1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Phân tích cơ chế truyền dẫn của chính sách tiền tệ ở Việt Nam

7 67 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 236,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu chính của chính sách tiền tệ là khôi phục trạng thái cân bằng của nền kinh tế thông qua sự thay đổi thích hợp của cung tiền (trong trường hợp có lạm phát (giảm phát), cung tiề[r]

Trang 1

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Cơ sở lý luận về cơ chế truyền dẫn của chính sách tiền tệ

Chính sách tiền tệ do ngân hàng trung ương thực hiện nhằm đạt được một số mục tiêu kinh tế Mục tiêu chính của chính sách tiền tệ là khôi phục trạng thái cân bằng của nền kinh tế thông qua sự thay đổi thích hợp của cung tiền (trong trường hợp có lạm phát (giảm phát), cung tiền cần giảm (tăng)), ổn định giá cả, duy trì trạng thái toàn dụng lao động, góp phần ổn định hệ thống tài chính, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và cuối cùng nhằm duy trì cân bằng cán cân thanh toán

Để thực hiện các mục tiêu của mình, ngân hàng trung ương thường sử dụng

ba công cụ chính để làm thay đổi cung tiền, bao gồm: nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất chiết khấu và tỷ lệ dự trữ bắt buộc

Cơ chế truyền dẫn tiền tệ liên quan đến quá trình thông qua đó thay đổi trong công cụ chính sách tiền tệ (như tổng khối lượng tiền, chính sách lãi suất ngắn hạn)

sẽ tác động tới tổng cầu, từ đó ảnh hưởng tới phần còn lại của nền kinh tế, đặc biệt

là sản lượng và lạm phát Những cú sốc tiền tệ truyền tới nền kinh tế thông qua các kênh khác nhau, ảnh hưởng đến các biến khác nhau và các thị trường khác nhau, với tốc độ và cường độ khác nhau Nhìn chung, cơ chế truyền dẫn này có thể được thể hiện thông qua ba kênh chính: Kênh lãi suất, kênh tỷ giá hối đoái và kênh tín dụng

Tổng quan nghiên cứu về cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ

Trong bài “A VAR Analysis of Singapore’s Monetary Transmission Mechanism” (2004), Hwee Kwan Chow sử dụng mô hình VAR để xem xét cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ ở Singapore với chuỗi dữ liệu hàng tháng được điều chỉnh theo mùa từ tháng 1/1989 đến tháng 10/2003

Trang 2

Trong bài “Monetary Policy and the Transmission Mechanism in Thailand” (2003), Disyatat và Vongsinsirikul sử dụng phương pháp tiếp cận VAR theo quý,

số liệu điều chỉnh từ Quý 1/1993 đến Quý 4/2001 với độ trễ là 2 để xác định cơ chế truyền dẫn tiền tệ ở Thái Lan

Nghiên cứu của Lê Việt Hùng và Pfau (2008) sử dụng mô hình VAR với số liệu từ Quý 1/1996 đến Quý 4/2005 xem xét cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ

ở Việt Nam

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hằng và Nguyễn Đức Thành (2010) với dữ liệu theo tháng từ tháng 1/2001 đến tháng 3/2010, sử dụng mô hình VECM nhằm xác định và tìm hiểu những nguyên nhân cơ bản của lạm phát ở Việt Nam

Thực trạng chính sách tiền tệ của Việt Nam trong giai đoạn từ 2011 – 2015

Các mục tiêu của chính sách tiền tệ

Mục tiêu hoạt động: Hướng tới lãi suất liên ngân hàng đồng thời kiểm soát chặt chẽ lượng tiền cơ sở Mục tiêu trung gian: Hướng vào việc giảm lãi suất thị trường, bên cạnh đó quan tâm đặc biệt đến tăng trưởng tín dụng đồng thời kiểm soát lượng tiền cung ứng Mục tiêu cuối cùng: kiểm soát lạm phát, đưa mức lạm phát về dưới 2%, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế hợp

Các công cụ chính sách tiền tệ

Công cụ lãi suất: lãi suất điều hành và trần lãi suất giảm tác động đến lãi suất thị trường Nghiệp vụ thị trường mở được sử dụng linh hoạt, phù hợp với cung cầu vốn trên thị trường Sử dụng công cụ tái cấp vốn để bảo đảm thanh khoản cho các tổ chức tín dụng và định hướng tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn theo chỉ đạo của Chính phủ Công cụ tỷ giá được sử dụng chủ động, dẫn dắt thị trường Công cụ dự trữ bắt buộc được sử dụng để kiềm chế tăng trưởng tín dụng ngoại tệ, giảm bớt tình trạng đô la hóa nền kinh tế

Trang 3

Những kết quả đạt được từ điều hành chính sách tiền tệ

Tín dụng tăng trưởng với tốc độ cao trong năm 2015 đạt 17,29%, tăng so với năm 2014 (14,16%), tuy thấp hơn kỳ vọng của giới chính sách và chuyên gia là 18%, có thể lý giải bởi sự thận trọng hơn của các ngân hàng trong quản lý thanh khoản Tăng trưởng tín dụng cao nhất ở những ngành như dịch vụ, nông lâm thủy sản và xây dựng

Trong năm 2015, lãi suất huy động VND có xu hướng giảm khoảng 0,2 – 0,5%/năm so với cuối năm 2014 Lãi suất huy động USD đã giảm xuống mức thấp nhất, diễn biến bám sát các quy định điều chỉnh giảm lãi suất USD của ngân hàng nhà nước Bên cạnh đó, mặt bằng lãi suất cho vay VND ổn định, trong ngắn hạn từ 6 – 9%/năm, trung và dài hạn từ 9 – 11%/năm Lãi suất cho vay USD phổ biến ở mức 3 – 5,5%/năm đối với ngắn hạn, 5,5 – 6,7%/năm đối với trung, dài hạn

Xem xét các tác động đến thanh khoản của thị trường tiền tệ, có thể thấy điểm chung là các yếu tố này trong năm 2015 đều tích cực hơn so với giai đoạn

2010 – 2014 khi tốc độ tăng trưởng tín dụng đi song hành với tốc độ tăng trưởng nền kinh tế

Trong năm 2015, thị trường ngoại hối đã trải qua hai đợt biến động mạnh vào tháng 8 và từ giữa tháng 11 – 12 Biến động trên thị trường bị chi phối mạnh mẽ bởi môi trường quốc tế, trong đó đáng chú ý nhất là lộ trình điều chỉnh chính sách tiền tệ của Cục dự trữ Liên bang Mỹ và những biến động khó lường của đồng nhân dân tệ

Trong giai đoạn 2007 – 2011, những biến động lớn về tỷ lệ lạm phát luôn diễn ra tiếp sau những biến động về cung tiền rộng Từ năm 2012, ngân hàng nhà nước đã sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ một cách chủ động và linh hoạt, nhờ vậy lạm phát được kiềm chế trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế dần dần phục hồi

Trang 4

Ước lượng cơ chế truyền dẫn của chính sách tiền tệ ở Việt Nam giai đoạn 2006 – 2015

Phương pháp luận

Các biến số kinh tế thường biến động cùng nhau qua thời gian.Những thay đổi của các biến vĩ mô hiện tại thường được giả thiết phụ thuộc vào giá trị của các biến số liên quan ở thời điểm hiện tại và giá trị của bản thân biến đó trong quá khứ Phân tích về mối quan hệ giữa các biến số trong kinh tế theo thời gian đòi hỏi các chuỗi phải dừng Nếu các chuỗi là không dừng, giá trị trung bình của nó

sẽ tăng hoặc giảm không có giới hạn khi thời gian thay đổi Khi ước lượng mô hình với các chuỗi không dừng, thì các kiểm định T và F sẽ có phân phối không chuẩn, vì vậy các suy diễn thông kê sẽ không còn chính xác (Verbeek, 2004) Thêm nữa, cần kiểm tra đồng liên kết (cointergration tests) trước khi thực hiện phân tích hồi quy truyền thống Sử dụng các kiểm định Dicky-Fuller để kiểm định nghiệm đơn vị, sau đó tiến hành kiểm định nhân quả Granger giữa cung tiền và các biến vĩ mô bao gồm tăng trưởng, tỷ giá và lạm phát Cuối cùng, sử dụng mô hình VECM để xem xét cơ chế truyền dẫn của chính sách tiền tệ ở Việt Nam trong giai đoạn 2006 – 2015

Mô hình VECM là một hệ phương trình động bao gồm tất cả các mối quan

hệ tương hỗ theo thời gian giữa các biến kinh tế trong mô hình (các biến nội sinh), cho phép đánh giá mối quan hệ phụ thuộc qua lại giữa các biến tiền tệ với các biến kinh tế vĩ mô khác như tăng trưởng và lạm phát

Lý do chính sử dụng mô hình VECM trong luận văn này là để khảo sát phản ứng của các biến kinh tế vĩ mô khác theo thời gian trước những thay đổi của chính sách tiền tệ, từ đó làm sáng tỏ hơn cơ chế truyền dẫn của chính sách tiền tệ trong nền kinh tế

Trang 5

Kết luận và các khuyến nghị chính sách

Kết luận

Thứ nhất, cung tiền M1có tác động đến toàn bộ các biến số quan trọng trong nền kinh tế Mặc dù các tác động này còn khiêm tốn và có độ trễ tương đối, nhưng

đó cũng là những tín hiệu khả quan cho thấy nền kinh tế Việt Nam có mang tính thị trường và các yếu tố thị trường sẽ càng có tác động nhiều hơn đến các biến số kinh

tế vĩ mô

Thứ hai, về giá cả, chỉ số giá tiêu dùng CPI có phản ứng khá tốt và đúng theo chiều hướng kỳ vọng khi thực hiện các chính sách tiền tệ Các biến số cung tiền M1, lãi suất và tỷ giá tuy không phải là những yếu tố quan trọng giải thích cho sự biến động của CPI (cao nhất chỉ giải thích được tới 10.5% ở tháng thứ 12), nhưng những biến số này lại tạo được các tác động khá tích cực và hoàn toàn phù hợp với các lý thuyết kinh tế cũng như thực trạng Việt Nam hiện tại Cụ thể, nếu giảm lãi suất, giảm cung tiền và điều chỉnh mức tỷ giá phù hợp thì chính phủ hoàn toàn có thể điều chỉnh giảm lạm phát theo như mục tiêu đề ra Ngoài ra, luận văn cũng cho thấy người dân có khuynh hướng lưu giữ ấn tượng về lạm phát trong quá khứ Lạm phát trong quá khứ ở các độ trễ 1, 6 và 9 đều có ý nghĩa thống kê ở mức 10%, điều này ngụ ý rằng uy tín của chính phủ trong việc duy trì và ổn định giá cả có vai trò

to lớn trong quản lý lạm phát hiện tại

Thứ ba, về tăng trưởng sản lượng công nghiệp, tuy mức độ giải thích bởi lý do nội tại của biến số cao nhưng bài viết cũng cho thấy tác động không nhỏ của các biến số đại diện cho chính sách tiền tệ của Việt Nam, khi giải thích được đến hơn 20% sự thay đổi của sản lượng công nghiệp từ tháng thứ 9 trở đi Kết quả này củng

cố thêm về việc Chính phủ đã có những tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế thông qua các chính sách tiền tệ, các chính sách này đã khá phù hợp đối với tình hình hiện tại Ngoài ra, để có thể đạt được mức tăng sản lượng công nghiệp như mong muốn, chính phủ hoàn toàn có thể giảm lãi suất cho vay, tăng nhẹ tỷ giá hối đoái liên ngân hàng cũng như giữ ổn định mức cung tiền, điều này không những sẽ giúp ổn định nền kinh tế vĩ mô mà còn thúc đẩy tăng trưởng Kết quả này có thể được nhìn thấy ngay trong ngắn hạn, khi sản lượng công nghiệp gia tăng từ tháng thứ 1 trong kỳ xét phản ứng của cả hai biến số tiền tệ trung gian

Trang 6

Thứ tư, luận văn cũng chỉ ra rằng nếu lạm phát có xu hướng chệch khỏi dài hạn, khi ở mối quan hệ đồng tích hợp thứ nhất, chỉ có sai số điều chỉnh của lạm phát có ý nghĩa thống kê ở mức 5% và mang giá trị dương Cứ mỗi kỳ, lạm phát trong ngắn hạn sẽ gia tăng mức sai số so với dài hạn thêm 0.012851 điểm %, và việc này sẽ làm Chính phủ mất khá nhiều thời gian để có thể kiểm soát lạm phát theo ý muốn, kể cả việc Chính phủ có sử dụng các chính sách phù hợp Ngoài ra, tỷ giá và lạm phát cũng tồn tại một cơ chế hiệu chỉnh sai số với nhau, điều này thể hiện rằng, mức tỷ giá đã ngày càng thể hiện được đúng bản chất của thị trường, đánh giá được đúng cung cầu của nền kinh tế trong và ngoài nước

Thứ năm, lãi suất và tỷ giá trong nghiên cứu cũng cho thấy tác động của bộ đôi này đến các biến kinh tế vĩ mô khác Nếu trong trường hợp Chính phủ giảm lãi suất,

và đi kèm với việc phá giá đồng nội tệ làm tỷ giá tăng sẽ ngay lập tức khiến sản lượng công nghiệp tăng lên, giá cả sẽ giảm sau khoảng 4 tháng Kết quả này khá phù hợp so với lý thuyết kinh tế, và cũng cho thấy bộ đôi lãi suất và tỷ giá nếu được sử dụng hợp lý sẽ mang lại tác động tốt cho nền kinh tế

Các khuyến nghị đối với chính sách tiền tệ trong thời gian tới

 Kiên quyết và nhất quán trong việc thực thi chính sách tiền tệ

Chính sách tiền tệ phải được thực thi một cách nhất quán và có lộ trình rõ ràng nhằm định hướng và dẫn dắt thị trường Chính sách tiền tệ phải hướng tới một môi trường tài chính lành mạnh Cơ sở của việc thực thi chính sách tiền tệ một cách kiên quyết và nhất quán là do trong nền kinh tế thị trường, người tiêu dùng và các doanh nghiệp đưa ra các quyết định của mình về tiêu dùng và đầu tư dựa trên

những thông tin về giá cả, bao gồm cả giá cả và lợi tức của các tài sản tài chính Sự phân bổ nguồn lực hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều vào sự rõ ràng của

những tín hiệu chính sách từ Chính phủ và ngân hàng nhà nước Khi có niềm tin vào các thông báo chính sách, công chúng sẽ tự động điều chỉnh hành vi của mình

để thích ứng với chính sách được thông báo và do vậy các chính sách dễ dàng đạt được mục tiêu đề ra

 Cần cẩn trọng điều chỉnh tỷ giá giữa đồng Việt Nam và đô la Mỹ

Trang 7

Điều chỉnh tỷ giá là mô ̣t quyết đi ̣nh rất nha ̣y cảm, có ảnh hưởng khác nhau đến các doanh nghiệp, các nhóm dân cư và các biến số kinh tế vĩ mô, chính vì vậy cần được cân nhắc mô ̣t cách thâ ̣n tro ̣ng Nhiều quan điểm cho rằng đồng Viê ̣t Nam cần được giảm giá hơn nữa so với USD nhằm khuyến khích xuất khẩu và ha ̣n chế nhập khẩu, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, kết quả phân tích thực nghiệm ở chương III cho thấy lạm phát ở Việt Nam tương đối nhạy cảm với sự biến động của giá đô la Mỹ Theo quan điểm cá nhân, trong bối cảnh đồng đô la

Mỹ lên giá trên thị trường tài chính quốc tế và thị trường ngoại hối có chiều hướng

ấm lên, giảm giá nhẹ đồng Việt Nam so với đô la Mỹ sẽ là sự lựa chọn tốt cho Việt Nam vì điều này mô ̣t mă ̣t để duy trì khả năng cạnh tranh về mặt giá cả của hàng hóa xuất khẩu Việt Nam, mặt khác sẽ giúp tăng cường niềm tin vào đồng Việt Nam

và chính sách của Chính phủ, tránh tạo ra tâm lý bất ổn và những xung đột có thể về lợi ích, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và từ đó sẽ có lợi cho tăng trưởng kinh tế trong dài ha ̣n

 Điều chỉnh giảm lãi suất thị trường

Lạm phát thấp năm 2015 là điều kiện để ngân hàng nhà nước tiếp tục giảm các mức lãi suất điều hành và sử dụng các công cụ phối hợp khác để giảm lãi suất thị trường

Ngày đăng: 23/01/2021, 20:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w