Kết quả nghiên cứu của luận án đã tiếp tục khẳng định vai trò năng lực cảm xúc đến hiệu quả lãnh đạo của nhà quản trị, đồng thời kết quả nghiên cứu chỉ ra EI của NQT cấp trung ảnh hưở[r]
Trang 1Trường đại học kinh tế quốc dân
- -đoàn xuân hậu
NGHIÊN CứU NĂNG LựC CảM XúC
CủA NHà QUảN TRị CấP TRUNG TRONG CáC
NGÂN HàNG THƯƠNG MạI VIệT NAM
Chuyên ngành : QUảN TRị KINH DOANH
Mã số : 62 34 01 02
Hà nội, 2016
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS Ts NGÔ KIM THANH
Phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Thị Tuyết Mai
Đại học Kinh tế Quốc dân
Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Ngọc Thắng
Đại học Quốc gia Hà Nội
Phản biện 3: TS Hoàng Việt Trung
Ngân hàng Nhà nước - Chi nhánh Hà Nội
Luận ỏn được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận ỏn cấp
Trường Đại học Kinh tế quốc dõn
Vào hồi: Ngày thỏng năm 2016
Cú thể tỡm hiểu luận ỏn tại:
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Đại học Kinh tế quốc dõn
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của nghiên cứu
Phòng giao dịch có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của
ngân hàng thương mại Cùng với đó vai trò của các trưởng phòng giao dịch
– những nhà quản trị cấp trung có vai trò ngày càng quan trọng và được coi
là một trong những động lực chính đối với hoạt động của tổ chức (Mair và
Thurner, 2008)
Đặc trưng công việc của TPGD là thường phải gặp gỡ, trao đổi với
cấp trên, đồng nghiệp, nhân viên cấp dưới và đối tác, khách hàng…về các
khía cạnh công việc Quá trình này, đòi hỏi các TPGD cần nhận biết, thấu
hiểu được trạng thái cảm xúc hiện tại của mình và người khác; từ đó có sự
quản lý, kiểm soát tốt cảm xúc của mình cũng như có những hành động phù
hợp với người khác (cấp trên, cấp dưới, đối tác và khách hàng); cũng như
đưa ra các phương pháp quản lý cấp dưới, nhân viên theo trạng thái cảm
xúc phù hợp Những TPGD làm tốt quá trình cảm xúc trên thường là người
có điểm số cao về năng lực cảm xúc
Năng lực cảm xúc (Emotional Intelligence – EI) là chủ đề nghiên
cứu nhận được sự quan tâm của khá nhiều học giả, nhà nghiên cứu Các
công trình nghiên cứu về EI đã được thực hiện nhiều trong thời gian vừa
qua, tuy nhiên hướng nghiên cứu về EI của NQT cấp trung trong NHTM là
khoảng trống nghiên cứu Vì thế nghiên cứu tìm hiểu thực trạng EI của các
NQT cấp trung ở Việt Nam, cụ thể là TPGD trong NHTM; cũng như
nghiên cứu những tác động về EI của NQT cấp trung đến kết hoạt động của
phòng giao dịch và sự hài lòng với công việc, cam kết với tổ chức, OCB
của nhân viên có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn Vì thế, tác
giả lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu năng lực cảm xúc của nhà quản trị cấp
trung trong các ngân hàng thương mại Việt Nam" để làm luận án tiến sĩ
với mong muốn nghiên cứu này sẽ có những đóng góp nhất định để thu hẹp
khoảng trống đó và luận án sẽ là cơ sở để xây dựng các tiêu chí trong việc đánh giá, lựa chọn nhà quản trị cấp trung tại các Ngân hàng thương mại
Việt Nam
2 Mục đích của nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận án nhằm đánh giá thực trạng EI của NQT cấp trung, cũng như phân tích tác động của EI (trực tiếp và gián tiếp) tới kết quả hoạt động của PGD trong NHTM ở Việt Nam Để từ đó đưa ra những khuyến nghị về đánh giá, lựa chọn cán bộ và nâng cao, đào tạo EI
cho NQT cấp trung trong NHTM ở Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là năng lực cảm xúc và ảnh hưởng của năng lực cảm xúc của NQT cấp trung tới kết quả hoạt động của phòng giao dịch trong các NHTM Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu
Luận án nghiên cứu NQT cấp trung trong NHTM Việt Nam là các Giám đốc / Trưởng phòng phòng giao dịch thuộc các chi nhánh của NHTM trên địa bàn các tỉnh Đồng bằng Sông Hồng (Hà Nội, Nam Định, Thái
Bình, Hải Phòng, Ninh Bình…)
4 Những đóng góp mới của luận án
Về lý luận: Luận án đã đưa đến kết luận là: (i) trong số các năng lực
cấu thành đến EI của NQT cấp trung thì năng lực quản lý cảm xúc có tác động mạnh nhất đến kết quả hoạt động của phòng giao dịch trong NHTM ở Việt Nam; (ii) EI của NQT cấp trung ảnh hưởng mạnh mẽ đến với sự hài lòng với công việc, OCB hướng đến tổ chức của nhân viên và có ảnh hưởng nhưng không nhiều đến cam kết với tổ chức, OCB hướng đến cá nhân của nhân viên tại phòng giao dịch trong NHTM VN; (iii) phát hiện sự hài lòng với công việc, OCB hướng đến tổ chức của nhân viên là biến trung
Trang 3gian giữa EI của NQT cấp trung và kết quả hoạt động của phòng giao dịch
trong NHTM ở Việt Nam Đây là kết quả chính và là những điểm mới của
luận án
Về thực tiễn:Không chỉ đóng góp ở khía cạnh lý luận, kết quả nghiên
cứu của luận án còn có những đóng góp tích cực về thực tiễn cả ở phạm vi
tổ chức và cá nhân trong việc thấy được việc nâng cao EI sẽ giúp tổ chức
đạt được kết quả hoạt động tốt hơn và giúp các nhân nâng cao hiệu suất làm
việc, hiệu quả lãnh đạo
5 Bố cục của luận án
Để trình bày toàn bộ nội dung nghiên cứu của mình, bố cục của luận án
ngoài phần mở đầu và kết luận bao gồm 5 chương sau:
Chương 1 : Cơ sở lý luận về năng lực cảm xúc
Chương 2 : Tổng quan nghiên cứu và mô hình nghiên cứu
Chương 3 : Phương pháp nghiên cứu
Chương 4 : Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Bàn luận kết quả nghiên cứu và khuyến nghị
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẢM XÚC 1.1 Định nghĩa, mô hình và công cụ đo lường về năng lực cảm xúc
Quan tâm đến năng lực cảm xúc (Emotional Intelligence - EI) đã nở
rộ trong những năm gần đây, EI được dự báo là có ảnh hưởng đến sự phát triển tổ chức và phát triển con người; EI cung cấp một cách tiếp cận mới để hiểu và đánh giá hành vi, phong cách quản lý, khả năng, kỹ năng… của một
cá nhân
Dưới góc độ tiếp cận thuần năng lực, năng lực cảm xúc được hiểu là
năng lực nhận biết, hiểu rõ và làm chủ các cảm xúc của bản thân; năng lực nhận biết (thấu hiểu) cảm xúc của người khác; năng lực vận dụng những thông tin về cảm xúc đó để định hướng suy nghĩ, hành động của bản thân
Về mô hình EI, có thể chia ra thành hai loại mô hình: mô hình khả năng và mô hình kết hợp Mô hình khả năng chú trọng vào việc cảm xúc ảnh hưởng đến suy nghĩ, quyết định, kế hoạch và hành động của một người như thế nào Trong khi đó, mô hình kết hợp được xây dựng trên cơ sở EI không chỉ bao gồm các khả năng về cảm xúc mà bao gồm nhiều thuộc tính khác như tính cách, động cơ cá nhân và kỹ năng xã hội,…
Câu hỏi "Năng lực cảm xúc có thể đo được hay không?" Theo Bách khoa toàn thư Tâm lý học ứng dụng (2004), 4 công cụ đo lường được sử dụng với tần số cao nhất trong các nghiên cứu về EI là MSCEIT, EQ-i, ECI, SSRI và những công cụ này đã được nghiên cứu kỹ lưỡng và xác nhận
về mặt thống kê SSRI yêu cầu các cá nhân tham gia trả lời tự đánh giá về mình dựa trên sự tự nhận biết, hiểu biết về mình để trả lời câu hỏi Do đó,
sẽ tiết kiệm thời gian trong khảo sát và kết quả thu nhận được thường có độ tin cậy cao hơn SSRI được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu, và các nghiên cứu có qui mô khác nhau cho thấy các bằng chứng có độ tin cậy tốt
và hiệu quả trong nghiên cứu về EI (Elizabeth J Austin và cộng sự, 2004) Theo Schutte và cộng sự (2009) thì trong các công trình nghiên cứu về EI
Trang 4đã sử dụng thang đo SSRI trong việc phân tích nhân tố đã đưa đến các biến
cấu thành EI phù hợp cả về tên gọi của từng biến và không mất đi hiệu quả
của SSRI như trong nghiên cứu của Ciarrochi và cộng sự (2001), Austin và
cộng sự (2004)
1.2 Năng lực cảm xúc của nhà quản trị cấp trung trong NHTM ở Việt
Nam
1.2.1 Giới thiệu về nhà quản trị cấp trung trong NHTM ở Việt Nam
Theo Uyterhoeven (1972), NQT cấp trung là NQT ở cấp trung gian
trong hệ thống cấp bậc của công ty và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt
động của một bộ phận kinh doanh nhất định NQT cấp trung cũng có thể
được định nghĩa là NQT ở bên dưới NQT cấp cao/ Ban điều hành và ở trên
đội ngũ giám sát (Heckscher, 1995)
NHTM ở Việt Nam với đặc thù về cơ cấu tổ chức của là gồm nhiều
tầng nhiều cấp bậc Xét ở phạm vi một chi nhánh thì NQT cấp trung tại
NHTM có thể bao gồm: Trưởng phòng và phó trưởng phòng ban thuộc chi
nhánh; Giám đốc/ Trưởng phòng, phó trưởng phòng phòng giao dịch
thuộc chi nhánh
1.2.2 Năng lực cảm xúc của nhà quản trị cấp trung trong NHTM ở
Việt Nam
Theo định nghĩa về EI do Mayer và Salovey đưa ra, năng lực cảm
xúc của NQT cấp trung trong NHTM ở Việt Nam được hiểu là năng lực
nhận biết, hiểu rõ và làm chủ các cảm xúc của bản thân; năng lực nhận biết
(thấu hiểu) cảm xúc của người khác; năng lực vận dụng những thông tin về
cảm xúc đó để định hướng suy nghĩ, hành động của bản thân
Và dựa trên mô hình EI của Mayer và Salovey (1997), cấu trúc năng
lực cảm xúc của nhà quản trị cấp trung trong NHTM ở Việt Nam bao gồm:
Bảng 1.5: Năng lực cảm xúc của của NQT cấp trung trong NHTM Việt Nam
EI của NQT
Nhận biết cảm xúc
Khả năng nhận dạng chính xác những cảm xúc của riêng mình và của người khác
Sử dụng cảm xúc
Khả năng sử dụng cảm xúc để hỗ trợ quá trình tư duy, phán đoán và hành động
Thấu hiểu cảm xúc
Khả năng thấu hiểu về các trạng thái cảm xúc, cũng như nguyên nhân nguyên nhân gây ra và các tiến trình phát triển của cảm xúc
Quản lý cảm xúc
Khả năng kiểm soát, tự điều khiển các cảm xúc của bản thân, sắp đặt các cảm xúc nhằm hỗ trợ một mục tiêu xã hội nào đó, điều khiển cảm xúc của người khác
Nguồn: Dựa trên mô hình EI của Mayer và Salovey (1997)
CHƯƠNG 2:
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Tổng quan nghiên cứu về năng lực cảm xúc của nước ngoài
2.1.1 Những nghiên cứu về mối quan hệ giữa EI với các yếu tố thuộc về nhà quản trị
2.1.1.1 Mối quan hệ giữa EI và giới tính
“Có một sự khác biệt giữa nam giới và nữ giới về tổng điểm và điểm số ở từng yếu tố cấu thành năng lực cảm xúc?” Câu hỏi này cũng chưa có sự thống nhất: có một số nhà nghiên cứu cho rằng có sự khác biệt
về điểm số EI giữa nam giới và nữ giới (Mandell và Pherwani, 2003), Cavallo và Brenza (2002) ; trong khi đó một số nhà nghiên cứu lại cho
Trang 5rằng không có sự khác biệt về điểm số EI giữa nam và nữ (Nikolaou và
Tsaousis,2002), Brooks (2002), (Goleman, 2003)
2.1.1.2 Mối quan hệ giữa EI và độ tuổi
Daniel Goleman (1995; 2004) tuyên bố rằng EI của mỗi người có
xu hướng tăng theo thời gian và ông đã xây dựng các dữ liệu, chương trình
đào tạo để nâng cao năng lực cảm xúc John Mayer và các cộng sự (1999,
2003) cũng cho rằng điểm số EI tăng theo độ tuổi Tuy nhiên, những kết
quả trên trái với những phát hiện của Slaski và Cartwright (2003), những
học giả đã cho ra rằng không có mối quan hệ giữa độ tuổi và EI – hay mối
quan hệ giữa EI và độ tuổi là thực tế không tồn tại Cụ thể hai tác giả trên
đã nghiên cứu với các tổ chức hiện đang sử dụng lao động có khoảng cách
bốn thế hệ và kết quả nghiên cứu chỉ ra không có cơ sở để khẳng định theo
nhóm tuổi khác nhau thì EI tăng lên
2.1.1.3 Mối quan hệ giữa EI và trình độ học vấn
Không nhiều công trình nghiên cứu đề cập mối quan hệ giữa EI và
trình độ học vấn Điều này là do khá nhiều học giả nhìn EI như là một cấu
trúc riêng biệt với khả năng nhận thức (IQ) Trong nghiên cứu về EI của
các nhà lãnh đạo, Brooks (2002) thấy rằng trình độ học vấn không tác
động nhiều đến EI, nhưng đã tìm EI khác biệt ở những người có bằng cấp
trong ngành khoa học và những người có bằng cấp về nghệ thuật Tuy
nhiên, Nikolaou và Tsaousis (2003) lại có cách nhìn khác và kết quả
nghiên cứu đã minh chứng rằng biến EI tương quan đáng kể với thời gian
(số năm) giáo dục
2.1.1.4 Mối quan hệ giữa EI và hiệu quả công việc của NQT
Có nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã khám phá tác dụng của EI và
hiệu quả công việc và kết quả cho thấy có mối tương quan thuận chiều giữa
EI và hiệu quả công việc (Goleman,1998; Bachman và cộng sự, 2000; Fox
và Spector, 2000; Jordan và cộng sự, 2002; Wong và Law, 2002; Slaski và
Cartwright, 2002)
2.1.1.5 Mối quan hệ giữa EI và quản lý
Theo Fredrickson (2003), các nhà quản lý với EI cao có thể cải thiện hiệu suất của cấp dưới của họ bằng cách quản lý tốt những cảm xúc
mà nuôi dưỡng sự sáng tạo, kiên cường và sự tự tin ở cấp dưới, dẫn đến kết quả hợp tác tốt hơn giữa các nhân viên (Barsade, 2002), đồng thời giúp nhân viên tổ chức công việc, đóng góp xây dựng tổ chức tốt hơn và góp phần cải thiện hiệu suất làm việc (Wong và Law, 2002)
2.1.1.6 Mối quan hệ giữa EI và lãnh đạo
Khi một nhà lãnh đạo với EI cao thì họ thường sẵn sàng đóng góp nhiều hơn cho tổ chức (Abraham, 2000) và thường là những người diễn đạt tốt hơn ở nơi làm việc (Goleman, 2000), sử dụng tốt các mối quan hệ giữa các cá nhân, xây dựng lòng tin và tinh thần đồng đội trong các nhân viên khác tốt hơn; và việc ra quyết định và các hoạt động của tổ chức sẽ được cải thiện khi các nhà lãnh đạo sử dụng biết cách sử dụng các cảm xúc tích cực của mình và nhân viên (George, 2000; Wong và Law, 2002) Ở khía cạnh đối lập, khi nhà lãnh đạo không thể kiểm soát cảm xúc của mình thường dẫn đến sự kém hiệu quả trong chất lượng công việc, tư duy và quá trình ra quyết định, sự tương tác với những người khác và sẽ dẫn đến sự không hài lòng với công việc của nhân viên (Palmer, Jansen & Coetzee, 2006)
2.1.2 Những nghiên cứu về mối quan hệ giữa EI với các biến ở cấp độ
tổ chức
Venkatraman và Ramanujam (1986) cho rằng kết quả hoạt động của doanh nghiệp có thể được nhìn nhận dưới góc độ kết quả tài chính; kết quả phi tài chính (chỉ số hoạt động); hoặc kết hợp giữa kết quả tài chính và phi tài chính
Rahim & Malik (2010) trong một nghiên cứu thực nghiệm đã kết luận rằng có mối quan hệ trực tiếp giữa EI và kết quả hoạt động của doanh nghiệp Ở đây EI đóng vai trò điều phối trong mối quan hệ giữa nhà cung cấp dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng, là một động lực cơ bản của kết
Trang 6quả hoạt động của doanh nghiệp (Rehman và cộng sự, 2012; Pahuja và
Sahi, 2012) Như vậy, các nghiên cứu gần đây đều cho rằng có mối quan hệ
giữa EI và kết quả hoạt động của doanh nghiệp nhưng chưa có nghiên cứu
nào chỉ ra yếu tố nào trong số các yếu tố cấu thành EI của nhà quản trị ảnh
hưởng đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp
2.1.3.Những nghiên cứu về mối quan hệ giữa EI với các biến ở cấp độ
nhân viên
2.1.3.1 Mối quan hệ giữa EI và sự hài lòng với công việc
Ở phạm vi tổ chức, sự hài lòng với công việc là những phản ứng
cảm xúc tích cực của nhân viên với công việc khi giá trị từ công việc đem
lại như mong đợi (Olsen, 1993) Nhà quản trị với EI cao sẽ nhận biết và
đáp ứng những điều nhân viên mong đợi từ công việc đem lại Luddy
(2005) cho rằng sự giám sát của cấp trên là một trong những nhân tố ảnh
hưởng đến sự hài lòng với công việc của nhân viên cùng với các nhân tố
khác Như vậy, phải chăng năng lực cảm xúc của nhà quản trị ảnh hưởng
đến sự hài lòng với công việc của nhân viên – đây là khoảng trống trong
nghiên cứu về mối quan hệ giữa EI và sự hài lòng với công việc
2.1.3.2 Mối quan hệ giữa EI và cam kết với tổ chức
Cam kết với tổ chức (Organizational Commitment - OC) có thể được
hiểu là mức độ đồng nhất và tham gia hết mình của một nhân viên vào tổ chức
Theo Meyer và Allen (1997) có thể hiểu cam kết với tổ chức ở 3 khía cạnh: (i)
Cam kết tình cảm; (ii) Cam kết tiếp tục; (iii) Cam kết quy phạm
Carmeli (2003) cho rằng EI và cam kết với tổ chức có một mối
quan hệ thuận chiều/tích cực Tuy nhiên, Wong và Law (2002) cho rằng
mặc dù EI có mối quan hệ nhất định như sự hài lòng công việc và cam kết
tổ chức, nhưng EI không ảnh hưởng quá nhiều đến mức độ cam kết với tổ
chức Guleryuz và cộng sự (2008) cũng nói rằng EI không liên quan trực
tiếp đến cam kết với tổ chức; và sự hài lòng với công việc như là biến trung
gian giữa EI và cam kết với tổ chức
2.1.3.3 Mối quan hệ giữa EI và hành vi xây dựng tổ chức
Hành vi xây dựng tổ chức (Organizational citizenship behavior - OCB) như một phương pháp tiếp cận mới trong quản lý nguồn nhân lực ở
nhiều tổ chức (Ertürk, 2007) Hành vi xây dựng tổ chức bao gồm một tập
hợp các hành vi của cá nhân trong tổ chức, mà những hành vi đó là những hành động được cá nhân thực hiện vượt ra ngoài nhiệm vụ, yêu cầu của công việc đề ra và đó là những hành động mà không mong đợi sự công nhận và khen thưởng (Organ, 1988)
Theo Podsakoff và cộng sự (2000), OCB bao gồm OCB - I là những hành vi của một cá nhân trong việc tự nguyện giúp đỡ người khác về những vấn đề liên quan đến công việc; OCB - O là những hành vi hướng đến lợi ích chung của tổ chức
Moghaddami và các cộng sự (2011), Yaghoubi và các công sự (2011) cho rằng có mối quan hệ nhiều ý nghĩa giữa EI của nhà lãnh đạo và OCB của nhân viên Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu chưa chỉ rõ về mức
độ ảnh hưởng về EI của nhà quản lý đến OCB-I, OCB-O của nhân viên như thế nào? Và đây cũng là khoảng trống trong nghiên cứu về mối quan hệ
giữa EI của nhà quản lý và OCB của nhân viên
2.2 Các nghiên cứu về năng lực cảm xúc tại Việt Nam
Ở Việt Nam, “Emotional intelligence” đã được một số học giả, các nhà nghiên cứu thực hiện với những kết quả đạt được cả về khía cạnh lý luận và thực tiễn:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về cơ sở lý luận hướng đến thống nhất thuật ngữ, định nghĩa, mô hình và công cụ đo lường
Thứ hai, các công trình nghiên cứu về EI được thực hiện chủ yếu trong lĩnh vực giáo dục và có những kết luận đưa ra có sự đồng thuận nhất định với một số công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài
Trang 72.3 Khoảng trống nghiên cứu và hướng nghiên cứu của đề tài
2.3.1 Khoảng trống nghiên cứu
Từ kết quả tổng quan nghiên cứu, tác giả nhận thấy hướng nghiên
cứu về năng lực cảm xúc của NQT cấp trung trong NHTM ở Việt Nam là
hướng nghiên cứu mới và có khoảng trống trong nghiên cứu về EI
2.3.2 Hướng nghiên cứu và mô hình nghiên cứu của đề tài
Đề tài hướng đến nghiên cứu về EI của NQT cấp trung trong NHTM
ở Việt Nam với mục tiêu tìm ra câu trả lời cho các câu hỏi: có mối quan hệ
chặt chẽ giữa EI của NQT cấp trung và sự hài lòng với công việc, cam kết
với tổ chức, hành vi xây dựng tổ chức của nhân viên cấp dưới hay không?; và
năng lực nào trong số các năng lực cấu thành EI của NQT cấp trung trong
NHTM tác động nhiều nhất đến kết quả hoạt động của phòng giao dịch?
2.4 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu
Mô hình nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lý luận và tổng quan các công trình nghiên cứu về năng lực
cảm xúc, mô hình nghiên cứu của luận án được đề xuất như sau:
Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu
Sự hài lòng với công việc của nhân viên (JS)
Cam kết với tổ chức của nhân viên (OC)
Kết quả hoạt động của phòng giao dịch (OP)
Hành vi xây dựng
tổ chức của nhân viên (OCB-O và OCB-I)
Năng lực cảm xúc
của NQT cấp trung trong
NHTM VN
- Nhận biết cảm xúc
- Sử dụng cảm xúc
- Thấu hiểu cảm xúc
- Quản lý cảm xúc
-
Các giả thuyết nghiên cứu
Bảng 2.2: Các giả thuyết nghiên cứu Giả
H1 EI của NQT cấp trung có tác động đến sự hài lòng với công việc của nhân viên tại phòng giao dịch trong NHTM Việt Nam H2 EI của NQT cấp trung có tác động đến cam kết với tổ chức của nhân viên tại phòng giao dịch trong NHTM Việt Nam H3 EI của NQT cấp trung có tác động đến OCB hướng đến tổ chức của nhân viên tại phòng giao dịch trong NHTM Việt Nam H4 EI của NQT cấp trung có tác động đến OCB hướng đến cá nhân của nhân viên tại phòng giao dịch trong NHTM Việt Nam H5 Năng lực nhận biết cảm xúc của NQT cấp trung có tác động đến kết quả hoạt động kinh doanh của phòng giao dịch trong NHTM VN H6 Năng lực sử dụng cảm xúc của NQT cấp trung có tác động đến kết quả hoạt động kinh doanh của phòng giao dịch trong NHTM VN H7 Năng lực thấu hiểu cảm xúc của NQT cấp trung có tác động đến kết quả hoạt động kinh doanh của phòng giao dịch trong NHTM VN H8 Năng lực quản lý cảm xúc của NQT cấp trung có tác động đến kết quả hoạt động kinh doanh của phòng giao dịch trong NHTM VN H9
Sự hài lòng với công việc của nhân viên có tác động trung gian đến mối quan hệ giữa EI của NQT cấp trung và kết quả hoạt động kinh doanh của phòng giao dịch trong NHTM Việt Nam
H10
Cam kết với tổ chức của nhân viên có tác động trung gian đến mối quan hệ giữa EI của NQT cấp trung và kết quả hoạt động kinh doanh của phòng giao dịch trong NHTM Việt Nam
H11
OCB hướng đến tổ chức của nhân viên có tác động trung gian đến mối quan hệ giữa EI của NQT cấp trung và kết quả hoạt động kinh doanh của phòng giao dịch trong NHTM Việt Nam
H12
OCB hướng đến cá nhân của nhân viên có tác động trung gian đến mối quan hệ giữa EI của NQT cấp trung và kết quả hoạt động kinh doanh của phòng giao dịch trong NHTM Việt Nam
Trang 8CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thiết kế nghiên cứu
Xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu và để lý giải rõ hơn về các kết quả
khảo sát, quy trình nghiên cứu của luận án bao gồm 2 bước chính là nghiên
cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức Trong đó nghiên cứu sơ bộ hướng đến
đề xuất mô hình nghiên cứu và thang đo; nghiên cứu chính thức: tác giả tiến
hành phát phiếu điều tra khảo sát và thu thập phiếu, nhập dữ liệu và tiến hành
phân tích nhân tố và kiểm định theo mô hình hồi quy đa biến
3.2 Thang đo
Thang đo được sử dụng để đo lường các khái niệm trong mô hình
nghiên cứu là các thang đo được nhiều công trình khoa học sử dụng và có
xác minh kỹ lưỡng về mặt thống kê:
Bảng 3.1: Thang đo các biến trong mô hình
Nhận biết cảm xúc
Dựa trên thang đo SSRI do Schutte và cộng
sự (1998)
Sử dụng cảm xúc
Thấu hiểu cảm xúc
Quản lý cảm xúc
Kết quả hoạt động của PGD Dựa trên thang đo được Phan Thục Anh
và cộng sự xây dựng (2006)
Sự hài lòng với công việc Judge và công sự (2005)
Cam kết với tổ chức Meyer và cộng sự (1993)
OCB hướng đến tổ chức
Podsakoff và cộng sự (1990,1994) OCB hướng đến cá nhân
Nguồn: Tác giả tổng hợp và xây dựng
3.3 Nghiên cứu định tính
Với mục đích đảm bảo tính khoa học và sự phù hợp của mô hình nghiên cứu, khái niệm và thang đo của các biến trong mô hình cũng như lý giải được các kết quả nghiên cứu, tác giả đã sử dụng phương phương pháp nghiên cứu tại bàn, phỏng vấn chuyên gia và phỏng vấn NQT cấp trung để hiểu hơn về mức độ ảnh hưởng của EI của NQT cấp trung đến kết quả hoạt động của phòng giao dịch
3.4 Điều tra thử
Mục đích của điều tra thử là để phát hiện các điểm yếu trong thiết
kế và cấu trúc câu hỏi (Cooper và Schindler, 1998; Fink, 2003), đồng thời hạn chế tối thiểu những vấn đề trong quá trình trả lời câu hỏi và nhập dữ liệu (Saunders và các cộng sự, 2007) Tác giả đã tiến hành điều tra thử 10 trưởng phòng giao dịch và 15 nhân viên tại Vietinbank chi nhánh Thanh Xuân, Hà Nội và Agribank chi nhánh Nam Định Kết quả điều tra thử là phiếu điều tra cơ bản được chấp nhận, chỉ điều chỉnh một số thuật ngữ và thiết kế
3.5 Nghiên cứu định lượng
Mẫu nghiên cứu
Mẫu trong nghiên cứu này được lựa chọn theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện Tác giả tiến hành khảo sát phòng giao dịch của NHTM (Vietinbank, Vietcombank, BIDV, Agribank, Mbank) và của một số NHTM không có yếu tố sở hữu của nhà nước (VP Bank, Lienvietpostbank, VIB) ở các tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định,…Trong mỗi địa phương, tác giả cũng đã lựa chọn các phòng giao dịch được bố trí về khía cạnh địa
dư tại thành phố, tại thị xã, tại các huyện
Về đối tượng trả lời bảng câu hỏi, tác giả chỉ khảo sát các trưởng phòng giao dịch về EI của cá nhân họ và kết quả hoạt động kinh doanh của phòng giao dịch trong NHTM VN họ phụ trách Đối với phiếu điều tra
Trang 9dành cho nhân viên, tác giả điều tra các nhân viên cấp dưới của NQT cấp
trung đó
Thu thập dữ liệu
Việc thu thập dữ liệu được thực hiện bằng phương pháp khảo sát trực
tiếp 125 phòng giao dịch (khảo sát cả trưởng phòng và nhân viên cấp dưới)
và gián tiếp 135 phòng giao dịch (khảo sát trưởng phòng giao dịch)
Phân tích dữ liệu
Sau khi thu nhận được các phiếu điều tra trả lời, tác giả đã tiến
hành làm sạch thông tin, lọc phiếu điều tra và mã hóa các thông tin cần
thiết trong bảng câu hỏi, nhập liệu và phân tích dữ liệu bảng phần mềm
SPSS: (i) Kiểm định giá trị của biến bằng phương pháp phân tích nhân tố
EFA; (ii) Đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach
alpha; (ii) Kiểm định mô hình hồi quy đa biến
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Thống kê mô tả mẫu
Với phương pháp lấy mẫu thuận tiện, tác giả đã thu thập được 217 bản trả lời của NQT cấp trung (chiếm tỷ lệ 90,97%) và 342 bản trả lời của nhân viên (chiếm tỷ lệ 92,18%) Trong đó NQT cấp trung tham gia trả lời
có tuổi trung bình là 35 tuổi; trình độ học vấn tập trung ở hai nhóm trình độ
là 3- đại học và 4 – Thạc sĩ; thâm niên trong ngành cao nhất là 18 năm, thấp nhất có thâm niên làm việc trong ngành là 5 năm; về số năm trung bình của đảm nhiệm chức vụ của các NQT cấp trung là 3,26 năm
4.2 Kiểm định dạng phân phối của các thang đo
Thông qua kết quả thu được cho thấy: các giá trị nhỏ nhất (Min) và giá trị lớn nhất (Max) của thang đo nằm trong khoảng từ 1 đến 5, điều này hàm ý không có giới hạn về mặt biến động đối với các thang đo được sử dụng và thang đo phù hợp, đảm bảo yêu cầu thực hiện kiểm định và phân tích tiếp theo
4.3 Kiểm định giá trị của biến
Bằng phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA, kết quả giá trị KMO
và Bartlett của kiểm định biến độc lập là 0.732 (>0.5) và sig.= 0.000 < 0.005 Ngoài ra cho thấy các giá trị Factor loadings đều > 0.5 Các kết quả trên dẫn đến kết luận là các thang đo đều có giá trị cao khi được sử dụng để
đo lường các biến tương ứng
4.4 Kiểm định độ tin cậy của thang đo
Trang 10Kết quả hoạt động của PGD .732
4.5 Mối quan hệ giữa các yếu tố thuộc về bản thân NQT và năng lực
cảm xúc của NQT cấp trung
Kết quả kiểm định cho thấy: (i) chưa thể khẳng định có sự khác biệt về EI
giữa NQT cấp trung là nam giới và NQT cấp trung là nữ giới (P-value
=0.379 > 0.05); (ii) có sự khác biệt về EI của NQT cấp trung theo trình độ
học vấn (P-value =0.000 < 0.05); (iii) có mối quan hệ thuận chiều giữa
thâm niên làm việc trong ngành ngân hàng, số năm đảm nhiệm chức vụ và
EI của nhà quản trị cấp trung trong NHTM VN
4.6 Kiểm định mối tương quan giữa các biến
Kết quả phân tích mối tương quan cho thấy có mối quan hệ EI của NQT
cấp trung và sự hài lòng với công việc, cam kết với tổ chức của nhân viên,
OCB–O của nhân viên (P-value = <0.05) Trong khi đó, chưa có cơ sở
khẳng định mối quan hệ giữa EI của NQT cấp trung và OCB-I của nhân
viên bởi (P-value = 0.063 > 0.05)
4.7 Kiểm định giả thuyết
4.7.1 Mối quan hệ giữa EI của NQT cấp trung và các biến ở cấp độ
nhân viên
Kết quả kiểm định cho thấy: EI của NQT cấp trung ảnh hưởng mạnh
mẽ đến với sự hài lòng với công việc, OCB hướng đến tổ chức của nhân
viên và có ảnh hưởng nhưng không nhiều đến cam kết với tổ chức, OCB
hướng đến cá nhân của nhân viên tại PGD trong NHTM VN Như vậy các
giả thuyết H 1 , H 2 , H 3 , H 4 được ủng hộ
4.7.2 Mối quan hệ giữa EI của NQT cấp trung và kết quả hoạt động của phòng giao dịch trong NHTM ở Việt Nam
Kết quả kiểm định cho thấy các yếu tố cấu thành EI của NQT cấp trung đều có tác động (+) đến kết quả hoạt động của phòng giao dịch Trong đó, năng lực quản lý cảm xúc có ảnh hướng lớn nhất đến kết quả hoạt động của phòng giao dịch (Beta = 0.257), tiếp đến là năng lực sử dụng cảm xúc (Beta = 0.182), và ảnh hưởng thấp nhất là năng lực nhận biết cảm
xúc (Beta = 0.017) Như vậy, giả thuyết H 5 , H 6 , H 7 , H 8 được ủng hộ
4.7.3 Mối quan hệ giữa EI của NQT cấp trung, các biến ở cấp độ nhân viên và kết quả hoạt động của PGD trong NHTM VN
Kết quả kiểm định cho thấy: (i) năng lực quản lý cảm xúc có ảnh hướng lớn nhất đến kết quả hoạt động của phòng giao dịch; (ii) sự hài lòng với công việc, OCB hướng đến tổ chức của nhân viên có tác động trung
gian đến mối quan hệ giữa EI của NQT cấp trung và kết quả hoạt động
kinh doanh của phòng giao dịch trong NHTM Việt Nam (mức ý nghĩa
P-value <0.05 và R2 điều chỉnh tăng từ 0.429 ở mô hình 1 lên thành 0.552 ở
mô hình 2 Như vậy giả thuyết H 9 , H 11 được ủng hộ; (iii) chưa có cơ sở để
khẳng định cam kết với tổ chức, OCB hướng đến cá nhân của nhân viên có tác động trung gian đến mối quan hệ giữa EI của NQT cấp trung và kết quả hoạt động kinh doanh của phòng giao dịch trong NHTM Việt Nam (P-value
>0.05) Như vậy, giả thuyết H 10 , H 12 không được ủng hộ