1. Trang chủ
  2. » Lịch sử

Nghiên cứu các điều kiện tối ưu để xác định nitrit trong nước thải sông Nhuệ Hà Nội bằng phương pháp trắc quang

11 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 488,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chúng tôi đã xây dựng được các đường chuẩn và xây dựng được phương pháp thêm chuẩn trong phương pháp trắc quang để xác định hàm lượng nitrit trong các mẫu tự tạo và kiểm tra độ tin cậy c[r]

Trang 1

NGHIÊN CỨU CÁC ĐIỀU KIỆN TỐI ƯU ĐỂ XÁC ĐỊNH NITRIT

TRONG NƯỚC THẢI SÔNG NHUỆ HÀ NỘI

Đào Đình Thuần

Khoa môi trường Trường ĐH Mỏ - Địa Chất

SUMMARY

RESEARCHES ON THE OPTIMAL CONDITIONS TO DETERMINE NITRITE CONTENT IN SEWER WATER (SEWAGE) OF NHUE RIVER BY THE SPECTROPHOTOMETRIC METHOD

1 We have detremined the optimal conditions to from colour compounds from nitries and sulfanylic acid – alphanaphtylamin.

2 We have also established norm curves (graphic) in the spectrophotometric method for determining nitrite contens in samples, with covariances under ±3% So sulfanylic acid – naphtylamin compound can

be used as teagent to determine the degree of pollution of water.

Keywords: Nitrit polution

I MỞ ĐẦU

Hiện nay, theo tiêu chuẩn Việt Nam hàm lượng NO2- cho phép là 0,01mg/l (theo N) đối với nước mặt có thể dụng làm nguồn cấp nước sinh hoạt và 0,005mg/l (theo N) đối với nước mặt dùng cho các mục đích khác Tuy nhiên nhiều nguồn nuocs sinh hoạt ở

Hà Nội bị nhiễm NO2- quá tiêu chuẩn cho phép trên

Theo thông kê, tại Hà Nội, nước thải sinh hoạt từ 300 ÷ 400 ngàn m3/ngày đêm, từ công nghiệp khoảng 85 ÷ 90 ngàn m3/ngày đêm, tổng khối lượng rác thải sinh hoạt từ

Trang 2

1800 ÷ 2000 m3/ngày đêm trong khi đó mới chỉ thu gom được khoảng 850 m3/ngày đêm, phần còn lại không được xử lý xả trực tiếp vào các khu đất ven hồ, sông Nhuệ, mương trong nội thành Kết quả là mức độ ô nhiễm bởi NH4+, NO2-, NO3- tăng gấp hàng chục lần so với tiêu chuẩn cho phép [1, 2] Việc bảo vệ chất lượng nước cần phải được đua vào quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Để khẳng định nguồn nước có

bị ô nhiễm hay không thì cần phải có phương pháp xác định chính xác, cho sai soostrong giới hạn cho phép Người ta đã xác định nitrit bằng phương pháp đo quang có nhiều thuốc thử [3, 5] Ở công trình này chúng tôi nghiên cứu phương pháp xác định hàm lượng NO2- sunfanilic và α – naphtylamin (thuốc thử Griess – Ilos), từ đó bước đầu nghiên cứu xả lý NO2- trong nước bằng phương pháp sinh học (nuôi trồng thực vật thủy sinh) và phuong pháp hóa học (thay đổi pH môi trường bằng axit sunfuric loãng) Đây là nhưỡng phương pháp đơn giản, rẻ tiền, cho hiệu quả cao và không gây độc tố cho nước

II HÓA CHẤT VÀ DỤNG CỤ, MÁY ĐO ĐỂ THỰC NGHIỆM

1 Hóa chất:

a) Pha thuốc thử Griess – Ilos (axit sunfanilic và α – naphatylamin) bằng CH3COOH

Pha chế theo tài liệu [5, 6]

b) Pha thuốc thử Griess – Ilos bằng H3PO4 (Griess – Ilos B).

Pha chế theo tài liệu [5, 6]

c) Pha dung dịch NaNO2 chuẩn: 10 -2 M và 10 -4 M

Cân chính xác một lượng NaNO2 loại pa, sao cho pha vào bình định mức 500 ml

có nồng độ cỡ 10-2 M Sau đó lấy một thể tích chính xác NaNO2 vừa pha đem đi xác

Trang 3

định nồng độ chính xác hơn bằng cách chuẩn độ với thuốc thử KMnO4 0,0100 N, chuyển dung dịch NaNO2 vào chai màu tối và bảo quản trong bóng tối

Dung dịch NaNO2 10-4 N: lấy chính xác 5,00 ml NaNO2 0,01M, pha thành 500 ml bằng nước cất hai lần

Chú ý: Do NaNO2 không bền nên trước khi làm thí nghiệm phải xác định lại nồng

độ của nó

d) Các hóa chất khác: H2SO4 loãng, NaOH, H2C2O4, H2O, KMnO4,… được sử dụng trong công trình này đều thuộc loại pa

2 Dụng cụ, máy đo

- Cân phân tích Sartorius do Công hòa Liên bang Đức sản xuất có

độ chính xác đến ± 0,1 mg

- Máy cất nước hai đầu của hãng Bibby (Anh Quốc) sản xuất

- Máy đó pH – Meter (TOA – Nhật Bản)

- Các dụng cụ thủy tinh đều của “ngoại” nhập có độ chính xác cao

III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

1. Nghiên cứu các điều kiện tối ưu để thực hiện phản ứng azo hóa giữa nitrit với thuốc thử axit sunfanilic + α – naphatylamin (Griess – Ilos)

Quá trình xảy ra phản ứng azo hóa:

+ Đầu tiên, anion nitrit tác dụng với axit sunfanilic:

+ Sau đó tác dụng với α – naphtylamin tạo thành hợp chất màu azo:

Trang 4

Như vậy, chúng tôi phải đi tìm các điều kiện tối ưu tạo thành hợp chất màu azo để tiến hành đo quang xác định hàm lượng nitit

[a.] Khảo sát tìm bước sóng hấp thụ cực đại của

hợp chất azo

Ta phải chuẩn bị bình định mức 25ml chứa dung

dịch NaNO2 và 2ml thuốc thử (axit sunfanilic và α –

naphtylamin), định mức đến vạch bằng dung dịch

CH3COOH (pH = 1,0) và nước cất sao cho thu được dung

dịch trong đó nồng độ NaNO2 là 1,4.10-5 M; pH = 1,5;

kiểm tra giá trị pH trên máy pH – Meter

Rót từng dung dịch đến 2/3 cuvet, đem đo mật độ quang trên máy Biochrom Ltd ở các bước sóng λ = 300 ÷ 700 nm Dung dịch so sánh là hỗn hợp thuốc thử (axit sunfanilic và α – naphtylamin) Các kết quả được thể hiện trên hình 1

Hình 1 thấy bước sóng hấp thụ cực đại của hợp chất azo là λ = 532 nm và ở bước sóng này hỗn hợp thuốc thử hầu như không hấp thụ Vì vậy, chúng tôi tiến hành đo quan

ở bước sóng λ = 532nm

a.[b.] Khảo sát tìm thời gian bền màu của hợp chất azo

Trong quá trình khảo sát sự phụ thuộc mật độ quang của hợp chất azo vào thời gian, chúng tôi thấy mật độ quang của hợp chất azo hầu như không thay đổi trong

Trang 5

khoảng thời gian từ 40 – 45 phút Như vậy, hợp chất azo rất bền theo thời gian, thuận lợi cho quá trình phân tích NO2- bằng phương pháp đo quang Chúng tôi tiến hành đo mật

độ quang sau khi tạo hợp chất màu được 5 ÷ 10 phút

b.[c.] Khảo sát nồng độ nitrit tối ưu tham gia phản ứng

Chúng tôi tìm được nồng độ nitrit tối ưu tham gia phản ứng nằm trong khoảng 0,5.10-5 ÷ 2,4.10-5 M Vì vậy, khi khảo sát tìm các điều kiện để thực hiện phản ứng azo hóa tốt nhất, chúng tôi lấy nồng độ NaNO2 nằm trong khoảng trên

c.[d.] Khảo sát khoảng pH tối ưu để thực hiện phản ứng

 Hút 0,5ml dung dịch NaNO2 10-5 M và 2ml thuốc thử (axit Sunfanilic và α – Naphtylamin) vào các cốc, thêm nước cất hai lần đến gần 20ml

 Đo pH: Điều chỉnh pH trên máy

pH – Meter bằng dung dịch CH3COOH

0,1M và NaOH 0,1M đến pH = 0,5 ÷

3,2 rồi chuyển vào bình định mức

25ml, định mức đến vạch bằng nước

cất hai lần Đo lại pH xem có thay đổi

không

 Đo mật độ quang: Rót từng

dung dịch đến 2/3 cuvet, đem đo mật độ quang trên máy Biochrom Ltd ở λ = 532nm Dung dịch so sánh là hỗn hợp thuốc thử (axit sunfanilic và α – naphtylamin) Các kết quả được trình bày trên hình 2

Hình 2, cho thấy ở bước sóng λ = 532nm, pH tối ưu nằm trong khoảng 0,75 ÷ 2,00 Vì vậy, trong các thí nghiệm tiếp theo chúng tôi tiến hành thí nghiệm ở giá trị pH = 1,5

Trang 6

d.[e.] Khảo sát thể tích thuốc thử tối ưu.

Chuẩn bị một dãy bình định mức 25ml chứa dung dịch NaNO2 có nồng độ cố định bằng 2,0.10-5 M, pH = 1,5 Trong đó có các thể tích thuốc thử (axit sunfanilic và α – naphtylamin) lần lượt là: 0,5; 1,0; 1,5; 2,0; 2,5; 3,0 ml Kiểm tra lại pH trên máy pH – Meter

Rót từng dung dịch đến 2/3 cuvet có chiều dày l = 1cm rồi đem đo mật độ quan trên máy Biochrom Ltd ở bước sóng λ = 532nm Dung dịch so sánh là hỗn hợp thuốc thử (axit sunfanilic và α – naphtylamin) Thể tích thuốc thử tối ưu nằm trong khoảng 1,5

÷ 2,5ml Vì vậy, trong công trình này chúng tôi lấy thể tích thuốc thử là 2ml

2. Xác định hệ số hấp thụ mol phân tử của hợp chất azo theo phương pháp Komar

Từ kết quả đo mật độ quang của hợp chất màu azo phụ thuộc vào nồng độ thuốc thử (axit sunfanilic và α – naphtylamin), chúng thôi tính được đệ số hấp thụ mol phân tử của hợp chất azo theo phương pháp Komar với sự trợ giúp của chương trình được lập trình theo ngôn ngữ Pascal được kết quả:

εthuốc thử - nitrit = 38 626,4510 ± 2 447,1996 = (3,9 ± 0,2).10 4 (mol-1.cm-1)

Hệ số hấp thụ mol phân tử của hợp chất azo lần đầu tiên chúng tôi tính được này chưa thấy có tài liệu nào công bố để tiện so sánh

(Trong đó: λ = 532nm, pH = 1,5, nitrit tác dụng với hỗn hợp thuốc thử (axit sunfanilic và α – naphtylamin) theo tỷ lệ 1:1 và

εα – Naphtylamin = 24,5914 ± 0,6613 = (25 ± 0,7) (mol-1.cm-1), cũng đo ở λ = 532nm)

3. Xây dựng đường chuẩn bằng phương pháp trắc quang

a Xây dựng đường chuẩn

Trang 7

Pha dung dịch: Chuẩn bị một dãy bình

định mức 25ml có thể tích dung dịch NaNO2

tăng dần, thêm 2ml hỗ hợp thuốc thử (axit

sunfanilic và α – naphtylamin), định mức bằng

dung dịch CH3COOH (có pH = 1,0) và nước cất

đến vạch để được dãy dung dịch có pH = 1,5

Kiểm tra pH trên máy pH – Meter

Đo mật độ quang: Rót từng dung dịch vào

cuvet có l = 1,0cm, đem đo mật dộ quan trên máy

Biochrom Ltd ở bước sóng 532nm Dung dịch so

sánh là hỗn hợp thuốc thử (axit sunfanilic và α –

naphtylamin) Các kết quả được trình bày trong

bảng 1 và hình 3

Sau khi xử lý kết quả của sự phụ thuộc mật

độ quang vào nồng độ nitrit theo phương pháp

thống kê hồi quy tuyến tính đã được lập trình theo

ngôn ngữ Pascal chúng tôi thu được phương trình

đường chuẩn:

A x = (40712,951982 ± 0,026395).C x + (0,024654 ± 934,978387)

Nhìn vào kết quả ta thấy: Sai số của b lớn hơn giá trị của b nên theo toán học thống kê thì không có giá trị b mà thực chất b = 0, đường thẳng đi qua gốc tọa độ Vì vậy, chúng tôi tính lại theo phương trình thống kê hồi quy tuyến tính dưới dạng khuyết giá trị b thì được:

A x = (41370,5545 ± 998,5245).C x

Trang 8

Để thuận tiện cho việc xác định nitrit trong các mẫu nước chúng tôi chia đường chuẩn đã xây dựng ở trên thành ba đường chuẩn ứng với ba khoảng nồng độ như sau:

1 Đường chuẩn thứ nhất:

A y = (42415,7895 ± 3554,5945).C y

Nồng độ nitrit tuân theo định luật Bia từ (0,12.10-5 – 0,60.10-5M)

2 Đường chuẩn thứ hai:

A z = (43498,3471 ± 2129,9842).C z

Nồng độ nitrit tuân theo định luật Bia từ (0,80.10-5 – 2,60.10-5M)

3 Đường chuẩn thứ ba:

A k = (41003,3708 ± 4195,1138).C k

Nồng độ nitrit tuân theo định luật Bia từ (2,80.10-5 – 4,80.10-5M)

b Đánh giá sự chính xác của đường chuẩn

Để áp dụng được đường chuẩn vào việc xác định hàm lượng nitrit trong nước sông Nhuệ chúng tôi tiến hành xác định hàm lượng nitrit trong 7 mẫu tự tạo nhằm đánh giá sự chính xác của đường chuẩn Các kết quả thu được cho thấy sai số tương đối của phép xác định nhỏ hơn ±3% Như vậy các đường chuẩn đã được xây dựng ở trên có thể

sử dụng để xác định hàm lượng NO2- trong nước thải, nước sinh hoạt bị ô nhiễm bởi nitrit

c Phương pháp thêm chuẩn

Nhằm mục đích kiểm tra độ chính xác của phương pháp đường chuẩn, chúng tôi tiến hành xác định hàm lượng NaNO2 trong 7 mẫu tự tạo theo phuong pháp thêm chuẩn

Trang 9

Các kết quả tính được cho thấy sai số tương đối nhỏ hơn 2,5% Như vậy, chúng ta có thể

sử dụng phương pháp thêm chuẩn để xác định hàm lượng NO2- trong nước thải sông Nhuệ, mặt khác có thể dùng phương pháp thêm chuẩn này để kiểm tra kết quả xác định nitrit bằng phuong pháp khác

IV KẾT LUẬN

1 Qua nghiên cứu chúng tôi đã tìm được một số điều kiện tối ưu để tạo thành hợp chất màu giữa nitrit với axitfanilic và α – naphtylamin như sau:

- Bước sóng tối ưu là 532nm

- Thời gian bền màu từ 40 ÷ 45 phút

- Nồng độ nitrit tham gia phản ứng tối ưu từ 0,5.10-5 ÷ 2,4.10-5 M

- pH từ 0,75 tới 2,00 để thực hiện phản ứng

- Thể tích thuốc thử (hỗn hợp axitfanilic và α – naphtylamin) tối ưu

từ 1,5 ÷ 2,5 ml

2 Chúng tôi đã xây dựng được các đường chuẩn và xây dựng được phương pháp thêm chuẩn trong phương pháp trắc quang để xác định hàm lượng nitrit trong các mẫu tự tạo và kiểm tra độ tin cậy của các phương pháp cho thấy sai số của mỗi phương pháp nhỏ hơn ±3% Như vậy có thể dùng thuốc thử (hỗn hợp axitfanilic và α – naphtylamin) để xác định nitrit bằng phương pháp trắc quang

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Văn Nội, Phạm Hùng Việt, Trần Tứ Hiếu Hóa học môi trường cơ

sở NXB Giáo dục, 1999

Trang 10

2 Trần Hữu Uyển, Trần Đức Hạ Bảo vệ nguồn nước chống ô nhiễm và cạn kiệt NXB Nông nghiệp, 1995

3 Từ Vọng Nghi, Trần Tứ Hiếu, Huỳnh Văn Trung Các phương pháp phân tích nước NXB Khoa học Kỹ thuật Hà Nội, 1995

4 Lê Văn Cát Cơ sở hóa học và kỹ thuật xử lý nước Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia NXB Thanh niên, Hà Nội, 1999

5 IPHA – AWWA – IWPC, 1995 Standard Methods for the axamination of water and Wasterwater – 18th Edition, Washington D.C

6 Standard Methods for the axamination of water and Wasterwater 19th Edition, 1995

Trang 11

Tóm tắt tiếng việt

Qua nghiên cứu chúng tôi đã tìm được một số điều kiện tối ưu để tạo thành hợp chất màu giữa nitrit với axitfanilic và α – naphtylamin.

Chúng tôi đã xây dựng được các đường chuẩn và xây dựng được phương pháp thêm chuẩn trong phương pháp trắc quang để xác định hàm lượng nitrit trong các mẫu tự tạo và kiểm tra độ tin cậy của các phương pháp cho thấy sai số của mỗi phương pháp nhỏ hơn ±3% Như vậy có thể dùng thuốc thử (hỗn hợp axitfanilic và α – naphtylamin) để xác định nitrit bằng phương pháp trắc quang.

Từ khóa: Ô nhiễm nitrit

DAO DINH THUAN

Ha Noi university of mining and geology

Địa chỉ liên hệ:

Email: info@123doc.org

Tel: 0902108867

Ngày đăng: 23/01/2021, 19:46

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w