Caùn boä quaûn lyù Noâng nghieäp vaø Phaùt trieån noâng thoân II (Trường CBQL NN và PTNT II) treân cô sôû saùp nhaäp Phaân hieäu Tröôøng caùn boä Quaûn lyù Laâm nghieäp taï[r]
Trang 1ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN TRƯỜNG CÁN BỘ QUẢN LÝ NƠNG NGHIỆP VÀ PTNT II
ĐẾN NĂM 2025
TS NGUYỄN THẮNG
Năm 1982, Bộ Nông nghiệp ký quyết
định thành lập phân hiệu I, Trường
quản lý hợp tác xã nơng nghiệp Trung
ương (Trường quản lý HTXNNTW)
Phân hiệu đã chính thức khai mạc lớp
học đầu tiên vào ngày 23 tháng 11 năm
1982 Từ đĩ, Trường đã lấy ngày 23
tháng 11 là ngày thành lập Trường,
đánh dấu mốc lịch sử quan trọng trong
quá trình xây dựng và phát triển
Trường
Năm 1983, Bộ Nông nghiệp
quyết định chuyển Phân hiệu I thành
Trường quản lý HTX NN TW2 Năm
1985, Chủ tịch HĐBT (nay là Thủ
tướng Chính Phủ) quyết định giao
thêm nhiệm vụ và chuyển Trường
quản lý HTX NN TW2 thành Trường
quản lý Nông nghiệp TW2 thuộc Bộ
Nông nghiệp
Năm 1986, Trường cán bộ quản
lý nông nghiệp của Ban Nông nghiệp
TW Đảng hợp nhất với Trường quản
lý HTX NN TW2, vẫn giữ nguyên tên
gọi là Trường Quản lý Nông nghiệp
TW2 Năm 1987, Bộ Nông nghiệp và
CNTP quyết định hợp nhất Trường
Quản lý kinh tế lương thực và Trường
quản lý NN TW2 thành Trường Quản
lý Nông nghiệp và Công nghiệp thực
phẩm Năm 1996, Thủ tướng Chính
phủ ra quyết định thành lập Trường
Cán bộ quản lý Nông nghiệp và Phát triển nông thôn II (Trường CBQL NN
và PTNT II) trên cơ sở sáp nhập Phân hiệu Trường cán bộ Quản lý Lâm nghiệp tại Bình dương vào Trường Quản lý Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm, để đào tạo, bồi dưỡng 3 nhóm cán bộ của ngành là: công chức-viên chức nhà nước, cán bộ quản lý kinh doanh trong các doanh nghiệp (bao gồm cả hợp tác xã nông nghiệp và trang trại gia đình), cán bộ khuyến nông và phát triển nông thôn các cấp
Như vậy, trong suốt 28 năm, Trường Cán bộ Quản lý Nơng nghiệp
và PTNT II, luơn bám sát thực tiễn hoạt động của ngành, của đất nước và đường lối, nghị quyết của Đảng để xác định mục tiêu, đối tượng, nội dung chương trình và thời gian đào tạo, bồi dưỡng dưới nhiều hình thức đa dạng, thích hợp, hiệu quả, phù hợp với đối tượng đào tạo Triết lý hoạt động của Trường là nhất thể hóa quá trình
“Nghiên cứu ứng dụng-tư vấn, đào tạo, đào tạo lại, cung cấp các giải pháp quản lý cho các tổ chức và cá nhân của ngành nơng nghiệp và PTNT, đáp ứng nhu cầu thực tiễn đặt ra, phù hợp với
xu thế hội nhập kinh tế quốc tế”
Sau 28 năm xây dựng và phát triển, với năm lần đổi tên, bổ sung
Trang 2thêm nhiệm vụ, hoạt động đào tạo bồi
dưỡng cán bộ quản lý và lãnh đạo ngày
càng đáp ứng yêu cầu phát triển của
ngành Quá trình hoạt động càng làm
sáng tỏ tư tưởng chỉ đạo và triết lý
hoạt động của Trường phù hợp, hiệu
quả đối với các trường quản lý nói
chung và trường quản lý của ngành
nông nghiệp và PTNT nói riêng Các
hoạt động của Trường rất đa dạng
phong phú trong nghiên cứu khoa học,
tư vấn, chuyển giao quản lý phát
triển, cung cấp các giải pháp quản trị
và thực hiện các chương trình đào tạo
và đào tạo lại đội ngũ công chức, viên
chức, cán bộ lãnh đạo quản lý của
ngành Đối tượng đào tạo, đào tạo lại
là những công chức, viên chức, cán bộ
lãnh đạo, quản lý, đã kinh qua hoạt
động thực tiễn, với tuổi đời không còn
nhỏ, vừa học vừa phải đảm đương
những trọng trách quản lý quan trọng
trong các tổ chức của ngành nông
nghiệp và PTNT Đối tượng đào tạo
trong từng chương trình đào tạo, lớp
học của Trường thường không đồng
nhất về học vị (trong một lớp học cĩ
học viên cĩ trình độ sau đại học, cũng
cĩ nhưng học viên chưa học hết lớp
12), hầu hết các học viên chưa cĩ kiến
thức mang tính hệ thống về quản trị,
được đào tạo từ các chuyên ngành kỹ
thuật Vì vậy các chương trình bồi
dưỡng cho các đối tượng là lãnh đạo,
quản lý là một thách thức lớn với nhà
trường, địi hỏi phải được thiết kế
chương trình đào tạo nội dung, phương
pháp giảng dạy thích hợp Do đó, việc dạy và học của Trường khác căn bản
so với các trường đại học Quá trình hình thành và phát triển Trường cĩ thể chia thành 2 giai đoạn như sau:
- Giai đoạn từ 1982 – 1992:
Từ năm 1982 – 1987 là thời kỳ cải tạo và xây dựng CNXH với cách tiếp cận của lý thuyết là nhất thể hĩa sở hữu dưới 2 hình thức nhà nước và tập thể, trên cơ sở đó hoạch định đường lối của Đảng và nhà nước là xây dựng mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung Cơ chế quan liêu và bao cấp mà đỉnh cao là hoàn thành cơ bản hợp tác hóa nông nghiệp vào năm 1985 và cuộc cải cách Giá – Lương – Tiền (1985-1986) Thời kỳ này đã đưa lại một nền kinh tế quốc dân và một nền nông nghiệp trì trệ do bị nhà nước hóa cao độ Ngay trong giai đoạn này, giáo viên của Trường đã bám sát thực tế qua việc đi nghiên cứu và chỉ đạo các mô hình quản lý trong nông nghiệp theo cơ chế của thời kỳ đó Quá trình tiếp cận thực tế đã có giá trị lớn, giúp cho giáo viên có cách nhìn đúng đắn khách quan và sâu sắc những sai lầm trong công cuộc phát triển kinh tế đất nước Tiếp cận thực tiễn giúp giáo viên vững vàng về phương pháp luận, đồng thời nâng cao nhận thức về lý thuyết phát triển kinh tế của một quốc gia đang phát triển nói chung và những điều kiện thực tiễn của Việt Nam nói riêng Từ đĩ giáo viên của Trường nhanh chóng đổi
Trang 3mới về nhận thức, tư duy, tiếp cận,
nghiên cứu và vận dụng sáng tạo
đường lối, chính sách đổi mới của
Đảng và nhà nước vào hoạt động của
nhà trường một cách cĩ hiệu quả
Từ năm 1988-1992: là thời kỳ
bắt đầu đổi mới đất nước, đánh dấu
bằng nghị quyết số 10-NQ/TW ngày
5.04.1988 của Bộ Chính trị về “Đổi
mới quản lý kinh tế nông nghiệp”,
thừa nhận hộ nông dân là đơn vị kinh
tế tự chủ trong nền kinh tế thị trường
nhiều thành phần Nghị quyết 10 được
xem là đổi mới tư duy, xóa bỏ nhận
thức máy móc, giáo điều về “sở hữu”
trong nông nghiệp Việc nhất thể hoá
sở hữu ở hai hình thức cơ bản là sở
hữu tập thể và sở hữu nhà nước,
không công nhận bất cứ hình thức sở
hữu nào khác, bất chấp sự tồn tại
khách quan của các loại hình sở hữu,
các thành phần kinh tế trong thời kỳ
quá độ, đó là một sai lầm lớn, dẫn
đến khủng hoảng kinh tế - xã hội ở
những năm 1980 Nghị quyết 10 đã
thực sự đi vào cuộc sống và là điển
hình nổi bật trong cải cách kinh tế ở
nước ta Ngay năm sau (1989), nước ta
đã bắt đầu xuất khẩu gạo và xuất
khẩu gạo tăng liên tục trong những
năm tiếp sau đó Đặc điểm của giai
đoạn này là “Đổi mới tư duy, cởi trói,
giải phóng sức sản xuất vốn sẵn có”
Các đề tài khoa học của Trường được
thực hiện đạt kết quả tốt, đã trở thành
nội dung giảng dạy và góp phần
không nhỏ vào việc tổng kết 30 năm
hợp tác hóa nông nghiệp và hoạch định các chính sách nông nghiệp và nông thôn của Đảng, Nhà nước sau này như Luật Đất đai, Nghị định 13
CP về khuyến nông, NĐ 01 CP về đổi mới quốc doanh nông nghiệp, nghị quyết 28-NQ/TW của Bộ chính trị (2003),…
Từ thực tiễn của ngành, năm
1990 Trường đã xây dựng và chính thức mở các lớp đào tạo giám đốc doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, nay gọi là đào tạo giám đốc doanh nghiệp Liên tục đến nay, Trường đã mở 27 khóa với trên 1000 học viên Đây là thành công nổi bật nhất của Trường trong giai đoạn này và đang được phát huy trong giai đọan hiện nay
Năm 1991, Trường lập khoa Khuyến nông và phát triển nông thôn, chính thức đưa nội dung khuyến nông vào chính khóa, đáp ứng nhu cầu bức bách của nền nông nghiệp Lúc ấy, chưa có trường nào trong cả nước có khoa Khuyến nông và phát triển nông thôn Từ đó đến nay, hàng năm Trường mở khoảng trên 20 khóa huấn luyện với hàng chục chương trình bồi dưỡng cho cán bộ khuyến nông và phát triển nông thôn các cấp, từng bước xây dựng nội dung chương trình, đưa những bài học rất mới vào khóa học như: Nội dung và phương pháp khuyến nông, phát triển cộng đồng, phương pháp truyền thông giao tiếp, đánh giá kinh tế xã hội nông thôn có
Trang 4sự tham gia của nông dân, phương
pháp xây dựng dự án phát triển nông
thôn toàn diện có sự tham gia của
người dân, các chương trình bồi dưỡng
kỹ năng mềm cho cán bộ khuyến
nông và PTNT
- Giai đoạn từ 1992 đến nay:
Đây là giai đoạn khó khăn nhất,
quyết định nhất của công cuộc đổi
mới, với nội dung cơ bản là xây dựng
thể chế kinh tế và đưa nó vào cuộc
sống, dựa trên đường lối chiến lược
của Đảng là : Xây dựng một nền kinh
tế thị trường nhiều thành phần, trong
đó kinh tế nhà nước và kinh tế HTX là
nền tảng, mở cửa hội nhập vào khu
vực và thế giới…, thực hiện công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, dân chủ
hóa, hợp tác hóa dưới sự quản lý của
nhà nước pháp quyền của dân, do dân,
vì dân phát triển theo định hướng
XHCN, với mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh Đây là giai đoạn thực sự thay
đổi về chất, không chỉ giải phóng lực
lượng sản xuất mà trọng tâm là tái
cấu trúc nền kinh tế, thể chế kinh
tế-xã hội mới, pháp triển nguồn nhân lực
mới đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế
quốc tế Điều đó đòi hỏi trí tuệ và
lòng dũng cảm cao hơn giai đoạn “cởi
trói” Cũng với truyền thống bám sát
thực tế và đường lối của Đảng, Nhà
trường đã tham gia nghiên cứu khoa
học, góp phần xây dựng chính sách
kinh tế của nhà nước như Luật Đất
đai (1993), Luật HTX (1995), nhiều
Nghị định của Chính phủ về đổi mới quản lý nông nghiệp ở cả tầm vĩ mô và vi mô Hàng năm, Trường mở liên tục các lớp đào tạo, bồi dưỡng dài, ngắn hạn khác nhau từ một tuần đến một năm, với cơ cấu chương trình và hình thức đa dạng trên các lĩnh vực quản lý nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi và thủy sản, mở lớp tại trường và tại địa phương, từ Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên đến Đông Nam bộ và Đồng Bằng Sông Cửu Long Hiệân nay, mỗi năm Trường thực hiện
4 đề tài khoa học, một số chương trình
tư vấn quản trị,…
Từ khi thành lập Trường đến nay, số lượng học viên được bồi dưỡng hàng năm khơng ngừng tăng lên Từ số lượng hàng trăm học viên bồi dưỡng hàng năm vào những năm đầu, cho đến nay, mỗi năm Trường đã đào tạo, bồi dưỡng được khoảng 6.000 lượt người,
là cán bộ lãnh đạo, quản lý, cơng chức, viên chức của các cơ quan quản lý nhà nước các cấp thuộc ngành nơng nghiệp
và PTNT, các nhà quản trị kinh doanh của các loại hình doanh nghiệp (kể cả trang trại và HTX) hoạt động trong nơng nghiệp, nơng thơn, cán bộ khuyến nơng và PTNT các cấp Rõ ràng, so với giảng dạy đại học, do đặc điểm của đối tượng người học, giáo viên Trường phải
cĩ trình độ vận dụng lý luận vào thực tiễn như là các chuyên gia tư vấn, chứ khơng phải chỉ cần cĩ hiểu biết lý thuyết
Trang 5Ngồi ra, Trường đã liên kết với
một số cơ sở đào tạo nằm trong hệ
thống giáo dục quốc dân (Trường Đại
học Kinh tế TP.HCM, Khoa Kinh tế
Trường Đại học Tổng hợp TP.HCM
trước đây, nay là Trường Đại học Kinh
tế - Luật, Trường Cao đẳng Cơng
nghiệp thực phẩm TP HCM, Trường
Cao đẳng Bán cơng Cơng nghệ và quản
trị doanh nghiệp, Trường Cao đẳng
Kinh tế đối ngoại TP.HCM, Trường
Đại học Mở TP Hồ Chí Minh, Trường
Đại học dân lập Bình Dương …) liên
tục tổ chức các lớp đào tạo chính quy từ
bậc trung cấp, cao đẳng đến đại học cho
các đơn vị trong ngành và xã hội Cụ
thể, Trường đã liên kết mở 4 lớp đào
tạo bậc đại học chuyên ngành quản trị
kinh doanh, 9 lớp bậc cao đẳng và trung
cấp kế tốn tin học Giáo viên Trường
đã đảm nhận trên 70% tổng số giờ
giảng của các mơn học chuyên ngành
trong các chương trình đào tạo nĩi trên
Ngồi ra, Trường đã liên kết với
Trường Đại học Kinh tế TP HCM mở
02 lớp ơn thi bậc Cao học chuyên
ngành quản trị kinh doanh
Đội ngũ giáo viên cơ hữu hiện
nay của Trường được đào tạo căn bản
từ nhiều nguồn trong và ngồi nước
(đặc biệt trong lĩnh vực nơng nghiệp và
PTNT) bao gồm các chuyên ngành
quản lý khác nhau, như quản trị kinh
doanh, kinh tế nơng nghiệp, kinh tế
phát triển, tài chính – kế tốn, khuyến
nơng và phát triển nơng thơn, hành
chính học, luật học, xã hội học 100%
giáo viên của trường cĩ trình độ thạc
sỹ, trong đĩ cĩ 7 tiến sỹ, và 5 nghiên cứu sinh Phần lớn giáo viên của Trường cĩ khả năng sử dụng ngoại ngữ trong nghiên cứu, giao tiếp, sử dụng thành thạo tin học, Internet và cĩ khả năng sử dụng phương pháp giảng dạy mới, tiếp nhận cơng nghệ đào tạo, chương trình đào tạo hiện đại của các nước tiên tiến Ngồi giáo viên cơ hữu hiện cĩ, Trường cịn sử dụng đội ngũ giáo viên thỉnh giảng của các trường đại học ở TP Hồ Chí Minh, đồng thời cĩ
kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và tuyển dụng thêm nhân lực để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới
Cơ sở vật chất của nhà trường từng bước được hiện đại hĩa, đáp ứng được phương pháp giảng dạy mới Quản lý nhà trường có nhiều đổi mới theo quan điểm “Trường dạy quản lý trước hết phải biết tự quản lý mình để tạo ra môi trường sư phạm cho việc học quản lý” Đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ CNV, giáo viên cũng được quan tâm và từng bước cải thiện rõ rệt
Trong những năm tới, Trường tiếp tục thực hiện nhiệm vụ được Bộ Nơng nghiệp và PTNT và Chính phủ
giao là: “đào tạo, bồi dưỡng (đào tạo lại) và nghiên cứu khoa học quản lý phát triển trong lĩnh vực nơng nghiệp
và phát triển nơng thơn” Với phương
châm là “ Chất lượng, hiệu quả và quản
lý các hoạt động của nhà trường theo
Trang 6mục tiêu”, vì vậy Trường phải thực
hiện tốt các nhiệm vụ sau đây:
1 Đa dạng hĩa nội dung chương
trình, phù hợp với đối tượng đào tạo đã
được Bộ xác định là 3 loại : công chức,
viên chức nhà nước, cán bộ quản lý
kinh doanh, cán bộ khuyến nông và
PTNT thuộc ngành NN-PTNT từ thành
phố Đà Nẵng trở vào
2 Tính chất giáo dục của
Trường là đào tạo lại, định hướng đào
tạo bồi dưỡng giáo viên về phương
pháp giảng dạy hiện đại, phấn đấu trở
thành những nhà tư vấn, nghiên cứu
ứng dụng-đào tạo-thực tiễn quản lý
của ngành Chuẩn hóa và nâng cao
chất lượng, hoàn chỉnh cơ cấu và số
lượng, tiếp tục trẻ hóa đội ngũ giáo
viên của Trường, của từng khoa
3 Tái cấu trúc tổ chức và hoàn
thiện quy chế tổ chức và hoạt động
của Trường Mở rộng và nâng cấp cơ
sở vật chất của Trường, hiện đại hóa
việc dạy và học quản lý
4 Mở rộng đa dạng hóa và
nâng cao hiệu quả hoạt động của
Trung tâm tư vấn và chuyển giao công
nghệ quản lý, Trung tâm ngoại ngữ-tin
học DMA
5 Nâng cao mức thu nhập của
CBCNV, giáo viên một cách căn bản
bằng các hoạt động của Trường
6 Định hướng đột phá: Thành
lập Học viện Quản lý phát triển TP
HCM
Trong 28 năm qua với sự phấn đấu
cao độ của tập thể lãnh đạo, giáo viên,
viên chức, người lao động của các thế
hệ nhà trường, chúng ta khẳng định và
tự hào rằng đã hồn thành xuất sắc sứ mạng với đúng tên gọi của Trường là đào tạo, bồi dưỡng, cán bộ quản lý, lãnh đạo, cơng chức, viên chức của ngành nơng nghiệp và PTNT từ TP Đà Nẵng trở vào, mà Bộ Nơng nghiệp và PTNT và Chính phủ giao
Xu thế tồn cầu hĩa và hội nhập kinh tế quốc tế đang tác động mạnh mẽ, sâu sắc đến quá trình phát triển hệ thống giáo dục với sứ mạng cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho các hoạt động kinh tế – xã hội Đối với nước ta, việc đào tạo nguồn nhân lực cĩ phẩm chất đạo đức tốt, cĩ trình độ chuyên mơn cao, lành nghề, thơng thạo ngoại ngữ là một yêu cầu hết sức cần thiết Nền giáo dục Việt Nam, đặc biệt
là giáo dục đại học và sau đại học, cần phải đi trước một bước trong việc đào tạo và đào tạo lại nguồn nhân lực để đẩy mạnh cơng nghiệp hĩa - hiện đại hĩa đất nước, chủ động hội nhập kinh
tế quốc tế Phát triển nguồn nhân lực quản lý chất lượng cao cho ngành nơng nghiệp và PTNT nĩi riêng và cho xã hội nĩi chung, trong giai đoạn đẩy mạnh cơng nghiệp hĩa hiện đại hĩa và trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, phù hợp với luật pháp hiện hành về giáo dục – đào tạo, nghiên cứu khoa học Sứ mạng của Trường cán bộ quản
lý nơng nghiệp và PTNT II khơng cịn phù hợp với xu thế phát triển của đất nước và thế giới, nên Bộ Nơng nghiệp
Trang 7và PTNT đã có chủ trương thành lập
“Học viện Quản lý phát triển
Tp.HCM”, trực thuộc Bộ Nông nghiệp
và PTNT, trên cơ sở Trường cán bộ
quản lý nông nghiệp và PTNT II, với
nhiệm vụ là tiếp tục thực hiện các
nhiệm vụ của Trường cán bộ quản lý
Nông nghiệp và PTNT II, đồng thời bổ
sung nhiệm vụ đào tạo đại học, sau đại
học với các chuyên ngành kinh tế, quản
lý cho ngành và cho xã hội Nét khác
biệt của Học viện Quản lý phát triển TP
HCM là xây dựng chương trình và đào
tạo bậc đại học trở lên cho các chuyên
ngành về phát triển nông thôn, khuyến
nông, quản lý tài nguyên môi trường,
quản lý các chuyên ngành đặc thù như
quản lý thú y, bảo vệ thực vật, lâm
nghiệp, thủy sản, thủy lợi,…
Từ chủ trương của Bộ, định hướng
của Trường là tập trung cao độ nhanh
chóng thành lập Học viện, đến năm
2025 sẽ có qui mô định hình là 10.000
sinh viên chuẩn, trong đó bồi dưỡng
10.000 lượt cán bộ quản lý, công chức,
viên chức của ngành (tương đương
1.000 sinh viên chuẩn), 8.500 sinh viên,
500 học viên cao học và nghiên cứu
sinh
Xây dựng Học viện Quản lý phát
triển TP Hồ Chí Minh là địa chỉ cung cấp
đáng tin cậy các giải pháp quản lý, đào
tạo và bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, thái
độ cho các nhà quản lý trong lĩnh vực
nông nghiệp, nông thôn và cho xã hội
Học viện Quản lý phát triển TP
Hồ Chí Minh trở thành tổ chức nghiên
cứu khoa học, tư vấn và giáo dục - đào tạo phát triển nguồn nhân lực quản lý theo chuẩn mực quốc tế cho ngành nông nghiệp và cho xã hội với cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, đội ngũ giảng viên có trình độ cao về lý luận, có khả năng giải quyết vấn đề quản lý phát triển trong thực tiễn kinh tế - xã hội Định hướng về triết lý đào tạo của Học viện là: Nhất thể hoá quá trình thực tiễn quản lý – nghiên cứu ứng dụng – đào tạo, triển khai Nghiên cứu khoa học là sức sống của Học viện, là cơ sở bảo đảm chất lượng đào tạo đáp ứng yêu cầu thực tiễn ở mức độ cao Áp dụng phương pháp giáo dục chủ động,
lấy người học làm trung tâm; “Học thầy không tày học bạn”; “Học viên và giáo viên vừa là thầy vừa là trò của nhau”; Kết hợp quá trình đào tạo và bồi
dưỡng; Kết hợp đào tạo kiến thức, kỹ năng và thái độ; Lấy hiệu quả hoạt động của người học làm tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả đào tạo bồi dưỡng
Định hướng phát triển Trường Cán bộ quản lý nông nghiệp và PTNT
II giai đoạn 2010-2025 đã trở thành ý chí của lãnh đạo, giáo viên, viên chức
và người lao động của Trường Định hướng của Trường có cơ sở thực tiễn
và cơ sở pháp lý, chắc chắn sẽ trở thành hiện thực Phía trước nhiều thách thức nhưng cũng đầy những cơ hội tuyệt đẹp
để khẳng định vị thế của Trường không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn trong phạm vi khu vực và hướng tới quốc tế