môi trường nước kênh rạch, đồng thời kiểm soát tốt chất lượng nước thông qua một số chỉ tiêu như COD, P-PO43- , N-NH4+

Trang 7

SUMMARY

In addition to traditional wastewater treatment technologies such as physical chemistry and biology, the sustainable development direction is to use a combination of flora to treat and treat wastewater by the natural method known as the group The method is simple, low energy, limiting the use of chemicals in the process of treatment that use the components available in nature

With the goal of inheriting the existing studies, it is the basis for further research and development of an additional biological treatment system with plants and to conduct practical application of wastewater treatment methods by Biological measures

To achieve the above goal, the project will investigate, assess, adapt and grow the selected plant species of Vetiver grass in the condition of canals and sewers At the same time, evaluate the effectiveness of wastewater treatment in canals with a model of wetland with gravel-like material running in parallel with hydroponic model to assess the ability of grass to handle when it can and does not prices can

The study was conducted through 2 phases:

- Phase 1: Assessing the adaptability and growth of Vetiver grass to Van Thanh canal water

- Phase 2: Assessment of adaptability and growth, ability to eliminate pollutant components of COD, P-PO43-, N-NH4 + of Vetiver grass in gravel and hydroponic models

Research results show that vetiver has good growth ability in water environment in canals and can control water quality through several criteria such as COD, P-PO43-, N-NH4 +

Trang 8

MỤC LỤC

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

TÓM TẮT LUẬN VĂN iii

MỤC LỤC v

DANH MỤC BẢNG BIỂU vii

DANH MỤC HÌNH ẢNH viii

CÁC TỪ VIẾT TẮT ix

MỞ ĐẦU 1

1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2

3.1 Đối tượng nghiên cứu 2

3.2 Phạm vi nghiên cứu 2

4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 3

5 PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 5

A Cơ sở lý thuyết 5

1 Tổng quan về nước thải đô thị 5

2 Công nghệ sử dụng thực vật loại bỏ các chất ô nhiễm (phytoremediation) 8

3 Kỹ thuật xử lý bằng trồng cây trên đất ngập nước 13

4 Tổng quan về cỏ vetiver 14

B Cơ sở thực tiễn 18

1 Tổng quan về khu vực lấy mẫu 18

2 Ứng dụng của công nghệ Phytoremediation 23

3 Ứng dụng của công nghệ đất ngập nước kiến tạo (CW) 24

4 Nghiên cứu ứng dụng trồng cỏ vetiver trong xử lý nước thải 25

CHƯƠNG 2: : VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

2.1 Tiến trình thực hiện đề tài 30

2.2 Mô hình nghiên cứu 30

2.2.1 Thực vật nghiên cứu 30

Trang 9

2.2.2 Nước thải thí nghiệm 31

2.3 Bố trí thí nghiệm 33

2.3.1 Mô tả hệ thống 33

2.3.2 Vận hành hệ thống 34

2.4 Phương pháp thu mẫu và phân tích 37

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39

3.1 Đánh giá khả năng thích nghi và sinh trưởng của cỏ Vetiver đối với nước kênh Văn Thánh 39

3.2 Đánh giá sinh trưởng của Vetiver trong mô hình sỏi và thủy canh giai đoạn xử lý 41

3.3 Đánh giá khả năng loại bỏ thành phần ô nhiễm của cỏ Vetiver trong mô hình sỏi và thủy canh 43

3.3.1 pH 43

3.3.2 N-NH4+ 43

3.3.3 P-PO43- 45

3.3.4 COD 48

3.3.5 Phân tích hiệu suất mô hình 50

3.3.6 So sánh kết quả với các nghiên cứu trước 51

3.4 Phân tích SWOT cho hai mô hình sỏi và thủy canh 52

3.4.1 Mô hình sỏi 52

3.4.2 Mô hình thủy canh 53

3.5 Đề xuất giải pháp 54

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55

1 Kết luận 55

2 Khuyến nghị 56

2.1 Khuyến nghị cho các nghiên cứu tiếp theo 56

2.2 Khuyến nghị áp dụng 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

DANH MỤC PHỤ LỤC 60

Trang 10

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Các trị số trung bình của một số thành phần trong nước thải đô thị 7

Bảng 1.2 Cơ chế thực vật loại bỏ chất ô nhiễm 9

Bảng 1.3 Ưu nhược điểm của công nghệ Phytoremediation 12

Bảng 1.4 Kết quả phân tích chất lượng nước mặt kênh Văn Thánh ngày 12/03/2019 22 Bảng 1.5 Chất lượng nước đầm lầy trước và sau khi xử lý bằng cỏ Vetiver 27

Bảng 2.1 Chất lượng nước rạch Văn Thánh trước khi xử lý 31

Bảng 2.2 Thời gian thực hiện các giai đoạn 34

Bảng 2.3 Thông số nước thải đầu vào mô hình giai đoạn 2 37

Bảng 2.4 Tóm tắt các giai đoạn 37

Bảng 2.5 Các chỉ tiêu và phương pháp phân tích mẫu nước 38

Bảng 2.6 Các chỉ tiêu và phương pháp phân tích cỏ Vetiver 38

Bảng 3.1 Sinh trưởng của cỏ Vetier giai đoạn thích nghi 39

Bảng 3.2 Sinh trưởng của cỏ Vetiver giai đoạn xử lý 42

Bảng 3.3 Hiệu suất xử lý các chỉ tiêu theo thời gian 50

Bảng 3.4 So sánh kết quả sau 3 ngày đánh giá 51

Bảng 3.5 So sánh kết quả sau 12 ngày đánh giá 51

Bảng 3.6 So sánh kết quả nghiên cứu 52

Trang 11

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 1.1 Cỏ Vetiver 15

Hình 1.2 Ảnh chụp hệ thống kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè từ vệ tinh 19

Hình 1.3 Hình ảnh rạch Văn Thánh nhìn từ vệ tinh 21

Hình 1.4 Các căn nhà dọc rạch Văn Thánh 22

Hình 2.1 Lưu đồ tiến trình thực hiện đề tài 30

Hình 2.2 Phân bố lớp vật liệu trong mô hình thủy canh và sỏi 33

Hình 3.1 Hiệu suất xử lý COD trong giai đoạn 1 41

Hình 3.2 Khả năng xử lý N-NH4+ của cỏ Vetiver ở hai mô hình sỏi – thủy canh 44

Hình 3.3 Mối tương quan giữa sự sinh trưởng và khả năng xử lý N-NH4+ của cỏ Vetiver ở hai mô hình sỏi (trên) và thủy canh (dưới) 45

Hình 3.4 Khả năng xử lý P-PO43- của cỏ Vetiver ở hai mô hình sỏi và thủy canh 46

Hình 3.5 Mối tương quan giữa sự sinh trưởng và khả năng xử lý P-PO43- của cỏ Vetiver ở hai mô hình sỏi (trên) và thủy canh (dưới) 47

Hình 3.6 Khả năng xử lý COD của cỏ Vetiver ở hai mô hình 48

Hình 3.7 Mối tương quan giữa sự sinh trưởng và khả năng xử lý COD của cỏ Vetiver ở hai mô hình sỏi (trên) và thủy canh (dưới) 49

Trang 12

CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 13

và thải ra các loại nước thải tương ứng có chứa các tác nhân gây ô nhiễm sau quá trình

sử dụng Nếu không được kiểm soát, quản lý tốt và không có các biện pháp xử lý hữu hiệu, các dòng thải đó sẽ gây nên nhiều vấn đề nan giải về ngập úng đường phố, ô nhiễm môi trường và ô nhiễm các nguồn nước, phá vỡ mối cân bằng sinh thái tự nhiên và làm mất đi vẻ mĩ quan của các trung tâm đô thị

Hiện nay, hầu hết các đô thị đều chưa có hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt Ở các

đô thị đã có một số trạm xử lý nước thải tập trung thì tỷ lệ nước được xử lý còn thấp so với yêu cầu Đa phần, nguồn nước thải sinh hoạt đều qua các hệ thống cống rãnh, các

hệ thống này thường dùng chung với hệ thống thoát nước mưa, thải trực tiếp ra môi trường tự nhiên đặc biệt là sông ngòi gây ô nhiễm môi trường nước trầm trọng Thành phố Hồ Chí Minh vốn có nhiều kênh rạch, sông ngòi nhưng không nhận được sự quan tâm bảo vệ đúng mức nên các kênh rạch, sông ngòi này ngày càng ô nhiễm nghiêm trọng gây mất vẻ mỹ quan và làm tổn thất rất lớn về tài nguyên nước và ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân Tuyến đường cầu Văn Thánh – Điện Biên Phủ đi qua rạch Văn Thánh là tuyến đường chủ chốt và trên đà phát triển mạnh của khu vực quận Bình Thạnh Rạch Văn Thánh nằm trong hệ thống kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè, là một trong những con rạch hiện đang ô nhiễm nặng nề và đang dần mất đi khả năng tự làm sạch Đã có một số dự án nhằm cải tạo rạch Văn Thánh nhưng vẫn chưa giải quyết được vấn đề Do

đó, cần có một giải pháp dài lâu nhằm hỗ trợ giúp loại bỏ bớt thành phần ô nhiễm trong nước con rạch, đưa con rạch về trạng thái bình thường

Bên cạnh các công nghệ xử lý nước thải truyền thống như hóa lý, sinh học thì hướng phát triển bền vững chính là sử dụng kết hợp hệ thực vật để xử lý, xử lý nước thải bằng phương pháp tự nhiên được biết đến là nhóm phương pháp đơn giản, ít tốn năng lượng, hạn chế việc sử dụng hóa chất trong quá trình xử lý mà sử dụng các hợp phần có sẵn trong tự nhiên Một trong những công nghệ được phát triển và ứng dụng rộng rãi suốt thời gian qua là Vetiver grass technology (VGT), dựa trên ứng dụng của cỏ vetiver

Trang 14

(Vetiveria zizanioides), được phát triển đầu tiên bởi Ngân hàng Thế giới về bảo tồn đất

và nước ở Ấn Độ vào những năm 1980 Trong nhiều năm qua, nghiên cứu đáng kể và nhiều dự án đã chứng minh sự thành công của việc sử dụng cỏ Vetiver để xử lý các dạng nước thải khác nhau bao gồm nước rỉ rác bãi rác, nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp

Vì vậy, nhằm đánh giá khả năng thích ứng và xử lý ô nhiễm của cỏ Vetiver trong những vật liệu khác nhau với nước thải kênh rạch, làm cơ sở để tiếp tục nghiên cứu và phát triển thêm một hệ xử lý sinh học bằng loài cỏ này nhằm hỗ trợ cho khu vực cầu Văn Thánh – Điện Biên Phủ, đồng thời góp phần vào tham gia nghiên cứu và tiến hành ứng dụng thực tiễn các biện pháp xử lý nước thải bằng biện pháp sinh học, đề tài:

“Nghiên cứu ứng dụng cỏ vetiver để loại bỏ thành phần ô nhiễm trong nước kênh Văn Thánh bằng mô hình sỏi và thủy canh ở điều kiện tĩnh” đã được thực hiện

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu, đánh giá tiềm năng của giải pháp sinh học hỗ trợ các kênh rạch bị ô nhiễm, cụ thể là sử dụng cỏ vetiver để loại bỏ thành phần ô nhiễm

- Góp phần vào tham gia nghiên cứu và tiến hành ứng dụng thực tiễn các biện pháp

xử lý nước thải bằng biện pháp sinh học

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Nước sông rạch Văn Thánh khu vực cầu Văn Thánh, đường Điện Biên Phủ

- Cỏ Vetiver được mua tại cửa hàng Nông An Phú (thị xã Thuận An, Bình Dương)

- Các thông số về chất lượng môi trường nước, bao gồm: COD, P-PO43-, N-NH4+trong mô hình cỏ vetiver với sỏi và thủy canh

Trang 15

4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Nội dung 1: Đánh giá khả năng thích nghi và sinh trưởng của cỏ Vetiver trong mô hình tại hiện trường

- Nội dung 2: Đánh giá khả năng loại bỏ thành phần ô nhiễm của cỏ Vetiver trong

mô hình tại hiện trường

5 PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN

 Phương pháp tổng quan tài liệu

Tổng hợp các kết quả điều tra và phân tích thực tế về thành phần và tính chất nước thải, từ đó đề ra giải pháp xử lý và nghiên cứu trên mô hình để đảm bảo theo cơ sở các thông số quy định về xử lý nước mặt QCVN 08-MT: 2015/BTNMT

Tìm hiểu các mô hình xử lý nước tương tự đã được áp dụng thành công, các nghiên cứu về xử lý nước mặt đã được thực hiện Từ đó kế thừa, tìm ra các giải pháp thích hợp, hạn chế các sai lầm cũng như các trở ngại có thể gặp phải trong quá trình nghiên cứu.Nội dung nghiên cứu được thực hiện thông qua các thí nghiệm Các chỉ tiêu được lấy mẫu

và phân tích theo các tiêu chuẩn hiện hành

 Phương pháp bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm gồm 2 giai đoạn: (1) đánh giá sự thích nghi và sinh trưởng (2) đánh giá khả năng loại bỏ các chất ô nhiễm

Thí nghiệm sử dụng mô hình khô đặt bên cạnh nguồn lấy nước: Mô hình chứa sỏi,

mô hình thủy canh Mỗi mô hình gồm 3 chậu có kích thước 42cm x 65cm x 16cm Cỏ được trồng ngập nước trên vật liệu

Ở giai đoạn 1, cỏ được trồng trên vật liệu mỗi chậu 9 cụm, mỗi cụm 5 cây Nước thải

sẽ không được thay mới thường xuyên mà chỉ được châm bổ sung

Ở giai đoạn 2, cỏ được trồng mỗi chậu 15 cụm, mỗi cụm 5 cây Nước lưu theo mẻ với thời gian lưu 15 ngày

 Phương pháp lấy mẫu

Qua quá trình khảo sát thực tế, nhóm nhận thấy rạch Văn Thánh là một rạch nhỏ Vì vậy, mẫu nước tại rạch chỉ được lấy tại một vị trí đại diện

Trang 16

Quy trình lấy mẫu :

- Thời gian lấy mẫu: 7 giờ sáng mỗi ngày

- Thể tích mẫu: 250 ml

- Mỗi mẫu có dán nhãn, trên đó ghi thời gian và thùng lấy mẫu

- Bảo quản mẫu: mẫu được đựng trong chai nhựa 500 ml

- Thời gian vận chuyển mẫu đến phòng thí nghiệm ngắn Trong thời gian thực hiện bảo quản mẫu ở tủ lạnh phòng thí nghiệm

 Phương pháp thống kê và xử lý số liệu

Các kết quả thí nghiệm được thu thập, lưu trữ và thống kê xử lý bằng phần mềm Excel

 Phương pháp tổng hợp

Khi đã có số liệu thu thập được, dựa trên phương pháp phân tích, đánh giá,… và kết hợp với kiến thức chuyên ngành để tổng hợp và đưa ra nhận xét, đánh giá khách quan, đề xuất giải pháp và những ý kiến cần thiết hỗ trợ cho những vấn đề đặt ra

Trang 17

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

A Cơ sở lý thuyết

1 Tổng quan về nước thải đô thị

a Nước thải đô thị là gì?

Nước thải đô thị là một thuật ngữ dùng để chỉ tất cả các nguồn nước thải phát sinh trong đô thị Và nguồn nước thải này có 04 thành phần chính là: nước thải sinh hoạt, nước thải sản xuất, nước thải thấm qua và nước thải tự nhiên Trong đó:

- Nước thải sinh hoạt (50 – 60%): Là nước thải được hình thành từ các hoạt động sinh hoạt của dân cư, trường học, khu thương mại,… như: tắm rửa, ăn uống, vệ sinh hay các hoạt động bài tiết của con người,… Nguồn nước thải này thường chứa rất nhiều các tạp chất khác như với 52% là các chất hữu cơ và 48% còn lại là các chất vô cơ và các vi khuẩn gây bệnh

- Nước thải sản xuất (30 – 36%): Hay còn gọi là nước thải công nghiệp là nước thải

từ các nhà máy hay xí nghiệp sản xuất Thành phần chính của loại nước thải này

là các chất hữu cơ, chất vô cơ và còn chứa dầu mỡ, các hợp chất lơ lửng, các chất kim loại nặng,…

- Nước thải thấm qua (10 – 14%): Đây là nước mưa thấm vào các hệ thống cống rãnh bằng nhiều cách khác nhau như là thông qua các khớp nối, các ống hoặc các thành của hố gas,…

b Đặc thù của nước thải đô thị

- Phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện khí hậu cũng như là đặc trưng riêng của thành phố như: số lượng dân cư, số lượng các nhà máy đang hoạt động,…

- Tính chất và lưu lượng thường sẽ thay đổi theo mùa cũng như là giữa các ngày đi làm và các ngày nghỉ

- Lượng cát trong nước thải nhiều nên thường sẽ phải có bể lắng cát riêng

- Do khối lượng xử lý lớn nên lượng bùn thải tạo ra nhiều nên cũng đòi hỏi phải có một hệ thống xử lý bùn riêng

- Do là nguồn thải hỗn hợp của nhiều nguồn thải khác nhau như nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp,…nên thành phần ô nhiễm khá phức tạp và khó xử lý

Trang 18

c Thành phần của nước thải đô thị

Việc hiểu rõ các thành phần của nước thải đô thị sẽ giúp chúng ta tìm được các phương pháp xử lý phù hợp

Thành phần của nước thải đô thị bao gồm:

- Hàm lượng BOD có trong nước thải sau khi được xử lý sơ bộ: Hệ thống thoát nước riêng từ 50 – 70g; Hệ thống thoát nước chung từ 60 – 80g; Và khoảng 1/3 chất ô nhiễm này là ở dạng hòa tan còn 2/3 tồn tại dưới dạng hạt Chất ô nhiễm dạng hạt này thì có thể lắng gạn hoặc không nhưng phần trăm tỷ lệ chất ô nhiễm lắng gạn được ở hệ thống thoát nước chung cao hơn ở hệ thống riêng

- Tỉ lệ COD: BOD: Tỉ lệ này của nước thải đô thị nằm trong khoảng từ 2 – 2,5 Do

đó, việc cấp thiết là phải có biện pháp lắng đọng sơ bộ để loại bỏ các chất ô nhiễm

có thể lắng gạn được trong nước thải Điều này sẽ giúp làm giảm tỷ lệ COD: BOD xuống dưới 2 để việc xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học mới có hiệu quả cao

- Nitơ: Trong nước thải đô thị thì nồng độ tổng –N sẽ nằm trong khoảng từ 15 – 20% của nồng độ BOD5 Và phần bổ sung hàng ngày của chất này sẽ nằm trong khoảng

từ 10 – 15g/người

- Photpho: Phần bổ sung hàng này của photpho rơi vào khoảng 4g/người

- Các chất hoạt động bề mặt: Các chất này có thể là xà phòng, bột giặt hay các chất tẩy rửa,… và gây ra khó khăn không nhỏ cho các trạm xử lý nước thải có rêu

- Nguyên tố vi lượng: Khi phân tích nước thải đô thị thì cần phải lưu ý đến các nguyên tố độc hại là các kim loại nặng như: kẽm, đồng, chì, cadimi, niken, thủy ngân,… Và các hàm lượng này có trong nước thải thường ít hơn 9mg/l Tuy nhiên thì hàm lượng nguyên tố vi lượng trong ống dẫn cũng có tỉ lệ cao hơn trong các môi trường tự nhiên

Trang 19

Bảng 1.1: Các trị số trung bình của một số thành phần trong nước thải đô thị

(Nguồn: Công ty TNHH Công nghệ xử lý nước ta (2019), Tổng quan về nước thải đô thị và tác hại của nó ra sao, truy cập từ: https://congnghexulynuocmet.com.vn/nuoc-thai-do-thi/ )

d Tác hại của nước thải đô thị

Vấn đề ô nhiễm môi trường do nước thải đô thị ngày càng nghiêm trọng khi chỉ xử

lý được 12 – 13% nước thải phát sinh Có nghĩa là mỗi ngày đều có một lượng lớn nước thải chưa qua xử lý được xả thẳng ra môi trường và gây nên mối đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe con người Theo đó thì các chất Nito, Photpho và nhiều chất độc khác có trong nước thải sẽ gây rất nhiều bệnh lý nghiêm trọng như: dị ứng, nhiễm trùng da hay

Trang 20

- SS: lắng đọng ở nguồn tiếp nhận, gây điều kiện yếm khí

- Nhiệt độ: nhiệt độ của nước thải sinh hoạt thường không ảnh hưởng đến đời sống của thuỷ sinh vật nước

- Vi trùng gây bệnh: gây ra các bệnh lan truyền bằng đường nước như tiêu chảy, ngộ độc thức ăn, vàng da…

- Ammonia, P: đây là những nguyên tố dinh dưỡng đa lượng Nếu nồng độ trong nước quá cao dẫn đến hiện tượng phú dưỡng hoá (sự phát triển bùng phát của các loại tảo, làm cho nồng độ oxy trong nước rất thấp vào ban đêm gây ngạt thở và diệt vong các sinh vật, trong khi đó vào ban ngày nồng độ oxy rất cao do quá trình hô hấp của tảo thải ra)

- Màu: mất mỹ quan

- Dầu mỡ: gây mùi, ngăn cản khuếch tán oxy trên bề mặt

2 Công nghệ sử dụng thực vật loại bỏ các chất ô nhiễm (phytoremediation)

Xử lý môi trường bằng thực vật là phương pháp sử dụng thực vật để xử lý các loại hình ô nhiễm đất, nước, không khí bằng các loài thực vật có khả năng khả năng hấp thụ, tích lũy hay phân giải chất ô nhiễm Các loài thực vật được ứng dụng thường là các loài thực vật siêu tích lũy (Hyperaccumulator) Đây là phương pháp rẻ tiền và hiện đang được nghiên cứu ứng dụng kết hợp với các phương pháp xử lý vật lý, hóa học, sinh học khác

Các chất ô nhiễm được thực vật hấp thụ và tích lũy trong thực vật Dưới tác dụng của một số enzym, các chất này sẽ được phân cắt thành các phân tử nhỏ và đi vào sinh khối, một số dạng kim loại sẽ được cố định dưới dạng hợp chất làm mất độc tính Số ít dưới

Trang 21

các phản ứng sinh hóa trong cơ thể thực vật sẽ chuyển thành dạng bay hơi, sau đó thoát

ra ngoài khí khổng

(Nguồn: Stephanie Bishop (2012) The phytoremediation process.)

Bảng 1.2: Cơ chế thực vật loại bỏ chất ô nhiễm

a Mục đích của quá trình xử lý nước thải bằng thực vật

- Ổn định chất thải

- Loại bỏ dinh dưỡng trong nước thải

- Thu hồi dinh dưỡng vào sinh khối

- Thu hồi sinh khối thực vật sử dụng cho mục đích khác

b Một số công nghệ của phương pháp Phytoremediation

 Công nghệ chuyển dạng chất ô nhiễm (Phyto-transformation)

Đối với công nghệ Phyto-transformation, các chất hữu cơ gây ô nhiễm bị phân hủy bởi các quá trình trao đổi chất của thực vật Trong quá trình trao đổi chất, các hợp chất hữu cơ bị thủy phân thành các đơn vị nhỏ hơn có thể hấp thụ bởi thực vật, sau đó bị phá

vỡ bởi các enzyme có trong thực vật Cuối cùng, các phân tử ô nhiễm trở thành các chất

chuyển hóa cần cho sự phát triển sinh khối thực vật (Erakhrumen (2007) Destruction

of Organic Contaminants by Phyotodegradation.)

Trang 22

 Công nghệ xử lý bằng vùng rễ (Rhizosphere Bioremediation)

Ở vùng rễ của thực vật tiết ra những hợp chất hữu cơ như đường, amino acids, acid béo, enzyme,… là nguồn dinh dưỡng cho hệ VSV phát triển Mà các chất hữu cơ gây ô nhiễm sẽ được xử lý sinh học thông qua quá trình phân hủy bởi các hệ VSV này

(Shraddha Chauhan et al (2015) Phytoextraction Bhopal)

 Công nghệ cố định chất ô nhiễm (Phyto-stabilization)

Tác nhân ô nhiễm sẽ được hấp phụ trên bề mặt rễ thực vật hoặc cố định lại trong vùng

rễ, đồng thời hệ rễ của thực vật ngăn cản sự lan rộng của các chất gây ô nhiễm dưới tác dụng của gió, xói mòn do nước Đặc biệt, công nghệ Phyto-stabilization có thể ngăn ngừa khả năng lây lan thông qua chuỗi thức ăn Vì trong biện pháp này, cây sẽ không tích lũy chất ô nhiễm, cũng không sử dụng chất ô nhiễm làm nguồn dinh dưỡng mà đơn

thuần chỉ cố định nó (Shraddha Chauhan et al (2015) Phytostabilization Bhopal)

 Công nghệ chiết đất (Phyto-extraction)

Công nghệ chiết đất (Phyto-extraction) sử dụng thực vật để hấp thụ các chất ô nhiễm

từ môi trường và tích lũy chúng trong các tế bào thân và lá cây Sau đó, sinh khối thực vật sẽ được thu hoạch và xử lý phù hợp

Phyto-extraction có thể ứng dụng đối với tác nhân gây ô nhiễm là kim loại như: Pb,

Zn, Cu, As, Hg, Ag, Ni,… Môi trường ô nhiễm sẽ được phân chia dựa vào tác nhân gây

ô nhiễm là kim loại gì từ đó phân loại ra được loại cây trồng phù hợp nhằm nâng cao hiệu suất xử lý.Trong một số trường hợp, ta có thể ứng dụng để tái chế kim loại

(Shraddha Chauhan et al (2015) Phytostabilization Bhopal)

Cây được ứng dụng trong công nghệ Rhizo-filtration phải được chọn lọc qua quá trình thích nghi dần với chất ô nhiễm

Trang 23

Rhizo-filtration là khái niệm tương tự Phyto-extraction nhưng có liên quan với việc khắc phục hậu quả của nước ngầm ô nhiễm hơn là khắc phục hậu quả của các loại đất

bị ô nhiễm (Shraddha Chauhan et al (2015) Phytostabilization Bhopal)

 Công nghệ bay hơi qua lá cây (Phyto-volatilization)

Đối với công nghệ Phyto-volatilization, các hợp chất hữu cơ được cây trồng hấp thu Sau đó dưới tác động của các phản ứng sinh hóa trong cơ thể thực vật, chất ô nhiễm này

trở thành các hợp chất hữu cơ bay hơi và thoát ra ngoài qua khí khổng của lá (Shraddha

Chauhan et al (2015) Phytostabilization Bhopal)

c Ưu và khuyết điểm

Theo Nguyễn Đức Lượng và Nguyễn Thị Thùy Dương (2003), các ưu và khuyết điểm của Phytoremediation có thể được tóm gọn thành bảng 1.3 dưới đây:

Trang 24

Bảng 1.3: Ưu nhược điểm của công nghệ Phytoremediation

Có tính ưu việt hơn hẳn so với phương

pháp hóa – lý: không làm ảnh hưởng xấu

tới hoạt tính sinh học của nước; tiến

hành ngay tại nơi ô nhiễm; giảm thiểu

được mức độ xáo trộn nước; giảm mức

độ phát tán ô nhiễm thông qua không khí

và dòng chảy

Xử lý ô nhiễm nước bằng TVTS chậm hơn phương pháp hóa lý

Hiệu quả xử lý chậm nhưng ổn định đối

với các loại nước thải có nồng độ COD,

nhu cầu Oxy sinh hóa 5 ngày (BOD5)

thấp, không có độc tố

Chỉ xử lý được cho nước thải có nồng độ chất ô nhiễm thấp, ít kim loại nặng

Sử dụng thực vật xử lý nước trong nhiều

trường hợp không cần cung tầng năng

lượng, do vậy có thể ứng dụng ở những

vùng hạn chế năng lượng

Tốn nhiều diện tích đất, phải có đủ ánh sáng để thực vật tiến hành quang hợp

Sinh khối tạo ra sau quá trình xử lý được

sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau:

làm nguyên liệu cho thủ công mỹ nghệ,

làm thực phẩm cho người và gia súc,

nguồn nhiên liệu sinh học (củi đun, khí

CH4 ), tro của chúng có thể là nguồn

nguyên liệu cung tầng các khoáng chất

và có thể bổ sung vào phân bón

TVTS dùng để xử lý các chất ô nhiễm thường bị giới hạn về chiều dài rễ Do

đó, khi sử dụng TVTS để xử lý ô nhiễm

ở thuỷ vực có độ sâu quá lớn là không phù hợp

Có tính thân thiện cao với môi trường

Chi phí xử lý không cao Quá trình xử lý

không đòi hỏi công nghệ phức tạp

Khả năng sinh trưởng và phát triển của các loài TVTS phụ thuộc nhiều vào các yếu tố vật lý và hóa học của môi trường như: pH, độ mặn, nồng độ chất ô nhiễm

và sự hiện diện của các chất độc

Những nhược điểm của công nghệ Phytoremediation hoàn toàn có thể được khắc phục nếu kết hợp với một công nghệ khác cũng như nếu sử dụng loại thực vật và nguồn nước thích hợp Phần tiếp theo sẽ nói rõ hơn về công nghệ kết hợp mà luận văn hướng tới, cũng như loại cỏ phù hợp

Trang 25

3 Kỹ thuật xử lý bằng trồng cây trên đất ngập nước

Đất ngập nước kiến tạo (ĐNNKT) là những bãi đất được quy hoạch sẵn, phân thành từng thửa và từng ô Người ta có thể thay thế đất trong các ô, thửa này bằng các vật liệu

có khả năng lọc và hấp phụ chất bẩn cao như cát, sỏi, đá dăm,…Các hệ thống phân phối

và thu nước được bố trí phù hợp với khả năng thấm lọc của từng vật liệu lọc cũng như diện tích ô, thửa (Trần Đức Hạ, 2002)

Có 2 kiểu phân loại đất ngập nước kiến tạo cơ bản theo hình thức chảy: Loại chảy tự

do trên mặt đất (free surface slow) và loại chạy ngầm trong đất (sudsurface slow)

- Loại chảy tự do thì ít tốn kém và tạo sự điều hòa nhiệt độ khu vực cao hơn loại chảy ngầm, nhưng hiệu quả xử lý kém hơn, tốn diện tích đất nhiều hơn và có thể phải giải quyết thêm vấn đề muỗi và côn trùng phát triển

- Loại chảy ngầm lại phân ra làm 2 loại: chảy ngang và chảy thẳng đứng Việc lựa chọn kiểu hình tùy thuộc vào địa hình và năng lượng máy bơm, đôi khi phối hợp

cả hai

a Cơ chế loại bỏ chất ô nhiễm của ĐNNKT

- Chất rắn lơ lửng: Chất rắn lơ lững trong nước thường bao gồm các loại chất ô nhiễm như rác vụn, bùn cát, các chất dinh dưỡng, các kim loại nặng và các phức chất hữu cơ ĐNN có khả năng rất cao trong việc loại bỏ một cách hiệu quả chất rắn lơ lững khi dòng nước thải đi qua vùng đất nền của khu ĐNNKT chảy ngầm theo phương ngang hoặc phương đứng Việc loại bỏ và lưu giữ chất rắn lơ lững của hệ thống ĐNNKT chảy ngầm theo phương ngang diễn ra bằng nhiều cơ chế khác nhau như lắng, phân hủy sinh học, sự hút bám, chuyển động Brown, khuếch tán lực Van der Waals và các lực điện khác (Vymazal, 2003 trích dẫn từ Sapkota

và Bavor, 1992)

- Chất hữu cơ: Các hợp chất hữu cơ được phân hủy bởi quá trình sinh học hiếu khí

và kỵ khí do các vi sinh vật bám vào các bộ phận của thực vật bên dưới mặt đất và trên vật liệu lọc Nhu cầu oxy cho quá trình phân hủy hiếu khí được cung cấp trực tiếp do oxy khuếch tán từ không khí hoặc oxy thoát ra từ vùng rễ và vùng thân rễ của thực vật thủy sinh

b Thực vật đất ngập nước:

Trang 26

Ngoài việc lựa chọn loại hình đất ngập nước nhân tạo để xử lý nước thải thì lựa chọn thực vật trồng trong đất ngập nước nhân tạo là một việc khá quan trọng Nó quyết định thành công của hệ thống xử lý nước

Ở Việt Nam, một đất nước có khí hậu cận nhiệt đới với rất nhiều sông hồ và cả những

hệ sinh thái ngập nước phong phú, đa dạng về số lượng lẫn chủng loại Đặc biệt, có một

số loài thực vật ngập nước có thể tồn tại và phát triển được ở nhiều điều kiện môi trường khắc nghiệt

Nhìn chung, thực vật đất ngập nước được chia thành ba loại như sau: thực vật trôi nổi

tự do (Floating), thực vật chìm trong nước (Submerged), thực vật ngập nước có thân nhô lên trên mặt nước (Emergent)

c Tiêu chuẩn để lựa chọn thực vật xử lý ô nhiễm nước

Để đạt hiệu quả cao trong xử lý ô nhiễm, các loài thực vật được lựa chọn phải đáp ứng những tiêu chí sau (Vũ Thị Phương Thảo, 2017):

- Có khả năng chống chịu với nồng độ chất ô nhiễm cao

- Có khả năng hấp thụ nhanh các chất ô nhiễm từ môi trường nước

- Có khả năng tích lũy các chất ô nhiễm trong cơ thể cao

- Có khả năng vận chuyển các chất ô nhiễm từ rễ lên thân và lá

- Có thể chịu đựng được điều kiện môi trường nghèo dinh dưỡng hoặc phú dưỡng

- Có khả năng sinh trưởng nhanh và cho sinh khối lớn

- Không trở thành loài xâm lấn hay cỏ dại gây hại cho môi trường và các sinh vật khác, dễ kiểm soát về giống, về khả năng lây lan, phát triển trong hệ sinh thái

Trang 27

b Đặc điểm sinh lý

- Cỏ Vetiver chịu được những biến đổi lớn về khí hậu như hạn hán, ngập úng và khoảng dao động nhiệt độ rất rộng, từ -22 oC đến 55 oC

Trang 28

- Chống chịu khá tốt đối với các loại thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ v.v

- Có khả năng hấp thụ rất cao các chất hòa tan trong nước như Nitơ (N), Phốtpho (P) và các nguyên tố kim loại nặng có trong nước bị ô nhiễm

- Nó có thể mọc tốt trên nhiều loại đất như đất chua, đất kiềm, đất mặn và đất chứa nhiều Na, Mg, Al, Mn hoặc các kim loại nặng như As, Cd, Cr, Ni, Pb, Hg và Zn

c Đặc điểm sinh thái

Là giống cỏ điển hình của miền nhiệt đới, mặc dù có những khả năng độc đáo nêu trên, cỏ Vetiver không chịu được bóng râm Bóng râm làm giảm khả năng sinh trưởng

và phát triển của cỏ, thậm chí có thể làm cho nó lụi đi Vì vậy, tốt nhất là nên trồng cỏ Vetiver ở nơi đất trống, không bị các loài cây cỏ khác che phủ, thậm chí khi mới trồng

có thể cần phải trừ cỏ dại Khi trồng ở những nơi nền đất không ổn định, dễ bị sạt lở, xói mòn, cỏ Vetiver trước hết giúp hạn chế được sạt lở, xói mòn, tiến tới ổn định nền đất (đặc biệt là nơi đất dốc), tiếp đó giúp cải thiện điều kiện môi trường, vi khí hậu, để sau đó có thể trồng được những loài cây khác mà ta muốn Với những đặc điểm như vậy, có thể coi Vetiver như là giống cây tiên phong ở những vùng đất xấu

d Đặc tính về sinh lý học

Vetiver thuộc nhóm thực vật C4, sử dụng CO2 hiệu quả hơn theo con đường quang hợp bình thường Điều lưu ý là hầu hết thực vật C4 chuyển hóa CO2 thành đường lại sử dụng rất ít nước, đây là một yếu tố giúp cây phát triển trong điều kiện khô hạn (Lê Việt Dũng và Trương Thị Bích Vân, 2016)

Cỏ Vetiver không mẫn cảm với giai đoạn sáng, vẫn sinh trưởng và ra hoa quanh năm trong điều kiện nhiệt độ cho phép, cây cỏ này thích hợp nhất dưới ánh sáng, không chịu được bóng râm, nhưng một khi đã sống được trong bóng râm thì lại có thể tồn tại tới hàng chục năm Nó có thể chịu được điều kiện ít sáng trong rừng cây cao su hoặc trong các khu rừng nhiệt đới (Lê Việt Dũng và Trương Thị Bích Vân, 2016)

Trang 29

Hạt cỏ Vetiver ở trong điều kiện bình thường thì các hạt trưởng thành dần dần phát tán và hạt chỉ có thể nảy mầm khi gặp điều kiện tối thích (vùng đầm lầy nhiệt đới) nhưng sức sống kém Hạt cỏ Vetiver rất nhạy cảm với các yếu tố môi trường do vậy rất dễ mất sức sống, tỷ lệ nảy mầm thấp Chính vì đặc điểm này mà chúng ta không cần lo ngại hạt

cỏ sẽ phát tán và trở thành cỏ dại (Lê Việt Dũng và Trương Thị Bích Vân, 2016)

Cụm hoa: Trong họ Poaceae thì cụm hoa là đặc điểm nhận biết quan trọng Riêng đối với cỏ Vetiver thì lại dễ có sự nhầm lẫn, nhất là về chiều dài, rộng và màu sắc hoa

Hoa cỏ Vetiver là hoa lưỡng tính, thường đi thành từng cặp, mỗi cặp giống nhau về hình thức gồm một hoa có một cuống ngắn và một hoa không cuống, riêng phần cuối của cuống thì các hoa chụm ba Hoa không có cuống lưỡng tính, phẳng theo chiều ngang,

có gai ngắn và sắc Mỗi hoa có hai nhụy cái, hai đầu nhụy cái như lông vũ, thường bị thoái hóa hoặc không bình thường Hoa có hình nón, thuôn dài, oval, đỉnh hình nêm, rộng 1,5-2,5mm, dài 2,5-3,5mm Mặt phía trên thô, có gai nhỏ, mặt dưới nhẵn (Lê Việt Dũng và Trương Thị Bích Vân, 2016)

e Hệ vi sinh vật trên cây

Đất đai ở vùng khí hậu nhiệt đới phần lớn là đất có nguồn gốc từ lớp đá mẹ cổ, nghèo dinh dưỡng, đặc biệt là hàm lượng đạm và lân rất thấp, đất bị acid hóa hoặc bị ngộ độc nhưng cỏ Vetiver vẫn tồn tại và phát triển bình thường mà không cần phải bổ sung thêm

N hay P Các vi sinh vật xâm nhập vào mặt trên rễ, tạo thành những đường dẫn truyền dinh dưỡng nối đất và cây, rễ tiết ra polysaccharide là chất hữu cơ hòa tan giúp cho sự chuyển hóa sinh học của đất và sự thích nghi của cây Vi sinh vật gắn liền với rễ cỏ Vetiver là các vi khuẩn cố định đạm, vi khuẩn hòa tan, các nấm rễ và các vi khuẩn phân giải cellulose…, sản xuất chất dinh dưỡng cho sự sinh trưởng phát triển và thúc đẩy các hormones sinh trưởng thực vật tác động trực tiếp lên Vetiver

Vi khuẩn cố định đạm: Hiện diện ở bề mặt rễ, trong các gian bào hoặc trong các tế bào rễ đã chết, nó có vai trò quan trọng trong việc cung cấp đạm cho cỏ Vetiver, sản xuất enzyme chuyển hóa N tự do thành N sinh học dưới dạng N-amonia cho cây hấp thu

Trang 30

Vi khuẩn điều hòa sự sinh trưởng cây: Chất điều hòa sinh trưởng là những chất hữu

cơ ảnh hưởng đến quá trình sinh lý của cây trồng ở nồng độ rất thấp, chất điều hòa sinh trưởng cũng bao gồm những chất chuyển hóa từ vi khuẩn Nhiều hormone thực vật được sản xuất từ các vi khuẩn cố định đạm như: Azotobacter, Azospillum, Bacilus và pseudomonas góp phần thúc đẩy sự phát triển và sự tái sinh của bộ rễ, đồng thời giúp cho cây kháng được bệnh hại

Vi khuẩn hòa tan lân: Một số vi khuẩn đất, đặc biệt là vi khuẩn thuộc họ Bacilus và Pseudomonas có khả năng chuyển hóa lân không hòa tan trong đất thành dạng hòa tan bằng cách chiết ra acid hữu cơ như acid formic, propionic, lactic, glycolic, fumaric, succinic Các acid này làm giảm pH và thúc đẩy sự phân giải phosphate Đất ở vùng nhiệt đới thường nghèo lân, do vậy mà các vi khuẩn này có vai trò rất quan trọng đối với sự sinh trưởng và phát triển của cỏ Vetiver

f Khả năng trở thành cỏ dại

Một yêu cầu thiết yếu là mọi giống cây cỏ sử dụng trong công nghệ sinh học đều không trở thành cỏ dại, gây hại cho môi trường Vetiver là giống cỏ không tham lam, không xâm hại đến các cây cỏ khác Nó không có thân bò ngang, cũng không có thân rễ

mà chỉ phát triển bằng cách sinh sản vô tính từ rễ, do vậy nó hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu nêu trên Cỏ Vetiver đã được du nhập vào đảo Fiji từ hơn 100 năm nay, được

sử dụng để giữ đất và nước từ hơn 50 năm nay và nó cũng không trở thành cỏ dại ở môi trường mới này Khi cần thiết, có thể trừ cỏ Vetiver bằng cách phun Glyphosate hoặc đào rễ lên và phơi khô

B Cơ sở thực tiễn

1 Tổng quan về khu vực lấy mẫu

a Tổng quan về hệ thống kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè

Trang 31

mức độ chuyển tải các chất thải ra sông Sài Gòn rất kém (Vũ Nhật Tân (2013), Lịch sử

kênh Nhiêu Lộc Thị Nghè, Tạp chí khoa học xã hội số 3(175)-2013, tr.62-66)

Hình 1.2 Ảnh chụp hệ thống kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè từ vệ tinh

Trong suốt quá trình phát triển của Thành phố, hệ thống kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè

đã từng (và vẫn tiếp tục) là nguồn tiếp nhận chất thải nói chung của các hoạt động dân sinh, dịch vụ, thương mại, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp trên lưu vực Thế nhưng tất cả các chất thải đó đến nay hầu như vẫn chưa được xử lý mà thải trực tiếp vào kênh rạch gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Hơn nữa nạn lấn chiếm lòng kênh rạch để xây cất nhà ở (hệ quả của quá trình đô thị hóa và phát triển dân số thiếu quy hoạch) của hàng vạn căn nhà ổ chuột trên hệ thống rạch này hằng ngày đã thải trực tiếp các loại như phân, rác, xác súc vật xuống mặt nước càng làm tăng thêm mức độ ô nhiễm nguồn nước, thu hẹp dòng chảy gây bí tắt các dòng chảy và làm mất vẻ mỹ quan

đô thị Ngoài ra do một số yếu tố khách quan, hệ thống kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè còn chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đê của biển Đông, nên khi nước lớn

Trang 32

nước thải trên kênh rạch chưa kịp thoát ra sông Sài Gòn đã bị thủy triều dồn ứ đọng vào sâu trong rạch và trong đường cống, tạo điều kiện thuận lợi cho sự tích tụ các chất ô

nhiễm và bồi lắng lòng kênh rạch, gây khó khăn cho việc thoát nước của hệ thống này(Vũ

Nhật Tân (2013), Lịch sử kênh Nhiêu Lộc Thị Nghè, Tạp chí khoa học xã hội số

3(175)-2013, tr.62-66)

Ngoài tuyến kênh chính, hệ thống kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè còn có các rạch nhánh:

- Rạch Văn Thánh: dài 2200m, nằm trên địa bàn quận Bình Thạnh Trước đây có khả năng lưu thông thủy, nay đã bị bồi lấp nhiều, mất dần khả năng lưu thông thủy

và thoát nước

- Rạch Cầu Sơn – Cầu Bông: dài 3950m, cũng nằm trên địa bàn quận Bình Thạnh

và ăn thông với rạch Văn Thánh

- Rạch Bùi Hữu Nghĩa: là một rạch nhỏ chạy dọc theo đường Bùi Hữu Nghĩa, thuộc địa bàn quận Bình Thạnh

- Rạch Phan Văn Hân: nằm trên địa bàn quận Bình Thạnh, nay đã bị lấp gần kín

- Rạch Ông Tiêu: thuộc khu quy hoạch Miếu Nổi, thuộc địa bàn quận Phú Nhuận

- Rạch Miếu Nổi: thuộc khu quy hoạch Miếu Nổi, thuộc địa bàn quận Phú Nhuận

- Rạch Bùng Binh

 Hiện trạng chất lượng nước

Thành phố đã bỏ ra hàng nghìn tỷ đồng cải tạo tuyến kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè, nguồn nước thời gian qua có cải thiện nhưng không đáng kể, tình trạng tái ô nhiễm vẫn thường xuyên diễn ra

Bắt đầu thực hiện cải tạo từ năm 1993, sau hơn 20 năm ròng dòng kênh bẩn này đã trở thành một trong những công trình nổi bật được báo nhà nước ca ngợi Tuy nhiên niềm tự hào không kéo dài được bao lâu Chỉ trong một thời gian ngắn kênh này đã bốc mùi hôi thối trở lại, mặc dù UBND thành phố đã có nhiều chương trình tổ chức để cải tạo môi trường nước như thả một số lượng lớn cá xuống kênh

Theo một thống kê, mỗi ngày kênh Nhiêu Lộc phải hứng chịu khoảng bốn đến năm tấn rác thải, chủ yếu là từ rác sinh hoạt Ông Nguyễn Minh Hoàng, Phó giám đốc Công

Trang 33

b Tổng quan về rạch Văn Thánh

 Thông tin, vị trí địa lý

Rạch Văn Thánh là một rạch nhánh thuộc hệ thống kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè chảy trong khu vực Quận Bình Thạnh (TP.HCM) một đầu nối với rạch Cầu Sơn, một đầu nối với rạch Thị Nghè, dài 2.352m, rộng 45m

Hình 1.3 Hình ảnh rạch Văn Thánh nhìn từ vệ tinh

Như nhiều kênh rạch khác ở TP.HCM, rạch Văn Thánh vừa bị ô nhiễm, vừa bị lấn chiếm làm cho dòng chảy hẹp Hiện nay, trên một khúc rạch Văn Thánh gần sông Sài Gòn, người ta đang xây dựng cầu dành cho tuyến metro Bến Thành - Suối Tiên

Trước đây, rạch có khả năng lưu thông thuỷ, nay đã bị bồi lấp nhiều, mất dần khả năng giao thông thuỷ và khả năng thoát nước Hơn thế nữa, nạn lấn chiếm lòng kênh rạch để xây cất nhà ở (hệ quả của quá trình đô thị hoá và phát triển dân số thiếu quy hoạch) của hàng vạn căn nhà ổ chuột trên hệ thống này hằng ngày đã thải trực tiếp các loại rác như phân, rác, xác súc vật xuống mặt nước càng làm tăng thêm mức độ ô nhiễm

Trang 34

nguồn nước, thu hẹp dòng chảy gây bít tắc dòng chảy và làm mất vẻ mỹ quan đô thị một cách trầm trọng

Hình 1.4 Các căn nhà dọc rạch Văn Thánh

 Hiện trạng chất lượng nước

Bảng 1.4: Kết quả phân tích chất lượng nước mặt kênh Văn Thánh ngày

Trang 35

Cụ thể tổng P vượt gần 8 lần và amoni NH4+ gần 7 lần chuẩn B1 (chuẩn thấp nhất, dành cho các hoạt động giao thông hay mục đích cơ bản)

Vì vậy cần có một biện pháp lâu dài cho nhằm hỗ trợ cải hiện chất lượng nước con rạch này

2 Ứng dụng của công nghệ Phytoremediation

Để giải quyết vấn đề kiểm soát và xử lý nước thải chăn nuôi lợn, các tác giả kết hợp các phương pháp xử lý nước thải chăn nuôi với công nghệ Phytoremediation trong đề

tài “Nghiên cứu phối hợp sử dụng bèo tây và sậy để xử lý COD, Nitơ và Phôtpho trong nước thải chăn nuôi lợn sau công nghệ Biogas” Công nghệ sinh thái sử dụng TVTS

Bèo tây, Sậy, Lục bình,… và đạt được nhiều ưu điểm so với hệ thống xử lý nước thải thông thường Đây là lần đầu tiên thử nghiệm sử dụng phối hợp Bèo tây và Sậy để xử

lý COD, TN, TP của nước thải chăn nuôi lợn sau công nghệ biogas thực hiện tại Việt Nam (Nguyêt, et al., 2009)

Ở Hàm Tân (Bình Thuận), Nhơn Trạch (Đồng Nai), Đồng Tháp hay vùng Tứ giác Long Xuyên, Cỏ nến mọc hoang như thể cây sậy, với chiều cao ít khi vượt quá 2m, và bộ hoa đặc trưng hình nến mà ngành đông y khai thác dưới tên vị thuốc Hương bồ Thân ngầm cùng bộ rễ của loài cây này phát triển rất mạnh, nhất là ở nơi thường xuyên nước ngập lưu thông (Phương, 2009)

Đề tài Luận án “Nghiên cứu thực nghiệm, đánh giá vai trò của một số loài thực vật thủy sinh và đề xuất giải pháp sinh học nhằm cải thiện chất lượng môi trường nước sông Nhuệ” của Vũ Thị Phương Thảo (2017) đã tập trung nghiên cứu, đánh giá vai trò

cụ thể của một số loài TVTS có ưu thế vượt trội trong việc hấp thụ các chất ô nhiễm có trong sông làm sạch nước, là một nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn và là cơ sở khoa học cho việc xây dựng giải pháp sinh học nhằm giảm thiểu, khống chế mức độ gia tăng ô

Trang 36

nhiễm để bảo vệ hiệu quả nguồn nước, bảo vệ môi trường và cảnh quan thiên nhiên lưu vực sông Nhuệ Đề tài sử dụng mô hình đất ngập nước với dòng chảy bề mặt Ba loài thuỷ trúc, rau muống, ngổ trâu có khả năng hấp thụ các chất ô nhiễm có hàm lượng cao

TN, TP, Fe, Zn trong nước sông Nhuệ Cụ thể thuỷ trúc đã hấp thụ từ 23,8 ÷32,8 %TN, 30,4 ÷33,6% TP, rau muống hấp thụ 21,0 ÷27% TN, 23,9 ÷30,4 TP, ngổ trâu hấp thụ từ 1,8 ÷32,1%TN, 1,8 ÷29,3%TP Quá trình tự làm sạch của nước ở các bể đối chứng đạt hiệu quả thấp so với các bể thí nghiệm trồng thuỷ trúc, rau muống và ngổ trâu Sau 14 ngày TNG, chỉ 31÷ 35% TSS ở các bể đối chứng giảm so với 75 ÷ 93% ở các bể trồng thuỷ trúc, 77,7 ÷91% ở các bể trồng rau muống; 64 ÷97% ở các bể trồng ngổ trâu Như vậy tại thời điểm cuối thí nghiệm, ở các bể có trồng thực vật, chất lượng nước sông Nhuệ hầu hết đạt được tiêu chuẩn nước tưới tiêu thuỷ lợi của Bộ Tài nguyên và Môi trường (BTNMT) (QCVN 08:MT/BTNMT/2015)

3 Ứng dụng của công nghệ đất ngập nước kiến tạo (CW)

Ở nước ta, công nghệ này còn là rất mới mẻ Tuy nhiên việc sử dụng các hệ thống tự nhiên nói chung và hệ thống đất ngập nước nhân tạo nói riêng đã bắt đầuđược sử dụng, như hệ thống đất ngập nước để xử lý nước thải cho nhà máy chế biến cà phê ở Khe Sanh,

hệ thống đất ngập nước ở Thành phố Việt Trì Các đề tài nghiên cứu mới đây nhất về áp

dụng phương pháp này tại Việt Nam như "Xử lý nước thải sinh hoạt bằng bãi lọc ngầm trồng cây dòng chảy thẳng đứng trong điều kiện Việt Nam" của Trung tâm Kỹ thuật Môi trường đô thị và khu công nghiệp(Trường Đại học Xây dựng Hà Nội); "Xây dựng

mô hình hệ thống đất ngập nước nhân tạo để xử lý nước thải sinh hoạt tại các xã Minh Nông, Bến Gót, Việt Trì" của Trường Đại học Quốc gia Hà Nội đã cho thấy

hoàn toàn có thể áp dụng phương pháp này trong điều kiện của Việt Nam Theo Gs.TSKH Nguyễn Nghĩa Thìn (Bộ môn Thực vật, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên

- Đại học Quốc gia Hà Nội) thì Việt Nam có đến 34 loại cây có thể sử dụng để làm sạch môi trường nước Các loài cây này hoàn toàn dễ kiếm tìm ngoài tự nhiên và chúng cũng

Trang 37

thủy lực tối ưu để tìm kiếm những loại vật liệu lọc thích hợp, làm tăng hiệu quả của baixlojc ngầm Nghiên cứu được tiến hành trên 8 loại vật liệu lọc, 7 công thức với 3 mức tải trọng thủy lực khác nhau, chia thành 2 thí nghiệ Kết quarnghieen cứu cho thấy:

độ dẫn thủy phụ thuộc vào loại vật liệu lọc và sự kết hợp giữa các loại vật liệu với nhau Các hạt càng nhỏ, độ nhám càng lớn thì có độ dẫn thủy lực càng nhỏ và ngược lại Công thức có khả năng xử lý chất thải tốt nhất là Sỏi to + đá nhỏ + nền và tải trọng tối ưu được xác định là 40l/ngày

Trường Đại học Cần Thơ đã tiến hành các khảo sát khả năng xử lý nước thải sinh hoạt và nước thải từ các ao nuôi cá nước ngọt bằng biện pháp đất ngập nước kiến tạo kiểu chạy ngầm nằm ngang từ năm 2003 đến nay Các nghiên cứu thực nghiệm đã được tiến hành trong khuôn viên trường và thực địa với sự hợp tác của nông dân ở Cần Thơ Kết quả cho thấy, đây là một triển vọng khả thi cho việc xử lý nước thải ở vùng ĐBSCL

Các nhà khoa học thuộc Khoa Môi trường, Trường Đại học Bách khoa TP Hồ Chí Minh đã nghiên cứu ứng dụng đất ngập nước kiến tạo dòng chảy ngầm để xử lý các chất

ô nhiễm và dư lượng kháng sinh chloramphenicol tồn tại trong nước thải các ao nuôi thủy sản khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Kết quả nghiên cứu cho thấy, giải pháp ứng dụng đất ngập nước kiến tạo xử lý tái sử dụng cho nuôi trồng thủy sản là khả thi Ở các tải trọng thích hợp, chloramphenicol và các chất ô nhiễm giảm 50% COD, 85% độ đục, 68% độ màu, 38% T-P, 43% T-N, gần 90% cặn lơ lửng và 40% CAP Nước thải sau khi qua mô hình đạt yêu cầu về chất lượng nước nuôi trồng thủy sản (TCVN 5943-

1995 và TCVN 5942-1995 loại A), có thể sử dụng tái sinh cho các ao nuôi

4 Nghiên cứu ứng dụng trồng cỏ vetiver trong xử lý nước thải

a Các nghiên cứu trên thế giới

Năm 1996, Cỏ Vetiver lần đầu tiên được đưa vào nghiên cứu thử nghiệm để xử lý nguồn chất thải từ các nhà vệ sinh ở Úc Kết quả cho thấy, trồng khoảng 100 khóm cỏ Vetiver trên một diện tích dưới 50 m2 có thể đủ để tiêu giải hết lượng nước thải từ một khu vệ sinh công cộng trong một công viên Sau đó, cỏ Vetiver cũng đã được ứng dụng thành công trong việc làm giảm ô nhiễm nước rò rỉ từ bãi rác, cải thiện chất lượng nước mặt xung quanh các bãi rác ở Cleveland, Úc (Truong et al., 1996)

Trang 38

Năm 1997, nhóm môi trường thuộc Viện Khoa học Đất của Trường Đại học Nam Kinh, Trung Quốc đã tiến hành thí nghiệm khả năng khử dinh dưỡng dư thừa trên hồ Taihu Kết quả cho thấy, cỏ Vetiver có khả năng làm giảm 99% nitơ (N) hòa tan sau ba tuần và 74% phốt pho (P) hòa tan sau năm tuần Bên cạnh đó, cứ mỗi ha được trồng, Vetiver sẽ hấp thụ 120 tấn đạm và 54 tấn phốt pho ra khỏi môi trường nước trong một năm Do khả năng hấp thụ N và P cao, cùng với với khả năng chịu đựng được nồng độ

ô nhiễm cao (COD = 2500 mg/l và N-NH4+ = 390 mg/l) nên cỏ Vetiver được sử dụng rộng rãi trong việc xử lý nước thải chăn nuôi ở Trung Quốc (Zheng Chun Rong et al., 1997)

Năm 1998, một số nghiên cứu ở Mỹ cho thấy, khi trồng cỏ Vetiver trên đất xốp rồi cho nước của ao nuôi cá hồi chảy qua bộ rễ theo kiểu thấm ngang (HFW - Horizontal Flow Wetland) hoặc thấm dọc (VFW - Vertical Flow Wetland) sẽ có khả năng loại bỏ 98% cặn lơ lửng (TSS), 72% COD toàn phần, 30% COD hòa tan, 80% đạm và phốt phát toàn phần và nghiên cứu này đã được ứng dụng để xử lý nước ở ao nuôi cá hồi ở Hoa

Kỳ (Steven et al., 1998)

Năm 2003, hệ thống cỏ Vetiver đã được đưa vào nghiên cứu sử dụng thành công để

xử lý nước thải từ vườn ươm cây và tại bãi chôn lấp rác Datianshan gần thành phố Quảng Châu, Trung Quốc Cỏ Vetiver được trồng trên các đê bao của bãi rác để kiểm soát xói mòn và rò rỉ Cỏ Vetiver không chỉ giúp ổn định đê bao của bãi rác một cách hiệu quả

mà còn làm giảm nồng độ của N-NH4+, N-NO3- và N tổng số Kết quả phân tích cho thấy, hiệu quả xử lý có sự khác biệt rõ rệt (khoảng 50%) giữa nước rỉ từ các đê bao của bãi rác có trồng cỏ Vetiver so với các khu vực khác không trồng cỏ (Liu et al., 2003)

Để đánh giá vai trò của cỏ Vetiver trong việc xử lý nước rỉ rác tại Likeng, thành phố Quảng Châu-Trung Quốc, một nhóm nghiên cứu đã sử dụng nước rỉ rác có hàm lượng

ô nhiễm COD = 10.963 mg/l, N-NH4+ = 1.909 mg/l để tiến hành thí nghiệm trồng cỏ Vetiver trong vùng đất ngập nước nhân tạo kết hợp với nhiều chất nền khác nhau (than thải, tro nhẹ, xỉ than, sỏi và đất) Kết quả của các thí nghiệm kéo dài trong 75 ngày cho thấy, cỏ Vetiver trồng ở đất ngập nước rất hiệu quả trong việc xử lý nước rỉ rác Hiệu quả loại bỏ chất ô nhiễm của đất ngập nước có trồng cỏ Vetiver cao hơn so với đất ngập nước không có cỏ Vetiver với các chỉ tiêu tương ứng lần lượt: COD là 9,09%; N- NH4+

Trang 39

Bảng 1.5 Chất lượng nước đầm lầy trước và sau khi xử lý bằng cỏ Vetiver

Các chỉ tiêu Nước thải chưa

qua xử lý (mg/l)

Kết quả năm 2003 (mg/l)

Kết quả năm 2004 (mg/l)

b Các nghiên cứu tại Việt Nam

Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Viết Trương từ lâu được biết đến là một trong những người đầu tiên nghiên cứu và giới thiệu những lợi ích của cây cỏ Vetiver này đến rộng rãi người dân Việt Nam qua nhiều hội thảo được tổ chức ở Hà Nội, Nghệ An và thành phố

Hồ Chí Minh từ năm 1999 Ông là người đã dành phần lớn thời gian nghiên cứu phát triển tiềm năng sử dụng cỏ Vetiver để giải quyết các vấn đề môi trường như: hấp thu các kim loại nặng có trong đất và nước; ứng dụng hệ thống cỏ Vetiver cho sự ổn định các bãi chôn lấp rác và xử lý nước thải rò rỉ từ bãi rác; giảm nhẹ và xử lý nước thải từ các hầm mỏ; xử lý nước thải từ các hộ gia đình, các nhà máy chế biến và bước đầu đã đạt được nhiều thành công tốt đẹp Từ năm 2003, cỏ Vetiver đã và đang được sử dụng để trồng thử nghiệm trong xử lý ô nhiễm đất và nước, xử lý nước thải, rác thải, bảo vệ môi trường ở một số địa phương như: Bắc Giang, Bắc Ninh, Thái Bình, Thừa Thiên-Huế,

Trang 40

đó, nhóm nghiên cứu còn tập trung vào khảo sát các đặc điểm hình thái, đặc tính sinh học của cỏ Vetiver để làm luận cứ khoa học xem xét mức độ an toàn sinh học đối với môi trường Kết quả nghiên cứu cho thấy, loài cỏ Vetiver này không có khả năng phát tán qua đường hạt để trở thành cỏ dại (Lê Việt Dũng và Trương Thị Bích Vân, 2016) Những kết quả thu được kể trên đã thu hút được sự quan tâm ngày càng tăng của cộng đồng trong việc giảm nhẹ thiên tai và các vấn đềliên quan đến tài nguyên nước và đất trong bối cảnh biến đổi khí hậu (BĐKH) đang ngày càng diễn biến phức tạp và khó lường hơn trước

Theo một nghiên cứu của Châu Minh Khôi và cộng sự (2012) về việc đánh giá khả năng giúp xử lý ô nhiễm đạm (N) và lân (P) hữu cơ hòa tan trong nước thải ao nuôi cá tra thâm canh bằng cỏ Vetiver đã cho thấy kết quả tích cực Sau một tháng trồng, nghiệm thức trồng cỏ vetiver trực tiếp trong nước được lấy từ các ao nuôi cá tra cho thấy hàm lượng N và P hữu cơ gần như giảm 100%

Một nghiên cứu khác của Nguyễn Văn Trường và cộng sự (2012) về khả năng sử dụng cỏ Vetiver để kiểm soát chất lượng môi trường nước nuôi tôm tại xã Tam Giang, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam đã cho thấy cỏ Vetiver có khả năng sinh trưởng tốt trong môi trường nước tại các ao nuôi tôm, đồng thời kiểm soát tốt chất lượng nước thông qua một số chỉ tiêu như DO, COD, N tổng, P-PO43- kể cả trong điều kiện thí nghiệm và thực địa

Một nghiên cứu khác được tiến hành tương tự để loại bỏ các chất dinh dưỡng (N, P) trong nước hồ Tịnh Tâm, Huế nhằm kiểm soát và hạn chế tình trạng phú dưỡng hóa thường xảy ra tại khu vực này Mô hình sử dụng cỏ Vetiver theo phương pháp thủy canh bằng cách kết các bụi cỏ thành các bè (sao cho hệ rễ ngập hoàn toàn trong nước) và thả

Ngày đăng: 23/01/2021, 23:24

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w