của các DTTS; Dạy học phù hợp với điều kiện và đặc điểm tâm lý HS DTTS; Dạy tiếng Việt cho HS DTTS với tư cách là ngôn ngữ thứ 2; Dạy học trong môi trường đa văn hóa…Chính điều này sẽ yê[r]
Trang 1DẠY HỌC TIẾNG DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG ĐỔI MỚI CĂN BẢN
TOÀN DIỆN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
TS Dương Thị Thanh Hương
TT Nghiên cứu GD DT - Viện KHGD Việt Nam
ĐT: 0906102828 Email: info@123doc.org Tóm tắt tiếng Việt:
Dạy học tiếng dân tộc thiểu số ở Việt Nam, trong đổi mới căn bản toàn diện giáo dục phổ thông quốc gia, có nhiều thuận lợi và khó khăn Để có thể tiến hành triển khai dạy học tiếng dân tộc ở các địa phương thuộc vùng dân tộc thiểu số đặt ra hai vấn đề: đào tạo chính quy: cử nhân sư phạm phương pháp dạy học tiếng dân tộc; đào tạo lại các giáo viên hiện đang dạy học tiếng dân tộc ở các địa phương Đây là những yếu tố quan trọng góp phần vào đổi mới giáo dục dân tộc
và đổi mới giáo dục quốc gia nhằm đảm bảo công bằng giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số
Từ khóa tiếng Việt: Tiếng dân tộc; phương pháp dạy học tiếng dân tộc; đổi mới giáo dục; vùng dân tộc thiểu số
Teaching and Learning Ethnic Minority Languages in the Context of Comprehensive Innovation of General Education
Dr Dương Thị Thanh Hương Research Center for Ethnic Minority Education – Vietnam Institute of Education Sciences
ĐT: 0906102828 Email: info@123doc.org Abstract in English:
Teaching ethnic minority language in Vietnam, in the context of comprehensive education innovation, has a number of advantages and disadvantages In order to
Trang 2implement the teaching and learning minority languages in ethnic minority areas, two issues need considering: formal training on minority language teaching method and re-training for teachers of minority language subject These are significant factors contributing into the innovation of ethnic minority education and national education which ensure the educational equality in ethnic minority area
Vietnamese keywords: minority language; minority language methods; educational innovation; ethnic minority area
1 Đặt vấn đề
Hiện nay,Việt Nam đang tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện giáo dục phổ thông quốc gia, đổi mới giáo dục vùng dân tộc thiểu số không nằm ngoài bối cảnh chung Trong Dự thảo Chương trình Giáo dục phổ thông mới, môn Tiếng dân tộc (TDT) đã được đưa vào lĩnh vực Ngôn ngữ và Văn học, là môn học Tự chọn (tức là môn học không bắt buộc, được học sinh tự nguyện lựa chọn, phù hợp với nguyện vọng, sở trường và định hướng nghề nghiệp của học sinh) bắt đầu từ tiểu học và kết thúc ở trung học phổ thông Tuy nhiên, với vị trí là môn học tự chọn, việc triển khai môn học này sẽ đặt ra rất nhiều vấn đề Nghiên cứu này sẽ cố gắng làm rõ việc dạy học TDT trong bối cảnh đổi mới căn bản toàn diện sẽ gặp những thuận lợi và khó khăn gì? Làm thế nào để triển khai hiệu quả việc dạy học TDT trong giai đoạn sắp tới?
2 Thuận lợi và khó khăn
2.1 Thuận lợi
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc trong đó dân tộc Kinh chiếm hơn 82%, 53 dân tộc còn lại chiếm khoảng hơn 17% Theo thống kê của Viện ngôn ngữ học, cho tới nay, trong số 53 dân tộc thiểu số ở Việt Nam đã có 27 dân tộc
đã có bộ chữ viết riêng Để gìn giữ khối đoàn kết toàn dân của một quốc gia đa dân tộc, Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm và thực hiện chính sách dân tộc
Trang 3đảm bảo cho các dân tộc quyền “bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển ”
Điều 5, Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013, quy định:
“1 Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam 2 Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc 3 Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình 4 Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện
và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước” Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá
IX tại Hội nghị lần thứ bảy về công tác dân tộc đã xác định một trong những
nhiệm vụ cấp bách của giáo dục dân tộc chính là : “thực hiện chương trình phổ cập giáo dục trung học cơ sở và các chương trình giáo dục miền núi, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, đào tạo, mở rộng việc dạy chữ dân tộc ”
Nghị quyết 404/QĐ-TTg về Phê duyệt đề án Đổi mới Chương trình và SGK GDPT đã xác định: “chú trọng hướng dẫn dạy và học căn cứ yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của học sinh đối với mỗi môn học, lớp học, cấp học; tài liệu phải đáp ứng sự đa dạng vùng miền, đặc biệt là vùng miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc ít người” Nghị định 82, ngày 31/08/2010 quy định việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số trong các cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên của chính phủ đã ban hành quy định cho 7 ngôn ngữ DTTS được giảng dạy chính thức trong nhà trường: Mông; Thái; Chăm; Jrai; Bahnar; Ê đê; Khmer Đồng thời cũng ban hành khung chương trình cho các ngôn ngữ được giảng dạy trong nhà trường, tài liệu dạy học TDT cũng được biên soạn phù hợp với các địa phương
Nghị định số 61/2006/NĐ-CP ngày 20 tháng 6 năm 2006 của Chính phủ
về chính sách đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục đang công tác ở trường chuyên biệt, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn Người học
Trang 4được Nhà nước đảm bảo sách giáo khoa, tài liệu tham khảo tiếng dân tộc thiểu
số phù hợp với từng đối tượng Người học là cán bộ, công chức, viên chức được hưởng chế độ đào tạo, bồi dưỡng của cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước theo quy định
Trong Chương trình giáo dục phổ thông mới, mục V Định hướng về nội
dung giáo dục; tiểu mục 1.Giáo dục ngôn ngữ và văn học đã xác định: “Dạy học
tiếng dân tộc thiểu số là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước để giữ gìn và phát huy giá trị ngôn ngữ, văn hóa của các dân tộc thiểu số Nhà nước tập trung đầu tư, ưu tiên dạy tiếng dân tộc thiểu số đối với các dân tộc thiểu số ít người; khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh phổ thông là người dân tộc thiểu số có nguyện vọng, nhu cầu được học và hoàn thành chương trình học tiếng dân tộc thiểu số đã có chữ viết Môn học Tiếng dân tộc thiểu số được dạy
từ tiểu học, sử dụng thời lượng tự chọn tương ứng của từng cấp học để tổ chức dạy học Nội dung dạy học tiếng dân tộc thiểu số được quy định trong từng chương trình tiếng dân tộc thiểu số do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Điều kiện tổ chức dạy học và quy trình đưa tiếng dân tộc thiểu số vào dạy học ở cơ sở giáo dục phổ thông thực hiện theo quy định của Chính phủ.”
Như vậy, trong bối cảnh đổi mới căn bản toàn diện giáo dục phổ thông quốc gia, các nội dung cơ bản của chính sách dân tộc nói chung, chính sách giáo dục dân tộc nói riêng, vị trí của môn TDT trong khung chương trình tổng thể là căn cứ pháp lý và định hướng chủ yếu cho việc tìm những giải pháp triển khai thực hiện tốt chương trình môn TDT
Việc dạy tiếng dân tộc ở Việt Nam đã triển khai dạy trong nhà trường với nhiều phương thức (dạy như một môn học, dạy như một chuyển ngữ, dạy song ngữ) và qui mô khác nhau, có những thời điểm được sự hỗ trợ về tài chính
và kĩ thuật của Ngân hàng Thế giới, của UNESCO, UNICEF Tính đến thời điểm hiện nay, lịch sử dạy tiếng dân tộc ở Việt Nam đã có bề dày ngót 60 năm
Bề dày lịch sử đó đã để lại rất nhiều bài học trong tuyên truyền giải thích cho cộng đồng trong các hoạt động tổ chức dạy và học: đào tạo giáo viên, biên soạn
Trang 5chương trình, tài liệu, xác định mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học ngôn ngữ thiểu số trong môi trường giáo dục song ngữ: ngôn ngữ dân tộc thiểu số- ngồn ngữ quốc gia, trong hợp tác quốc tế Có thể nói hợp tác quốc tế trong giáo dục song ngữ là một hoạt động hết sức quan trọng Bởi vì, trên thế giới có rất nhiều quốc gia đa ngôn ngữ Chính sách ngôn ngữ của họ ra sao, họ đã triển khai thế nào? Chúng ta có thể học được ở bè bạn những gì và chúng ta đã đóng góp được gì trong lý luận chun về giáo dục song ngữ trong những quôc gia đa ngôn ngữ?
Chúng ta hình thành được một đội ngũ chuyên gia giỏi từ trung ương đến địa phương có thể tạm đáp ứng nhu cầu triển khai trong giai đoạn sắp tới Đây nên xem là một nguồn lực rất quan trọng Không có nguôn lực này thì không thể triển khai thành công Tuy nhiên chất lượng và số lượng của nguồn lực này cũng
có nhiều điểm phải bàn và phải giải quyết rốt ráo
2.2 Khó khăn
Khi triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới, việc dạy học Tiếng dân tộc như một môn học sẽ đặt ra nhiều vấn đề khó khăn Đầu tiên là nhận thức
về môn học Với tư cách là môn học tự chọn, ở từng địa phương thuộc vùng dân tộc thiểu số, nhận thức về môn học sẽ quyết định việc chọn TDT hay là Ngoại ngữ 2 Nhận thức này không chỉ thuộc về các cơ quan quản lý giáo dục ở địa phương; từ đơn vị giáo dục mà quan trọng nhất chính là sự lựa chọn của người học Nếu không có nhận thức đúng, môn học này sẽ không được lựa chọn và tất yếu sẽ không thể tiến hành
Một khó khăn nữa là chương trình và sách giáo khoa, ở thời điểm hiện tại,
Bộ đã có chương trình và sách giáo khoa cho 7 thứ tiếng dân tộc: Mông;Thái; Chăm; Jrai; Bahnar; Ê đê; Khmer Trong khi đó, đối với các địa phương có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống, nhu cầu học TDT không chỉ dừng lại ở các thứ tiếng này
Về đội ngũ giáo viên: dù đã có những chính sách phát triển đội ngũ nhưng thực tế cho thấy việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, giảng viên dạy TDT còn gặp
Trang 6nhiều khó khăn: (1) Nguồn lực giảng viên môn TDT trong các trường cao đẳng
sư phạm địa phương vùng DTTS chủ yếu là dội ngũ tri thức dân tộc được đào tạo ở những chuyên môn khác, được đào tạo ngắn hạn chứng chỉ sư phạm để đứng lớp đào tạo và bồi dưỡng giáo viên cho các trường phổ thông trên địa bàn
có nhu cầu về dạy học tiếng dân tộc Giáo viên là người DTTS bản địa còn ít, giáo viên người Kinh biết tiếng DTTS thì hiểu biết về văn hóa, phong tục tập quán của người DTTS lại chưa đầy đủ Đội ngũ giảng viên môn TDT được đào tạo chính quy hầu như chưa có (Tại ĐH Trà Vinh một số giảng viên có bằng đại học tiếng Khmer – không phải là bằng Cử nhân Phương pháp dạy học TDT) (2)
Ở thời điểm hiện tại, các trường ĐHSP hoặc thuộc nhóm sư phạm chưa mở mã ngành đào tạo cử nhân sư phạm chính qui môn Phương pháp dạy họcTiếng dân tộc thiểu số Trong khi đó, nhu cầu giảng viên/ giáo viên dạy học TDT ở các địa phương đang đặt ra rất bức thiết (3) Việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên dạy học TDT lẻ tẻ, tùy theo điều kiện các trường và địa phương Kết quả đào tạo giáo viên chỉ dừng ở việc cấp chứng chỉ bồi dưỡng, chưa có giáo viên đạt được bằng cấp đào tạo chuyên môn cử nhân sư phạm Phương pháp dạy học TDT.Việc giáo viên/ giảng viên không có bằng cấp đào tạo chính qui về TDT (mà chỉ có chứng chỉ) ảnh hưởng tới chuẩn hóa đào tạo giáo viên/ giảng viên, ảnh hưởng đến hệ số lương nên không thúc đẩy được việc phát triển nguồn nhân lực dạy học TDT (4) Các đợt bồi dưỡng thường xuyên, bồi dưỡng chuẩn hoá về chuyên môn nghiệp vụ chưa quan tâm đến bồi dưỡng năng lực văn hóa DTTS và năng lực sử dụng ngôn ngữ DTTS cho giáo viên dân tộc, do đó, số giáo viên này gặp nhiều khó khăn khi đổi mới phương pháp dạy học Việc đổi mới chương trình, SGK phổ thông theo hướng tích hợp, phát triển năng lực người học…đang đặt ra nhu cầu cấp bách đối với việc đào tạo và bồi dưỡng giáo viên dạy học ở vùng DTTS nói riêng
3 Đề xuất và khuyến nghị
3.1 Đề xuất
Trang 7Để dáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục ở vùng DTTS và đáp ứng căn bản toàn diện giáo dục phổ thông quốc gia, đề xuất một số nội dung sau:
Cần nâng cao nhận thức về dạy học TDT ở địa phương từ các cơ quan quản lý giáo dục đến các cơ sở giáo dục và cộng đồng các dân tộc thiểu số: dạy học TDT tăng cường tính chất đa văn hóa trong môi trường giáo dục; duy trì ngôn ngữ, bản sắc văn hóa DTTS, góp phần nâng cao đời sống văn hóa xã hội tại địa phương Công tác tuyên truyền phải xác định rõ chính sự lựa chọn của địa phương và cộng đồng các DTTS sẽ quyết định phần lớn việc môn TDT có cơ hội tồn tại và phát triển hay không trong hiện tại và tương lai
Thu hút nguồn tri thức người DTTS giỏi về ngôn ngữ TDT và giàu kinh nghiệm trong việc phát triển tài liệu và giảng dạy TDT để tham gia biên soạn tài liệu dạy học TDT theo Chương trình Bộ GD &ĐT ban hành Đặc biệt, tăng cường hợp tác giữa đội ngũ tri thức TDT với các giảng viên trường CĐSP trong việc tổ chức giảng dạy các khóa đào tạo chuyên đề dạy học TDT Con đường đào tạo nhanh nhất, thuận lợi nhất chính là từ các tri thức người DTTS Họ giúp các giảng viên/ giáo viên người DT không chỉ học được ngôn ngữ dân tộc thiểu
số mà còn tiếp thu, lĩnh hội được tinh hoa văn hóa của dân tộc qua ngôn ngữ của chính dân tộc ấy
Rà soát đội ngũ giảng viên/ giáo viên dạy TDT tại địa phương để đảm bảo điều kiện cho việc tổ chức dạy học TDT trong chương trình phổ thông quốc gia
từ tiểu học đến trung học phổ thông Tiến hành đào tạo và đào tạo lại nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu đổi mới
Xây dựng mã ngành đào tạo cử nhân Phương pháp dạy học Tiếng dân tộc tại các trường đại học, cao dẳng thuộc nhóm ngành sư phạm Hiện nay, trong
hệ thống các trường ĐHSP, môn TDT vẫn chưa có mã ngành đào tạo cử nhân sư phạm TDT; tại khoa Ngôn ngữ một số trường ĐH không thuộc nhóm sư phạm
có mã ngành Ngôn ngữ và văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam (ĐH Văn
hóa) Trong khi đó, thực tế các trường CĐSP cần có đội ngũ giảng viên được đào tạo chính quy chuyên ngành sư phạm TDT, Sở GD và ĐT vùng DTTS có
Trang 8ban dân tộc, cần ít nhất 01 chuyên viên về môn TDT, Các trường DTNT cần 01 cán bộ GV phụ trách môn TDT Các trường TH, THCS vùng DTTS đều cần có
01 cán bộ, giáo viên chuyên trách môn TDT Vì vậy, đề xuất mở mã ngành đào
tạo Cử nhân sư phạm Phương pháp dạy học Tiếng dân tộc trong các nhóm
trường ĐHSP Đề xuất này nhằm mục tiêu: cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013:
“Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước.” Đáp ứng Quyết định số: 402/QĐ-TTg, phê duyệt Đề án “Phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số trong thời kỳ mới”.Quyết định số: 449/QĐ-TTg về Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020 Phù hợp với quy hoạch phát triển nguồn nhân lực của quốc gia; nhu cầu về nguồn nhân lực trình độ cử nhân của môn TDT trong tương lai để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục dân tộc Đáp ứng nhu cầu chính quy hóa đội ngũ GV dạy môn TDT trong chương trình phổ thông mới Nâng cao chất lượng đội ngũ GV người DTTS và dạy môn TDT trong trường phổ thông; chính quy hóa môn học trong chiến lược đào tạo của ĐHSP, tạo nguồn giảng viên cho các trường CĐSP vùng DTTS, đáp ứng nhu cầu chuẩn hóa năng lực nghề nghiệp môn TDT Về lâu dài còn đảm bảo công bằng
xã hội, bảo tồn văn hóa các dân tộc thiểu số Đối tượng hướng đến khi mở mã ngành đào tạo Cử nhân sư phạm TDT bao gồm: giảng viên hiện đang giảng dạy tại các trường CĐSP là người DTTS; giáo viên đang dạy học ở vùng DTTS; GV người Kinh biết tiếng dân tộc và dạy học ở các vùng DTTS; HS tốt nghiệp THPT ở các trường Dân tộc nội trú
Bên cạnh đó, cần nghiên cứu và xây dựng các chuyên đề bồi dưỡng giáo viên đang giảng dạy tại vùng DTTS để nâng cao năng lực dạy học TDT đáp ứng
chuẩn nghề nghiệp cho giai đoạn sắp tới Giảng viên/ giáo viên môn TDT không
chỉ cần được bồi dưỡng về kiến thức chuyên môn dạy TDT, năng lực sư phạm
mà còn cần được bồi dưỡng về tri thức địa phương và bản sắc văn hóa dân tộc, văn hóa tộc người, ….Vì thế, việc nghiên cứu các chuyên đề bồi dưỡng cần theo hướng đáp ứng các yêu cầu văn hóa và nghiệp vụ chung đồng thời phải đáp ứng các yêu cầu về tri thức và nghiệp vụ có tính đặc thù như: Ngôn ngữ và văn hóa
Trang 9của các DTTS; Dạy học phù hợp với điều kiện và đặc điểm tâm lý HS DTTS; Dạy tiếng Việt cho HS DTTS với tư cách là ngôn ngữ thứ 2; Dạy học trong môi trường đa văn hóa…Chính điều này sẽ yêu cầu các cơ sở giáo dục đại học cần
có những nghiên cứu dài hơi và chuyên sâu về dạy học TDT để đảm bảo đội ngũ giảng viên ở các địa phương về cơ bản sẽ nâng cao trình độ chuyên môn, có năng lực dạy học tiếng dân tộc và năng lực văn hóa DTTS
4 Kết luận
Để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đổi mới giáo dục dân tộc, đáp ứng việc triển khai hiệu quả việc dạy học tiếng dân tộc ở các địa phương vùng dân tộc thiểu số, đảm bảo đến 2020, nguồn nhân lực cho dạy học TDT ở chương trình phổ thông được chuẩn bị một cách tốt nhất cả về số lượng và chất lượng rất cần có sự vào cuộc của cá trường ĐHSP, các địa phương thuộc vùng dân tộc thiểu số
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013)
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX tại Hội nghị lần thứ bảy về công tác dân tộc
[3] Nghị quyết số 24-NQ/TW (2013) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX tại Hội nghị lần thứ bảy về công tác dân tộc
[4] Bộ GD&ĐT, Chương trình giáo dục phổ thông – Chương trình Tổng thể (tháng 7 năm 2017)
[4] Hiến pháp năm 2013 (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6, thông qua ngày 28 tháng 11 năm 2013).
[5] Quyết định số: 402/QĐ-TTg, ngày 14/3/2016, của Thủ tướng Chính
phủ, Phê duyệt Đề án phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số trong thời kỳ mới.