1. Trang chủ
  2. » Địa lý

Phát triển dịch vụ thẻ ngân hàng tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam

11 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 189,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát hành và thanh toán thẻ ngân hàng phải đối mặt với khá nhiều loại rủi ro khác nhau như: việc các tổ chức, cá nhân cố ý sử dụng thẻ một cách không hợp pháp, các ĐVC[r]

Trang 1

TÓM TẮT LUẬN VĂN

1 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Trong những năm gần đây, trong lĩnh vực ngân hàng bán lẻ, thẻ ngân hàng

đã nổi lên như một sản phẩm tài chính cá nhân đa chức năng đem lại nhiều tiện ích cho khách hàng Thẻ có thể được sử dụng để rút tiền, gửi tiền, cấp tín dụng, thanh toán hàng hóa dịch vụ hay để chuyển khoản Thẻ cũng được sử dụng cho nhiều dịch

vụ phi tài chính như tra vấn thông tin tài khoản, thông tin các khoản chi phí sinh hoạt

Thực tiễn đã chứng minh vai trò của dịch vụ thẻ ngân hàng như một mũi nhon chiến lược trong hiện đại hóa, đa dạng hóa các loại hình dịch vụ ngân hàng, đem lại nhiều tiện ích cho khách hàng Tuy nhiên, thị trường thẻ Việt Nam còn chưa phát triển, các sản phẩm dịch vụ thẻ còn chưa đa dạng Bên cạnh nhiều cơ hội thuận lợi cũng còn nhiều thách thức đòi hỏi các NHTM Việt Nam nói chung và Vietcombank nói riêng phải có những giải pháp kinh doanh hợp lý Đối với Vietcombank, mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong thời gian qua, chặng đường phía trước cho dịch vụ thẻ của Vietcombank còn nhiều chông gai Môi trường kinh tế xã hội đang trong giai đoạn biến động mạnh, các yếu tố thể chế phục

vụ cho cho hoạt động ngân hàng bán lẻ nói chung và dịch vụ thẻ nói riêng còn thiếu Chính vì vậy việc khảo sát tình hình thị trường thẻ ngân hàng Việt Nam và đi sâu nghiên cứu thực trạng hoạt động dịch vụ thẻ của Vietcombank để tìm ra giải pháp là việc làm hết sức cần thiết

Luận văn này dựa trên việc nghiên cứu thực trạng kinh doanh thẻ của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam để đề xuất một số giải pháp, kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà Nước, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam

Luận văn vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học như phép biện chứng duy vật, phương pháp phân tích, đối chiếu, so sánh để làm rõ thực trạng của vấn đề nghiên cứu và đưa ra các giải pháp phù hợp

Trang 2

Bên cạnh đó, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, sử dụng các bảng biểu, sơ đồ,

mô hình, số liệu trong và ngoài nước để tính toán và minh hoạ, sử dụng các vấn đề thực tiễn của Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam để phân tích và chứng minh

Đồng thời, luận văn sử dụng phương pháp thống kê như là công cụ để phân tích, minh chứng cho các vấn đề nghiên cứu

2 Nội dung chính của luận văn

Kết cấu luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về dịch vụ thẻ ngân hàng

1.1 Tổng quan về thẻ ngân hàng

Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, ra đời từ phương thức mua bán chịu hàng hóa bán lẻ và phát triển gắn liền với việc ứng dụng công nghệ tin học trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng để thanh toán hàng dịch vụ hoặc dút tiền trong phạm vi số dư tiền gửi của mình hoặc hạn mức tín dụng được cấp Thẻ ngân hàng còn dùng để thực hiện các dịch vụ thông qua hệ thống giao dịch tự động hay còn gọi là hệ thống tự phục vụ ATM

Để có được các sản phẩm đa dạng như hiện nay, lĩnh vực thẻ ngân hàng đã trải qua nhiều giai đoạn thử nghiệm và phát triển Tuy nhiên, xét về mặt thời gian, kinh doanh thẻ là một ngành kinh doanh tương đối mới mẻ với sự ra đời và phát triển từ những năm đầu thế kỷ 20 cho tới nay

Hoạt động phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ ngân hàng có sự tham gia chặt chẽ của 5 thành phần cơ bản là: Tổ chức thẻ quốc tế, ngân hàng phát hành thẻ, ngân hàng thanh toán thẻ, chủ thẻ và ĐVCNT Từng chủ thể đóng vai trò quan trọng khác nhau trong việc phát huy tối đa vai trò làm phương tiện thanh toán hiện đại của thẻ ngân hàng

Trang 3

1.2 Các hoạt động kinh doanh thẻ

Dịch vụ kinh doanh thẻ bao gồm các nghiệp vụ cơ bản sau: hoạt động phát hành thẻ, hoạt động thanh toán thẻ, hoạt động quản lý rủi ro và tra soát khiếu nại, hoạt động marketing và dịch vụ khách hàng

Hoạt động phát hành thẻ của ngân hàng bao gồm các việc quản lý và triển khai toàn bộ quá trình phát hành thẻ, sử dụng thẻ và thu nợ khách hàng Cả ba quá trình này đều quan trọng và không được coi nhẹ Mỗi một phần đều liên quan rất chặt chẽ đến việc phục vụ khách hàng và quản lý rủi ro cho ngân hàng Các tổ chức tài chính, ngân hàng phát hành thẻ phải xây dựng các quy định về việc sử dụng thẻ

và thu nợ: số tiền thanh toán tối thiểu, ngày sao kê, ngày đến hạn, các loại phí và lãi, hạn mức tín dụng tối đa tối thiểu, các chính sách ưu đãi …

Hoạt động thanh toán thẻ của một ngân hàng không chỉ là thu lợi nhuận từ nguồn phí chiết khấu tính trên giá trị giao dịch thanh toán bằng thẻ từ các ĐVCNT

mà còn là mong muốn cung cấp cho khách hàng một dịch vụ hoàn chỉnh, một cơ sở lợi nhuận cho sử dụng thẻ Đối với TCTQT và các thành viên, việc khuyến khích hoạt động thanh toán thẻ thông qua mở rộng mạng lưới ĐVCTN có ý nghĩa rất quan trọng

Phát hành và thanh toán thẻ ngân hàng phải đối mặt với khá nhiều loại rủi ro khác nhau như: việc các tổ chức, cá nhân cố ý sử dụng thẻ một cách không hợp pháp, các ĐVCNT không tuân thủ quy trình đã được hướng dẫn, thực hiện giao dịch giả mạo, cung cấp các thông tin về thẻ cho bên thứ ba hoặc việc các ĐVCNT không thông báo việc chấm dứt hoạt động kinh doanh trong khi vẫn còn nợ tiền ngân hàng

… Tất cả những hành vi trên đều gây ra những rủi ro và tổn thất tài chính đối với ngân hàng Chính vì vậy, một trong những lĩnh vực quan trọng của kinh doanh thẻ ngân hàng là hoạt động quản lý rủi ro

Cũng như những ngành nghề khác, kinh doanh thẻ ngân hàng đòi hỏi chú trọng đáng kể vào công tác marketing và dịch vụ khách hàng Về lý thuyết, marketing và dịch vụ khách hàng trong kinh doanh thẻ là khái niệm tương đối rộng, bao gồm toàn bộ các phương thức để tìm kiếm khách hàng (ĐVCNT và chủ thẻ),

Trang 4

giúp họ tiếp cận, quyết định lựa chọn phương thức thanh toán phi tiền mặt này và trở thành khách hàng lâu dài của ngân hàng

1.3 Phát triển dịch vụ thẻ ngân hàng

Quan điểm phát triển dịch vụ thanh toán thẻ gồm 2 loại: quan điểm phát triển về số lượng và quan điểm phát triển về chất lượng

Phát triển về số lượng nghĩa là ngân hàng phát hành được nhiều loại thẻ khác nhau, phong phú, đa dạng về chủng loại, cả tín dụng, ghi nợ, ATM và phục vụ đông đảo tầng lớp khách hàng từ trẻ đến già, thuộc các thành phần kinh tế, ngành nghề khác nhau

Phát triển về chất lượng có nghĩa là : Thẻ phát hành ra nhiều nhưng phải có chất lượng tốt, khách hàng chi tiêu suôn sẻ, không bị lỗi khi giao dịch, không bị từ

chối khi chi tiêu ở nước ngoài

Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển cũng được phân thành 2 nhóm: nhóm chỉ tiêu đánh giá về mặt số lượng và nhóm chỉ tiêu đánh giá về mặt chất lượng

Từ các chỉ tiêu đó, luận văn tiến hành phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ thẻ ngân hàng tại các NHTM Các nhân tố chủ quan như: Sự phát triển của khoa học công nghệ, thói quen sử dụng thẻ và các chương trình Marketing của ngân hang Các nhân tố khách quan như: Các chủ trương, chính sách của cơ quan quản lý Nhà nước đối với hoạt động thẻ; Sự phát triển nhanh của nền kinh tế

Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ thẻ ngân hàng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam

2.1 Khái quát về Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam

Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) chính thức hoạt động ngày 2 tháng 6 năm 2008 (theo giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng TMCP ngày 23/5/2008 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp lần đầu ngày 2/6/2008) sau khi thực hiện thành công kế hoạch cổ phần hoá thông qua việc phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng ngày 26/12/2007

Trang 5

Trải qua 46 năm xây dựng và phát triển, Vietcombank luôn giữ vững vị thế

là nhà cung cấp đầy đủ các dịch vụ tài chính hàng đầu trong lĩnh vực thương mại quốc tế; trong các hoạt động truyền thống như kinh doanh vốn, huy động vốn, tín dụng, tài trợ dự án… cũng như mảng dịch vụ ngân hàng hiện đại như: kinh doanh ngoại tệ và các công cụ phái sinh, dịch vụ thẻ, ngân hàng điện tử… Vietcombank đang chiếm lĩnh thị phần đáng kể tại Việt Nam trong nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau như : cho vay (~10%), tiền gửi (~12%), thanh toán quốc tế (~23%), thanh toán thẻ (~55%)… Với thế mạnh về công nghệ, Vietcombank là ngân hàng tiên phong trong việc ứng dụng công nghệ hiện đại vào xử lý tự động các dịch vụ ngân hàng và không ngừng đưa ra các sản phẩm dịch vụ điện tử nhằm “đưa ngân hàng tới gần khách hàng” như: dịch vụ Internet banking, VCB-Money (Home banking), SMS Banking, Phone banking…

2.2 Thực trạng phát triển dịch vụ thẻ ngân hàng tại Ngân hàngTMCP Ngoại Thương Việt Nam

Dịch vụ thanh toán thẻ ngân hàng được đưa vào thị trường Việt Nam bắt đầu

từ năm 1990 xuất phát từ nhu cầu thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ bằng thẻ của khách du lịch và đầu tư nước ngoài Vietcombank với đặc thù là ngân hàng thanh toán quốc tế nên nắm bắt ngay nhu cầu này của khách hàng

Trong những năm từ năm 2000 trở lại đây, thị trường thẻ ngân hàng Việt Nam càng có những biến đổi tích cực Hầu hết các ngân hàng, cả các ngân hàng thương mại quốc doanh, ngân hàng thương mại cổ phần và chi nhánh ngân hàng nước ngoài đều triển khai dịch vụ thẻ Nhiều sản phẩm thẻ khác nhau, cả sản phẩm mang thương hiệu quốc tế và nội địa đều được đưa vào thị trường Khái niệm thẻ ngân hàng tuy không còn xa lạ đối với công chúng nhưng cũng chưa thật sự quen thuộc Các ngân hàng còn phải làm rất nhiều việc để tiếp tục khai phá thị trường thẻ ngân hàng Việt Nam đầy tiềm năng

Đến nay, NHNTVN là ngân hàng duy nhất trên thị trường thanh toán cả 7 thương hiệu thẻ quốc tế hàng đầu thế giới: American Express, Visa và MasterCard, JCB, Diner Club, Discover Card và China Union Pay Riêng về thẻ American Express

Trang 6

NHNTVN được độc quyền phát hành Tổng số thẻ tín dụng đang lưu hành cuối năm

2009 đạt gần 150 000 thẻ Còn thẻ Connect 24 thì đạt tổng số thẻ là 3.9 triệu thẻ, tốc

độ tăng trưởng trung bình gần 300% Doanh số thanh toán thẻ tín dụng năm 2009 qua VCB đạt hơn 553 triệu USD, sử dụng thẻ đạt 2.120 tỷ VNĐ Tốc độ phát triển doanh số thanh toán thẻ tín dụng qua NHNTVN trung bình từ 2005-2009 đạt 30%

NHNTVN đã triển khai phát hành một loạt các thẻ mới có tính năng khác nhau đáp ứng nhu cầu của những nhóm khách hàng khác nhau NHNTVN hiện tại thanh toán và phát hành 3 loại thẻ tín dụng; 2 loại thẻ ghi nợ nội địa (Connect 24; SG24); 2 thẻ ghi nợ quốc tế (MTV và VISA Debit) Như thẻ MTV-Master Debit và VISA Debit với ưu thế kết nối trực tiếp với tài khoản cá nhân của khách hàng mở tại NHNTVN, khách hàng sẽ được giảm giá và hưởng các ưu đãi đặc biệt khi mua hàng hoặc sử dụng dịch vụ tại các ĐVCNT của Vietcombank trên toàn quốc; thẻ SG24 đem lại cho người sở hữu ngoài những tính năng sẵn có của thẻ Connect 24 còn đem lại thêm giá trị thặng dư qua giá trị bảo hiểm tai nạn được đảm bảo bởi hãng bảo hiểm uy tín

Tuy NHNTVN đạt được nhiều thành tựu trong dịch vụ thẻ nhưng vẫn còn

một số mặt hạn chế sau: Chưa khai thác hết tiềm năng của thị trường thẻ Việt nam;

Sản phẩm thẻ của Vietcombank chưa phong phú và đa dạng; Hệ thống máy ATM của Vietcombank vẫn có gặp sự cố, gây phiền toái cho khách hàng; Các rủi ro trong hoạt động thẻ vẫn rất nhiều

Nguyên nhân của những hạn chế đó là: Mô hình tổ chức về thẻ NHNTVN chưa hợp

lý; Nguồn nhân lực chưa đáp ứng kịp tốc độ phát triển về thẻ; Công nghệ, trang

thiết bị kỹ thuật cho thanh toán thẻ chưa đạt tiêu chuẩn quốc tế; Công tác Marketing

về thẻ chưa được chú trọng; Công tác quản lý rủi ro chưa hoàn thiện Và một số nguyên nhân khách quan như: Tác động của môi trường kinh tế xã hội; Tình hình cạnh tranh giữa các ngân hàng kinh doanh thẻ trên lãnh thổ Việt Nam;

Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ thẻ ngân hàng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam

Trang 7

Dựa trên việc nghiên cứu thực trạng kinh doanh thẻ của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, tác giả đã đề xuất một số giải pháp để phát triển dịch vụ thẻ ngân hàng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam tập trung vào những nội dung chính sau:

 Hoàn thiện quy trình nghiệp vụ:

Mô hình tổ chức dịch vụ thẻ của Vietcombank bao gồm Trung tâm thẻ tại Hội sở chính và Phòng kinh doanh thẻ tại các chi nhánh Việc điều hành của bộ phận thẻ trực thuộc các chi nhánh nên toàn bộ hệ thống dịch vụ thẻ chưa có được sự chủ động và linh hoạt trong việc kinh doanh Đa số công việc đòi hỏi có sự tham gia của nhiều phòng ban, phải qua nhiều cấp nên chưa có sự phối hợp đồng bộ và nhanh chóng giữa các bộ phận và giữa trung ương với địa phương Do đó, hoàn thành quy trình nghiệp vụ là một yếu tố rất cơ bản trong các hoạt động về thẻ Một quy trình nghiệp vụ chuẩn sẽ cho phép các khâu xử lý yêu cầu của khách hàng được nhanh chóng, chính xác Quy trình nghiệp vụ là kim chỉ nam cho các hoạt động tác nghiệp của các cán bộ ngân hàng Mọi thứ sẽ trở nên chuyên nghiệp hơn và phục vụ khách hàng được tốt hơn

 Hoàn thiện cơ cấu tổ chức:

Trung tâm thẻ Vietcombank được thành lập tháng 2 năm 2008, tiền thân là Phòng Quản lý thẻ của Hội Sở Chính Vietcombank Trung tâm thẻ có 6 phòng ban trực thuộc, mỗi phòng ban tương ứng với một chức năng nghiệp vụ thẻ Do hoạt động theo mô hình mới nên trung tâm vẫn phải từng bước hoàn thiện cơ cấu tổ chức, bộ máy

Tại các chi nhánh, cần phải xây hình một mô hình tổ chức về thẻ một cách hợp lý và khoa học để có thể thực hiện tác nghiệp về thẻ nhanh chóng và hiệu quả Theo đó, các bộ phận trực tiếp làm dịch vụ thẻ ở chi nhánh cần phát huy được tối đa tính linh hoạt, sáng tạo; nghĩa là cấp thêm quyền và khả năng cho chi nhánh Hiện nay, đa số các yêu cầu của khách hàng đều được chuyển từ chi nhánh lên trung ương Nhưng để có thể phục vụ khách hàng một cách nhanh nhất, tiết kiệm thời gian và chi phí chuyển hồ sơ thì nên để cho các chi nhánh có thể thực hiện các thao

Trang 8

tác tác nghiệp Bộ phận thẻ tại trung ương sẽ quản lý chung và làm các hoạt động mang tầm vĩ mô (nghiên cứu, phát triển, hợp tác )

 Phát triển sản phẩm dịch vụ thẻ:

 Xây dựng chỉ tiêu phát triển thẻ cho các Chi nhánh Nếu chi nhánh nào đạt

kế hoạch và vượt chỉ tiêu kế hoạch sẽ được thưởng nhằm khuyến khích các cán bộ thẻ thu hút thêm được chủ thẻ và ĐVCNT mới đồng thời giữ được các khách hàng

 Triển khai tiếp các dịch vụ thanh toán trên hệ thống ATM với các đối tác lớn cung cấp dịch vụ, dịch vụ thương mại điện tử như Vietnam Airlines, VMS, … góp phần làm tăng doanh số thanh toán của các loại thẻ

 Triển khai đề án phát triển thẻ Pre-paid Tập trung vào các khối khách hàng thân thiết của các tập đoàn bán lẻ và các khách hàng của hai hãng hàng không lớn nhất Việt Nam Hiện tại, trên thế giới, sản phẩm thẻ trả trước đang có mức tăng trưởng cao nhất trong lĩnh vực thanh toán Ở Việt Nam đã có nhiều hình thức thẻ trả trước như: Thẻ gọi điện thoại di động, thẻ chơi game, thẻ mua hàng siêu thị, thẻ taxi, Tuy nhiên, các sản phẩm thẻ này do các nhà cung cấp dịch vụ đơn lẻ đưa ra

và chỉ sử dụng cho một mục đích nhất định chứ chưa trở thành phương tiện thanh toán tiện ích Vietcombank có thể liên kết với nhiều đối tác cung cấp dịch vụ khác nhau phát hành sản phẩm thẻ trả trước với nhiều tiện ích khác nhau, hướng tới nhiều đối tượng khách hàng khác nhau nhằm tận dung tối đa tiềm năng của thị trường Việt Nam Sản phẩm thẻ trả trước này có sự khác biệt với các sản phẩm thẻ thông thường, có thể đáp ứng nhu cầu của các khách hàng chưa tìm được sản phẩm phù hợp Việc phát triển sản phẩm này tập trung vào số lượng khách hàng tiềm năng chưa quen hoặc không muốn sử dụng các dịch vụ thẻ hiện tại của ngân hàng Đây là một trong những xu hướng phát triển mới mang lại lợi nhuận cao và rất tiềm năng

để các ngân hàng hướng tới phát triển

 Tìm kiếm phát triển sản phẩm thẻ liên kết với các đối tác lớn, tiềm năng, có

cơ sở khách lớn

Trang 9

 Đẩy mạnh công tác Marketing để phát triển ĐVCNT và chủ thẻ Tổ chức hội nghị khách hàng cho các ĐVCNT có doanh số thanh toán cao trao đổi và lắng nghe ý kiến của khách hàng, từ đó có chiến lực chăm sóc các ĐVCNT phù hợp hơn với tình hình thực tế thị trường Xây dựng các ĐVCNT vệ tinh cho các sản phẩm thẻ

 Hợp tác với Smartlink để phát triển các sản phẩm dịch vụ về thẻ

 Đưa ra các sản phẩm ngân hàng trực tuyến song song với việc đồng nhất cơ

sở dữ liệu khách hàng, quản lý chung hạn mức tín dụng, tập trung hoá, tự động hoá các nghiệp vụ thẻ, các ngân hàng có thể cung cấp cho các khách hàng các dịch vụ giá trị gia tăng để tăng sức hấp dẫn cho thẻ như:

- Các chương trình điểm thưởng cho chủ thẻ có mức chi tiêu cao

- Xen thông tin về hạn mức và sao kê thẻ tín dụng mọi lúc, mọi nơi thông qua hệ thống Internet Banking, ATM, KIOSK Banking

- Thanh toán sao kê thẻ tín dụng bằng lệnh trích nợ tài khoản qua hệ thống ATM, KIOSK và Internet Banking

 Tiến hành phát hành thẻ thông minh (smart card, chip card)

 Nâng cao chất lượng dịch vụ thẻ:

Chất lượng dịch vụ thẻ phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố công nghệ, đây là một nhân tố hết sức quan trọng cần chú ý để phát triển Vietcombank cần phải hoàn thiện các chương trình quản lý Thẻ hiện nay để có thể đáp ứng được các yêu cầu tác nghiệp về thẻ cũng như các yêu cầu phát sinh khi doanh số về thẻ ngày càng tăng cao, chủng loại thẻ ngày càng nhiều

Ngoài ra, trung tâm thẻ cần phối hợp với Trung tâm Công nghệ thông tin Vietccombank để xây dựng thêm các chương trình mới trợ giúp cho công việc tác nghiệp về thẻ được nhanh chóng, chính xác và hiệu quả hơn

Để phục vụ các chủ thẻ một cách tốt nhất, cần phải có một hệ thống ATM và ĐVCNT sẵn sàng phục vụ khách hàng Vietcombank phải không ngừng khai thác thêm các ĐVCNT mới và đồng thời duy trì mối quan hệ tốt với các ĐVCNT sẵn có Càng có nhiều ĐVCNT thì ngân hàng càng thu được nhiều phí thanh toán, do đó

Trang 10

Vietcombank cần năng động hơn nữa trong việc tìm kiếm các ĐVCNT, có các chính sách khuyến khích các cửa hàng trở thành ĐVCNT của Vietcombank

 Xây dựng các chương trình Marketing về thẻ

Công tác thông tin tuyên truyền, phổ biến kiến thức về lĩnh vực thẻ cho các tầng lớp dân cư là một trong những nhiệm vụ trọng điểm trong phương hướng hoạt động của Vietcombank Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, lượng tiền mặt sử dụng trong thanh toán vẫn còn rất lớn, chiếm từ 20 – 30% trên tổng phương tiện thanh toán, trong đó thanh toán bằng thẻ mới chỉ chiếm 2% trong tổng các phương tiện thanh toán Một trong các nguyên nhân đó là do sự hiểu biết về thẻ của người dân còn bị hạn chế

Do vậy, thời gian qua, Hội thẻ đã tổ chức nhiều hoạt động để tuyên truyền về dịch vụ thẻ cũng như tiện ích do thẻ mang lại như phối hợp với Đài truyền hình Việt

Nam tổ chức chương trình “Bàn tròn doanh nghiệp” với sự tham dự của đại diện lãnh đạo các Ngân hàng phát hành thẻ; phối hợp với Visa tổ chức hội thảo “Vai trò

của thanh toán thẻ đối với nền kinh tế”, thành phần mời là các Bộ, ngành và các cơ

quan thông tấn báo chí và truyền hình nhằm thông qua các phương tiện thông tin đại chúng để giới thiệu đến công chúng về vai trò và lợi ích của thanh toán thẻ đối với chủ thẻ nói riêng và đối với nền kinh tế nói chung, đồng thời thông qua hội thảo này cũng góp phần tăng cường sự hiểu biết của các Bộ, ngành , cơ quan, doanh nghiệp

về sử dụng thẻ ngân hàng

 Quản lý rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ:

Ở Việt Nam, thẻ giả mạo là loại hình rủi ro phổ biến nhất, chiếm 75% tổng các loại rủi ro trong Phát hành thẻ Vì vậy, cần đặc biệt chú trọng công tác phòng ngừa rủi ro với loại hình đang phát triển hiện nay là giả mạo thẻ bằng cách ăn cắp thông tin trên đường truyền

Một thực tế dễ nhận thấy là kẻ gian luôn tìm những nơi sơ hở, thiếu cảnh giác, dễ xâm nhập, những nơi ít cản trở nhất cho công việc của kẻ gian Ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương, các ngân hàng tại các nước trong khu vực đều có những

nỗ lực, đầu tư lớn vào cơ sở hạ tầng và hệ thống phòng ngừa, phát hiện và xử lý

Ngày đăng: 23/01/2021, 19:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w