1. Trang chủ
  2. » Địa lý lớp 11

ThS - Phạm Xuân Quý: Xây dựng biểu cấp đất rừng tràm ở khu vực Tây Nam Bộ

10 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 234,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài báo này giới thiệu kết quả nghiên cứu phân loại cấp đất cho rừng tràm (Melaleuca cajuputi) dựa trên biến động chiều cao tầng trội (H dom , m) tại.. tuổi 10 năm.[r]

Trang 1

XÂY DỰNG BIỂU CẤP ĐẤT RỪNG TRÀM

(MELALEUCA CAJUPUTI)

Ở KHU VỰC TÂY NAM BỘ

ThS PHẠM XUÂN QUÝ

TÓM TẮT

Bài báo này giới thiệu kết quả

nghiên cứu phân loại cấp đất cho rừng

tràm (Melaleuca cajuputi) dựa trên biến

động chiều cao tầng trội (Hdom, m) tại

tuổi 10 năm Để xây dựng biểu cấp đất,

tác giả đã sử dụng số liệu giải tích của

100 cây đại diện cho những lâm phần

tràm từ tuổi 7-12 năm Các đường cong

cấp đất được xây dựng theo mô hình

Gompertz Kết quả nghiên cứu đã chứng

tỏ rằng, rừng tràm cajuputi ở khu vực

Tây Nam Bộ có thể được phân chia

thành ba cấp đất với khoảng cách chiều

cao 2 m tại tuổi 10 năm

Từ khóa:

- Boni tas ( cấp đất theo tiếng la

tinh) và Tables ralated to the soil ( tiếng

anh)

- Dominant heights ( chiều cao

tầng trội)

- Mekong delta (Tây Nam Bộ)

- Melaleuca cajuputi (Cây tràm)

ABSTRACT

This article introduces briefly results of

research on the soil classification for 10

year old Melaleuca cajuputi based on

the variation of height of soil

stratification In order to build the soil

stratified table, the author used the

analytic data of 100 trees representing

the Melaleuca cajuputi of 7-12 year old

The curve of soil stratification were

built based on the Gompertz model The

results of research have proved the 10

year old Melaleuca cajuputi in South Western area of Vietnam can be stratified into three layers with the height of 2 meters

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo số liệu thống kê đến năm

2006 [1], diện tích rừng tràm

(Melaleuca cajuputi) ở khu vực Tây

Nam Bộ hiện nay được tập trung chủ yếu ở 6 tỉnh như Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang, An Giang, Kiên Giang và

Cà Mau với tổng diện tích là 176.295 ha; trong đó các tỉnh có diện tích lớn nhất như Long An (64.293 ha), Kiên Giang (49.519 ha) và Cà Mau (38.832 ha) Mục tiêu chủ yếu của rừng tràm trồng là tạo rừng năng suất cao với chất lượng tốt để cung cấp gỗ xây dựng nhà cửa (cột, kèo), gia cố nền móng nhà, làm củi và than; đồng thời kết hợp cải thiện môi trường đất và nước

Mặc dù việc gây trồng và kinh doanh rừng tràm đã được thực hiện theo quy phạm thống nhất, nhưng vẫn còn rất nhiều vấn đề cần phải được xem xét và cải thiện Nhận thấy rằng, khi kinh doanh rừng tràm với cường độ cao, thì việc phân chia và tổ chức các đơn vị kinh doanh theo cấp đất là cần thiết Cấp đất còn là cơ sở để thiết kế và áp dụng các phương thức lâm sinh, thống

kê và so sánh năng suất rừng tràm Tuy vậy, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ về cấp đất của rừng tràm Vì thế, bài báo này giới thiệu kết quả nghiên cứu phân chia cấp đất

Trang 2

cho rừng tràm (Melaleuca cajuputi)

trồng ở khu vực Tây Nam Bộ (sau đây

gọi là tràm cajuputi.)

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là rừng

tràm cajuputi trồng thuộc khu vực Tây

Nam Bộ từ Long An đến Cà Mau Rừng

tràm được trồng với mật độ 20.000

cây/ha Tuổi rừng tràm được đưa vào

nghiên cứu nằm trong giai đoạn 12 năm

Mục tiêu của nghiên cứu này là xây

dựng những mô hình mô tả quá trình

biến đổi chiều cao để làm cơ sở phân

chia cấp đất cho rừng tràm ở khu vực

Tây Nam Bộ

Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu đặt ra, đã

nghiên cứu mối quan hệ giữa chiều cao

bình quân tầng trội (H0, m) với tuổi lâm

phần (A, năm) Giá trị H0 được tính bình

quân từ chiều cao của 20% số cây lớn

nhất trong lâm phần trên ô tiêu chuẩn

Để dễ dàng cho việc chọn cây giải tích,

trước hết đã điều tra sơ bộ những lâm

phần tràm theo cấp tuổi từ thấp đến cao,

bắt đầu từ cấp tuổi 2 Kế đến, chọn

những lâm phần có tuổi từ 7 đến 12 năm

để thu thập số liệu lập biểu cấp đất Tiếp

phần, đã phân chia sơ bộ những lâm

phần tràm từ 7 đến 12 năm thành ba cấp

đất với mỗi cấp cách nhau khoảng 2 m

Tiếp theo, ở mỗi cấp đất chọn những

lâm phần điển hình và bố trí những ô

tiêu chuẩn từ 150-200 m2 để đo đạc

những đặc trưng lâm phần (mật độ, D,

H…); đồng thời trong mỗi ô tiêu chuẩn

chọn và giải tích ba cây trung bình của

tầng trội Những cây giải tích có chiều

tròn đều, sinh trưởng và phát triển bình thường, không bị sâu hại hay cụt ngọn, tán lá cân đối và tròn đều Tổng số cây giải tích là 100 cây; trong đó cấp đất I,

II và III tương ứng là 32 cây, 37 cây và

31 cây Sau khi chặt hạ, những cây tiêu chuẩn được đo đạc và giải tích thân cây theo chỉ dẫn chung của điều tra rừng

Khi xây dựng biểu cấp đất, số cấp đất và chỉ số cấp đất được xác định dựa

10 năm Sở dĩ chọn tuổi 10 là tuổi cơ sở

để phân chia cấp đất là vì hầu hết rừng tràm trồng ở khu vực Tây Nam Bộ có chu kỳ kinh doanh từ 10 – 12 năm Tiếp đến, mô hình hóa quá trình biến đổi H0

chung và H0 của mỗi cấp đất theo tuổi rừng bằng hàm Gompertz và Schumacher; trong đó các hệ số của các hàm được xác định bằng phương pháp hồi quy phi tuyến của Marquardt Tiếp theo, chọn mô hình phù hợp nhất theo 5 tiêu chuẩn: hệ số tương quan cao nhất (maxR2%), sai lệch nhỏ nhất (minSe), sai lệch tuyệt đối trung bình nhỏ nhất (minMAE), sai lệch tuyệt đối trung bình nhỏ nhất theo phần trăm (minMAPE), tổng bình phương sai lệch nhỏ nhất (minΣ(H0lt – H0tn)^2); trong đó tiêu chuẩn cơ bản là minΣ(H0lt – H0tn)^2 với

H0(lt) và H0(tn) tương ứng là chiều cao lý thuyết và chiều cao thực tế Sau cùng, biến đổi mô hình phi tuyến phù hợp nhất về dạng tuyến tính và sử dụng phương pháp cố định điểm chặn và thay đổi độ dốc của mô hình để xác định những đường cong tương ứng với các cấp đất Tất cả những cách thức tính toán dựa theo chỉ dẫn chung của Vũ Tiến Hinh (1992; 2003)[2;3], Nguyễn Ngọc Lung (1999)[4] và Nguyễn Văn Thêm (2004)[5] Công cụ tính toán là

Trang 3

phần mềm Excel và Statgraphics Plus

Version 4.0

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO

LUẬN

1 Phân chia cấp đất sơ bộ

Những tính toán cho thấy (Bảng

1), chiều cao bình quân tầng trội (H0,

m) của rừng tràm ở tuổi 2 là 2,0 m; biên

độ dao động giữa các lâm phần từ 1,5 m

đến 2,7 m; biến động 15,5% Ở tuổi 5,

giá trị H0 là 5,1 m; biên độ dao động

giữa các lâm phần từ 3,5 m đến 7,5 m; biến động 18,3% Ở tuổi 10, giá trị H0

là 9,3 m; biên độ dao động giữa các lâm phần từ 5,8 m đến 12,4 m; biến động 18,9% Ở tuổi 11, giá trị H0 là 9,8 m; biên độ dao động giữa các lâm phần từ 6,3 m đến 12,8 m; biến động rất mạnh giữa các lâm phần (20,3%) Nói chung, giá trị H0 của rừng tràm gia tăng trung bình 0,9-1,1 (m/năm) từ tuổi 2 đến tuổi 8; sau đó giảm nhanh còn 0,5-0,6 (m/năm) ở tuổi 9 – 11 năm

Bảng 1 Đặc trưng thống kê chiều cao tầng trội của rừng tràm

(Melaleuca cajuputi) ở khu vực Tây Nam Bộ

Phân tích số liệu của bảng 1 cho

năm là 6,6 m Vì thế, đã phân chia sơ bộ

những lâm phần tràm thành 3 cấp đất

với mỗi cấp cách nhau 2,0 m Đặc trưng

chiều cao tầng trội của ba cấp đất sơ bộ

được ghi lại ở bảng 2-4

Để chọn mô hình mô tả quan hệ

hai hàm Schumacher và Gompertz với

số liệu thực nghiệm Kết quả tính toán

cho thấy, mô hình Gompertz có tổng sai

lệch bình phương (113,42 – cấp đất I; 120,4 – cấp đất II; 36,7 – cấp đất III; 1.645,4 – H0 chung) nhỏ hơn so với mô hình Schumacher (117,5 – cấp đất I; 126,7 – cấp đất II; 30,6 – cấp đất III; 1729,5 – H0 chung) Do đó, mô hình Gompertz đã được chọn để mô tả quan

hệ H0 – A tương ứng với ba cấp đất Những tính toán cho thấy, mô hình biểu thị quan hệ H0 – A trên ba ba cấp đất sơ

bộ theo hàm Gompertz có dạng:

Trang 4

Bảng 2 Đặc trưng chiều cao tầng trội của rừng tràm cajuputi trên cấp đất I

Bảng 3 Đặc trưng chiều cao tầng trội của rừng tràm cajuputi trên cấp đất II

Bảng 4 Đặc trưng chiều cao tầng trội của rừng tràm cajuputi trên cấp đất III

Trang 5

A (năm) H0(m) ±S ±Se H0Min H0Max H0Max-H0min V(%)

Đối với cấp đất I

Khoảng tin cậy 95%

H0I(dưới) = 13,3792*exp(-2,89879*exp(-0,23916*A)) (2)

H0I(trên) = 14,4705*exp(-3,1545*exp(-0,27388*A)) (3)

Đối với cấp đất II

H0(II) = 11,4495*exp(-2,99913*exp(-0,26748*A)) (4)

Khoảng tin cậy 95%

H0II(dưới) = 11,0105*exp(-2,8573*exp(-0,24871*A)) (5)

H0II(trên) = 11,8884*exp(-3,14097*exp(-0,28625*A)) (6)

Đối với cấp đất III

H0(III) = 9,13607*exp(-2,66547*exp(-0,22409*A)) (7)

Khoảng tin cậy 95%

H0III(dưới) = 8,8251*exp(-2,57649*exp(-0,21075*A)) (8)

H0III(trên) = 9,44704*exp(-2,75446*exp(-0,23742*A)) (9)

Bằng thuật toán thống kê cũng đã xác định được phương trình mô tả quan hệ

với R2 = 83,2%; ±Se = 1,2447

Khoảng tin cậy 95%

H0(dưới) = 10.1914*exp(-2.83023*exp(-0.26073*A)) (11)

H0(trên) = 11.1307*exp(-3.25219*exp(-0.31211*A)) (12) Khi khai triển ba phương trình 1, 4, 7 và 10, có thể xác định H0(m) của mỗi cấp đất (I, II và III) và H0(m) chung của ba cấp đất (Bảng 5; Hình 1)

Bảng 5 Chiều cao bình quân tầng trội của rừng tràm cajuputi

trên ba cấp đất ở khu vực Tây Nam Bộ

Trang 6

(năm)

H0tn(m) H0lt)(m H0tn(m) H0lt)(m H0tn(m) H0lt)(m H0tn(m) H0lt(m)

2 Biểu cấp đất rừng tràm

cajuputi trồng ờ vùng miền Tây Nam

Bộ theo chiều cao tầng trội H 0

Kết quả điều tra cho thấy, rừng

tràm cajuputi trồng ở khu vực Tây Nam

Bộ thường được khai thác chính ở vào

.

0 (m)

A (năm) Hình 1 Đồ thị mô tả sự biến đổi chiều cao tầng trội của rừng

tràm cajuputi trên ba cấp đất sơ bộ

Trang 7

tuổi 10-12 năm Vì thế, tuổi cơ sở (A0,

năm) để phân chia cấp đất cho rừng

tràm cajuputi đã được chọn ở tuổi 10

năm Từ số liệu của bảng 1 cho thấy, tại

tuổi 10 năm chênh lệch giữa H0max (12,4

m) và H0min (5,8 m) là 6,6 m Do đó, nếu

phân chia H0 tại tuổi 10 năm thành 3 cấp

đất, thì chênh lệch chiều cao giữa hai

cấp đất kế cận là 2,0 m Nếu sai số cho

phép đo đạc chiều cao lâm phần là ±0,5

m, thì chênh lệch 1,0 m giữa trung tâm

cấp đất này đến ranh giới của cấp đất kế

cận là khoảng cách phù hợp

Từ số liệu của bảng 5 cho thấy, giá trị H0 của các lâm phần tràm 10 tuổi trên ba cấp đất I, II và III tương ứng là 11,0 m, 9,3 m và 6,9 m Do đó, chỉ số cấp đất tại tuổi 10 được lấy tròn tương ứng với ba cấp đất I, II và III là 11,0 m, 9,0 m và 7,0 m Để xác định các đường cong H0 đi qua ba chỉ số cấp đất (11,0; 9,0 và 7,0 m), đã sử dụng phương pháp

cố định điểm chặn và thay đổi độ dốc

-A Bằng phân tích thống kê, đã nhận được mô hình tuyến tính mô tả quan hệ

H0 – A có dạng:

r = -0,8911; r2 = 79,4%; ±Se = 0,2856

Ở công thức 13, Y = (ln(ln(Hmax/H0i)) với giả định Hmax = 15 m, còn H0i là chiều cao cây tầng trội Khi cố định điểm chặn, thì độ dốc của các đường cong đi qua ba chỉ số cấp đất tại tuổi cơ sở (10 năm) được tính theo công thức:

Từ phương trình 15, khi thay thế tương ứng ba chỉ số của cấp đất I (11,0 m),

II (9,0 m) và III (7,0 m), có thể nhận được ba đường cong đi qua ba chỉ số cấp đất dưới dạng:

H0(II) = 15*exp(-2,76110*exp(-0,16874*A)) (17)

H0(III) = 15*exp(-2,76110*exp(-0,12873*A)) (18)

Tương tự, bốn đường cong biểu thị ranh giới của ba cấp đất I, II và III (12,0; 10,0; 8,0 và 6,0 m) có dạng:

H(I)trên = 15*exp(-2,76110*exp(-0,25156*A)) (19)

H(II-I) = 15*exp(-2,76110*exp(-0,19184*A)) (20)

H(III-II) = 15*exp(-2,76110*exp(-0,14799*A)) (21)

H(III)dưới = 15*exp(-2,76110*exp(-0,11031*A)) (22)

Từ các mô hình 16-22, đã xây dựng được biểu cấp đất rừng tràm cajuputi theo

chiều cao tầng trội (Bảng 6; Hình 2)

Bảng 6 Biểu cấp đất rừng tràm (Melaleuca cajuputi) theo chiều cao

tầng trội (H0, m) ở khu vực Tây Nam Bộ

Trang 8

(năm)

3 Kiểm định tính phù hợp của biểu

cấp đất

Để kiểm định tính phù hợp của biểu cấp đất, ở mỗi cấp đất đã sử dụng 5

Hình 2 Biểu đồ cấp đất rừng tràm (Melaleuca cajuputi)

theo H0 (m) ở khu vực Tây Nam Bộ

H0(m)

A (năm)

Cấp đất I Cấp đất I Cấp đất I

Trang 9

cây bình quân tầng trội đại diện cho

những lâm phần từ tuổi 7-11 năm không

tham gia lập biểu để kiểm tra Việc

kiểm tra được thực hiện theo phương

pháp biểu đồ và phương pháp kiểm định

sự sai khác về độ dốc của các mô hình

các cấp đất Bằng phương pháp biểu đồ

(Hình 3) và tính toán thống kê đều nhận thấy, không có sự khác nhau thực sự (P

> 0,10) giữa điểm chặn và độ dốc của các mô hình ở giữa các cấp đất và những cây kiểm tra Do đó, biểu cấp đất được xây dựng từ các mô hình 16-22 phù hợp với thực tế

KẾT LUẬN

Kết quả nghiên cứu đã chứng tỏ

rằng, rừng tràm cajuputi trồng ở khu

vực Tây Nam Bộ có biên độ chiều cao

tầng trội dao động rất lớn trong phạm vi

một cấp tuổi; trong đó giá trị tại tuổi 5

và 10 năm tương ứng từ 3,5 m đến 7,5

m và 5,8 m đến 12,4 m Vì thế, nếu căn

cứ vào biên độ dao động chiều cao tầng

trội, có thể phân chia rừng tràm cajuputi

trồng ở khu vực Tây Nam Bộ thành ba

cấp đất; trong đó khoảng cách chiều cao của các cấp đất tại tuổi 10 năm là 2,0 m

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

(1) Nguyễn Thanh Bình (2006), Nghiên

cứu thực trạng phát triển rừng tràm

ở Đồng Bằng sông Cửu Long, giải pháp khắc phục, Viện khoa học Lâm

nghiệp Việt Nam

.

Hình 3 Kiểm tra bằng biểu đồ về sự phù hợp của các đường cong cấp đất đối với số liệu thực tế

A (năm)

H0(m)

Cấp đất I Cấp đất II Cấp đất III

Trang 10

(2) Vũ Tiến Hinh và các tác giả khác

(1992), Điều tra rừng, Trường Đại

học lâm nghiệp, Hà Nội

(3) Vũ Tiến Hinh (2003), Sản lượng

rừng, NXB Nông nghiệp, Hà Nội.

(4) Bảo Huy, 1995 Sinh trưởng và sản

lượng rừng tếch ở Đắc Lắc – Tây

Nguyên Trong cuốn sách “Hội thảo

quốc gia về rừng tếch (Tectona

grandis) và quy hoạch sử dụng đất.

Buôn Mê Thuột, 12/1995

(5) Nguyễn Ngọc Lung (1999), Nghiên

cứu tăng trưởng và sản lượng rừng trồng áp dụng cho rừng thông ba lá

ở Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà

Nội

(6) Nguyễn Văn Thêm (2004), Hướng

dẫn sử dụng Statgraphics 3.0 & 5.1

để xử lý thông tin trong lâm học,

NXB Nông Nghiệp Chi nhánh Tp

Hồ Chí Minh

Ngày đăng: 23/01/2021, 18:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w