1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Quản lý nhà nước đối với đầu tư công của thành phố Hà Nội

15 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 307,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Công tác giải phóng mặt bằng gặp nhiều khó khăn vướng mắc: Chi phí đền bù giải phóng mặt bằng luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng mức đầu tư của dự án là một trong những nguy[r]

Trang 1

TÓM TẮT LUẬN VĂN

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài:

Trong thời gian qua, đã có nhiều nghiên cứu về lý thuyết cũng như thực tiễn đối với đầu tư công (ĐTC) nói chung ở các cấp độ khác nhau, cũng có những nghiên cứu chuyên sâu dưới dạng các đề án cụ thể để nhằm khắc phục những hạn chế kéo dài trong lĩnh vực ĐTC, trong đó có công tác quản lý nhà nước (QLNN) Để khắc phục những tồn tại và bất cập nêu trên thì công tác QLNN về ĐTC có một vai trò quan trọng trong việc quản lý đầu tư và xây dựng đối với các dự án đầu tư trên địa bàn thành phố Hà Nội Vì vậy, một loạt các Luật ra đời, Nghị định,Thông tư hướng dẫn Luật và các quyết định, văn bản ra đời triển khai nhằm hoàn thiện hơn nữa công tác quản lý và sử dụng vốn ĐTC; quy định quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động ĐTC Tuy nhiên, việc nghiên cứu có tính hệ thống, độc lập, khách quan đối với công tác QLNN đối với ĐTC chưa được chú trọng, nhất là trong phạm vi thành phố Hà Nội, một thành phố có tốc độ phát triển kinh, đô thị hóa nhanh và địa bàn rộng, nhu cầu đầu tư phát triển (trong đó ĐTC chiếm tỷ trọng khá lớn) là hoàn toàn cần thiết

Hiện nay, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về ĐTC còn thiếu chưa đồng bộ, thậm chí còn chồng chéo, mâu thuẫn lẫn nhau Việc quản lý đầu tư sử dụng vốn nhà nước được quy định rải rác trong các văn bản Luật: Ngân sách nhà nước 2003, Xây dựng 2003, Đầu tư 2005…, các Nghị định, Quyết định, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ và các Thông tư hướng dẫn của các bộ, ngành Trong các năm gần đây việc thực hiện Chỉ thị

số 1792/CT-TTg ngày 15 tháng 10 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ góp phần khắc phục một bước các tồn tại, hạn chế nêu trên Tuy nhiên, đây vẫn là các quy định dưới Luật và mới giải quyết được một số bức xúc trước mắt, chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới về ĐTC một cách toàn diện, có hệ thống Các văn bản quy phạm pháp luật này có quy định về quản lý đầu tư đối với nguồn vốn ĐTC; tuy nhiên chưa đầy đủ, thiếu cụ thể,

ví dụ như chưa có quy định về quy hoạch; trình tự thủ tục phê duyệt chủ trương đầu tư các chương trình, dự án; các quy định về thẩm định nguồn vốn đối với các chương trình,

Trang 2

dự án sử dụng vốn ĐTC; lập, thẩm định, phê duyệt kế hoạch đầu tư; triển khai thực hiện

kế hoạch; theo dõi, đánh giá, kiểm tra, thanh tra, giám sát kế hoạch đầu tư, cũng như các chương trình, dự án ĐTC

Trước tình hình thực tế cùng những hạn chế, tồn tại trong quản lý ĐTC hiện nay, đồng thời quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI), thực hiện tái cơ cấu đầu tư, mà trọng tâm là ĐTC; việc ban hành Luật ĐTC là hết sức cần thiết nhằm hoàn thiện quản lý sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của Nhà nước để hướng tới thực hiện mục tiêu đột phá xây dựng hạ tầng đồng bộ trong thời gian tới

Hà Nội là Thủ đô của cả nước, với quy mô dân số và diện tích lớn thứ hai cả nước,

có nhu cầu và khả năng ĐTC mà chủ yếu là ĐTXDCB hàng năm rất lớn và nguồn vốn này có vai trò rất quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội Thành phố Việc nghiên

cứu về đề tài luận văn: “Quản lý Nhà nước đối với đầu tư công của Thành phố Hà Nội” là hết sức cần thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn

2 Mục tiêu nghiên cứu:

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về ĐTC và QLNN đối với ĐTC nhằm mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững ở thành phố Hà Nội

- Phân tích thực trạng ĐTC nói chung, trọng tâm là Đầu tư XDCB bằng NSNN

của Thành phố Hà Nội, làm rõ hiệu quả và kết quả đầu tư trên các mặt thành tựu, hạn chế, nguyên nhân

- Đề xuất quan điểm, định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN về ĐTC của Thành phố Hà Nội đến năm 2020

3 Kết cấu luận văn:

Trang 3

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN

VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐẦU TƯ CÔNG

Trong nền kinh tế thị trường, quá trình vận động luôn mang tính hai mặt, mặt tích cực và mặt tiêu cực, mặt tích cực là chủ yếu Để phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường thì Nhà nước không thể ở bên ngoài và bên trên quá trình kinh tế mà phải ở bên trong quá trình kinh tế để điều tiết, quản lý vĩ mô quá trình kinh tế

Thứ nhất, thực hiện quản lý nhà nước đối với ĐTC nhằm đảm bảo tính hiệu lực và

hiệu quả kinh tế- xã hội trong đầu tư

Nhà nước với tư cách là một tổ chức quyền lực chính trị, thực hiện điều tiết và điều chỉnh đối với mọi hoạt động của xã hội, nhằm mục tiêu phát huy và khai thác triệt để những tiềm lực của đất nước để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Quá trình đó được thực hiện chủ yếu bằng pháp luật và các chính sách để quản lý và điều tiết các hoạt động, trong đó có các hoạt động ĐTC

Vai trò QLNN về đầu tư là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng mục tiêu vào quá trình đầu tư (bao gồm công tác chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và quản lý, vận hành kết quả đầu tư) và các yếu tố đầu tư, bằng một hệ thống đồng bộ các biện pháp kinh tế - xã hội và các biện pháp khác nhằm đạt được kết quả, hiệu quả đầu tư và hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất, trong điều kiện cụ thể xác định và trên cơ sở vận dụng sáng tạo những quy luật khách quan vào trong lĩnh vực ĐTC

Trong những năm qua, nguồn vốn đầu tư của Nhà nước nói riêng và của toàn xã hội nói chung ngày càng tăng, đã góp phần quan trọng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH, phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, tăng đáng kể năng lực sản xuất mới, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, tạo thêm việc làm mới, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Nguồn vốn ĐTC thực sự

có vai trò chủ đạo, dẫn dắt, thu hút và làm cho các nguồn vốn của xã hội được huy động cho đầu tư tăng hàng năm

Trang 4

Vai trò nhà nước về ĐTC trong những năm gần đây có một số tiến bộ rõ rệt, bước đầu phát huy hiệu quả trong việc khắc phục những yếu kém, tiêu cực trong quản

lý, góp phần từng bước hạn chế và giảm thiểu những vi phạm pháp luật trong ĐTC

Tuy nhiên, công tác quản lý ĐTC còn tồn tại nhiều vấn đề bức xúc như: quy hoạch, kế hoạch đầu tư chưa đồng bộ, chất lượng chưa cao; quy hoạch, kế hoạch theo ngành chưa gắn chặt với từng Vùng, từng địa phương; một số quyết định chủ trương đầu

tư thiếu chính xác; tình trạng đầu tư dàn trải diễn ra phổ biến thể hiện trong tất cả các khâu của quá trình đầu tư, từ chủ trương đầu tư quy hoạch, lập, thẩm định dự án, khảo sát thiết kế đến thực hiện đầu tư, đấu thầu, nghiệm thu, điều chỉnh tăng dự toán, thanh quyết toán và đưa chương trình, dự án vào khai thác sử dụng; nợ đọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản ở mức cao và có xu hướng ngày càng tăng Vì vậy, để đảm bảo tính hiệu lực, hiệu quả trong ĐTC đòi hỏi phải nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước

Thứ hai, thực hiện quản lý nhà nước đối với ĐTC nhằm đảm bảo tránh thất thoát lãng phí trong đầu tư

Thời gian qua, nguồn vốn ĐTC không ngừng được nâng cao Trên thực tế, việc quản lý và sử dụng vốn đầu tư công còn nhiều bất cập và hạn chế như: Cơ chế chính sách chưa đồng bộ, còn nhiều kẽ hở; công tác quản lý vốn đầu tư còn yếu kém điều đó dẫn

tới thất thoát vốn ở hầu hết các dự án Đây là vấn đề đang làm nhức nhối trong toàn xã

hội Vấn đề đặt ra là, làm thế nào để tránh thất thoát, tăng hiệu quả ĐTC? Thực hiện được

điều này trước hết phải nâng cao vai trò quản lý nhà nước đối với ĐTC

Như vậy, xuất phát từ thực trạng bất cập của vai trò quản lý nhà nước về ĐTC, nên việc nâng cao vai trò Nhà nước trong lĩnh vực này nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án đầu tư và chống thất thoát lãng phí là tất yếu khách quan và phù hợp với quy luật thực tiễn

Thứ ba, thực hiện quản lý nhà nước đối với ĐTC nhằm nâng cao chất lượng dịch

vụ công của nền kinh tế

Dịch vụ công là hàng hoá công cộng, tạo môi trường kinh doanh và môi trường xã hội cho doanh nghiệp và người dân trong nền kinh tế thị trường Một trong những vấn đề

Trang 5

có tính quy luật của sự hình thành và phát triển kinh tế thị trường là các dịch vụ công phải

đi trước một bước Là nguồn vốn đầu tư bằng vốn ngân sách nhà nước, nên vai trò của Nhà nước trong định hướng đầu tư vẫn là vô cùng quan trọng Mặt khác, các chủ đầu tư với mục đích tối đa hóa lợi nhuận nên trong quá trình đầu tư nếu không có sự quản lý và giám sát chặt chẽ của Nhà nước thì các yêu cầu về chất lượng dịch vụ rất khó được đảm bảo Vì vậy có lúc, có nơi, đối với các dự án đầu tư công vẫn rất cần đến vai trò định hướng, điều phối chung và kiểm tra, giám sát của Nhà nước Vai trò của Nhà nước cần thiết đối với tất cả các giai đoạn, bao gồm: trước, trong và sau đầu tư

Nội dung của quản lý nhà nước đối với ĐTC như sau:

(1) Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về ĐTC:

Việc ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về ĐTC là một trong những nội dung của QLNN về ĐTC, nó là công cụ của nhà nước nhằm tác động vào các đối tượng tham gia vào hoạt động ĐTC nhằm mục đích xây dựng và hoàn thiện

hệ thống kết cấu hạ tầng KTXH và cung ứng các dịch vụ công; tạo môi trường thực hiện thúc đẩy phát triển nền kinh tế, xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội và công bằng

xã hội, hiệu quả tiềm lực quốc phòng, an ninh

Tuy nhiên, do hệ thống pháp luật quản lý đầu tư công của nước ta còn chưa hoàn chỉnh và đồng bộ Để khắc phục các tồn tại và bất cập nêu trên, thì việc ban hành các văn bản quy phạm phải được quy định một cách thống nhất, dễ hiểu, dễ thực hiện và dễ đánh giá, kiểm tra, kiểm soát

(2) Xây dựng chiến lược, chương trình, kế hoạch, quy hoạch, giải pháp, chính sách đầu tư công

Việc xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chương trình, kế hoạch, quy hoạch, giải pháp, chính sách đầu tư là một công cụ nhằm định hướng, tổ chức và điều khiển các hoạt động kinh tế Đó là các chương trình, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội

và các biện pháp cụ thể để đạt mục tiêu trong từng thời kỳ do Nhà nước đặt ra Đặc điểm của kế hoạch hóa định hướng là Nhà nước đưa ra chương trình, mục tiêu phấn đấu cho

Trang 6

các ngành, địa phương, các giải pháp chung;

Sau khi xây dựng được chiến lược đầu tư hợp lý phải lập được qui hoạch đầu tư và dựa vào quy hoạch để lập kế hoạch vốn đầu tư nhằm xác định nhu cầu và khả năng đáp ứng vốn ĐTC trong từng thời kỳ nhất định và cho thời hạn xác định

(3) Phân cấp quản lý nhà nước đối với đầu tư công

Hiện nay, căn cứ vào cách phân chia đơn vị hành chính - lãnh thổ mà ở Việt Nam hình thành các cấp chính quyền: trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã Phân cấp quản lý nhà nước, trước hết được hiểu là phân cấp giữa trung ương với chính quyền cấp tỉnh; đồng thời, còn bao hàm cả phân cấp giữa các cấp chính quyền địa phương với nhau

Theo các văn kiện của Đảng, phân cấp được tiến hành theo hướng “phân cấp rõ hơn cho địa phương, kết hợp chặt chẽ quản lý ngành và quản lý lãnh thổ và trên cơ sở nguyên tắc “chính quyền trung ương quản lý tập trung một số lĩnh vực theo ngành dọc được xác định từ yêu cầu thực tế Đối với một số lĩnh vực khác, trung ương trực tiếp quản

lý một phần, còn một phần phân cấp cho địa phương quản lý” Cũng với tinh thần đó mà hiện nay, phân cấp được hiểu là việc chuyển giao nhiệm vụ, thẩm quyền từ cơ quan quản

lý nhà nước cấp trên xuống cơ quan quản lý cấp dưới nhằm đạt mục tiêu chung là nâng cao hiệu quả quản lý [9]

Việc chuyển giao nhiệm vụ, quyền hạn chỉ có thể được tiến hành một khi thẩm quyền và trách nhiệm của cấp chuyển giao và cấp được chuyển giao đã được xác định hết sức rõ ràng Vì vậy, bản thân khái niệm phân cấp phải hàm chứa trong đó nội dung phân định thẩm quyền của từng cấp hay nói một cách khác, phân định thẩm quyền là tiền đề cho việc chuyển giao nhiệm vụ, quyền hạn (hoặc rộng hơn nữa, điều chỉnh khối lượng nhiệm vụ, quyền hạn cho phù hợp với khả năng và điều kiện thực tế của mỗi cấp chính quyền)

(4) Quản lý công tác triển khai các dự án ĐTC

Thứ nhất, QLNN đối với các tổ chức tham gia hoạt động đầu tư

Hiệu quả vốn ĐTC trước hết phụ thuộc vào sự quản lý vĩ mô của Nhà nước, đồng

Trang 7

thời ở sự quản lý các hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể tham gia vào quá trình đầu tư Để quản lý các tổ chức tham gia xây dựng Nhà nước đề ra các điều kiện, tiêu chuẩn cho các cá nhân, tổ chức muốn được gia nhập thị trường phải đạt được những tiêu chuẩn nhất định Chỉ khi đáp ứng được các tiêu chuẩn đó, mới được cấp chứng chỉ giấy phép hành nghề và khi đó, hoạt động mới hợp pháp Thẩm quyền cấp phép là cơ quan kế hoạch đầu tư

- QLNN đối với chủ đầu tư (CĐT)

- QLNN đối với tổ chức tư vấn

- QLNN đối với Nhà thầu

Thứ hai, quản lý đối với quá trình triển khai thực hiện dự án

Để thực hiện một dự án đầu tư, CĐT có thể thuê các nhà thầu thực hiện các công việc như tư vấn lập dự án, thiết kế, giám sát chất lượng công trình, xây lắp, cung cấp máy móc, thiết bị cho dự án, kiểm toán Việc lựa chọn nhà thầu trong các dự án ĐTC được thực hiện thông qua các hình thức: đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế, chỉ định thầu

Trong triển khai các dự án, công tác tổ chức xây dựng tiến độ thi công xây dựng hợp lý là rất cần thiết để hạn chế nhất những lãng phí và kém hiệu qủa trong triển khai thực hiện Ở đây, một trong những yêu cầu là giải phóng mặt bằng của CĐT phải kịp thời

Như vậy, việc đánh giá QLNN trong khâu này cần chú ý đến những yêu cầu sau đây: (1) Công tác tổ chức xây dựng tiến độ thi công xây dựng có hợp lý không? (2) Công

tác giải phóng mặt bằng của CĐT có kịp thời không? QLNN đối với nghiệm thu, thẩm định chất lượng và bàn giao công trình

Thanh toán vốn ĐTC là việc CĐT trả tiền cho nhà thầu khi có khối lượng công việc hoàn thành Với nguyên tắc chung là kỳ hạn thanh toán càng ngắn mà đảm bảo có khối lượng hoàn thành nghiệm thu thì càng có lợi cho cả hai bên, vừa đảm bảo vốn cho nhà thầu

thi công vừa đảm bảo thúc đẩy tiến độ thi công công trình

Trang 8

Quyết toán vốn ĐTC của một dự án là tổng kết, tổng hợp các khoản thu, chi để làm rõ tình hình thực hiện một dự án ĐTC Để tránh thất thoát, lãng phí, tiêu cực trong quyết toán vốn ĐTC, các bên tham gia cần phải quan tâm và chú trọng đến chất lượng, hiệu quả trong quyết toán; quyết toán vốn đầu tư phải đúng đắn và đảm bảo kịp thời; công tác quyết toán vốn ĐTC cần phải thực hiện dứt điểm và triệt để trong năm tài chính

(5) Đánh giá hiệu quả đầu tư công; kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về đầu tư công

Chất lượng công trình được xác định dựa theo hồ sơ thiết kế đã được xác định trước khi sản xuất sản phẩm Do đặc điểm công trình xây dựng có qui mô và giá trị lớn, không di chuyển được nên việc mua bán được thoả thuận ngay trước khi xây dựng công trình Trong quá trình sản xuất hai bên mua và bán có thể nghiệm thu, thanh toán từng phần theo hợp đồng đã thoả thuận

Giám sát chất lượng công trình là một phần của nội dung quản lý vốn đầu tư nói chung, vốn ĐTC nói riêng, việc giám sát chất lượng công trình nhằm đảm bảo vốn đầu tư

bỏ ra có thể mua được công trình theo đúng chất lượng đã xác định

Trang 9

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI

ĐẦU TƯ CÔNG CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI Đánh giá chung về thực trạng QLNN đối với ĐTC của thành phố Hà Nội

*) Những thành tựu:

- Trong những năm qua, Thành phố đã thực hiện huy động và phân bổ vốn đầu tư XDCB của Hà Nội đảm bảo thực hiện đúng tinh thần chỉ đạo của Chính phủ, tuân thủ các nguyên tắc định hướng của HĐND Thành phố, phù hợp với mục tiêu và định hướng về Quy hoạch tổng thể phát triển Kinh tế - xã hội Thành phố Hà Nội đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030, Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô đến năm 2030, tầm nhìn đến 2050 và Chiến lược phát triển Kinh tế xã hội 5 năm 2011-2015 đã được HĐND Thành phố thông qua tại Nghị quyết số 06/2011/NQ-HĐND ngày 15/7/2011 với trọng tâm đầu tư: hoàn thiện đầu tư đồng bộ kết cấu hạ tầng, nhất là giao thông và hạ tầng kỹ thuật khung làm cơ

sở để đẩy nhanh tiến trình xây dựng Thủ đô văn minh, hiện đại, đầu tư phát triển sự nghiệp văn hóa, giáo dục - đào tạo, y tế, khoa học - công nghệ đáp ứng yêu cầu phát triển Thủ đô và cho sự phát triển chung của vùng và cả nước

- Công tác phân bổ vốn được thực hiện theo hướng tập trung cho các công trình trọng điểm (hàng năm Thành phố đều dành ít nhất 50% kinh phí XDCB tập trung cho các công trình trọng điểm), ưu tiên bố trí vốn để hoàn thành các công trình chuyển tiếp, hạn chế bố trí vốn cho các dự án mới theo đúng tinh thần của Chỉ thị số 1792/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ trong việc khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn, tập trung xử lý nợ XDCB (năm 2013, ngân sách Thành phố bố trí cho 164 dự

án khởi công mới, nhưng năm 2014 chỉ bố trí 09 dự án mới, và năm 2015 có 32 dự án khởi công mới)

- Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Thành phố đã tiến hành rà soát mục tiêu, mức độ ưu tiên, tính cấp thiết các dự án đầu tư, thực hiện đình hoãn, giãn tiến độ triển khai nhiều dự án chưa thực sự cấp thiết, bức xúc Năm 2011, Thành phố đã phê duyệt danh mục các dự án dừng triển khai, đình, hoãn, giãn tiến độ, cắt giảm kế hoạch

Trang 10

vốn năm 2011 của 68 dự án sử dụng vốn ngân sách thành phố, kinh phí cắt giảm là 437,66 tỷ đồng Năm 2012, đã quyết định đình, hoãn, giãn tiến độ dự án không được bố trí kế hoạch vốn 3 năm 2012 - 2015, cho phép dừng thủ tục đang triển khai trong các giai đoạn đầu tư XDCB, đồng thời cho phép lập hồ sơ quyết toán vốn đầu tư XDCB và tất toán tài khoản đối với 132 dự án sử dụng vốn ngân sách Thành phố với tổng mức đầu tư được phê duyệt là 31.320 tỷ đồng và 07 dự án được ngân sách Thành phố hỗ trợ có mục tiêu cho các quận, huyện, thị xã với tổng mức đầu tư là 234 tỷ đồng Năm 2013, đến hết tháng sáu vẫn còn 09 dự án chưa triển khai nên Thành phố quyết định cắt giảm, thu hồi vốn bổ sung dự phòng ngân sách với số vốn là 160,14 tỷ đồng theo đúng yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số 09/CT-TTg ngày 24/05/2013 về việc hoàn thiện chỉ đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ tài chính NSNN

- Thành phố đã đạt được những kết quả quan trọng trong việc thực hiện tái cơ cấu đầu tư công: Đã chủ động cắt giảm đầu tư công, lựa chọn dự án ưu tiên, tiến hành hoãn giãn tiến độ các dự án theo yêu cầu, đã tập trung bố trí vốn cho các công trình hoàn thành đưa vào sử dụng, phát huy hiệu quả vốn đầu tư, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Cân đối vốn đã thực hiện theo các trọng tâm ưu tiên của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố, bước đầu hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước theo hướng đảm bảo quản lý thống nhất về mục tiêu, danh mục dự án theo quy hoạch, quy mô của từng dự án đầu tư theo đúng mục tiêu, lĩnh vực, chương trình đã được phê duyệt Các công trình, dự

án mới bám sát mục tiêu và định hướng Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, Kế hoạch 5 năm của Thành phố và chỉ được quyết định đầu tư khi đã xác định rõ nguồn và khả năng cân đối vốn ở từng cấp ngân sách Thành phố ban hành nhiều văn bản pháp quy và chỉ đạo quyết liệt các giải pháp kiểm soát việc lập, thẩm định, phê duyệt dự án, bố trí kế hoạch vốn đầu tư công được minh bạch, rõ ràng hơn Công tác kiểm tra, giám sát đánh giá đầu tư được thực hiện nghiêm hơn

Các biện pháp được Thành phố quán triệt thực hiện trong thời gian qua giúp Thành phố đảm bảo cân đối thu, chi ngân sách nhà nước, ổn định kinh tế vĩ mô và tiếp

Ngày đăng: 23/01/2021, 22:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w