1. Trang chủ
  2. » Văn bán pháp quy

PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CHO GIẢNG VIÊN TRẺ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

10 61 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 41,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngành giáo dục nước ta coi trọng công tác NCKH trong các trường đại học và coi việc NCKH là nhiệm vụ của mỗi giảng viên - điều này được thể hiện ở Quyết định số 64/2008/QÐ- BGDÐT ngày 28[r]

Trang 1

PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CHO GIẢNG VIÊN TRẺ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

Ths Trần Thị Kim Nhung Giảng viên Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

Tóm tắt

Giáo dục phát triển là một lợi thế bền vững của quốc gia, trong đó có sự đóng góp rất lớn

từ phía giảng viên Với vai trò to lớn của đội ngũ giảng viên vừa đi dạy vừa là nhà nghiên cứu thì không những chất lượng giảng dạy mà kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên là vấn đề rất quan trọng và cần được quan tâm Dựa trên thực trạng về hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) của giảng viên trẻ (GVT) Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, tác giả đưa ra 3 nhóm nguyên nhân chính ảnh hưởng đến kết qủa NCKH của GVT Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (ĐHKTQD) gồm: (1) Nguyên nhân liên quan đến môi trường và điều kiện NCKH; (2) Nguyên nhân liên quan đến bản chất các hoạt động NCKH; (4) Nguyên nhân ở bản thân đội ngũ GVT

Từ đó, tác giả đề xuất giải pháp nhằm giúp các nhà quản lý các cấp và bản thân GVT nhìn nhận

và thay đổi cơ chế và phương thức quản lý nhằm phát triển NCKH của GVT trong Nhà trường

Từ khóa: Nghiên cứu khoa học, giảng viên trẻ, phát triển

Abstract

Education development is a sustainable advantage of the country In which, lecturer staff have a large contribution A lecturer has to do both teaching and research Thus, besides the quality of teaching, the research results is an important issue and needs attention Based on the current state of doing research at National Economics University by young lecturers, the paper gives three main reasons affecting the research results They include: (1) the environment and conditions for doing research; (2) the nature of research activities; (3) young lecturers themselves From that analysis, the paper proposes a solution to help the managers and young lecturers recognize the issue, change the management policy in order to promote research activities of young lecturers

Key words: doing research, young lecturers, promotion

I Đặt vấn đề

Trang 2

Ngành giáo dục nước ta coi trọng công tác NCKH trong các trường đại học và coi việc NCKH là nhiệm vụ của mỗi giảng viên - điều này được thể hiện ở Quyết định số 64/2008/QÐ-BGDÐT ngày 28-11-2008 của Bộ Giáo dục và Ðào tạo về chế độ làm việc đối với giảng viên và

ở thông tư liên tịch số 06/2011/TTLT-BNV-BGDĐT qui định tiêu chuẩn, nhiệm vụ, chế độ làm việc, chính sách đối với giảng viên đại học Hơn nữa, trong chiến lược Giáo dục đại học Việt Nam đã nêu rõ: “Tổ chức một số trường đại học theo định hướng nghiên cứu ĐHKTQD là trường đã tuyên bố kế hoạch phát triển thành trường đại học định hướng nghiên cứu đến năm

2020 Chặng đường 4 năm tới không còn dài, trong khi bản thân nội hàm của “đại học định hướng nghiên cứu” vẫn chưa được xác lập và cụ thể hóa thành chiến lược và các kế hoạch hành động Điều này đặt ra nhiều thách thức với mục tiêu trên

Trong giai đoạn 2011 đến tháng 5 năm 2013, quy mô GVT trường ĐH KTQD đã tăng lên 30,26 %, từ tổng số 261 GVT năm 2011 lên đến 340 GVT tháng 5 năm 2013 Lực lượng GVT của ĐH KTQD chủ yếu có học vị thạc sỹ, năm 2013 có 234 GVT chiếm 68,82% thạc sỹ, chỉ có

13 người có học vị tiến sỹ chiếm 3,82%, còn lại là cử nhân chiếm 27,94% và không có GVT nào

là GS hay PGS Một thực trạng là bên cạnh rất nhiều giảng viên tâm huyết, yêu nghề, say sưa làm việc vẫn còn những giảng viên chưa thực sự nỗ lực trong NCKH Hàng năm, một số giảng viên bên cạnh khối lượng giờ giảng hoàn thành vượt mức thì lại không hoàn thành nhiệm vụ NCKH, vắng bóng các bài báo được đăng tải Tất cả những điều này thực sự là tiếng chuông báo động về sự thiếu nhiệt huyết trong hoạt động NCKH

2 Thực trạng kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên trẻ Trường Đại học Kinh tế quốc dân

Hoạt động NCKH của GVT được sử dụng trong nghiên cứu này với nghĩa chỉ các hoạt động mà GVT thực hiện để hoàn thành nhiệm vụ NCKH của giảng viên đã được quy định Các sản phẩm NCKH của giảng viên có thể kể đến như bài báo đăng tải trên tạp chí trong nước và quốc tế; bài đăng hội thảo, kỷ yếu trong và ngoài nước; đề tài NCKH các cấp đã thực hiện; giáo trình, sách tham khảo, tài liệu hướng dẫn học tập,… đã biên soạn; chương trình môn học được hội đồng khoa học thông qua; biên dịch tài liệu nước ngoài; công trình hướng dẫn sinh viên NCKH đạt giải

- Thực trạng số công trình NCKH được nghiệm thu: Trong giai đoạn 2011-2013, đã có 10

đề tài cấp Nhà nước trong đó chỉ có 13 lượt GVT tham gia và không GVT nào là chủ nhiệm, 89

đề tài cấp Bộ và cấp Bộ trọng điểm trong đó có 4 đề tài chủ nhiệm là các GVT chiếm 4,49% và

94 lượt GVT tham gia, 159 đề tài cấp cơ sở được thực hiện trong đó có 33 đề tài do GVT chủ nhiệm chiếm 20,75% Đồng thời dưới sự hướng dẫn của các giảng viên đã có 168 giải thưởng cấp trường dành cho NCKH của sinh viên trong đó có 40 giải do các GVT hướng dẫn chiếm 23,81% Trong giai đoạn 2011-2013 trường đã xuất bản và tái bản có sửa chữa, bổ sung được

187 cuốn giáo trình trong đó có 5 cuốn (chiếm 2,67%) chủ biên là các GVT và 265 cuốn sách

Trang 3

tham khảo, chuyên khảo, tài liệu hướng dẫn học tập trong đó 60 cuốn (chiếm 22,64%) chủ biên

là GVT Cũng trong giai đoạn này, trường còn công bố được 265 bài báo/bài viết đăng trên tạp chí quốc tế và kỷ yếu hội thảo quốc tế, 1490 bài báo/bài viết đăng trên tạp chí trong nước và kỷ yếu hội thảo các cấp (quốc gia, trường, khoa) trong đó có 385 bài tác giả là các GVT chiếm 25,84%

- Số giờ (qui đổi) NCKH thực hiện/năm: Do đặc thù của từng bộ môn và năng lực NCKH

của đội ngũ giảng viên các bộ môn, các khoa cũng không đều nhau Trung bình trong giai đoạn 2011-2013, số GVT không hoàn thành định mức giờ NCKH lên đến gần 60% tổng số GVT toàn trường

Bảng 1: GVT trường ĐHKTQD không hoàn thành giờ NCKH định mức

GVT không hoàn thành

Nguồn: Bộ dữ liệu “Kê khai giờ nghiên cứu khoa học của giảng viên trường ĐHKTQD

Trong đó tỷ lệ này lại không đồng đều giữa các đơn vị, do đặc thù của một số đơn vị và năng lực nghiên cứu của các GVT cũng không đều nhau nên có một số đơn vị tỷ lệ GVT tham gia NCKH rất thấp như bộ môn CNTT; bộ môn Giáo dục thể chất và bộ môn Toán cơ bản cũng chỉ có một lượng nhỏ GVT tham gia NCKH Tuy nhiên, trong cùng trường lại có những GVT rất

có thành tích trong NCKH Có thể kể đến những tấm gương điển hình của các GVT khoa Quản trị Kinh doanh; Khoa du lịch và khách sạn; Khoa Kế hoạch và phát triển

Trong từng hoạt động NCKH thì tỷ lệ GVT tham gia cũng rất khác khau:

- Tỷ lệ GVT tham gia đề tài các cấp còn thấp Kết quả cho thấy có đến 74,7% GVT chưa tham gia vào các đề tài cấp Bộ và tương đương Đối với đề tài cấp Nhà nước chỉ có 9,2% tham gia vào 1-2 đề tài, tỷ lệ này quá thấp so với số lượng GVT có học vị Thạc sỹ, Tiến sỹ của Trường Điều này phản ánh dấu hiệu hụt hẫng các chuyên gia đầu ngành sau vài năm tới nếu như nhà trường không có chiến lược bồi dưỡng đội ngũ GVT thành chuyên gia đầu ngành kế cận

- Trong 3 năm 2011-2013, vẫn có đến 34,5% GVT không có một bài báo khoa học nào trong nước và chỉ có 8% GVT có bài trên tạp chí quốc tế Trong 3 năm từ 2011-2013, tỷ lệ GVT không tham gia hội thảo khoa học các cấp còn khá lớn, chiếm tỷ lệ 72,4% hội thảo cấp Khoa/BM, 58,8% hội thảo cấp Trường và 63,2% hội thảo cấp Quốc gia

- Tỷ lệ GVT tham gia biên soạn giáo trình, sách chuyên khảo, tài liệu hướng dẫn học tập chưa cao Kết quả cho thấy có 42,5% GVT tham gia chủ yếu với vai trò thành viên Với hoạt động hướng dẫn SV NCKH thì chỉ có 27,5% GVT tham gia Riêng đối với hoạt động biên dịch

Trang 4

tài liệu thì GVT thực hiện khá tốt có đến 71,2% GVT tham gia biên dịch tài liệu điều này cho thấy trình độ ngoại ngữ của GVT là khá tốt

3 Nguyên nhân dẫn đến kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên trẻ Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

Từ kết quả phân tích trên cho thấy, số lượng công trình, mức độ hoàn thành nhiệm vụ NCKH theo qui định của Nhà trường còn thấp Điều đó cho thấy sự thiếu nỗ lực trong thực hiện nhiệm vụ NCKH Một số nguyên nhân có thể kể đến là:

(1) Nguyên nhân liên quan đến môi trường và điều kiện nghiên cứu khoa học

Azad & Seyyed (2007) đã tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả NCKH, trong đó có môi trường làm việc bao gồm: Văn hóa nghiên cứu, kinh phí cho nghiên cứu, nơi làm việc, hệ thống khen thưởng Các yếu tố được tác giả điều tra mức độ tác động đến việc tham gia NCKH với các mức độ từ 1-rất ít đến 5-rất nhiều, kết quả như sau:

Bảng 2: Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến việc tham gia NCKH của GVT

Kết quả Điểm trung bình

Độ lệch chuẩn

Nguồn: Kết quả điều tra của tác giả năm 2014

Yếu tố tác động mạnh nhất là yếu tố về mối quan hệ trong NCKH rồi đến yếu tố về điều kiện NCKH, tiếp theo là thủ tục trong NCKH, thù lao nhận được từ hoạt động NCKH, cuối cùng

là các quy định về NCKH

- Thù lao nhận được từ hoạt động NCKH: Nguồn kinh phí cho hoạt động NCKH của trường ĐH KTQD tròng vòng 3 năm từ 2010 đến 2013 là 40.472 triệu đồng trong đó kinh phí sự nghiệp khoa học vẫn là chủ yếu (37.167 triệu đồng) chiếm 91,83% tổng kinh phí, các nguồn khác chỉ chiếm 8,17% Kinh phí cho sự nghiệp khoa học hàng năm đều tăng, nếu năm 2010 kinh phí

sự nghiệp khoa học là 11.543 triệu đồng thì đến năm 2013 con số này đã lên 13.304 triệu đồng

Bảng 3: Kinh phí dành cho hoạt động KH&CN của trường ĐH KTQD

ĐVT: Triệu động

Số

T

T

kinh phí

Trong đó Kinh phí sự nghiệp khoa học Các

nguồn

Trang 5

số khác

CHI HOẠT ĐỘNG KHCN 40.472 37.167 11.543 12.320 13.304 3.305

I Chi nghiên cứu khoa học

I.1 Nhiệm vụ cấp Nhà nước 12.591 11.591 4.500 3.600 3.491 1.000 Chương trình KHXH và

-Đề tài độc lập cấp Nhà

Nhiệm vụ HTQT theo Nghị

-I.2 Nhiệm vụ cấp Bộ, cấp

-Chương trình, đề tài cấp

-I.3 Chi hoạt động KHCN khác 10.851 9.546 2.928 2.735 3.883 1.305

-Nguồn: Phòng Quản lý khoa học, “Tổng hợp phân bổ kinh phí sự nghiệp KHCN” giai

đoạn 2010-2013

Tuy kinh phí dành cho hoạt động khoa học công nghệ hàng năm đều tăng nhưng với lượng kinh phí sự nghiệp khoa học như trên thì tính bình quân cho một cán bộ giảng viên là rất hạn chế Năm 2011 là 12,320 triệu/GV, 2012 là 13,304 triệu/GV

- Mối quan hệ và sự hỗ trợ trong NCKH: Kết quả điều tra cho thấy sự hỗ trợ của GVT và giảng viên có thâm niên, kinh nghiệm, uy tín trong Nhà trường được đánh giá là tương đối tốt tương ứng với 32,2% và 46,8% GVT hài lòng Tuy nhiên các hoạt động NCKH của GVT lại thiếu đi sự hỗ trợ của bộ môn và người quản lý trực tiếp, có đến 54% GVT chưa hài lòng về sự

hỗ trợ từ phía bộ môn và người quản lý trực tiếp Vai trò của Bộ môn trong việc định hướng, tạo điều kiện tham gia cũng như tổ chức quản lý các hoạt động NCKH lại rất mờ nhạt Kết quả này

Trang 6

hoàn toàn phù hợp với “Kết quả khảo sát năng lực và vai trò của Bộ môn” (Nguyễn Đình Cử và Phạm Đại Đồng, 2013) đã cho thấy tiềm năng thực hiện NCKH của các Bộ môn là rất tốt Tuy nhiên các Bộ môn vẫn chỉ nổi trội trong vai trò tham gia thay vì vai trò chủ trì NCKH Điều này được thể hiện qua sự chủ động có phần hạn chế của bộ môn trong hoạt động đấu thầu NCKH các cấp, nghiên cứu ứng dụng cũng như tổ chức hội thảo khoa học Hơn nữa, cũng theo báo cáo này, trong nhiều trường hợp, giảng viên của bộ môn tự mầy mò tìm mối quan hệ tham gia các đề tài không thông qua bộ môn

- Nhằm tạo điều kiện tra cứu thông tin tốt hơn cho cán bộ giảng viên trong trường, hiện phần mềm quản lý các dữ liệu về công trình nghiên cứu của các cán bộ giảng viên mới đang triển khai Thư viện trường hiện tại chỉ phục vụ chủ yếu cho sinh viên và học viên Giảng viên không

có tài khoản “account” để vào các tạp chí quốc tế cũng như vào thư viện của các trường nước ngoài Và điều này cũng lý giải vì sao số lượt giảng viên đến thư viện tăng không đáng kể

Bảng 4: Thực trạng cơ sở vật chất và thiết bị đào tạo – Trung tâm thông tin thư viện

ST

Số lượng

Sách, tài liệu tham khảo tiếng

nước ngoài: Anh, Đức, Pháp,

Trung

NCS, học viên, sinh viên Lượt 53.246 53.231 53.881

Nguồn: Trung tâm thông tin thư viện – trường ĐHKTQD, “Số liệu thống kê thực tế

nguồn lực thông tin”, giai đoạn 2011-2013.

(2) Nguyên nhân liên quan đến bản chất các hoạt động nghiên cứu khoa học

Nghiên cứu của Sax và cộng sự (2002) đã đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất 5 nhóm yếu

tố tác động đến kết quả NCKH trong đó có yếu tố liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu, tính chất các hoạt động nghiên cứu được đảm nhận của người giảng viên Blackburn & Lawrence (1995)

Trang 7

cũng cho thấy các nhóm yếu tố ảnh hưởng gồm các yếu tố liên quan đến chuyên môn được đào tạo, kinh nghiệm/thành tích nghiên cứu, cơ hội được phát triển trong công việc, cảm nhận về sự thành đạt qua các hoạt động NCKH, mức độ hấp dẫn của các hoạt động NCKH

Bảng 5: Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến việc tham gia NCKH của GVT

Kết quả Điểm trung bình

Độ lệch chuẩn

2 Đánh giá phê duyệt và nghiệm thu công trình NCKH 3.3793 75638

5 Cơ hội thăng tiến, nâng cao học hàm, học vị 3.6207 85238

Nguồn: Kết quả điều tra của tác giả tháng năm 2014

Đối với các yếu tố liên quan đến bản chất công việc NCKH, yếu tố tác động mạnh nhất là yếu tố tạo cơ hội đào tạo phát triển (điểm trung bình 4.1950); yếu tố cơ hội thăng tiến nâng cao học hàm học vị (điểm trung bình 3.6207); yếu tố bản thân công việc (điểm trung bình 3.5862)

- Thực tế GVT ĐHKTQD tham gia vào rất ít các đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ Mặc dù Nhà trường đã có chính sách hỗ trợ kinh phí cho GVT viết báo cáo chuyên đề, sinh hoạt khoa học bộ môn, khuyến khích các GVT báo cáo các nghiên cứu tại buổi sinh hoạt khoa học bộ môn nhưng những việc làm này chưa được thực hiện không liên tục, đều đăn

- Công tác đào tạo bồi dưỡng trình độ sau đại học cho đội ngũ giảng viên được trường tiến hành khá đều đặn, số lượng giảng viên được đi đào tạo sau đại học trong và ngoài nước ngày càng gia tăng song vấn đề đặt ra ở đây là công tác đào tạo mới chỉ dừng lại ở việc đáp ứng nhu cầu, đề nghị từ phía cá nhân các giảng viên Do vậy còn dẫn đến một số bất cập như sự phát triển trình độ học vấn không đồng đều giữa các đơn vị, tình trạng không hoàn thành khóa đào tạo đúng hạn, tình trạng không về nước sau khi kết thúc quá trình đào tạo đang diễn ra khá phổ biến

Bảng 6: Số lượng giảng viên trường ĐHKTQD được đi đào tạo sau đại học

Đơn vị: Người

Năm

Trang 8

2 Đào tạo thạc sỹ 16 19 16

Nguồn: Phòng tổ chức Cán bộ - trường ĐHKTQD giai đoạn 2011-2013

Trường còn luôn tạo điều kiện để đội ngũ giảng viên được tham gia các chương trình bồi dưỡng ngắn hạn, bồi dưỡng kiến thức theo chuyên đề trong khuôn khổ các dự án liên kết với nước ngoài, các dự án do nước ngoài tài trợ hoặc do trường tổ chức Trong thời gian gần đây, trường luôn chủ động mở các lớp bồi dưỡng GVT, trong đó có các chuyên đề huấn luyện về phương pháp sư phạm, kỹ năng giảng dạy, phương pháp nghiên cứu khoa học cơ bản và nâng cao, …

Bảng 7: Các lớp bồi dưỡng ngắn hạn được tổ chức tại trường ĐHKTQD

Đơn vị tính: Lớp

Năm

3 Bồi dưỡng sử dụng web, moodle, các phần mềm

Nguồn: Phòng Tổ chức Cán bộ, “Báo cáo kết quả công tác đào tạo”, năm 2013

Tuy số lớp bồi dưỡng ngắn hạn về năng lực nghiên cứu được tăng dần qua các năm nhưng số lượng các chuyên đề, các chương trình bồi dưỡng còn đang ở mức hạn chế Hơn nữa, các khóa bồi dưỡng thường tổ chức vào ban ngày, không thể tính toán hết được việc trùng vào giờ giảng của giảng viên Cho nên các giảng viên vừa đi học vừa đi giảng Kết quả khảo sát cho thấy vẫn còn tỷ lệ tương đối GVT chưa hài lòng về thời gian (8%) và nội dung của các lớp bồi dưỡng (6,9%) Và chỉ có 2,3% trả lời không hài lòng việc được tạo điều kiện tham gia các khóa học

(3) Nguyên nhân về phía bản thân người GVT

Nghiên cứu của Azad & Seyyed (2007) cho thấy yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến việc tham gia NCKH của GVT là các yếu tố xuất phát từ bản thân bao gồm sự nhận thức về ý nghĩa của việc thực hiện nghiên cứu, lòng đam mê NCKH, năng lực thực hiện nghiên cứu Webster (1995) cho rằng đam mê là khuynh hướng mạnh mẽ của một người đối với một hoạt động nào đó thông qua cách đầu tư thời gian cho việc theo đuổi công việc đó Đam mê sẽ làm con người tự nguyện,

tự do lựa chọn và theo đuổi mục tiêu của mình, họ hoàn toàn có đủ nhận thức điều khiển các hoạt động để chinh phục mục tiêu của họ Nhưng thực tế nhiều GVT chưa có sự say mê, có tình yêu với NCKH Nhiều cá nhân có quan niệm rằng NCKH là nhiệm vụ hoặc niềm say mê riêng của các cá nhân Các cá nhân sẽ tự thân vận động nếu họ cảm thấy NCKH đem lại cho họ những lợi

Trang 9

ích nhất định Lợi ích đối với người này có thể là được làm công việc mình yêu thích hoặc được thử thách bản thân, đối với người kia có thể là để phục vụ cho sự phát triển hoặc thăng tiến trong nghề nghiệp, hoặc đôi khi chỉ đơn thuần là để hoàn thành nhiệm vụ của một giảng viên Chính vì vậy mà động lực làm nghiên cứu của các cá nhân rất khác nhau, có người nhiều, người ít, có người thậm chí không có chút động lực nào

- Năng lực NCKH của GVT chưa cao một số GVT khi được tuyển dụng chưa được đào tạo cũng chưa có chút kinh nghiệm gì về nghiên cứu hơn nữa nhiều GVT tuổi đời còn ít lại chưa tham gia nhiều vào các đề tài NCKH nên kinh nghiệm nghiên cứu vẫn còn hạn chế

4 Một số biện pháp nhằm phát triển hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên trẻ Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

(1) Cải thiện môi trường, điều kiện NCKH

- Hoàn thiện phần mềm quản lý khoa học theo các hướng: Cơ sở dữ liệu về các đề tài khoa học được xây dựng nhằm quản lý các đề tài nghiên cứu khoa học của các cán bộ giảng viên trường ĐHKTQD Về hệ thống cơ sở dữ liệu điện tử hiện tại của trường việc truy cập và tải tài liệu hiện nay là tương đối khó khăn, nên chăng Nhà trường có thể cấp tên người dùng và mật khẩu cho giảng viên trong trường để thuận tiện cho việc truy cập phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu

- Nâng cao tính chủ động của Bộ môn trong các hoạt động NCKH Thực hiện cải tiến công tác hướng dẫn GVT, giao nhiệm vụ hoặc đặt ra tiêu chí cụ thể đối với giảng viên chính, tiến

sĩ, PGS, GS phải hướng dẫn GVT trong chuyên môn của mình theo hướng chất lượng hiệu quả, thiết thực

- Cần có các qui định và chế tài thưởng phạt rõ ràng về hoạt động NCKH cho giảng viên

và các đơn vị Cho phép chuyển đổi giờ nghiên cứu khoa học sang giờ giảng dạy theo một tỷ lệ nhất định Việc hoàn thành nhiệm vụ NCKH của mỗi giảng viên sẽ lấy làm một trong những căn

cứ để xét danh hiệu thi đua hàng năm

(2) Biện pháp liên quan đến các hoạt động NCKH

- Khuyến khích GVT mạnh dạn làm chủ các đề tài NCKH cấp cơ sở bằng cách tăng số lượng đề tài và ưu tiên hơn nữa cho các GVT Tiếp tục phát hiện và huy động các GVT tham gia nghiên cứu vào các đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ cùng các nhà khoa học, các giảng viên có học hàm, học vị cao đảm nhận

(3) Nâng cao nhận thức của giảng viên trẻ đối với NCKH

- Nâng cao ý thức, trách nhiệm tham gia NCKH của GVT Nhà trường cần hướng dẫn và tuyên truyền về lợi ích của NCKH đối với giảng viên nhằm giúp giảng viên chủ động tham gia NCKH

Trang 10

- Tiếp tục đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực nghiên cứu cho đội ngũ GVT Nhà trường tiếp tục tạo cơ hội cho GVT đi học tập, nghiên cứu ở những trường đại học lớn Thường xuyên mở các lớp bồi dưỡng chuyên sâu về phương pháp nghiên cứu cho GVT, tổ chức các buổi tọa đàm để các nhà khoa học đầu ngành, các giảng viên có kinh nghiệm chia sẻ kinh nghiệm NCKH cho các GVT Khuyến khích hình thành các nhóm nghiên cứu chuyên sâu, kết nối nghiên cứu khoa học giữa thế hệ trẻ và các thế hệ lão thành của ĐHKTQD

Tài liệu tham khảo:

1 Bộ Giáo dục và Ðào tạo, Quyết định về chế độ làm việc đối với giảng viên, số

64/2008/QÐ-BGDÐT

2 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Thông tư số 14/2014/TT-BGDĐT quy định xét tặng giải thưởng “Tài năng khoa học trẻ Việt Nam” dành cho GVT trong các cơ sở giáo dục đại học, ban

hành ngày 05 tháng 5 năm 2014

3 Trần Thị Kim Nhung (2014), “Hoàn thiện các công cụ tạo động lực nghiên cứu khoa học của giảng viên trẻ trường Đại học Kinh tế Quốc dân”, Luận văn cao học, Đại học

Kinh tế Quốc dân

4 Azad, A.N & Sayyed, F.J., 2007, “Factor influencing faculty research productivity: evidence

from AACSB Accredited Schools in the GCC Countries J of Intl”, Business Research, 6 (1),

109-127

5.Sax, L.J (2002), “Faculty research productivity: Exploring the role

of gender and Family-related factor”, Research in Higher Education, 43(4), 423-446

6 Webter, R (1995), Why Freud Was Wrong: Sin, Science and Psychoanalysis, Fontana Press

Ngày đăng: 23/01/2021, 19:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w