Về mặt thực tiễn, nghiên cứu đã đánh giá định lượng ảnh hưởng của các nhân tố đến HTKS nội bộ và từng yếu tố cấu thành của HTKS nội bộ trong các công ty cổ phần Việt Nam; đồng[r]
Trang 1Trường đại học kinh tế quốc dân
Trang 2TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Phản biện 1: PGS.TS Trần Mạnh Dũng
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Phản biện 2: PGS.TS Ngô Trí Tuệ
Ban Kinh tế Trung ương
Phản biện 3: PGS.TS Nguyễn Phú Giang
Trường Đại học Thương mại
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án
cấp Trường Đại học kinh tế Quốc dân
Vào hồi: 16h30 Ngày 05 tháng 07 năm 2018
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Đại học Kinh tế Quốc dân
CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1 Nguyễn Thị Phương Lan (2011), “Hệ thống kiểm soát tại các doanh
nghiệp Việt Nam”, Tạp chí kinh tế và phát triển, Số 164(2)
2 Nguyễn Thị Phương Lan và Lê Thị Lan Hương (2012), “Bàn về cải thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong các công ty cổ phần ở
Việt Nam”, Tạp chí kinh tế và phát triển, Số 181(2)
3 Nguyễn Thị Phương Lan và Lê Thị Lan Hương (2013), “Kiểm soát nội bộ với quản trị rủi ro trong các doanh nghiệp ở Việt
Nam”, Tạp chí kinh tế và phát triển, Số tháng 9
4 Nguyễn Thị Phương Lan và Nguyễn Ngọc Huyền (2014), “Hệ thống kiểm soát trong doanh nghiệp: kinh nghiệm của Nhật Bản
và bài học rút ra cho các doanh nghiệp Việt Nam”, Tạp chí nghiên cứu tài chính kế toán, Số 10(135)
5 Nguyễn Thị Phương Lan và Lê Thị Lan Hương (2014), “Hệ thống kiểm soát trong doanh nghiệp: một số vấn đề cần tiếp tục nghiên
cứu”, Tạp chí quản lý kinh tế, Số 62
6 Nguyễn Thị Phương Lan (2015), “Nghiên cứu nhân tố tác động đến hệ thống kiểm soát: Đề xuất mô hình nghiên cứu”, Kỷ yếu
hội thảo Trường Đại học tài chính – Quản trị kinh doanh
7 Nguyễn Thị Phương Lan (2017), “Nghiên cứu mối quan hệ giữa
chiến lược kinh doanh và hệ thống kiểm soát nội bộ”, Tạp chí
Châu Á – Thái Bình Dương, Số 493
8 Nguyễn Thị Phương Lan (2017), “Impacts of business strategies
on the internal control system of stock conpanies VietNam”, Kỷ
yếu hội thảo Business and Management Framing compliance
and dynamic
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của nghiên cứu
Hiện nay, công ty cổ phần là một lực lượng rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội Theo niên giám thống kê 2016, tính đến hết năm 2015 số lượng công ty cổ phần chiếm 20,7 % tổng
số doanh nghiệp Việt Nam và có đóng góp lớn cho nền kinh tế: tạo ra 3.611,4 nghìn việc làm cho người lao động (chiếm gần 24,28% số lượng lao động của cả nước), tăng thu nhập cho người lao động với mức thu nhập bình quân là 7,4 triệu/người/tháng, giúp huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển đồng thời đóng góp một phần quan trọng vào sự tăng trưởng thu nhập quốc dân, đóng góp vào nguồn thu cho ngân sách của nhà nước thông qua thuế
Tuy nhiên, doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các công
ty cổ phần nói riêng đang phải trải qua giai đoạn có thể nói là khó khăn nhất kể từ khi đổi mới kinh tế Tính đến hết năm 2016, theo công bố của VCCI, số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động sản xuất, kinh doanh trong năm là 12.478 doanh nghiệp, tăng 31,8% so với năm 2015; số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải tạm ngừng hoạt động trong năm là 60.667 doanh nghiệp, giảm 15% so với cùng kỳ năm 2015 Trong số các doanh nghiệp đang hoạt động ở thời điểm cuối năm 2016, có 48,74% doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ, hơn một nửa (51,26%) doanh nghiệp kinh doanh có lãi hoặc hòa vốn Con số 48,74% này, mặc dù được cải thiện so với mức 49,5% của năm 2015, nhưng việc gần một nửa số doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ trong một nền kinh tế là điều không bình thường, cho thấy hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp còn thấp và môi trường đầu tư kinh doanh còn nhiều khó khăn
Trang 4Điều này có thể thấy, cùng với sự phát triển của các công
ty cổ phần, những vấn đề nội bộ cũng dần bộc lộ, đặc biệt trong cuộc khủng hoảng tài chính rất nhiều công ty đã bị đóng cửa, một trong những nguyên nhân mà các báo cáo sai phạm trong quản trị doanh nghiệp thời gian qua đều chỉ ra rằng phần lớn các sự cố xảy
ra là do hậu quả của năng lực kiểm soát nội bộ yếu kém Hiện nay
ở Việt Nam vai trò của HTKS nội bộ trong các doanh nghiệp khá
mờ nhạt và chưa được quan tâm đúng mức Thực tế trên đưa đến
hệ quả các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay xảy ra sai phạm khá nhiều Hàng loạt vụ bê bối xảy ra trong các doanh nghiệp nhà nước như vụ Công ty cổ phần Bông Bạch Tuyết, Công ty cổ phần Hữu Nghị, … và gần đây nhất là Công ty cổ phần Viễn thông tín hiệu Đường sắt, chính là hệ lụy của sự thiếu vắng một cơ chế kiểm
soát quyền lực thực chất, hiệu quả
Về mặt lý luận, nghiên cứu về HTKS đã có rất nhiều công trình trên thế giới và Việt Nam Trên thế giới, đã có một số tác giả nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến HTKS trong doanh nghiệp như: Simons (1990); Langfield-Smith (1997); Whitley (1999); Chenhall (2003); Henri (2006); Kober và công sự (2007); Samudrage (2007); Jokipii và cộng sự (2009), Jokipii (2010), Fauzi và cộng sự (2011); Batool (2011); Auzai (2011) Tuy nhiên phần lớn các công trình nghiên cứu này mới chỉ nghiên cứu nhân
tố ảnh hưởng đến HTKS quản lý, rất ít nghiên cứu đề cập đến nhân tố ảnh hưởng đến HTKS nội bộ Các nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến HTKS nội bộ mới chỉ dừng lại xem xét tác động của từng nhân tố đến hệ thống, chưa xem xét đến tác động của từng nhân tố đến từng yếu tố cấu thành của hệ thống Ngoài ra, những nhân tố này sẽ tác động khác nhau đến HTKS nội bộ trong bối
Trang 5cảnh khác nhau, bối cảnh tổ chức là không như nhau và việc nghiên cứu dựa trên lí thuyết để đưa ra những nhân tố phù hợp với các bối cảnh khác nhau thực sự là không thể Hơn nữa, doanh nghiệp trong các nghiên cứu thường thuộc rất nhiều lĩnh vực hoặc
đã có nghiên cứu ở từng lĩnh vực nhưng chưa xem xét đến doanh nghiệp ở trong lĩnh vực sản xuất Do vậy, cần có thêm nhiều nghiên cứu về HTKS nội bộ trong bối cảnh thực tế trong các tổ chức là điều cần thiết Từ nghiên cứu lý thuyết thì rất cần phải có được nghiên cứu thực nghiệm trong thực tế để kiểm chứng
Tại Việt Nam, có một số tác giả nghiên cứu đến HTKS nội
bộ trong doanh nghiệp như: Ngô Trí Tuệ và cộng sự (2004); Phạm Bính Ngọ (2011); Bùi Minh Hải (2012); Nguyễn Thị Lan Anh (2014)
và các tác giả khác… Tuy nhiên các nghiên cứu này mới chỉ khái quát hóa lý luận và thực tiễn về HTKS nội bộ tại một ngành cụ thể, chưa phân tích được những nhân tố nào tác động đến HTKS nội bộ từ
đó tìm ra qui luật tác động, để có thể tổ chức và vận hành HTKS nội
bộ hiệu quả Các đề tài nhận định về sự yếu kém của HTKS nội bộ mới dừng lại ở nghiên cứu định tính trong một ngành chưa xây dựng được thước đo để đánh giá HTKS nội bộ
Xuất phát từ thực tế này, tác giả lựa chọn đề tài “Nghiên
cứu nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống kiểm soát nội bộ trong các công ty cổ phần Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu Đề tài sẽ hệ
thống hoá cơ sở lý luận về hoạt động kiểm soát, đồng thời trên cơ
sở những tài liệu phân tích và quan sát thực tế, đề tài sẽ đánh giá mức độ phù hợp của các nhân tố thuộc mô hình với bối cảnh của Việt Nam để loại bỏ những nhân tố không cần thiết và bổ sung nhân tố mới phù hợp Từ đó, giúp cho các nhà quản trị có thể tổ chức và vận hành thành công HTKS nội bộ trong doanh nghiệp
Trang 62 Mục đích nghiên cứu
Mục đích tổng quát của nghiên cứu là nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến HTKS nội bộ, để đánh giá được tầm quan trọng và mức độ tác động của các nhân tố đến HTKS nội bộ nhằm đưa ra một số hàm ý từ kết quả nghiên cứu giúp doanh nghiệp tổ chức và vận hành thành công HTKS nội bộ Các nhiệm
- Từ các kết quả nghiên cứu, tác giả sẽ đưa ra một số hàm ý từ kết quả nghiên cứu nhằm giúp các nhà quản trị doanh nghiệp
có thể tổ chức và vận hành thành công HTKS nội bộ
3 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu trên, nghiên cứu tập trung trả lời các câu hỏi sau:
- Các nhân tố nào ảnh hưởng như thế nào đến HTKS nội bộ trong các công ty cổ phần?
- Mô hình lý thuyết nào phù hợp để nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến HTKS nội bộ trong các công ty cổ phần?
- Các nhân tố chiến lược kinh doanh, cấu trúc tổ chức, nhận thức của tổ chức về sự bất ổn của môi trường bên ngoài, văn hóa tổ chức có ảnh hưởng như thế nào đến từng yếu tố cấu
thành của HTKS nội bộ (môi trường kiểm soát, đánh giá rủi
Trang 7ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát)?
- Các hàm ý nào từ kết quả nghiên cứu cần thực hiện trong thực tế để HTKS nội bộ trong các công ty cổ phần ở Việt Nam được tổ chức và vận hành thành công?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án: các nhân tố ảnh hưởng
đến HTKS nội bộ trong các công ty cổ phần thuộc lĩnh vực sản xuất
Phạm vi nghiên cứu:
Do hạn chế về thời gian và sự khác biệt giữa các vùng miền, với đặc thù của Hà Nội nên tác giả chọn phạm vi nghiên cứu về không gian là tại các công ty cổ phần trong lĩnh vực sản xuất ở Hà Nội và các tỉnh lân cận Phương pháp điều tra xã hội học và phỏng vấn chuyên gia được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 9 năm
2016 đến tháng 4 năm 2017 Các dữ liệu thứ cấp từ năm 2009 đến năm 2016 được thu thập và phân tích theo phương pháp nghiên cứu tại bàn
Tác giả luận án, lựa chọn quan điểm của IFAC về HTKS nội
bộ nhằm nghiên cứu về HTKS nội bộ trong các công ty cổ phần Về hướng tác động của các nhân tố, luận án lựa chọn tác động của các yếu tố đến tính hữu hiệu và tính tuân thủ của HTKS nội bộ trong phạm vi các vấn đề có liên quan (tức là thay đổi HTKS nội bộ để thực hiện tốt mục tiêu hoạt động của công ty cổ phần)
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tiếp cận trong luận án khi nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến HTKS nội bộ là góc độ quản trị kinh doanh
Trang 8Luận án được thực hiện thông qua hai bước chính: nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức Nghiên cứu sơ bộ được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng sơ bộ Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua kỹ thuật phỏng vấn sâu Nghiên cứu định lượng sơ bộ được thực hiện bằng kỹ thuật “bảng câu hỏi – trả lời” Thông tin thu thập từ nghiên cứu định lượng này được dùng để đánh giá sơ bộ về độ tin cậy và giá trị của các thang đo đã thiết kế và hiệu chỉnh để phù hợp với điều kiện ở Việt Nam Phương pháp độ tin cậy Cronbach alpha và phân tích nhân
tố khám phá EFA thông qua phần mềm SPSS (phiên bản 20) được sử dụng ở bước này
Nghiên cứu chính thức cũng được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định lượng dựa trên mẫu lớn, thông tin thu thập được bằng kỹ thuật “bảng câu hỏi – trả lời” Mục đích của nghiên cứu này là khẳng định lại các thành phần cũng như giá trị, độ tin cậy của thang đo và kiểm định mô hình nghiên cứu Phương pháp phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính thông qua phần mềm AMOS (phiên bản 20) được sử dụng để kiểm định thang đo và mô hình nghiên cứu
Chi tiết của phương pháp nghiên cứu được trình bày cụ thể ở chương 3
6 Những đóng góp mới của luận án
6.1 Những đóng góp về mặt lý luận
(1) Luận án nghiên cứu đã đưa thêm nhân tố văn hóa tổ chức vào mô hình nghiên cứu, đây là nhân tố mới chỉ được chú ý khi xem xét ảnh hưởng đến HTKS quản lý, chưa được nghiên cứu khi xem xét ảnh hưởng đến HTKS nội bộ trong các nghiên cứu trước đây trên thế giới và tại Việt Nam
Trang 9(2) Luận án đã kiểm định mô hình nghiên cứu trong bối cảnh Việt Nam Kết quả cho thấy chiến lược kinh doanh, cấu trúc tổ chức, nhận thức của tổ chức về bất ổn của môi trường bên ngoài có tác động đến HTKS nội bộ
(3) Luận án đã sử dụng cách tiếp cận thang đo nhiều mục (multi-item scale) để xem xét đến chiến lược kinh doanh mà doanh nghiệp đang sử dụng, trong các nghiên cứu trước các tác giả đã sử dụng cách tiếp cận phương pháp theo đoạn để xem xét loại chiến lược kinh doanh mà tổ chức đang sử dụng
(4) Luận án một mặt đánh giá tác động tổng hợp của các nhân tố ảnh hưởng đến HTKS nội bộ; mặt khác đánh giá ảnh hưởng của từng nhân tố đến từng thành phần HTKS nội bộ (môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát), từ
đó đánh giá mức độ tác động mạnh hay yếu của từng nhân tố đến từng thành phần của HTKS nội bộ Điều này sẽ đóng góp thêm vào các lý thuyết liên quan đến HTKS nội bộ
6.2 Những đóng góp về mặt thực tiễn
(1) Kết quả của luận án đã xây dựng được mô hình nghiên cứu tác động của các nhân tố tác động đến HTKS nội bộ trong các công ty cổ phần, nghiên cứu này ở trong nước trước đây rất ít được
đề cập đến, là tài liệu tham khảo cho các công ty và các nhà nghiên cứu khi nghiên cứu về HTKS nội bộ nói chung và HTKS nội bộ trong các công ty cổ phần nói riêng
(2) Kết quả của luận án giúp các công ty nắm bắt được mức
độ tác động của từng nhân tố đến HTKS nội bộ cũng như từng yếu tố cấu thành của HTKS nội bộ Từ đó, có thể giúp các công ty tổ chức
và vận hành thành công HTKS nội bộ của mình
7 Kết cấu của luận án
Trang 10Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài tiệu tham khảo, danh mục các bảng và hình, nội dung chính của luận án được kết cấu thành 5 chương sau:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Thảo luận kết quả nghiên cứu và khuyến nghị
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Các nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ
Trong thời gian vừa qua, trên thế giới cũng như Việt Nam có rất nhiều tác giả đã nghiên cứu các khía cạnh khác nhau có liên quan đến HTKS nội bộ Tác giả xin nêu ra một số các công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:
1.1.1 Nghiên cứu công bố ở nước ngoài
1.1.1.1 Nghiên cứu về tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ
Nghiên cứu của Amudo và cộng sự (2009), đánh giá HTKS nội bộ dựa vào các nước thành viên của nhóm ngân hàng phát triển Châu Phi tập trung vào Uganda bằng việc đưa ra một mô hình lý thuyết nhằm đánh giá HTKS nội bộ trong các dự án thuộc lĩnh vực công của Uganda mà được tài trợ bởi ngân hàng phát triển Châu Phi
Để đánh giá hệ thống, ngoài năm thành phần dựa trên quan điểm của COSO (1992) tác giả bổ sung thêm thành phần công nghệ thông tin Nghiên cứu của Sultana và cộng sự (2011), xem xét tính hữu hiệu của
hệ thống kiểm soát nội bộ trong 6 ngân hàng tư nhân niêm yết tại Bangladesh Thông qua việc xem lại các nghiên cứu trước, tác giả
Trang 11đánh giá HTKS nội bộ thông qua năm thành phần của hệ thống: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát
Ngoài các nghiên cứu nói trên, còn có các nghiên cứu khác xem xét tính hữu hiệu của HTKS nội bộ như: Ayagre và cộng sự (2014); Onumah và cộng sự (2015)
1.1.1.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của hệ thống kiểm soát nội bộ đến
hiệu quả hoạt động của tổ chức
Nghiên cứu của Yuan Li và cộng sự (2006), xem xét mối quan hệ giữa định hướng doanh nghiệp, HTKS nội bộ và phát triển sản phẩm mới trong nền kinh tế chuyển đổi tại Trung Quốc; Nghiên cứu của Njanike và cộng sự (2011), xem xét mối quan hệ giữa HTKS nội bộ và quản trị công ty trong các tổ chức tài chính tại các nước đang phát triển: nghiên cứu điển hình tại Zimbabwe; Nghiên cứu của Nyakundi và cộng sự (2014), kiểm tra mối quan hệ giữa HTKS nội
bộ và hiệu quả tài chính trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Kisumu, Kenya; Nghiên cứu của Shabri và cộng sự (2016), đánh giá ảnh hưởng của HTKS nội bộ đến lợi ích của sự cộng tác Trong nghiên cứu tác giả kiểm tra HTKS nội bộ hoạt động hiệu quả liệu có tạo ra được lợi ích cao cho sự hợp tác không; Nghiên cứu của Länsiluoto và cộng sự (2016), xem xét mối quan hệ của HTKS nội bộ
và sự hữu hiệu của kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp của Phần Lan Sự hữu hiệu của kiểm soát nội bộ được đo lường thông qua 3 mục tiêu: hiệu quả và hiệu lực của hoạt động, sự tin cậy của các báo cáo tài chính, sự tuân thủ các quy định và luật pháp
1.1.2 Nghiên cứu công bố ở Việt Nam
Tại Việt Nam có một số nghiên cứu về kiểm soát nhưng mới chỉ tập trung vào xem xét ứng dụng HTKS trong một đơn vị hoặc một
Trang 12ngành cụ thể Trong các nghiên cứu, các tác giả đã lập phiếu khảo sát nhằm đánh giá thực trạng HTKS nội bộ của các đơn vị thành viên, từ
đó đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện HTKS nội bộ của toàn đơn vị Chẳng hạn, nghiên cứu của Ngô Trí Tuệ và cộng sự (2004); Nguyễn Thu Hoài (2011); Phạm Bính Ngọ (2011); Nguyễn Thị Phương Hoa (2011), Bùi Thị Minh Hải (2012; Nguyễn Thị Lan Anh (2014); Nguyễn Thanh Thủy (2016); Phạm Thanh Thủy và cộng sự (2015)
Nghiên cứu của Hồ Tuấn Vũ (2016), tập trung làm rõ các vấn đề lý luận về kiểm soát nội bộ, sự hữu hiệu của HTKS nội bộ trong các ngân hàng thương mại, từ đó phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự hữu hiệu của HTKS nội bộ
Nghiên cứu của Võ Thu Phụng (2016), tập trung xem xét tác động của các nhân tố cấu thành HTKS nội bộ đến hiệu quả hoạt động của Tập đoàn điện lực Việt Nam Tác giả đã rút ra năm thành phần của HTKS nội bộ với 17 nguyên tắc của COSO (2013) có tác động đến hiệu quả hoạt động của tổ chức làm mô hình nghiên cứu gồm: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin truyền thông, giám sát
Các tác giả Nguyễn Thị Liên Hương (2015), Nguyễn Thị Hải Yến (2015), Nguyễn Đăng Huy và cộng sự (2015), Huỳnh Thị Thanh Dung (2016) nghiên cứu tổ chức HTKS nội bộ trong một ngành cụ thể, từ đó các tác giả xây dựng các nhóm giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện HTKS nội bộ tại các đơn vị
Các tác giả Huỳnh Thị Thanh Dung (2014), Nguyễn Thị Thanh Phương (2015), Đỗ Thị Huyền và cộng sự (2016) nghiên cứu việc xây dựng HTKS nội bộ hướng đến việc quản lý rủi ro, thông qua nghiên cứu những bài học kinh nghiệm về xây dựng HTKS nội bộ của các doanh nghiệp trên thế giới
Trang 13Tóm lại, có thể nhận thấy tại Việt Nam, các đề tài nghiên cứu mới chỉ nghiên cứu nội dung của HTKS nội bộ, chưa đề tài nào phân tích được những nhân tố nào sẽ tác động đến HTKS nội bộ để tìm ra qui luật tác động, từ đó để có thể giúp doanh nghiệp tổ chức và vận hành HTKS nội bộ
1.2 Các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống kiểm
soát nội bộ
Trong mục 1.2 luận án đã đề cập đến các kết quả nghiên cứu trước về các nhân tố ảnh hưởng đến HTKS bao gồm:
- Chiến lược kinh doanh
Một số nghiên cứu đề cập đến chiến lược kinh doanh ảnh hưởng đến HTKS như: Simons (1990); Langfield-Smith (1997); Chenhall (2003); Henri (2006); Kober và cộng sự (2007); Samudrage (2007); Fauzi và cộng sự (2008); Jokipii và cộng sự (2009); Jokipii (2010); Sim và cộng sự (2011); Auzair (2011); Dropulić (2013); Ismail và cộng sự (2012); Phạm Quang Huy (2014)
- Cấu trúc tổ chức
Một số nghiên cứu đề cập đến cấu trúc tổ chức ảnh hưởng đến HTKS như: Otley (1980); Jensen (1983); Gresov (1989); Whitley (1999); Nicolaou (2000); Palmer và cộng sự (2001); Chenhall (2003); Fauzi và cộng sự (2011); Jokipii (2010)
- Nhận thức của tổ chức về sự bất ổn của môi trường bên ngoài
Một số nghiên cứu đề cập đến nhận thức của tổ chức về sự bất
ổn của môi trường bên ngoài ảnh hưởng đến HTKS như: Hartman (2000), Chapman (1997); Chenhall (2003); Young và công sự (2001); Gul (1991); Storey và cộng sự (1996); Fauzi và cộng sự (2008), Auzaiz (2011), Dropulic (2013); Jokipii (2010)
Trang 14- Văn hóa tổ chức
Một số nghiên cứu đề cập đến văn hóa tổ chức ảnh hưởng đến HTKS như: Chenhall (2003); Van Maanen và cộng sự (1984); Luthans (1995); Harrison và cộng sự (1999); Chow và cộng sự (1991); Fauri và cộng sự (2008); Boon và cộng sự (2008); Batool (2011)
1.3 Khoảng trống và định hướng nghiên cứu
Qua tìm hiểu các nghiên cứu đã được công bố ở trong nước và nước ngoài liên quan tương đối đến đề tài của luận án, có thể nhận thấy ở Việt Nam chưa có một công trình nghiên cứu nào nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống liên quan đến vấn đề xác định các nhân
tố ảnh hưởng đến HTKS nội bộ trong các công ty cổ phần
Trên quan điểm kế thừa và tiếp tục phát triển từ các công trình nghiên cứu trước, luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng đến HTKS nội bộ Bối cảnh tổ chức là không như nhau và việc nghiên cứu dựa trên lý thuyết để đưa ra những nhân tố cho phù hợp với các bối cảnh khác nhau là điều thực sự cần thiết Do vậy, cần
có thêm nhiều nghiên cứu về HTKS nội bộ được đặt trong bối cảnh thực tế của các tổ chức là điều cần thiết