Ngöôøi tieâu duøng ôû caùc quoác gia ñang phaùt trieån vôùi thu nhaäp thaáp tröôùc ñaây chuû yeáu söû duïng nguõ coác nhö gaïo, baép… nhöng ngaøy nay hoï ñaõ chuyeån daàn sang nhöõng saû[r]
Trang 1Thực phẩm là sản phẩm thiết
yếu của con người Nhà kinh tế
người Anh Thomas Malthus (1766-1834)
đã đưa ra dự báo bi quan nhất trong lịch sử
Malthus cho rằng sự gia tăng dân số liên
tục cản trở khả năng sản xuất đủ thực
phẩm của xã hội Kết quả là loài người
phải chịu số mệnh sống mãi trong nghèo
khổ do không đủ thực phẩm để ăn Thật
may mắn điều này không xảy ra, do sự
phát triển khoa học - công nghệ đã giúp
con người sản xuất ra nhiều thực phẩm
hơn Khoa học - công nghệ không những
tạo ra thực phẩm đủ đáp ứng cho loài
người mà còn tạo ra sự đa dạng, phong phú
thực phẩm để đáp ứng cho nhu cầu thị
hiếu khác nhau của con người Người tiêu
dùng ngày nay có xu hướng tiêu dùng
những thực phẩm có giá trị cao hơn trước
đây Thực phẩm có giá trị gia tăng cao là
những thực phẩm đã được chế biến qua
nhiều công đoạn Ví dụ thịt đóng hộp sẽ có
giá trị cao hơn thịt tươi sống Theo xu
hướng này, người ta tiên đoán rằng thị
trường thực phẩm có giá trị gia tăng cao sẽ
phát triển mạnh trên phạm vi toàn cầu
Tuy nhiên, điều này không thực sự xảy ra
vì hiện nay tỷ trọng thực phẩm có giá trị
gia tăng cao, đặc biệt tỷ trọng thực phẩm
chế biến, có xu hướng giảm
Kinh doanh thực phẩm toàn cầu
là hoạt động khá phức tạp bởi vì các doanh
nghiệp phải liên tục phản ứng với sự thay đổi nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng chọn lọc hơn và giàu có hơn Người tiêu dùng ngày càng đòi hỏi chất lượng sản phẩm cao hơn và đa dạng hơn Tuy nhiên, những thực phẩm riêng biệt không thể có thị trường toàn cầu bởi vì nhu cầu của người tiêu dùng khác nhau về thu nhập, thị hiếu, văn hóa, tôn giáo… Những doanh nghiệp thành công trong lĩnh vực cung cấp thực phẩm đa dạng trên phạm vi toàn cầu là nhờ họ sử dụng khoa học -công nghệ và phương thức kinh doanh hiện đại để tạo ra sản phẩm đáp ứng được nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng địa phương Bài viết này sẽ phân tích xu hướng phát triển của thị trường thực phẩm toàn cầu
1 Quy mô và xu hướng phát triển của thị trường thực phẩm toàn cầu
Thực phẩm có thể được bán trực tiếp cho người tiêu dùng qua hệ thống bán lẻ như chợ, siêu thị…, hoặc bán cho hệ thống dịch vụ ăn uống như nhà hàng, khách sạn, doanh nghiệp chế biến suất ăn công nghiệp… Doanh số bán thực phẩm trên toàn cầu năm 2002 ước lượng khoảng 4.000 tỷ USD Trong đó, trên 40% bán qua hệ thống dịch vụ ăn uống (bảng 1) Điều này chứng tỏ rằng xu hướng ăn uống tiện lợi ngày càng gia tăng
XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG THỰC PHẨM TOÀN CẦU
ThS BẢO TRUNG
Trang 2Trong hệ thống bán lẻ (bảng 1),
thực phẩm có thể chia ra thực phẩm
tươi sống (531 tỷ USD), chiếm tỷ trọng
23,2%, còn thực phẩm chế biến (1.762 tỷ
USD), chiếm tỷ trọng 76,8% Trong ngành
thực phẩm chế biến thì doanh số ngành
thực phẩm đóng gói là 1.148 tỷ USD,
chiếm tỷ trọng 65,2% và đồ uống là 614 tỷ
USD, chiếm tỷ trọng 34,8% Doanh số
thực phẩm đóng gói của các quốc gia
có thu nhập cao như Mỹ, Nhật và Tây Âu chiếm trên 60% doanh số toàn cầu và các quốc gia này đã chi tiêu 50% chi tiêu cho ăn uống là các sản phẩm đã đóng gói, trong khi đó các nước đang phát triển chỉ dành chưa tới 1/3 chi tiêu cho sản phẩm đóng gói (USDA, 2005) Doanh số của thực phẩm đóng gói khác nhau tùy thuộc vào thu nhập của các quốc gia (Bảng 2)
Trong bảng 2, chúng ta thấy có quy
mô thị trường tính theo doanh số bán lẻ
trên đầu người ở các quốc gia có thu nhập
cao cao hơn 15,5 lần so với các nước có
thu nhập thấp Điều này, chứng tỏ chi tiêu
cho sản phẩm có giá trị gia tăng cao ở các nước này cao hơn Bảng 3, cung cấp số liệu về quy mô và tốc độ tăng trưởng doanh số bán lẻ một số sản phẩm chọn lựa
Trang 3Theo bảng 3, ở các quốc gia đang
phát triển, nhu cầu các sản phẩm như dầu
bơ, bột ngũ cốc và sản phẩm sữa đang có
xu hướng tăng trưởng mạnh, nhưng nhu
cầu đối với thức ăn làm sẵn có quy mô thị
trường nhỏ và xu hướng tăng trưởng thấp
Điều này ngược lại xu hướng tiêu dùng ở
các nước phát triển Mặc dù các quốc gia
có thu nhập cao có doanh số bán lẻ thực
phẩm chế biến chiếm 60% doanh số toàn cầu nhưng thị trường đã bão hòa, tốc độ tăng trưởng thấp, thậm chí giảm như dầu
bơ Tốc độ tăng trưởng này chủ yếu là do tốc độ tăng dân số hơn là do sự gia tăng chi tiêu Đối với các nước đang phát triển có nhu cầu về thực phẩm đóng gói có xu hướng tăng mạnh do tốc độ tăng dân số, cũng như tăng chi tiêu cho thực phẩm tính
Trang 4theo đầu người Tốc độ tăng doanh số của
thực phẩm đóng gói ở các quốc gia phát
triển chỉ ở mức 2-3%, trong khi đó ở các
nước đang phát triển có thu nhập trung
bình cao khoảng 7 % và các nước có thu
nhập trung bình thấp trên 28% (Bảng 2)
Tóm lại, thị trường thực phẩm đóng
gói ở các nước có thu nhập cao chiếm trên
60% thị phần toàn cầu, nhưng đã bão hòa
tiềm năng phát triển hạn chế, trong khi đó
xu hướng sẽ tăng lên đối với các nước
đang phát triển
2 Nhu cầu người tiêu dùng thay
đổi
Quá trình đô thị hóa đã làm cho lối
sống của con người thay đổi Sự thay
đổi lối sống, cùng với việc gia tăng thu
nhập và sự thay đổi cấu trúc gia đình
đã làm thay đổi chế độ ăn uống của
người tiêu dùng trên phạm vi toàn cầu
Sức mua tăng lên và chi phí cơ hội tăng
lên trong việc chuẩn bị bữa ăn đã dẫn
đến sự tăng trưởng nhu cầu thực phẩm
được chế biến và có giá trị gia tăng cao
Người tiêu dùng ở các quốc gia đang
phát triển với thu nhập thấp trước đây chủ
yếu sử dụng ngũ cốc như gạo, bắp…
nhưng ngày nay họ đã chuyển dần sang
những sản phẩm có giá trị cao hơn như thịt,
trứng, cá… Tương tự, người tiêu dùng ở
các nước phát triển với chế độ ăn uống
những thực phẩm đã có giá trị gia tăng
cao, họ lại muốn thực phẩm có giá trị gia
tăng cao hơn nữa Giá trị gia tăng cao này
không những về mặt giá trị dinh dưỡng mà còn về mặt giá trị dịch vụ, tức là sự tiện lợi trong việc chuẩn bị bữa ăn và thời gian để chuẩn bị bữa ăn của gia đình phải giảm xuống
Mặc dù người tiêu dùng có mức thu nhập cao hơn chi nhiều tiền hơn cho thực phẩm nhưng tỷ lệ chi tiêu cho thực phẩm trong tổng số chi tiêu lại thấp hơn và họ chi tiêu nhiều hơn cho những sản phẩm khác như chăm sóc sức khỏe, giải trí… Trong suốt thập kỷ qua, người tiêu dùng
ở các nước phát triển chi tiêu trung bình 13% tổng chi tiêu cho thực phẩm; trong khi đó ở các nước có thu nhập thấp tỷ lệ này 43% Ví dụ, năm 2002, chi tiêu cho thực phẩm ở Indonesia chiếm 55% tổng chi tiêu, trong khi đó Hoa Kỳ chỉ có 7% (Seale, Regmi, và Bernstein, 2003) Tỷ lệ chi tiêu cho thực phẩm có giá trị gia tăng cao tăng lên trong tổng số chi tiêu cho thực phẩm nói chung phản ánh không những sức mua tăng lên mà lối sống cũng thay đổi Khi người tiêu dùng có thu nhập nhiều hơn, họ sẽ chi tiêu nhiều cho những sản phẩm phục vụ cho bảo quản, dự trữ, nấu nướng, chế biến thực phẩm… Điều này dẫn đến thay đổi nhu cầu tiêu dùng thực phẩm Ví dụ, khi người ta mua tủ lạnh thì họ có xu hướng mua nhiều thực phẩm tươi; nhưng khi họ mua lò viba thì họ mua nhiều thực phẩm chế biến sẵn Bảng 4 và bảng 5 cho chúng ta thấy số liệu về sở hữu tủ lạnh và lò viba ở một số quốc gia
Trang 5Trong bảng 4, chúng ta thấy rằng số
lượng hộ gia đình có tủ lạnh tăng lên đáng
kể trong thập kỷ qua Ví dụ, Việt Nam năm
1990 chỉ 9 trên 100 hộ có tủ lạnh thì đến
năm 2002 đã tăng lên gấp đôi là 18/100
hộ
Trong bảng 5, chúng ta thấy rằng
tốc độ tăng trưởng của việc sở hữu lò viba
có cùng xu thế với tốc độ tăng trưởng thực
phẩm chế biến sẵn Ví dụ, Cộng hòa
Czech, Hungary và Brazil có tốc độ tăng
trưởng bình quân 1998-2002 lần lượt là
8%, 9% và 7%; tốc độ tăng trưởng thực
phẩm chế biến sẵn lần lượt là 11%, 10%
và 17% Đối các nước có tỷ lệ hộ gia đình có lò viba cao như Nhật (91%), Anh (87%) và Hoa Kỳ (85%) thì tốc độ tăng trưởng thực phẩm chế biến sẵn ở mức trung bình, bình quân tăng trưởng 1998-2002 lần lượt 5%, 6% và 6% Trừ Bulgaria tốc độ tăng trưởng lò viba cao (23%), nhưng chỉ có 9% hộ có lò viba Điều này chứng tỏ điểm xuất phát của Bulgaria còn thấp nên tốc độ tăng trưởng cao
Thói quen ăn uống ở các quốc gia cũng thay đổi khi thu nhập thay đổi Bảng
7, sẽ cho chúng ta thấy sự thay đổi về thói quen tiêu dùng
Trang 6Năm 2000, người dân Việt Nam
được cung cấp 2.583 calorie/ngày, thấp
hơn Hoa Kỳ gần 1200 calories/ngày,
nhưng lượng ngũ cốc cung cấp calories của
Việt Nam và Hoa Kỳ chiếm tỷ trọng lần
lượt là 69,5%, 22,5% Mặc dù, lượng
calo-ries cung cấp cho bữa ăn hàng ngày từ ngũ
cốc của Hoa Kỳ chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ so
với Việt Nam nhưng mức chi tiêu cho ngũ
cốc của người dân Hoa Kỳ cao hơn 18 lần
của người Việt Nam (Hoa Kỳ: 274 USD,
Việt Nam 15 USD) Mức chi tiêu cao hơn
mà người dân Hoa Kỳ phải trả phản ánh
giá trị gia tăng của ngũ cốc ở Hoa Kỳ cao
hơn
Bảng 7 cũng phản ánh sự thay đổi
trong chi tiêu thực phẩm khác nhau giữa năm 1996 và năm 2000 Lượng calories của Hoa Kỳ năm 2000 so với năm 1996 chỉ tăng 4% nhưng chi tiêu cho thực phẩm tăng 13% Trong đó lượng calories do sữa, trứng cung cấp chỉ tăng 3%, nhưng chi tiêu tăng 15% Nếu xem xét ở các nước, chúng
ta cũng thấy tình trạng tương tự là lượng calories tăng trưởng thấp hơn chi tiêu cho thực phẩm Điều này phản ánh nhu cầu sản phẩm có giá trị gia tăng cao đang tăng lên
Tóm lại, thị trường thực phẩm toàn
cầu đang có hai xu hướng chuyển dịch:
(Xem tiếp trang 44)
Trang 7- Thứ nhất, nhu cầu tiêu dùng thực
phẩm có giá trị gia tăng cao đang tăng lên Đối với các nước đang phát triển như ở Việt Nam thì hàng thực phẩm đóng gói chưa nhiều và chưa phổ biến ở nông thôn, nhưng việc chi tiêu cho thực phẩm có chiều hướng tăng lên Khi thu nhập của người dân tăng lên, họ sẽ mua sắm nhiều phương tiện phục vụ cho việc ăn uống như tủ lạnh và lò viba, điều này làm cho thói quen tiêu dùng thay đổi
- Thứ hai, nhu cầu thực phẩm có giá
trị gia tăng cao đang dịch chuyển từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển, đặc biệt là nền kinh tế mới nổi lên như Đông Âu, Trung Quốc, Việt Nam Mặc dù nhu cầu hàng thực phẩm có giá trị gia tăng cao của các quốc gia phát triển như Hoa Kỳ, Nhật và EU vẫn còn chiếm tỷ trọng cao, nhưng đang có dấu hiệu bão hòa, tốc độ tăng trưởng của ngành này ở các nước phát triển sẽ chậm lại Trong khi đó, ở các quốc gia đang phát triển, tốc độ tăng trưởng của ngành hàng thực phẩm có giá trị gia tăng cao sẽ tăng lên nhanh chóng Xu hướng này đòi hỏi các nước và các doanh nghiệp kinh doanh thực phẩm cần phải có chiến lược phù hợp để phản ứng với sự thay đổi của thị trường thực phẩm toàn cầu